TIN TÀI TRỢ.

Tâm linh, vũ trụ và con người (phần 2)

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 967 Lượt đọc
  • 0 Trả lời

Chia sẻ công thức nấu ăn, mẹo vặt trong nhà, cùng nhiều thông tin thường thức khác, giúp cuộc sống bạn thêm nhẹ nhàng.

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của nam4488
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 4 năm
    • 7 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #1
    Vậy chính xác thì con người chúng ta có bao nhiêu cơ thể tất cả? Câu trả lời là chúng ta có rất nhiều cơ thể, tuy nhiên chắc chắn phải có ba thể chính. Thể đầu tiên tất nhiên là thể xác (physical body), một cơ thể hữu hình, rắn chắc nhưng dễ bị tổn thương và có thể chết. Thể thứ hai là một thái cực đối lập với thể xác, một thể có cấu tạo thanh mảnh tới mức trở thành vô hình, cho dù các giác quan có được khôi phục hoàn toàn thì cũng không thể trông thấy, hãy gọi thể đó là thể trí (mental body). Cũng giống như Chúa, thể trí của chúng ta cũng là một chiếc máy tính lượng tử hình cầu. Thể xác giống như chiếc bình chứa còn thể trí giống như nước trong bình, sẽ mang hình dạng của chiếc bình chứa nó. Chiếc máy tính lượng tử thể trí lúc mới được hình thành chưa có thông tin gì. Sau khi sống trọn một đời bên trong một thể xác nào đó, mọi ký ức, kiến thức và kỹ năng sẽ được lưu giữ mãi mãi bên trong thể trí. Có thể nói, thể xác là cái khuôn đúc nên tâm trí chúng ta. Mọi thứ đi từ đơn giản đến phức tạp. Chúng ta lúc đầu đã đầu thai làm cái cây ngọn cỏ hay côn trùng, sau rồi đầu thai vào thể xác có cấu trúc phức tạp hơn là con vật, và sau cùng làm người. Tâm trí con người là sự kết hợp thông tin của tất cả những kiếp sống trước đó. Ban đầu khi chiếc máy tính thể trí chưa có nhiều thông tin, tâm trí của chúng ta rất đơn giản, như tâm trí của một cái cây vậy. Sau khi trải qua nhiều kiếp sống, máy tính thể trí đã tích trữ một số lượng thông tin khổng lồ và tác động ảnh hưởng tới tâm trí của chúng ta ở những kiếp sống sau đó. Cái đang tồn tại bên trong thể xác chúng ta chỉ là bản sao của thể trí, một chiếc máy tính bỏ túi đóng vai trò lưu trữ những thông tin ở kiếp sống này của chúng ta mà thôi. Nguyên thần thực sự của chúng ta nằm trong một tinh cầu bên trên vũ trụ. Phát biểu này lấy cơ sở từ việc khoa học chiêm tinh có thể đọc được quá khứ và tương lai của chúng ta chỉ thông qua quan sát sự chuyển động của các vì tinh tú. Những khả năng mà chúng ta đã tích lũy được trong nguyên thần từ tiền kiếp sẽ được kích hoạt truyền thông tin xuống bản sao của thể trí nếu chúng ta thực hiện những công việc yêu cầu những khả năng đó ở kiếp này. Năng khiếu hay hiện tượng thần đồng có thể được giải thích như vậy. Giữa thể trí và thể xác có rất nhiều thể trung gian. Cái thật sự là chúng ta là thể trí, cái máy tính lượng tử biết sáng tạo, còn thể xác và các thể trung gian đều chỉ là những chiếc áo. Thể xác có thể coi như bộ giáp. Bộ giáp này phải có người ở trong thì mới di chuyển được. Hiện tượng tách hồn giống như người ở trong bộ giáp chui ra ngoài, để lại một bộ giáp rỗng không. Có nhiều thể trung gian tương ứng với số lượng vật chất tĩnh khác nhau chứa trong thể đó. Tuy nhiên, ta có thể