Có thể thấy, hiệu quả của vắc xin ‘cô vít’ không được dài lâu như các loại vắc xin sởi, bạch hầu, uốn ván. Sau một thời gian tác dụng của vắc xin sẽ giảm dần nên cần tiêm bổ sung để tăng cường khả năng bảo vệ. Đó là lý do vì sao mà hiện nay, một số nước trên thế giới đang bắt đầu ‘rục rịch’ triển khai mũi tiêm thứ 3, thậm chí là thứ 4.

Giới chức trách nhiều nước trong đó có Mỹ cũng đang cân nhắc về việc cho phép tiêm nhắc lại cho người trưởng thành đã tiêm đủ 2 mũi vắc xin. Thời gian tiêm nhắc lại là sau 6 tháng kể từ khi tiêm mũi đầu tiên.

Tại sao lại như vậy? Tương tự, cùng là vắc xin nhưng vắc xin ‘cô vít’ hiệu quả lại không bảo vệ lâu dài được như các loại khác là có nguyên nhân. Còn về nguyên nhân thế nào thì các chuyên gia đã giải đáp trên báo chí rồi đấy ạ.

Giới chuyên gia nhận định vắc xin ‘cô vít’ vẫn hoạt động hiệu quả song khả năng bảo vệ giảm dần theo thời gian

Nhiệm vụ của vắc xin là bảo vệ con người trước nguy cơ lây nhiễm tự nhiên chứ không phải là làm giảm nguy cơ bệnh nặng hoặc qua đời. ‘Một loại vắc xin tốt sẽ hoàn thành nhiệm vụ này, bảo vệ con người không mắc bệnh ngay cả khi tiếp xúc với virus. Tuy nhiên, không phải mọi loại vắc xin đều lý tưởng”, GS. Rustom Antia ĐH Emory) nói.

GS. Antia nhận định: Có 3 tầng phòng vệ mà vắc xin có thể tạo ra. Trong đó cao nhất là bảo vệ hoàn toàn trước nguy cơ nhiễm bệnh và truyền bệnh. Thấp hơn là bảo vệ người được tiêm trước nguy cơ bị nặng và lây truyền. Thấp hơn nữa là chỉ bảo vệ trước nguy cơ bị nặng.

Hiệu quả của vắc xin còn phụ thuộc vào mức độ phản ứng miễn dịch mà vắc xin tạo ra, tốc độ kháng thể phân hủy, khả năng virus đột biến và vị trí virus xâm nhập. Ngưỡng bảo vệ là mức độ miễn dịch mà ở đó người được tiêm sẽ không mắc bệnh khi tiếp xúc với virus. Ngưỡng bảo vệ cũng khác nhau tùy vào từng loại virus mà chúng ta phải đối mặt.

‘Về cơ bản, điều quan trọng cần xem xét là nồng độ kháng thể và kháng thể trung hòa được tạo ra trong máu’, GS. Mark Slifka (ĐH Y khoa Oregon) cho hay.

hình ảnh

So sánh hiệu quả của các loại vắc xin. Ảnh: Zing

Vắc xin uốn ván có mức độ bảo vệ là 0,01 đơn vị kháng thể/ml máu, được công nhận từ năm 1942. Ngưỡng bảo vệ của vắc xin sởi được tìm ra vào năm 1985 và ở mức 0,02 đơn vị/ml máu.

Đối với vắc xin nCoV, hiệu quả của nó là sự kết hợp giữa mức độ phản ứng của cơ thể với vắc xin và tốc độ phân hủy của kháng thể. Từ đó mà quyết định mức độ phản ứng miễn dịch có bền vững hay không. Dù các chuyên gia khẳng định vắc xin cô vít vẫn hoạt động hiệu quả. Song nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả của vắc xin đang giảm dần theo thời gian.

