Người bị bệnh thiếu enzyme G6PD sẽ bị dị ứng rất nặng khi ăn đậu tằm hoặc sử dụng một số dược phẩm, hóa chất có khả năng oxy hóa. Người bệnh có thể xảy ra tình trạng tăng bilirubin trong máu nghiêm trọng ở giai đoạn sơ sinh làm dẫn đến các bệnh lý của não.
Giới thiệu về bệnh thiếu men G6PD

Thiếu enzyme G6PD (Glucose-6-phosphatase dehydrogenase) là bệnh di truyền về enzyme rất phổ biến ở người, người bị bệnh này thường không có đủ enzyme G6PD giúp tế bào hồng cầu hoạt động bình thường.
Người bị bệnh thiếu enzyme G6PD sẽ bị dị ứng rất nặng khi ăn đậu tằm hoặc sử dụng một số dược phẩm, hóa chất có khả năng oxy hóa. Người bệnh có thể xảy ra tình trạng tăng bilirubin trong máu nghiêm trọng ở giai đoạn sơ sinh làm dẫn đến các bệnh lý của não. Tuy nhiên, người bệnh cũng có thể hoàn toàn không có biểu hiện gì về mặt lâm sàng, bệnh hiếm khi dẫn tới tử vong. Bệnh thiếu enzyme G6PD nếu được phát hiện sớm và kịp thời ở trẻ sơ sinh và có cách phòng tránh khỏi những thức ăn và tác nhân nguy hiểm thì trẻ hoàn toàn có một cuộc sống bình thường (Beutler 2008)

Nguyên nhân gây bệnh thiếu men G6PD

Thiếu enzyme G6PD là một bệnh lý di truyền, cơ sở phân tử của việc thiếu enzyme G6PD là do đột biến của gen G6PD nằm trên cánh dài của nhiễm sắc thể (NST) giới tính X tại vị trí Xq28. Gene G6PD chịu trách nhiệm mã hóa cho enzyme glucose 6 photphate dehydrogenase (G6PD), khi xảy ra đột biến trên gene G6PD sẽ dẫn tới không tổng hợp được hoặc làm giảm quá trình tổng hợp enzyme, hoặc sai hỏng trên gene gây sai hỏng chức năng enzyme, hậu quả là tích tụ các chất oxy hóa trong tế bào và hồng cầu, gây phá hủy hồng cầu, làm cho cơ thể bị thiếu máu (Beutler 1994)
Tần số mắc bệnh thiếu men G6PD

Trên thế giới theo thống kê có khoảng 140 triệu người mắc bệnh, tập trung ở vùng châu Phi, Trung Đông và Nam châu Á. Tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ em là 1/3500, nam giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn giới nữ (Peters and Van Noorden 2009)
Một số địa phương có thể có nhiều loại bệnh cùng một lúc. Bệnh thiếu enzyme G6PD ít gặp ở một số dân tộc như Bắc Âu, Mỹ da đỏ, Nhật Bản, Exkimô. Ngược lại, bệnh có tỷ lệ 1% trong cộng đồng người châu Phi, Do Thái, Libăng, Hy Lạp, Rumani, Ý, Pakistan, Ả Rập, Thổ Nhĩ kỳ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc (Carter, Pamba et al. 2011).
Hiện nay ở Việt Nam, có khoảng 140 loại đột biến trên gene G6PD gây bệnh thiếu enzyme G6PD (Cappellini and Fiorelli). Theo thống kê, trẻ sơ sinh bị bệnh thiếu enzyme G6PD chiếm tỉ lệ rất cao, khoảng 1/200 trẻ sơ sinh. Tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn ở các dân tộc thiểu số sống ở khu vực núi cao. Ở miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh là 0.5- 3.1 % (Verlé, Nhan et al. 2000), trong khi ở miền Nam, tỷ lệ này là 1.9-4.4 % (Matsuoka, Thuan et al. 2007). Tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm dân tộc thiểu số sống ở các chân đồi của 4 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam (Thanh Hoá, Sơn La, Hà Giang, Hoà Bình) từ 9,7% đến 31% (Đoàn Hạnh Nhân 1997). Chính vì thế cần phải tiến hành xét nghiệm sàng lọc cho tất cả trẻ sơ sinh. Đây là biện pháp tốt nhất để tránh những biến chứng nguy hiểm mà tình trạng thiếu enzyme G6PD có thể gây ra .