gọi chung các thể này là thể vía (spiritual body). Nếu người nào khôi phục được một phần chức năng của tuyến tùng, tức con mắt thứ ba, thì có khả năng trông thấy được thể này cũng như cõi giới tương ứng với thể đó. Những tấm ảnh chụp ma cũng là chụp được thể vía của con người. Có tất cả ba cõi giới chính tương ứng với ba cơ thể của con người đó là cõi Hạ giới tương ứng với thể xác, cõi Trung giới tương ứng với thể vía, và cõi Thượng giới tương ứng với thể trí. Các linh hồn đầu thai qua nhiều kiếp sống để tự nâng cấp, làm trọn vẹn chính nguyên thần của mình. Như đã nói ở trên, sau khi rời khỏi thể xác, linh hồn chúng ta sẽ được đưa đến ngay tới thiên đàng mà chúng ta đã hướng đến khi còn ở Hạ giới thông qua một luồng sáng trắng và sẽ không phải sống dưới dạng thể vía ở cõi Trung giới. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng có rất nhiều linh hồn phải trải qua cuộc sống ở cõi Trung giới bởi lúc sống ở thể xác vẫn chưa hướng tới cõi nào hết. Sau khi rời khỏi thể xác, linh hồn sẽ bị bất ngờ vì thấy mình chưa chết, vẫn còn bị kết dính với cõi này rất nhiều. Sống ở cõi Trung giới một thời gian, nếu tâm trí càng thông thì lượng vật chất tĩnh càng giảm, giúp linh hồn người đó tiến gần tới cõi Thượng giới hơn. Thể vía có thể nhìn thấy nhưng lại không có hình dạng cố định. Tùy theo trạng thái cảm xúc, nhận thức và ảnh hưởng từ môi trường xung quanh mà sẽ thay đổi hình dạng. Lúc tâm lý bình thường thì mang hình dáng giống với thể xác. Nhưng nếu tâm lý bất ổn thì biến thành đủ mọi loại hình dáng cổ quái. Linh hồn có tác động được đến thế giới này không? Xin trả lời rằng có nếu ý chí đủ mạnh bởi linh hồn cũng là vật chất. Trước hết, thể trí của người này có thể tác động đến thể trí của người khác giống như người ta dùng cái máy tính này để hack cái máy tính khác vậy. Ma ám, nhập đồng, ma dắt, ma giấu đều có thể được giải thích như vậy. Những tấm ảnh chụp được ma hay những thước phim quay được ma có thể là do linh hồn dùng ý chí tác động vào đoạn phim. Không chỉ phim ảnh, linh hồn cũng có khả năng tác động vào những sự vật khác ở thế giới vật chất này, chẳng hạn như trường hợp những khuôn mặt người xuất hiện trên nền gạch của một ngôi nhà ở Tây Ban Nha. Những khuôn mặt này nằm chìm sâu trong nền gạch chứ không phải được vẽ trên bề mặt. Các chuyên gia và gia đình người chủ nhà sau nhiều tuần đào xới nền của ngôi nhà đã phát hiện một cái huyệt chứa xương người ngay dưới sàn lò sưởi.Trở lại với câu hỏi “Chúng ta tồn tại hay không tồn tại?”, nếu chúng ta đi theo hướng tiếp cận là chúng ta không tồn tại thì sự tồn tại mà bạn và tôi có chỉ là cảm giác mà thôi. Vậy sự khác nhau giữa cảm giác tồn tại và cảm giác không tồn tại là gì? Hãy hình dung cơ thể bạn đang ở trạng thái hoàn toàn thư thái, không cảm thấy một chút đau đớn gì. Tâm trí bạn cũng đã mãn nguyện, không cần phải khát khao, lo lắng hay sợ hãi bất kỳ điều gì nữa. Bạn nhắm mắt lại và cảm thấy tâm tư mình hòa vào thế giới xung quanh. Cả tâm hồn bạn chỉ có cảm giác trọn vẹn, đầy ắp. Bạn không còn cảm thấy thể xác mình nữa, cảm thấy mình như thể đang tan vào không gian. Đấy là cảm giác không tồn tại. Bạn hãy hình dung khi bạn đang chìm trong cảm giác