Với bệnh sởi, kháng thể phân hủy rất chậm. Còn kháng thể chống uốn ván thì phân hủy nhanh hơn. Song, vắc xin khiến cơ thể tạo ra lượng kháng thể gấp nhiều lần cần đến nên đã bù đắp cho sự phân hủy. ‘Chúng ta đã gặp may với sởi, uốn ván và bạch hầu. Với các bệnh này, chúng ta xác định được ngưỡng bảo vệ. Khi theo dõi sự suy giảm của kháng thể, nếu chúng ta biết ngưỡng bảo vệ thì có thể tính toán thời gian miễn dịch còn lại. Tuy nhiên, với nCoV thì chúng ta chưa biết được thông tin này’, GS. Slifka nhận định.  

Cần tiếp tục cải tiến vắc xin để đối phó với các biến chủng mới

Các loại vắc xin trước đây hiệu quả nhất là sử dụng virus nhân bản để tạo ra hệ miễn dịch có hiệu quả trọn đời. Điều này đã được áp dụng trên vắc xin thủy đậu và sởi. Còn vắc xin uốn ván, viêm gan A là vắc xin protein, không sử dụng virus nhân bản thì không duy trì được thời gian bảo vệ lâu. Tuy nhiên, hiệu quả của nó có thể được tăng cường nhờ dùng chất bổ trợ giúp kích thích phản ứng của cơ thể trước vắc xin.

Vắc xin nCoV của Johnson & Johnson và AstraZeneca hiện nay đang sử dụng virus adeno chứ không phải virus nCoV và cũng không chứa chất bổ trợ. Còn vắc xin Pfizer và Moderna lại dùng không nghệ mRNA và hoàn toàn không chứa virus.

hình ảnh

Trong tương lai sẽ cần tiếp tục nghiên cứu cải tiến vắc xin. Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Trong khi đó, tình hình dịch hiện tại vẫn có thể phức tạp hơn khi virus có khả năng đột biến, qua mặt hệ miễn dịch của cơ thể. Khi đó, việc phòng ngừa bằng vắc xin sẽ càng khó hơn. Bằng chứng là biến chủng Delta đã phần nào làm suy giảm khả năng bảo vệ của vắc xin.

Các loại virus trước đây như thủy đậu, rubella hầu như không đột biến. Còn nCoV thì ít nhất đã có tới 8 biến chủng lớn với nhiều đột biến khác nhau. Chính sự đột biến này khiến nhiệm vụ phòng ngừa của vắc xin phức tạp hơn vì phải nhắm tới nhiều mục tiêu đồng thời.

Vì sự phức tạp của nhiệm vụ tạo ra một loại vắc xin chống lại chủng virus đột biến, một số người hy vọng có thể đánh bại đại dịch thông qua miễn dịch cộng đồng. Chỉ có điều, theo GS. Antia cách mà virus nCoV xâm nhập vào cơ thể người khiến miễn dịch cộng đồng cũng ‘muôn vàn trắc trở’.

‘Vắc xin nhiều khả năng không tạo ra miễn dịch cộng đồng lâu dài trước các loại bệnh đường hô hấp. Còn miễn dịch cộng đồng thì cũng chỉ duy trì được trong thời gian ngắn. Nó còn phụ thuộc vào tốc độ biến đổi của virus cũng như thời gian miễn dịch suy yếu dần’, vị chuyên gia này nhận định.

Nguyên nhân một phần là vì virus này nhân bản ở nhiều vị trí khi xâm nhập vào cơ thể. Vắc xin giúp chặn virus phát triển ở phổi nhưng lại không thể loại bỏ virus khu trú tại mũi. Lý do là vì ở đây không có nhiều sự tuần hoàn máu giúp luân chuyển kháng thể.

Tương lai, vắc xin sẽ tiếp tục được cải thiện để đối phó với biến chủng mới. Các nhà khoa học ở ĐH Imparia College London nhận định: vắc xin thế hệ mới sẽ tập trung nâng cao khả năng phòng vệ tại bề mặt ẩm ướt trên cơ thể như mũi.

Đây là chia sẻ của các chuyên gia được báo chí đăng tải gần đây. Có thể nhận ra rằng để hoàn toàn loại bỏ bệnh bằng vắc xin là điều rất khó có thể xảy ra. Bởi, nó hoàn toàn có 'hạn sử dụng' và chúng ta sẽ cần tiêm nhắc lại trong tương lai. Chứ không phải như một số loại vắc xin khác là tiêm 1 lần cả đời không lo bị lại.