Phân loại bệnh thiếu men G6PD

Theo WHO, bệnh thiếu hụt enzyme G6PD được chia làm 5 nhóm chính dựa theo sự hoạt động của enzyme G6PD so với bình thường trong tế bào hồng cầu ( WHO, 1989), có biểu hiện lâm sàng như sau:
- Nhóm 1: mức độ bệnh nghiêm trọng (hoạt tính enzyme <1%) kết hợp với thiếu máu tán huyết mãn tính không có tế bào hình cầu, chức năng hồng cầu bình thường. Nhóm 1 hiếm gặp trên thế giới và bao gồm hai loại đột biến là G6PD-Buenos Aires và G6PD-Durham
- Nhóm 2: mức độ bệnh nghiêm trọng, hoạt tính enzyme ít hơn 10% so với bình thường, kết hợp với thiếu máu huyết tán cấp tính. Bệnh G6PD thuộc nhóm này gặp ở khắp mọi nơi trên thế giới và phổ biến ở các quần thể châu Á và Địa Trung Hải. Các đột biến thuộc nhóm 2 bao gồm G6PD-Mediterranean, G6PD-Cassano, G6PD-Santamaria.
- Nhóm 3: mức độ bệnh trung bình, hoạt tính enzym từ 10% - 60% so với bình thường chỉ xảy ra thiếu máu tán huyết khi tiếp xúc với các tác nhân oxi hóa. Bệnh G6PD thuộc nhóm này thường gặp ở những khu vực bị bệnh sốt rét, bao gồm các đột biến G6PD-AG6PD-Seattle, G6PD-Canton, G6PD-Rignano.
- Nhóm 4: mức độ bệnh nhẹ, hoạt tính của enzym từ 60% - 90% so với bình thường, bệnh hiếm gặp trên thế giới. Các đột biến thuộc nhóm 4 bao gồm G6PD-Mantalbano, G6PD-Orissa.
- Nhóm 5: không tán huyết, hoạt tính của enzym lớn hơn 110% so với bình thường, bệnh hiếm gặp trên thế giới. Về loại đột biến hiện nay còn chưa được báo cáo.
Trong đó thiếu enzyme lớp I dẫn tới thiếu máu do tán huyết mãn tính, tuy nhiên trường hợp này là hiếm. Đa số người mắc bệnh thiếu enzyme thuộc lớp II và III, tuy nhiên những người này có khả năng chống chịu với bệnh sốt rét cao hơn so với người bình thường (Tripathy and Reddy 2007)