trọn vẹn đó thì bất ngờ có một sự nhói đau ở một điểm nào đó trên thể xác hoặc một sự bế tắc xuất hiện trong tâm trí bạn. Sự nhói đau hay sự bế tắc đó sẽ kéo bạn ra khỏi cảm giác không tồn tại, đưa bạn rơi vào cảm giác tồn tại. Toàn bộ tâm trí bạn không còn cảm thấy sự thư thái, hài hòa nữa mà tập trung vào chỗ nhói đau đó, cảm giác bế tắc đó. Sự hài hòa, tĩnh lặng biến mất, bạn cảm thấy mình chính là nỗi đau kia, là sự bế tắc kia. Bạn hình dung nó giống như bạn đang ngồi trong một thư viện, mọi người đều phải giữ im lặng, bất thình lình có một người ho lên một tiếng rõ to lôi kéo sự chú ý của tất cả những người còn lại trong thư viện. Những nỗi đau gắn liền với cảm giác tồn tại. Vậy làm cách nào để thoát khỏi những khổ đau này? Câu trả lời cho câu hỏi này nằm ở thế giới vi mô lượng tử. Suy cho cùng thì cũng chỉ có cái thế giới đó là thật. Những quy luật của thế giới lượng tử vi mô là căn bản chi phối tất cả các quy luật ở những thế giới vĩ mô. Các thành phần của những thế giới vĩ mô cho dù là cõi Hạ giới, Trung giới hay Thượng giới thì đều chỉ là do sự giao thoa, cộng hưởng của các phần tử của thế giới vi mô lượng tử mà thành. Thế giới siêu vi mô này chỉ bao gồm có hai thứ đó là lượng tử vật chất động và lượng tử vật chất tĩnh. Vật chất động là cái gì đó khiếm khuyết, thiếu sót, không trọn vẹn, mất cân bằng, luôn không ngừng tìm kiếm một nửa của mình. Lực hấp dẫn của vật chất động là lực hấp dẫn hướng ngoại, biểu hiện cho sự khát khao nhưng không được thỏa mãn. Vật chất tĩnh chính là do hai lượng tử vật chất động kết hợp lại mà thành. Vật chất tĩnh là cái gì đó trọn vẹn, hoàn hảo, cân bằng, vĩnh cửu, biểu hiện cho sự thỏa mãn. Lực hấp dẫn của vật chất tĩnh là lực hấp dẫn hướng nội, biểu hiện cho sự viên mãn, không còn cần phải tìm kiếm bất cứ thứ gì từ thế giới bên ngoài nữa. Vật chất động là sự đau đớn kéo dài dai dẳng, thể hiện sự tồn tại; vật chất tĩnh là sự an bình, kết thúc đau đớn, thỏa mãn vĩnh cửu, thể hiện sự không tồn tại. Vật chất tĩnh là tương lai của vật chất động. Cho dù chuyến hành trình của mỗi hạt lượng tử vật chất động có dài đến đâu đi chăng nữa thì cuối cùng, kết thúc của vật chất động vẫn là kết hợp được với một hạt lượng tử vật chất động khác và trở thành vật chất tĩnh. Khi lực hấp dẫn hướng ngoại trở thành lực hấp dẫn hướng nội cũng là lúc tồn tại trở thành không tồn tại, khát khao trở thành mãn nguyện, mọi đớn đau đều biến mất, số 1 trở thành số 0. Chúng ta thực sự không tồn tại mà chỉ có cảm giác của sự tồn tại và cảm giác đó là do lực hấp dẫn hướng ngoại của vật chất động tạo thành. Cảm giác không tồn tại thì do lực hấp dẫn hướng nội của vật chất tĩnh tạo thành. Tâm trí chúng ta không thể ở hẳn thái cực nào trong hai thái cực tồn tại và không tồn tại mà chỉ ở giữa hai thái cực đó mà thôi. Nếu ở gần thái cực tồn tại, tâm trí chúng ta khi đó sẽ ở tình trạng cực kỳ bế tắc, đau khổ. Chúng ta không hiểu được chuyện gì đang diễn ra ở thế giới xung quanh cũng như trong tâm trí mình, không biết phải làm gì hoặc có những hành động quá khích, không tự chủ được. Nếu ở gần thái cực không tồn tại, tâm trí chúng ta sẽ cân bằng, thư thái, thông suốt hơn, tự chủ trong hành động và biết phải hành động như thế nào. Khi gặp bế tắc, thông thường chúng ta hoảng lên và chỉ muốn giải quyết thật nhanh bế tắc này để giải tỏa cảm xúc. Chúng ta cứ để tâm trí ở nguyên trạng thái bế tắc đó mà suy nghĩ, tìm cách giải quyết vấn đề. Chính điều này khiến cho chúng ta khó tìm ra cách giải quyết công việc, dễ đâm đầu vào những vấn đề sai. Bế tắc trong tâm lý có đặc điểm khác với sự đau đớn của thể xác. Vị trí cơn đau ở thể xác có thể được xác định rõ nhưng những bế tắc của tâm lý thì không thể xác định rõ được. Thể trí là dạng động chứ không tĩnh như thể xác. Bên trong thể trí, thông tin cứ chảy liên tục và chỉ một sự bế tắc cũng ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống thể trí. Nếu nhìn vào một tâm lý bế tắc, bạn sẽ chỉ thấy sự hỗn loạn, rất khó để phán đoán điều gì là nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng tâm lý của bạn. Muốn làm thông suốt tâm trí, bạn không thể tập trung giải quyết từng điểm một mà phải giải quyết tất cả cùng một lúc. Khi tâm trí có bế tắc, bạn cần phải khiến bản thân trở nên giống với một hạt lượng tử vật chất tĩnh, tức là phải tìm cách tách rời tâm trí khỏi tất cả các sự kiện xung quanh, đưa bản thân vào trạng thái thư thái, thỏa mãn, an bình bên trong chính tâm trí mình. Việc này gọi là thiền định. Trí tưởng tượng và những ký ức tươi đẹp sẽ hỗ trợ bạn thực hiện điều này. Ở trạng thái thư giãn này, tâm trí giống như có một dòng nước vô hình chảy xuống rửa trôi đi tất cả những bế tắc cùng một lúc. Sau khi thấy tâm trí đã có vẻ an tĩnh, cân bằng, bạn mới bắt đầu quan tâm trở lại các vấn đề của mình. Lúc này, bạn sẽ nhìn nhận sự việc sáng suốt hơn, biết mình cần phải làm gì. Để cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc, việc thanh lọc tâm trí bằng thiền định là điều vô cùng cần thiết. Đưa tâm trí vào trạng thái cân bằng, thỏa mãn sẽ giúp bạn luôn nhìn nhận mọi thứ một cách thông suốt, tích cực, từ đó giúp bạn tương thích, hòa nhập vào hoàn cảnh mới, môi trường mới một cách dễ dàng.Nếu thừa nhận rằng chúng ta không tồn tại thế thì không chỉ thể xác mà cả tâm trí của chúng ta đều chỉ là cát bụi mà thôi. Cuộc sống của chúng ta cho dù ở thế giới nào thì cũng chỉ bao gồm có hai thứ đó là cảm xúc và sự quan sát. Cảm xúc là những bế tắc do vật chất động bị mắc kẹt trong lòng vật chất tĩnh, sự quan sát là do vật chất tĩnh thay đổi nương theo dòng chảy vật chất động. Sự quan sát ở đây không thể chỉ hiểu là sự quan sát bằng thị giác mà là quan sát bằng “tâm nhãn”. Như đã nói ở trên, các giác quan đều chỉ là những dạng thức khác nhau của sự quan sát. Bộ óc của chúng ta tập hợp thông tin đến từ tất cả các giác quan, cả những thông tin đến từ cảm xúc rồi kết hợp với toàn bộ thông tin có sẵn trong ký ức để tính toán. Nếu không chịu bất kỳ sự cản trở nào thì chiếc siêu máy tính này sẽ tự động cho ra kết quả trong một thời gian ngắn. Bộ óc chỉ làm được điều này trong trạng thái vô thức, không tập trung. Những kết quả do bộ óc mang lại từ trạng thái vô thức, không tập trung được gọi là trực giác, tức là biết nhưng không hiểu. Trực giác có thể được hiểu là nhận thức đa giác quan. Sự tập trung là nguyên nhân ngăn cản bộ óc tích hợp các thông tin một cách