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thiếu men G6PD

Biểu hiện lâm sàng của tình trạng thiếu G6PD được chia ra thành ba loại là:
- Vàng da sơ sinh
- Thiếu máu do tán huyết cấp tính (AHA)
- Thiếu máu do tán huyết mãn tính (CNSHA)
Vàng da sơ sinh
Ở những trẻ bị bệnh thiếu enzyme G6PD bẩm sinh, nguy cơ mắc bệnh vàng da sơ sinh lớn hơn nhiều so với những đúa trẻ bình thường (Manganelli, Masullo et al. 2013). Các cơ chế và lý do tại sao thiếu hụt G6PD gây tăng hàm lượng bilirubin trong máu ở trẻ sơ sinh vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ. Tình trạng tăng bilirubin máu có lẽ là xảy ra do sụt giảm bilirubin kết hợp (bilrubin conjugation) và khả năng thanh lọc của gan làm tăng bilirubin gián tiếp. Những trẻ bị thiếu enzyme G6PD và mang đột biến trên vùng khởi động của gene uridine diphosphoglucuronate glucuronosyltransferase-1 (UDPGT-1) sẽ rất dễ tăng bilirubin máu thứ phát do giảm khả năng thanh lọc bilirubin của gan
Thiếu máu do huyết tán cấp tính (AHA)
Người bị bệnh thiếu enzyme G6PD có thể có các triệu chúng AHA do sự phản ứng với ba loại nguyên nhân sau : ăn đậu tằm, bị nhiễm trùng và các loại thuốc có chất oxy hóa. Các bệnh nhiễm trùng là nguyên nhân gây tan máu thường gặp nhất là : viêm gan A và B, cytomegalovirus, viêm phổi và sốt thương hàn (Cappellini and Fiorelli).Các loại thuốc có chứa chất oxy hóa sẽ làm oxy hóa hồng cầu và cuối cùng phá hủy nó ở những bệnh nhân thiếu hụt enzyme G6PD (Prchal and Gregg 2005) (Bảng 2). Xét nghiệm máu trong giai đoạn huyết tán cấp tính ở người bị thiếu enzyme G6PD sẽ có thể thấy các thể Heinz.
Sau khi tiếp xúc với các chất oxy hóa, quá trình huyết tán bắt đầu với cảm giác khó chịu, suy nhược, đau bụng hoặc thắt lưng. Sau một khoảng thời gian vài giờ đến 2-3 ngày, bệnh nhân có biểu hiện vàng da và nước tiểu đậm màu, do hemoglobin niệu (Luzzatto 2006). Tình trạng huyết tán cấp tính điển hình xảy ra vào khoảng 24h -72h sau khi tiếp xúc và giảm dần trong vòng 4 -7 ngày nhưng tình trạng này sẽ không tiếp tục xảy ra dù người bệnh vẫn bị nhiễm trùng hoặc sử dụng các thức ăn hoặc thuốc gây oxy hóa. Trong điều kiện chức năng gan bình thường, tình trạng vàng da sẽ không xảy ra cho đến khi trên 50% hồng cầu bị huyết tán. Khi người mẹ cho con bú sử dụng các loại thuốc có chứa chất oxy hóa mà đứa trẻ đó bị bệnh thiếu enzyme G6PD, thì đứa trẻ đó rất có khả năng sẽ bị tan máu cấp tính do chất oxy hóa đi từ ruột người mẹ tới sữa và sang con (Frank 2005)
Trong điều kiện chức năng gan bình thường, tình trạng vàng da sẽ không xảy ra cho đến khi trên 50% hồng cầu bị huyết tán. Khi người mẹ cho con bú sử dụng các loại thuốc có chứa chất oxy hóa mà đứa trẻ đó bị bệnh thiếu enzyme G6PD, thì đứa trẻ đó rất có khả năng sẽ bị tan máu cấp tính do chất oxy hóa đi từ ruột người mẹ tới sữa và sang con (Frank 2005)
Thiếu máu do huyết tán mãn tính (CNSHA)
Chỉ có một số rất ít các trường hợp bệnh nhân thiếu hụt enzyme G6PD có triệu chứng thiếu máu do huyết tán mãn tính mà ở mức độ nghiêm trọng.Trong trường hợp này, người bệnh luôn là con trai. Tình trạng này thường được gây ra bởi một loại gen đột biến không thường xuyên và tan máu xảy ra trong quá trình trao đổi chất bình thường của hồng cầu . Ở trẻ nhỏ bị thiếu enzyme G6PD, lá lách thường phát triển lớn, và nếu lá lách vẫn phát triển lớn bất thường thì sẽ có thể gây nên các khó chịu trong cơ thể hoặc lá lách hoặc cả hai.

Phương pháp phòng tránh và điều trị bệnh thiếu men G6PD

Phương pháp phòng tránh
Bệnh thiếu enzyme G6PD là bệnh di truyền lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X, do vậy, nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao gấp hai lần nữ. Vì vậy trước khi kết hôn nên đi kiểm tra tình trạng enzyme G6PD trong cơ thể của cả hai người để hạn chế sinh con mắc bệnh. Những cặp vợ chồng có người vợ mắc bệnh, nếu con sinh ra là con trai thì nguy cơ mắc bệnh là 100 % . Thực hiện xét nghiệm bệnh này tốt nhất nên tiến hành với cả người thân gần kề của bệnh nhân, cụ thể là anh chị em ruột hoặc cha mẹ, vì có thể người vợ hoặc chồng bình thường nhưng mang gene bệnh, sự kết hợp giữa hai vợ chồng rất có thể sinh ra con bị bệnh.
Người bị thiếu enzyme G6PD sẽ có cuộc sống hoàn toàn bình thường nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Bảng dưới đây là danh sách thuốc an toàn và không an toàn đối với người bị bệnh thiếu enzyme G6PD. Người bị bệnh cần lưu ý theo danh sách để tránh các cơn tan máu đột ngột.
Phương pháp điều trị
Điều trị bệnh thiếu enzyme G6PD từ các đặc điêm lâm sàng.

Đặc điểm lâm sàng Điều trị Chú ý
Vàng da sơ sinh Liệu pháp chiếu xạ Khi nồng độ biliburin >300µmol/L thì cần truyền máu
Thiếu máu do tan huyết cấp tính (AHA) Truyền máu Nếu bệnh nhân có biểu hiện suy thận cấp tính, cần tiến hành chạy thận nhân tạo.

Theo nguồn: sanglocsosinh.vn