hiệu quả. Nó cũng đồng thời làm giảm đi số lượng thông tin mà bộ óc có thể xử lý trong một giây. Những bế tắc trong nội tâm là nguyên nhân của sự tập trung. Những bế tắc này cũng thường được gọi là stress. Nếu không có stress, chúng ta sẽ không bao giờ hành động hết. Stress ở một mức độ vừa phải sẽ tạo tác động tích cực cho tâm lý, làm chúng ta vui vẻ, hưng phấn, nhưng ở mức độ cao thì sẽ gây hỗn loạn cảm xúc, cản trở hoạt động của não bộ, làm hủy hoại thể xác nhanh hơn. Con mắt thứ ba là trung tâm điều khiển của bộ não. Trạng thái vô thức không tập trung sẽ giúp nó hoạt động tốt hơn còn trạng thái tập trung ý thức thì lại hạn chế đi hoạt động của nó. Bởi vậy, hoạt động vô thức có thể giải quyết được các vấn đề phức tạp còn hoạt động ý thức chỉ xử lý được những vấn đề đơn giản. Tâm trí luôn xuất hiện bế tắc và theo thói quen, cứ hễ tâm trí gặp bế tắc là chúng ta lại tập trung nhiều hơn nên đã làm cho con mắt thứ ba bị vô hiệu hóa, vôi hóa và teo nhỏ đi khi trưởng thành, từ đó hạn chế đi rất nhiều hoạt động của vô thức. Hoạt động của ý thức luôn luôn tuân theo sự thúc đẩy của cảm xúc còn hoạt động của vô thức thì có thể điều tiết cảm xúc chứ không tuân theo những thúc đẩy của nó. Ý thức chỉ là cái cầu nối để vô thức giải quyết những bế tắc cho cảm xúc. Bởi sự căng cứng cảm xúc hạn chế đi hoạt động của vô thức nên ý thức có nhiệm vụ làm thư giãn cảm xúc để hỗ trợ cho hoạt động của vô thức. Khi gặp phải vấn đề khó, đừng tập trung vào vấn đề đó nữa mà để ý thức của bạn tạm thời chuyển sang giải quyết một vấn đề dễ dàng nào đó để khiến tâm trí bạn thoát khỏi nỗi ám ảnh với vấn đề hóc búa kia, nhờ đó mà thần kinh được thư thái hơn, lấy lại được chút ít cảm giác cân bằng. Trong sự cân bằng đó, hoạt động vô thức của bộ óc sẽ phát huy hiệu quả cao nhất, làm thông suốt tâm trí chúng ta. Sau một lúc, ta quay lại với vấn đề phức tạp kia thì đã thấy trong óc hiện lên cách giải quyết.Cuộc sống của con người chỉ là cảm xúc và sự quan sát, cuộc sống của Thượng Đế cũng vậy. Vũ trụ và Thượng Đế là một. Hai thuộc tính của vũ trụ tương ứng với cảm xúc và sự quan sát đó là thuộc tính ngẫu nhiên và thuộc tính quân bình. Cả cõi vô hạn đều mang tính ngẫu nhiên, hỗn độn, không quy luật, chỉ có khu vực bên trong vũ trụ mới có tính quân bình mà thôi. Tính quân bình không thể hiểu giống như tính công bằng, tức là nó không giống như việc bạn làm mười thì tôi cũng phải làm mười, bạn được năm cái bánh thì tôi cũng phải được năm cái bánh. Bạn hãy nghĩ về một cái cối xay gió. Tính ngẫu nhiên là gió còn tính quân bình chính là cánh quạt. Thuộc tính ngẫu nhiên và thuộc tính quân bình giống như hai người đang khiêu vũ, luôn thay đổi cùng nhịp. Hai thuộc tính của vũ trụ luôn luôn xuất hiện trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng, sự kiện trong vũ trụ. Có sự kiện thì tính ngẫu nhiên tác động nhiều hơn, có sự kiện thì tính quân bình tác động nhiều hơn. Trong lịch sử loài người tồn tại rất nhiều những sự trùng hợp ngẫu nhiên vượt qua cả không gian và thời gian mà khoa học không thể giải thích. Các sự kiện này xảy ra một cách ngẫu nhiên, không do ý chí sắp xếp của bất cứ ai. Tuy nhiên, do các thông số và thuật toán của chiếc máy tính vũ trụ luôn phải quân bình, quân bình tới từng hạt lượng tử cho nên mới dẫn tới sự trùng hợp đến đáng kinh ngạc như vậy. Cõi Thượng giới, cõi của thể trí là nơi mà thuộc tính quân bình tác động tới tâm trí của chúng ta mạnh mẽ hơn, còn cõi Hạ giới, cõi của thể xác là nơi mà thuộc tính ngẫu nhiên tác động tới tâm trí mạnh hơn. Bởi vậy, cõi Thượng giới là cõi của ý thức, nơi mà mọi thứ đều đã được nhận biết, còn cõi Hạ giới là cõi của cảm xúc, cõi không tỉnh thức, nơi mà phần lớn linh hồn sống trong những giấc mơ. Những câu chuyện mỗi linh hồn trải qua ở Hạ giới giúp tâm trí họ phát triển một cách dần dần. Giống như mỗi hạt lượng tử vật chất động bay loạn xạ khắp nơi, va chạm với các hạt lượng tử khác cho đến khi trở thành vật chất tĩnh, mỗi linh hồn cũng phải xuống Hạ giới, va chạm với cuộc sống ở nơi đây cho đến khi những thông tin trong thể trí của họ trở nên quân bình. Những linh hồn mà tâm trí chưa quân bình thì khi xuống Hạ giới và trải qua những sự kiện hỗn loạn dưới Hạ giới thì tâm trí sẽ chất chứa rất nhiều bế tắc, không xử lý được. Những bế tắc đó làm tâm trí hỗn loạn, đớn đau. Những linh hồn như Đức Phật là những linh hồn đã đạt tới sự quân bình trong tâm trí. Cho dù mê trận các sự kiện ở Hạ giới có hỗn loạn ra sao thì tâm trí của họ vẫn xử lý được hết các thông tin, giải tỏa được bế tắc và cân bằng tâm trí trở lại. Những linh hồn đó chỉ xuống Hạ giới, thực hiện một công đức lớn nào đó cho thế gian, có thể coi như bài khóa luận tốt nghiệp Đại học, rồi sẽ lên Thượng giới, đóng vai trò như một vị thần tiên dẫn độ cho các linh hồn còn chưa tỉnh thức dưới trần gian. Mỗi linh hồn trong vũ trụ giống như một lượng tử vật chất động. Các hạt lượng tử vật chất động tuy đều kết thúc bằng việc trở thành vật chất tĩnh nhưng mỗi hạt lại có một lộ trình khác nhau với độ dài ngắn cũng không giống nhau. Do đó, mỗi cá nhân sẽ chiếm một ví trí khác nhau trong vũ trụ. Vị trí này là do ngẫu nhiên mà có. Thượng Đế sẽ giao cho mỗi linh hồn những sứ mệnh tương ứng với vị trí và những năng lực họ tích tụ được trong thể trí từ những kiếp trước. Do phải đảm bảo tính quân bình của vũ trụ, các linh hồn phải đợi đến thời điểm thích hợp khi ở dưới Hạ giới có một vị trí phù hợp với nghiệp lực của họ thì mới được đầu thai. Lời giải thích trên ủng hộ cho niềm tin của những người Công giáo rằng Chúa có một kế hoạch cho mỗi người trong chúng ta. Tuy nhiên, “kế hoạch” ở đây không thể được hiểu là do sự tập trung phân tích logic rồi lập kế hoạch mà con người chúng ta vẫn làm ở dưới Hạ giới. Cái duyên của mỗi người chính là do thuộc tính ngẫu nhiên và thuộc tính quân bình của vũ trụ hợp lại mà thành, chứ không phải có định mệnh. Thượng Đế luôn hành động tuân theo trực giác của Ngài, mà trực giác của Ngài thì do tính quân bình của vũ trụ tạo ra. Những chỉ đạo của Thượng Đế ban ra không phải là lập kế hoạch sẵn từ trước mà là tùy cơ ứng biến tuân theo sự quân bình. Do đó, cho dù có bất cứ chuyện gì xảy ra, hãy tin vào thuộc tính quân bình của vũ trụ và thả lỏng tâm trí ra để có thể nhìn thấy những chỉ dẫn của Thượng Đế. Tin vào tính quân bình chính là tin vào Thượng Đế.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT