Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Câu chuyện tử vi có thật - phương pháp cải tạo vận mệnh, chuyển nghiệp

  • 1 Lượt chia sẻ
  • 2.69K Lượt đọc
  • 3 Trả lời

Chia sẻ công thức nấu ăn, mẹo vặt trong nhà, cùng nhiều thông tin thường thức khác, giúp cuộc sống bạn thêm nhẹ nhàng.

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của be-buti
    • Đang bị khóa tại diễn đàn
      Offline
    • 10 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 2,185 Bài viết

    • 3,084 Được cảm ơn

    #1
    Hoà Thượng Tịnh Không giảng Liễu Phàm Tứ Huấn (Tập 1)
    2013-05-30 1410
    (PPUD) Giảng tại Thẩm Quyến - Trung Quốc ngày 16/04/2001
    Các vị đồng tu, xin chào mọi người!
    Hôm nay, chúng tôi có thể tại Nhiếp Ảnh Bằng của đài truyền hình Phụng Hoàng gặp mặt mọi người, lại nói về Liễu Phàm Tứ Huấn, quyển sách này là khi tôi 26 tuổi, lúc vừa mới tiếp xúc với Phật Pháp; là quyển sách đầu tiên tôi đọc. Nó có ảnh hưởng đến tôi vô cùng lớn, có thể nói là ảnh hưởng đến cả đời tôi. Đối với bộ sách này, tôi vô cùng yêu thích, cũng thường đọc tụng, và cũng đã giảng qua không ít lần. Chỗ giảng của trước kia so với chỗ giảng của hiện tại, cảnh giới đương nhiên có những điểm không giống nhau. Nhưng bài giảng trước vẫn còn có thể làm y cứ để tham khảo.
    Liễu Phàm tiên sinh, ông họ Viên, tên của ông gọi là Hoàng, Hoàng (nghĩa là màu vàng) trong đỏ vàng xanh trắng đen, tự là Khôn Nghị. Đương thời, ông là người sông Ngô tỉnh Giang Nam. Ông sống vào thời vua Minh Thế Tông. Thế Tông là vị vua đời thứ 12 nhà Minh, gia tĩnh năm thứ 14, công nguyên năm 1535. Như vậy, quý vị đã có những hiểu biết tương đối rõ ràng về ông, khoảng cách của ông so với hiện tại chúng ta đã hơn 500 năm. Sau quyển sách “Liễu Phàm tứ huấn” còn có phụ thêm bài văn “Du tịnh ý công ngộ Táo Thần ký”, cũng là một môn công khóa rất đáng cho chúng ta học tập. Du Tịnh Ý sinh vào năm Gia Tĩnh thứ 4, lớn hơn ông Liễu Phàm 10 tuổi. Hai người họ gặp nhau vào năm Đinh Sửu, đó là lần thứ hai ông Liễu Phàm đi thi Tiến sĩ, năm đó ông 43 tuổi, còn Du Tịnh Ý Công 53 tuổi, hai người là đồng khoa, lần này, Du Tịnh Ý thi đậu còn Liễu Phàm thi không đậu. Tiên sinh Viên Liễu Phàm phải đợi đến năm Bính Tuất, lúc ông 52 tuổi mới thi đậu Tiến Sĩ.

    Chúng ta từ trong truyện ký cả đời ông mà xem thấy, việc sửa sai tự làm mới là một quá trình đầy khó khăn, không phải là việc dễ dàng. Đặc biệt là thời gian đầu, 20 năm trước của ông rất khó khăn, về sau này, khi công phu đã thành thục rồi thì việc đoạn ác tu thiện càng ngày càng dễ làm hơn, chúng ta hãy xem bổn văn.
    [Dư đồng niên tang phụ]
    “Dư” là tiên sinh Viên Liễu Phàm tự xưng, “đồng niên” là chỉ lúc ông còn nhỏ, căn cứ vào chương “học lập mệnh” mà xem, chúng ta biết được ông chịu tang cha khẳng định là trước 15 tuổi, làm sao biết được? Bởi vì ông gặp Khổng tiên sinh vào năm 15 tuổi, cho nên mới chắc chắn là trước 15 tuổi.
    [Lão mẫu mệnh khí cử nghiệp học y]
    “Cử nghiệp” chỉ việc đọc sách cầu công danh, mẹ ông nói với ông, không nhất thiết phải học hành cầu công danh, đồng thời khuyên ông học ngành y.
    [Khả dĩ dưỡng sanh, khả dĩ tế nhân], học y có chỗ lợi, vừa có thể nuôi sống mình, vừa có thể cứu giúp nhiều người bệnh khổ.
    [Khả tập nhất nghệ dĩ thành danh, nhĩ phụ túc tâm dã]
    Nếu như con có thể chân thật học tốt nghề y này thì tương lai có thể trở thành danh y, đây cũng là nguyện vọng của cha con đối với con.
    [Hậu dư tại Từ Vân, ngộ nhất lão nhân giả, tu nhiêm vĩ mạo, phiêu phiêu nhược tiên, dư kính lễ chi].
    Về sau, chữ “hậu” là chỉ năm ông 15 tuổi, năm 1549, ông tại chùa Từ Vân gặp được một lão nhân. “Tu nhiêm vĩ mạo”, “tu nhiêm” là chỉ râu tóc rất dài, tướng mạo vô cùng tốt đẹp, xem thấy “phiêu phiêu nhược tiên” là chỉ dáng vẻ không giống như người thường. Ông sau khi nhìn thấy thì đối với vị lão nhân đó vô cùng lễ kính, từ đó có thể thấy, tiên sinh Viên Liễu Phàm từ nhỏ đã được dạy dỗ rất tốt, tuy rằng tuổi chỉ mới xấp xỉ 15 nhưng cách cư xử đối người tiếp vật lại rất đúng quy củ. Điều này mới có thể khiến người khác hoan hỷ, khiến người khác yêu quý.
    [Ngữ dư viết], đây là chỉ lão nhân đó nói với ông: “tử sĩ lộ trung nhân giả (con là người trong sĩ lộ)”, lão nhân này giống như là người biết xem tướng, vừa nhìn thấy liền nói, con là người có mệnh làm quan.
    [minh niên tức tiến học], “tiến học” là chỉ sang năm ông có thể thi đậu tú tài.
    [hà bất độc thư], tại sao con không đọc sách vậy? con lang thang đến đây, sao không đọc sách?
    [dư cáo dĩ cố], ông liền đem việc mẹ ông giáo huấn, không muốn ông đọc sách mà học y trình bày ra, ông sở dĩ đi lang thang bên ngoài là vì muốn hái thuốc, bởi vì 15 tuổi học y, đây nhất định là học sinh. Hoặc là theo học với danh y, hoặc là học trò trong các tiệm thuốc. Đây đều là những điều mà chúng ta có thể tưởng tượng đến. Cho nên ông đã đem nguyên cớ báo cáo với vị đạo trưởng này.
    [tịnh khấu lão giả tính thị lí cư], nghĩa là hướng lão nhân thỉnh giáo quý danh? và từ nơi nào lại đây?
    [Viết: ngô tính Khổng, Vân Nam nhân dã], lão nhân này nói ông họ Khổng, ông là người Vân Nam.
    [đắc Thiệu Tử Hoàng Cực Số chánh truyền], tức là quyển Hoàng Cực Số chánh truyền của ngài Thiệu Khang Tiết, hiện tại tác phẩm này vẫn còn được lưu giữ trong “Tứ Khố Toàn thư”. Tôi cũng đã từng xem qua vài lần nhưng thực tại mà nói, thì xem không hiểu, hoàn toàn thuộc về số học cao đẳng, trong quyển sách này không chỉ có thể nói về vận mệnh của một con người, vận mệnh của quốc gia, mà còn cả vận mệnh của thế giới; hòan toàn dựa theo môn bốc số trong “Kinh Dịch” mà đoán định.
    [Số cai truyền nhữ], từ trên định số mà nói thì ta nên mang phương pháp này truyền cho con. Lão nhân là lần đầu tiên gặp mặt Viên Liễu Phàm, làm sao biết có thể đem nó truyền lại cho ông? Ở trong này có đại học vấn. Vấn đề này rất giống với cách truyền đạo của các tổ sư đại đức của tông môn giáo hạ trong nhà Phật.
    [Dư dẫn chi quy, cáo mẫu]. Liễu Phàm tiên sinh liền dẫn lão nhân về nhà gặp mẹ mình và giới thiệu ông với mẹ.
    [Mẫu viết: thiện đãi chi, thí kỳ số, tiêm tất giai nghiệm], mẫu thân nói, phải chiêu đãi lão nhân thật tốt và thử bói một quẻ xem có linh nghiệm hay không? Kết quả là bói điều gì cũng đều linh nghiệm.
    [Dư toại khởi độc thư chi niệm], từ chỗ này, ông đối với sự bói toán của lão nhân, ông có lòng tin, như thế là ông liền khởi lên ý niệm đọc sách.
    [Mưu chi biểu huynh Thẩm Xứng], tức là cùng với anh họ của ông thương lượng. Biểu huynh nói:
    [ngôn Úc Hải Cốc tiên sinh, tại trầm hữu phu gia khai quán, ngã tống nhữ kí học thậm tiện, dư toại lễ Úc vi sư ].
    Anh họ của ông dẫn ông đến chỗ của Úc Hải Cốc tiên sinh, Úc tiên sinh tại chỗ đó dạy tư thục, “khai quán” là chỉ cho việc dạy tư thục, Thẩm tiên sinh dẫn ông đến nơi đó đăng kí học, Viên Liễu Phàm tiên sinh liền bái Úc Ngũ Cốc tiên sinh làm thầy.
    [Khổng vi dư khởi sổ, huyền khảo đồng sanh đương thập tứ danh, phủ khảo thất thập nhất danh, đề học khảo đệ cửu danh].
    Khổng tiên sinh bói cho ông Viên Liễu Phàm một quẻ, ông nói: sang năm ông lên huyện thi tú tài, thi huyện đứng thứ 14, thi phủ đứng thứ 71, đề học đứng thứ 9. Đề học là thi tỉnh, lúc đó thi tú tài phải đậu cả ba cửa này.
    [minh niên phó khảo]
    Sang năm đi thi, “minh niên” là chỉ năm ông 16 tuổi, năm 16 tuổi ông đi thi quả nhiên ông thi đậu, thứ hạng hoàn toàn tương hợp, “minh niên phó khảo, tam xứ danh số vi hiệp”, có thể thấy công phu đoán mệnh của Khổng tiên sinh rất giỏi, rất cao minh, ông hoàn tòan không phải là những thuật sĩ giang hồ. Ông chân chánh là chuyên gia số thuật có thực học, là chuyên gia giảng về mệnh lý của Trung Quốc. Ông ấy là chuyên gia chân thật chứ không phải giả danh.
    [phục vi bốc chung thân hưu cữu], sau khi đã thấy linh nghiệm như vậy, ông thỉnh lão tiên sinh đoán quẻ cho cả đời ông, về cát hung họa phước.
    [ngôn: mỗ niên khảo đệ ki danh, mỗ niên đương bỗ lẫm].
    “Lẫm” là một loại cấp bậc trong Tú tài, tương đương với hiện tại chúng ta là học sinh công phí, (tức được học bổng). Lẫm là lẫm mễ (chỉ lương bổng cấp bằng gạo), thứ hạng của nó có giới hạn nhất định, tất phải có hữu khuyết (thi đậu), xuất khuyết (thi không đậu). Thứ tự khảo thí trong tú tài là cao nhất, sau đó là danh sách bổ sung, bổ lẫm.
    [mỗ niên đương cống]
    Cống sinh so với lẫm sinh cao hơn một bậc, nhưng cũng đều thuộc tú tài, trong tú tài phân ra nhiều cấp bậc mà cống sinh là cao nhất, thứ kế là lẫm sinh.
    [cống hậu mỗ niên]
    Sau khi ông làm cống sinh, “mỗ niên”-vào năm nào đó, cống sinh là người có tư cách vào học ở thái học. Cho nên lúc đó vào Thái học, thái học là trường đại học do nhà nước lập nên. Ngày trước cả nước chỉ có một trường, gọi là Quốc Tử Giám. Trường Thái học đó luôn được đặt ở thủ đô, ở kinh thành. Đời Minh có hai trường Quốc Tử Giám, nguyên nhân như thế nào vậy? Khi Minh Thái Tổ dựng nước đã đóng đô ở Nam Kinh, cho nên ở Nam Kinh có trường Quốc Tử Giám, đến thời Minh Thành Tổ, ông lại dời đô về Bắc Kinh, nên ở Bắc Kinh cũng có một trường Quốc Tử Giám. Vì thế vào thời nhà Minh, trường đại học do đất nước lập biến thành có hai cái. Đây là kiến thức thông thường mà chúng ta phải biết. Từ cống sinh trở lên mới có tư cách đến học ở Quốc Tử Giám. Đây là vào 1 năm sau khi đỗ cống sinh, ông được chọn làm huyện trưởng Tứ Xuyên. “Thái doãn” nghĩa là huyện trưởng.
    [tại nhiệm tam niên bán tức nghi cáo quy], ông làm quan được ba năm rưỡi thì liền cáo lão vê quê, tại sao vậy?
    [ngũ thập tam tuế bát nguyệt thập tứ nhật sửu thời] (Năm 53 tuổi vào giờ sửu ngày 14 tháng tám).
    Vân Cốc thiền sư có thể đoán định được một cách chuẩn xác như thế.
    [đương chung ư chính tẩm], ông chết tại nhà, thọ mạng của ông đã đến.
    [tích vô tử], trong mạng của ông không có con trai.
    [dư bị lục nhi cẩn ký chi], tôi cẩn thận tỉ mỉ ghi chép những điều đó lại. Từng điều, từng điều một mà Khổng tiên sinh nói ông đều ghi chép lại, đây là sự việc của cả một đời ông.
    [tự thử dĩ hậu, phàm ngộ khảo giáo kỳ danh sổ tiên hậu, giai bất xuất Khổng công sở huyền định giả], “huyền” là chỉ sự đoán định của Khổng tiên sinh. Về sau, mỗi năm đi thi xếp hạng của ông đều đúng như Khổng tiên sinh đã đoán định, tơ hào không sai. Ở đây có 1 điều không đúng.
    [độc toán dư thực lẫm mễ cửu thập nhất thạch ngũ đẩu đương xuất cống] (Chỉ có một lần đoán là khi nào số gạo cấp lương lẫm sinh của ta đủ 91 thạch 5 đấu sẽ được bổ làm cống sinh).
    Điều này có nghĩa là lúc ông làm lẫm sinh, ông lãnh được một số thóc do nhà nước cấp, phần thóc do nhà nước cấp này, tương đương với ngày nay chúng ta gọi là lương bổng. Ông lãnh được bao nhiêu thóc? Ông phải lãnh đủ số 91 thạch 5 đấu, ông mới xuất cống, điều này kể từ lúc ông làm lẫm sinh lên cống sinh.
    [cập thực mễ thất thập dư thạch, Đồ Tông sư tức phê chuẩn bổ cống, dư thiết nghi chi] (nhưng khi ta mới lãnh hơn 70 thạch thì Đồ tông sư đã phê chuẩn cho ta được bổ cống sinh, ta liền có nghi hoặc.)
    Khi gieo quẻ đoán mệnh cho ông thì khi hưởng được 91 thạch 5 đấu ông mới được lên cống sinh. Nhưng khi ông mới lãnh được hơn 71 thạch thì Đồ tông sư, “tông sư” là chỉ quan Đề học đương thời, quan giáo học của một tỉnh, tương đương với ti trưởng giáo dục ngày nay. Ông là người phê chuẩn việc bổ cống sinh, bổ cống sinh còn gọi là xuất cống. Trong tâm ông Viên Liễu Phàm có nghi hoặc, tại sao điều này lại không đúng? lần tính toán này xem ra không chuẩn xác?
    [hậu quả vi thự ấn dương công sở bác]
    Đồ tông sư phê chuẩn bổ cống, trên văn kiện đã ghi rõ, “bị thự ấn”, thự ấn là chỉ cho vị quan thay thế tạm thời. Vị Dương tiên sinh thay thế tạm thời này đã bác bỏ ông, không phê chuẩn cho ông bổ cống sinh.
    [trực chí Đinh Mão niên]
    Năm Đinh Mão là Minh Mục Tông Long Khánh nguyên niên. Tiên sinh Liễu Phàm lúc đó 33 tuổi. Các vị nghĩ xem, ông ấy là 16 tuổi thi đỗ tú tài, đến năm 33 tuổi mới được lên cống sinh, mười mấy năm, thời gian dài như vậy mới chờ đến năm Đinh Mão.
    [Ân Thu Minh Tông Sư kiến dư tràng trung bị quyển, thán viết: ngũ sách tức ngũ thiên tấu nghị dã]

    Quan Đốc học lúc bấy giờ, chính là trưởng quan Ân Thu Minh tiên sinh chủ trì giáo học, trong lúc rảnh rỗi, ông xem lại những bài thi của các vị thi tú tài đợt trước, trong số những bài này, có những bài thi không đậu, ông lấy ra xem lại, đột nhiên xem thấy bài thi của tiên sinh Viên Liễu Phàm, bài làm vô cùng hay, ông cảm thán mà nói rằng: 5 bài này, người làm 5 bài này cũng như viết tấu chương. Kiến giải, văn chương của người này đều rất hay, có thể sánh với những bài tấu nghị của quan đại thần dâng lên vua.
    [khởi khả sử bác hiệp yêm quán chi nho, lão ư song hạ hồ], “bác” là chỉ cho kiến văn quảng bác, học thức của ông rất phong phú, “hiệp” là nói, ông đối với kiến giải, hiểu biết rất là thấu triệt, “yêm” là chỉ văn nghĩa của ông sâu sắc, công phu nhất “quán”, văn chương như thế này, rất khó xem thấy được. Ông nói không thể để cho những người có học vấn, có đức hạnh, có năng lực như vậy bị mai một theo thời gian, cả đời chỉ là một tú tài nghèo.
    [toại ư huyện thân văn chuẩn cống], sau đó mời ông đi bổ cống sinh, lần này thì phê chuẩn rồi.
    [liên tiền thực mễ kế chi, thật cửu thập nhất thạch ngũ đẩu dã].
    Khổng tiên sinh đoán mệnh một chút cũng không sai, xác thực là số thóc ông ăn từ lúc đỗ lẫm sinh là 91 thạch 5 đấu, ông mới được bổ chức cống sinh.
    [dư nhân thử ích tín tiến thối hữu mệnh, trì tốc hữu thì, đạm nhiên vô cầu hỹ].
    Đến lúc này thì hòan toàn khẳng định, tin tưởng mỗi một người đều có vận mệnh. Vận mệnh diễn ra nhanh hay chậm đều có lúc có thời, cưỡng cầu cũng không được, vì vậy tâm ông định lại, vọng niệm cũng không có, chân chánh làm được “ư nhân vô tranh, ư thế vô cầu” (đối với người không tranh, đối với đời không mong cầu). Cho nên tôi nói ông là một phàm phu tiêu chuẩn. Chúng ta là phàm phu không đúng tiêu chuẩn, chúng ta một ngày từ sáng đến tối tòan là suy nghĩ vọng tưởng, luôn luôn là vọng cầu mà cầu không được. Nếu trong mạng có thì đến cuối cùng sẽ có, nếu trong mạng không có mà cứ vọng cầu, thì nào có cầu được?
    [cống nhập Yến Đô], làm cống sinh, đến Yến đô, đến Bắc Kinh. Đến Bắc Kinh, đương nhiên cũng có thể, ông nghĩ muốn xem trường đại học quốc gia đó. Tôi nghĩ ông ấy nhất định đi đến hai trường đại học đó tìm hiểu một chút, sau đó đến cuối cùng là chọn trường nào để học, điều này chúng ta có thể nghĩ đến.
    [lưu kinh nhất niên, chung nhật tĩnh tọa, bất duyệt văn tự], (ở lại kinh đô một năm, suốt ngày tĩnh tọa, không màng tới việc học hành.)
    Tại sao vậy? Một đời đều đã có trong mệnh, nghĩ tưởng cũng uổng công. Cho nên ông đem vọng tưởng ngừng lại. Thực tại mà nói, ông đã bị vận mệnh câu thúc, không biết phải làm thế nào. Chúng ta xem thấy cái tình cảnh này của ông Viên Liễu Phàm, cũng rất đồng tình, cũng thật xót thương.

    [Kỷ Tỵ quy], “Kỷ Tỵ” là năm thứ hai, năm thứ hai từ Bắc Kinh trở lại phương Nam.
    [Du Nam Ung], thời gian này, Liễu Phàm tiên sinh 35 tuổi, Nam Ung chính là Quốc Tử Giám ở Nam Kinh. Có thể thấy ông đã điều tra rất rõ ràng, ông chọn đại học ở Nam Kinh và muốn đến trường này học tập.
    [vị nhập giám], vẫn chưa nhập học, vào trước thời điểm nhập học.
    [tiên vấn Vân Cốc Hội thiền sư], vẫn chưa nhập học, nghe nói đến núi Thê Hà, núi Thê Hà ở Nam Kinh. Hiện tại ở Nam Kinh còn có chùa Thê Hà. Thế là, ông đến núi Thê Hà bái kiến Vân Cốc thiền sư. Vân Cốc là hiệu của thiền sư, pháp danh của ông là Pháp Hội nên ở đây xưng là “Hội thiền sư”, đây là cách tôn xưng ông. Vân Cốc thiền sư là vị đại đức trong nhà Phật đương thời, là một vị cao tăng, lúc bấy giờ Vân Cốc thiền sư đã 69 tuổi, Liễu phàm 35 tuổi, Vân Cốc thiền sư hơn Liễu Phàm 34 tuổi.
    Liễu Phàm 35 tuổi đi bái kiến ông, đây cũng là lần đầu gặp mặt. Chúng ta từ đoạn sau của truyện ký xem thấy hành vi, lời nói của Vân Cốc thiền sư, thấy được đạo phong của ông. Ông là một người chân chánh khai ngộ. Tuy rằng còn nhỏ đã xuất gia, lúc xuất gia cùng với hiện tại đều làm kinh sám phật sự, nhưng kinh sám phật sự lúc đó cùng với chúng ta hiện nay tính chất hòan tòan không giống nhau. Sau đó ông giác ngộ được, những sự việc mà người xuất gia làm cùng với sinh tử, với xuất ly tam giới không có can hệ.
    Tôi không cho đó là việc mà người xuất gia làm, cái mà người xuất gia làm chỉ là duy trì đời sống sinh hoạt của mình mà thôi, cho nên sinh tử sự đại. 19 tuổi đã đi tham học, tầm sư học đạo, về sau xác thực là đã có thành tựu. Sau khi khai ngộ, ông ẩn giấu tài năng trong tự viện, chuyên hành khổ hạnh, những việc khó khổ mà người khác không làm thì ông làm. Về sau các danh sĩ, quan viên ở một số địa phương phát hiện ra ông, đây là một cao tăng chân chính ngộ đạo, cho nên đã giúp đỡ ông, hy vọng có thể khôi phục lại đạo tràng trên núi Thê Hà.
    Lão nhân gia ông hòan tòan không để ý đến danh văn lợi dưỡng. Ông giới thiệu một vị pháp sư khác làm trụ trì, làm phương trượng. Sau khi đạo tràng đã hưng thịnh, ông đến một nơi sau núi rất ẩn mật, kiến lập một chỗ tu nhỏ, nơi đó gọi là “Thiên Khai Nham”. Hiếm có người đặt chân đến, ông một mình ở nơi đó khổ tu. Tôi nghĩ, Liễu Phàm tiên sinh đi thăm viếng ông, nhất định là đến nơi này, Thiên Khai Nham. Tôi nghĩ nhất định phải là nơi này, bởi vì lúc đó pháp sư đã 69 tuổi mà đến năm 75 tuổi thì Ngài viên tịch, cũng chính là vào năm 1575, năm đó, tiên sinh Viên Liễu Phàm 41 tuổi. Vậy nên lúc Liễu phàm tiên sinh gặp ông, cho đến lúc ông viên tịch, thời gian cũng không lâu lắm, chỉ có 7 năm. Do đó, chúng tôi cho rằng ông ấy nhất định là ở Thiên Khai Nham của núi Thê Hà.
    Đại sư, bình thường khi tiếp đãi mọi người, bất kể là ai đến bái kiến ông, ông đều đưa cho họ một cái bồ đòan và mời họ ngồi ngay ngắn lên đó, rồi bảo họ tham cứu vấn đề “phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục (nghĩa là lúc cha mẹ chưa sinh thì bổn lai diện mục là gì?)”, chỉ một câu này mà không nói thêm gì nữa, cả ngày ông không nói một câu, chỉ ở trong định. Liễu Phàm tiên sinh đi tham bái ông, đại khái cũng không ngoại lệ.
    [Ư Thê Hà sơn trung, đối tọa nhất thất, phàm tam trú dạ bất minh mục ] (ở trên núi Thê Hà, ngồi đối diện với thiền sư trong một căn phòng suốt ba ngày đêm mà không hề chợp mắt).
    Thiền sư cùng với Tiên sinh Viên Liễu Phàm, hai người họ ngồi trong thiền đường, ba ngày ba đêm mà không nói một câu.
    [Vân Cốc vấn viết: phàm nhân sở dĩ bất đắc tác Thánh giả, chỉ vị vọng niệm tương triền nhĩ. ] (Vân Cốc hỏi rằng: Sở dĩ con người không thể trở thành thánh nhân chỉ vì những vọng niệm lăng xăng trong lòng không ngừng. )
    Đặc biệt là người tu hành, người tu hành tại sao không thể thành tựu? Vì vọng niệm quá nhiều, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước quá nhiều nên tâm định không nổi.
    [nhữ tọa tam nhật, bất kiến khởi nhất vọng niệm, hà dã? ] (Ngươi ngồi ba ngày mà không thấy khởi lên một vọng niệm nào, làm sao mà làm được như vậy)
    Thật kì lạ! ngươi ngồi đây ba ngày mà ta “không thấy ngươi khởi một vọng niệm nào”, Vân Cốc thiền sư không thấy Liễu phàm tiên sinh khởi lên một vọng tưởng. Đây là nguyên do gì?
    Vân Cốc thiền sư cũng thật kỳ lạ! bình thường ông rất ít nói, nhưng khi gặp Viên Liễu Phàm, lại nói hơi nhiều, thật là không dễ! Đây là duyên phận rất đặc biệt. Chúng ta phải hiểu được đạo lý ở đây, giữa người và người xác thực là phải có nhân duyên. Viên Liễu Phàm gặp được thiền sư Vân Cốc mới có thể chuyển biến vận mệnh. “Thiên học lập mệnh” là do Vân Cốc truyền lại cho ông.
    [Dư viết: ngô vị Khổng tiên sinh tóan định, vinh nhục tử sanh, giai hữu định số, tức yếu vọng tưởng, diệc vô khả vọng tưởng. ] (Ta nói: Con vì được Khổng tiên sinh bói số mạng, sống chết vinh nhục đều do trời định sẵn. Dù muốn vọng tưởng cũng không thể thay đổi được)
    Lúc trước, khi tôi đọc đến câu nói này, tôi cho rằng lúc đó, Viên Liễu Phàm tiên sinh thực sự là một phàm phu tiêu chuẩn. Cũng không sai, cả đời ông, mỗi ngày trôi qua đều đúng như đóan định của vận mệnh, đến 53 tuổi thì thọ chung tại nhà, cả đời không có tội lỗi lớn, nên đời sau khẳng định không đọa vào 3 đường ác, đây là một phàm phu tiêu chuẩn. Vận mệnh của ông bị Khổng tiên sinh đóan định.
    “Vinh nhục tử sinh, giai hữu định số”. Câu nói này đồng thời cũng là nói với chúng ta, chúng ta cũng không ngoại lệ. Phàm là người, chỉ cần bạn có ý niệm thì bạn không thể không có vận số, cũng là nói, bạn không thể không có định mệnh nếu như bạn còn có vọng niệm. Nếu như bạn không có vọng niệm thì bạn có thể siêu thoát vận mạng. Liễu Phàm tiên sinh tuy có thể cải tạo vận mạng, nhưng ông chỉ có thể cải biến chứ không thể thoát khỏi.
    Vân Cốc thiền sư giỏi như vậy, tại sao ông không cao hơn một bước, đem phương pháp thoát khỏi vận mệnh dạy cho Viên Liễu Phàm? Đây chính là quan sát căn cơ thọ giáo; xem xem căn cơ của Liễu Phàm tiên sinh; thiên chất của ông.
    Có những cao tăng đạo đức, đều có năng lực quan sát, xem bạn là thượng căn, trung căn hay hạ căn mà tùy cơ thuyết pháp. Cho nên tất cả chúng sanh, hễ gặp được cao nhân thì không một ai mà không được lợi ích. Chúng ta xem thấy Liễu Phàm tiên sinh, ông là thuộc trung căn, không phải thượng căn. Đối với người trung căn, đương nhiên không thể nói thượng pháp, nếu nói thượng pháp thì ông không thể tiếp nhận nổi. Cho nên khi thuyết pháp, khế hợp căn cơ là điều vô cùng quan trọng. Pháp mà không khế cơ cũng như “nhàn ngôn ngữ”, điều này trong kinh Phật có nói. “Nhàn ngôn ngữ”, nói theo cách hiện nay là nói phí lời, lời nói vô ích. Cho nên cần thiết là phải khế cơ khế lý.
    Chúng ta cần phải tin tưởng một cách sâu sắc, bất cứ người nào cũng có vận mệnh, có định số, chỉ là bản thân họ không biết mà thôi. Bản thân không biết, câu này có nghĩa, bạn trong suốt cuộc đời nhất định cũng chỉ như kẻ mù mò mẫm mà thôi. Liễu Phàm tiên sinh được người đoán định, ông rất rõ ràng. Trong suốt một đời, phương hướng, mục đích sở hành của ông đều rất rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch, ông cứ chiếu theo mệnh lý mà sống. Còn chúng ta thật đáng thương, chúng ta không biết vận mệnh của mình, cho nên chúng ta như kẻ mù mò mẫm trong biển lớn tối tăm. Nếu như tùy thuận phiền não, trong lúc mê mờ, tạo tác quá nhiều tội nghiệp thì tội nghiệp đó sẽ làm tổn phước báu, làm giảm thọ mạng của chúng ta. Thông thường nói giảm thọ tức là giảm thọ mạng. Cái tình hình này trong xã hội hiện nay có thể nói là rất đúng. Nếu người có thiện căn phước đức sâu dày, tuy là không biết vận mệnh của mình, nhưng tâm địa của họ thiện lương, không có tâm tưởng sai quấy, hành vi đều giữ đúng quy củ, không làm những việc thương thiên hại lý, tổn người lợi mình. Tuy rằng không biết vận mệnh nhưng bản thân họ chính là đang tăng phước, đang tăng thọ cho mình, bất tri bất giác trong mạng lại tăng trưởng phước báu.
    Nhưng hòan cảnh xã hội của chúng ta hiện nay không tốt, đây là chỉ trong lịch sử từ xưa đến này, cả trong và ngoài nước đều chưa từng có qua. Hoàn cảnh sống, con người là phàm phu, không thể không chịu sự ảnh hưởng của hòan cảnh. Hòan cảnh bất thiện, chúng ta ngày ngày đều bị những cái bất thiện này ảnh hưởng. Điều này có nghĩa, cơ hôi tạo nghiệp của chúng ta ngày càng nhiều, càng lớn; vậy là bất tri bất giác mà tạo nghiệp. Cái sự việc này rất đáng sợ!
    Lúc trước, khi tôi cầu học, Thầy Lý có kể cho tôi một câu chuyện, không phải là nói với mình tôi mà là Người lên lớp giảng cho cả lớp nghe. Thầy giảng, lúc trước, tại một địa phương nọ, có xảy ra một án mạng trái nghịch luân lý, con giết cha. Cái sự việc này từ trước đến nay chưa từng có, đây là một việc lớn. Sự việc này được tâu lên vua, đương nhiên người con này bị xử tử hình. Nhà vua ban ra một mệnh lệnh, vị quan huyện ở đó bị cách chức điều tra. Vị huyện trưởng đã phạm phải lỗi lầm gì? Địa phương này là khu vực do anh cai trị, do anh giáo hóa, anh sao có thể giáo hóa ra cái loại người đại nghịch bất đạo như vậy. Vì giáo hóa không tốt, nên vị huyện trưởng bị cách chức. Quan tuần phủ ghi chép lỗi lầm, tuần phủ là quan tỉnh trưởng đương thời, ông ghi chép lại sự việc. Việc xử phạt vẫn còn tiếp diễn, triều đình lại hạ một mệnh lệnh nữa. Vào thời điểm đó, mỗi huyện đều có một bức tường, đem bức tường này phá đi một góc. Hoàng đế hạ lệnh đem bức tường phá đi một góc. Điều này có ý nghĩa gì? cái huyện này của các người có một người con đại nghịch bất đạo như vây, đây là điều sỉ nhục đối với người dân trong toàn huyện.
    Hiện tại chúng ta từ trên báo chí, tạp chí thường thường xem thấy, con cái giết cha, giết mẹ thật là quá nhiều. Giáo dục ngày xưa và ngày nay không giống nhau, chúng ta hiểu được tại sao xã hội ngày xưa có thể an định, thời gian an định thịnh trì kéo dài, nhân dân thực sự có được cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn. Hãy quay đầu nhìn lại ngày nay, bất luận là phú quý hay bần tiện, cho dù một người có tiền của vạn ức, liệu cuộc sống của họ có hạnh phúc hay không? không hạnh phúc. Có vui vẻ hay không? không vui vẻ. Cuộc sống của họ thật rất đáng thương, nói một cách khó nghe, đó thật sự không phải là cuộc sống của con người. Đến cuối cùng là nguyên nhân gì vậy? Chúng ta đã bao giờ suy nghĩ qua hay chưa?
    Ở đây đều có định số. Định số, chúng ta mỗi ngày khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều có gia giảm thêm bớt; mức độ của gia giảm thêm bớt không lớn, đại khái so với vận số không vượt quá nhiều. Cho nên thông thường đoán mệnh, có thể thấy, hầu như đoán được rất chuẩn xác. Nếu như ác niệm, thiện niệm, ác hạnh, thiện hạnh của chúng ta mức độ quá lớn, bạn có đại thiện hoặc giả là đại ác thì định số của bạn sẽ thay đổi. Nếu như bạn làm được điều thiện lớn, trong mạng của bạn không tốt sẽ biến thành tốt. Nếu như bạn tạo đại ác, trong mạng của bạn vốn là rất tốt, liền biến thành xấu.
    Phàm phu chúng ta có những cái không thể tránh được, nhất là trong xã hội hiện nay. Xã hội hiện đại, không thứ gì không dụ hoặc chúng ta, nhân tâm làm sao có thể định được. Cho nên ngày nay bất kể là tu hành hay học vấn, không dễ gì mà có được thành tựu. Có thể ở trong xã hội ngày nay mà học tập hay tu hành có thành tựu, đều là nhờ vào thiện căn phước đức nhân duyên quá lớn. Nếu không có thiện căn phước đức lớn, nhất định không có khả năng thành tựu. Bạn có thiện căn, bạn mới thấu rõ đạo lý; bạn có phước đức, bạn mới không bị động tâm. Đối với tất cả những dụ hoặc không hề khởi tâm động niệm. Đây là công phu chân thật; đây là phước đức chân thật.
    Cổ đại đức ngày xưa, trường học là đạo tràng để dạy học; Phật môn là nơi để tu hành. Tại sao lại chọn nơi thâm sơn cùng cốc không có người đến? Thực tại mà nói, mục đích là để ngăn cách với những dụ hoặc của xã hội bên ngoài, để tâm chúng ta dễ dàng định lại mà thôi.
    Hiện tại thì khó rồi, tôi học phật giảng kinh, tuy đã trải qua nhiều năm như vậy, đạo tràng Phật giáo có rất nhiều, nhưng tôi đều chưa đi đến. Ở Trung Quốc, tôi chỉ đi Cửu Hoa Sơn, Nga Mi sơn, mà hiện tại những đạo tràng này đều đã được mở đường quốc lộ, nên du khách đi lại rất thuận tiện, lúc trước thì rất khó khăn. Lúc nhỏ, tôi là người An Huy, nhà củ của tôi ở Lô Giang, nên không cách xa Cửu Hoa Sơn cho lắm. Tuy nhiên, lúc trước lên núi phải mất ba ngày, bây giờ ngồi xe chỉ mất 3 giờ. Lúc trước, muốn lên núi phải mất ba ngày, cho nên anh chân thật phải có thành ý. Còn có người tam bộ nhất bái nữa, đại khái là phải đi từ bảy ngày đến mười ngày, từ quê hương chúng tôi chiêm bái đến Cửu Hoa sơn với thái độ rất kiền thành (kiên trì và chân thành). Chọn nơi này, không chỉ giao thông không thuận tiện, người qua lại không nhiều, người muốn đến đây rất ít nên hòan cảnh nơi đây của chúng tôi rất yên tĩnh, không bị người ngoài quấy rầy. Hiện tại nơi đây đã mở đại lộ, trong chùa đều đã được lắp đặt máy truyền hình, vậy coi như xong, những ô nhiễm này đã xâm nhập đến nơi này rồi. Hiện tại tu đạo khó rồi. Quá khó, quá khó!
    Tôi ở nước ngoài nhiều năm như vậy, mãi cho đến năm nay, Chúng tôi mới chọn một thị trấn nhỏ ở vùng núi Toowoomba, Úc châu. Trên núi, cái thị trấn này, nhân khẩu chỉ có 8 vạn, hơn nữa người dân nơi đây vô cùng bảo thủ. Hiện tại mà nói thì đây là một nơi tốt, rất khó có được để học tập, để tu đạo. Không thể chọn lựa nơi đô thị vì đô thị mức độ dụ hoặc quá lớn. Nếu không có định lực thì quyết định không thể thành tựu. Ở một thế giới đô hội, bạn sao có thể tu hành?
    Năm 1977, tôi ở Hương Cảng giảng kinh, các đồng tu bên đó nói với tôi rằng, họ nói: Lão hòa thượng Hư Vân đã từng ở Hương Cảng. Các đồng tu Hương Cảng đã tha thiết mời lão hòa thượng ở lại Hương Cảng nhưng lão Hòa thượng nói rằng: cái địa phương này phồn hoa đô hội không thích hợp để tu hành, cho nên chỉ ở đó vài ngày rồi về lại Trung Quốc. Tại sao? sức dụ hoặc quá lớn, danh lợi sẽ khiến tâm người dao động, do đó không phải là nơi để tu hành.
    Nếu như giống với tâm thái này của Liễu Phàm tiên sinh, thế thì được. Ông đã biết được vận mệnh của mình, đã được đoán định rồi, khởi vọng tưởng cũng là uổng công, tâm của ông liền định lại. Lời giải thích này khiến Vân Cốc thiền sư cười lớn.
    [Ngã đãi nhữ thị hào kiệt, nguyên lai chỉ thị phàm phu].
    Tôi vốn cho rằng ông là anh hùng hào kiệt, cái gì gọi là hào kiệt? Điều người khác không làm được, anh có thể làm được. Người đó đích thị là anh hùng, là hào kiệt. Ba ngày ba đêm không khởi một vọng niệm, điều này không phải người bình thường có thể làm được. Viên Liễu Phàm tiên sinh có thể làm được. Lại hỏi tại sao? mệnh bị người ta đoán định, khởi vọng tưởng cũng uổng công. Vì vậy mới không khởi vọng tưởng. Đây là phàm phu. Đây là một phàm phu tiêu chuẩn. Chúng ta phải biết, ông từ điểm này mà có thể chân chính tỉnh ngộ.
    Chúng ta hãy xem xem Vân Cốc thiền sư đã khai đạo cho ông như thế nào, làm sao để giáo hóa ông, làm sao đem những quan niệm sai lầm của ông chuyển hóa trở lại.
    Đây mới là học vấn chân thật. Liễu Phàm tiên sinh có thể tiếp nhận đó là thiện căn của ông. Nhà Phật nói thiện căn tức là có khả năng thấu suốt rõ ràng; lại có thể tin sâu không nghi, y giáo phụng hành, đây chính là phước đức. Có thiện căn, có phước đức lại có thể gặp được thiện tri thức giỏi như vậy khai thị, đây là nhân duyên. Thiện căn, phước đức, nhân duyên, cả ba điều này đều có đủ, người đó nhất định thành tựu, có thể đem vận mệnh của họ cải đổi, đạo lý là ở chỗ này.
    Được rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây thôi.

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của be-buti
    • Đang bị khóa tại diễn đàn
      Offline
    • 10 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 2,185 Bài viết

    • 3,084 Được cảm ơn

    #2
    Hoà Thượng Tịnh Không giảng Liễu Phàm Tứ Huấn (Tập 2)

    2013-05-31 0907
    (PPUD) Giảng tại Thẩm Quyến - Trung Quốc ngày 16/04/2001
    Chư vị đồng tu, xin chào mọi người!
    Phía trước chúng ta đã giảng đến chỗ tiên sinh Viên Liễu Phàm bái kiến thiền sư Vân Cốc, ngồi đối diện trong thiền đường suốt ba ngày ba đêm, mà không khởi một vọng niệm nào. Vân Cốc thiền sư thấy lạ, liền hỏi ông duyên cớ vì sao? Viên Liễu Phàm tiên sinh thưa với Vân Cốc thiền sư là vận mệnh của ông đã được Khổng tiên sinh đoán định, trong hai mươi năm nay một tơ hào cũng không sai, nên ông cho rằng khởi tâm động niệm cũng đều vô ích, do vậy tâm ông định lại. Lúc này, Vân Cốc thiền sư mới bảo: Cuộc đời của ông đã bị số mệnh câu thúc. Có thể bị vận số câu thúc, là bởi vì ông còn có vọng niệm, không thể gọi là người có công phu, chỉ có thể gọi là một phàm phu tiêu chuẩn mà thôi. Liễu Phàm tiên sinh sau khi nghe xong, vội quay lại thỉnh giáo ông. [Dư vấn viết: nhiên tắc số khả đào hồ? Viết: mệnh do ngã tác, phúc tự kỷ cầu, Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn. Ngã giáo điển trung thuyết, cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ. Phù vọng ngữ nãi Thích Ca đại giới, chư Phật Bồ Tát, khởi cuống ngữ khi nhân.] Trong đoạn đối thoại này, ý nghĩa hàm chứa trong đó vô cùng sâu sắc. Tiên sinh Viên Liễu Phàm hỏi: Người đều có số mạng, số mạng này có thể thay đổi sao? Ông đưa ra nghi vấn này, thiền sư đáp lại rằng “mạng là do mình tạo, phước là do mình cầu”. Hai câu nói này, phía trong ẩn chứa vấn đề rất quan trọng. Trước tiên chúng ta phải hiểu rõ, lục đạo phàm phu chạy không thoát khỏi số mạng. Số mạng từ đâu mà có? Cổ Thánh Tiên Hiền, chư Phật Bồ Tát, họ là người đến nơi đây, họ đối với chân tướng sự thật thấu triệt hiểu rõ, tơ hào cũng không sai, điều này chúng ta phải tin tưởng. Nếu như dùng cách nói của các khoa học gia hiện đại, đó chính là không gian duy thứ vô hạn, cũng chính là ba độ không gian, bốn độ không gian, năm độ không gian mà họ nói đến. Trên lí luận mà nói, không gian là độ số vô hạn. Chúng ta sinh tại nhân đạo, cho nên chỉ sinh hoạt trong ba độ không gian, chúng sanh ở duy thứ từ bốn độ không gian trở lên, chúng ta không biết được. Ngày nay khoa học gia cho chúng ta biết được xác thực là tồn tại mười một độ không gian. Nhưng làm thế nào để đột phá không gian duy thứ, hiện tại các khoa học gia vẫn còn đang nghiên cứu. Một khi đột phá được không gian duy thứ, điều mà chúng ta đã nói, tức bạn có thể biết được quá khứ, tương lai. Quá khứ đã tạo nhân gì, hiện tại phải chịu quả báo như thế nào, đời nay tạo cái nhân gì, tương lai quả báo ra sao, không phải đều hiểu rõ ràng hay sao? Đây không phải là cách suy đoán, so với Khổng tiên sinh còn cao minh hơn hay sao? Khổng tiên sinh là từ số học, “Kinh dịch” là một bộ số học, ông từ trên số học mà suy đoán, suy đoán được rất chính xác, tuy nhiên không dám nói là hoàn toàn chính xác. Bởi vì lúc suy đoán nếu có một tơ hào không chính xác thì kết quả hòan tòan không giống nhau. Nhưng nếu có thể đột phá không gian duy thứ thì quyết định là hoàn toàn chính xác, một tơ hào cũng không sai. Vì sao? vì quá khứ, hiện tại, vị lai, bạn đều là chính mắt mình nhìn thấy. Cái sự việc này, hiện tại mà nói cũng không khó. Tại Cổ Ấn Độ, những chuyên gia về số luận, yoga, bà la môn giáo, họ đều có năng lực này. Cho nên thuyết về lục đạo luân hồi không phải của Phật giáo, mà là của cổ Bà La Môn giáo, nay là Ấn Độ giáo. Lịch sử của họ, hiện tại thế giới công nhận là có 8500 năm lịch sử. So với Phật giáo, họ ra đời sớm hơn rất nhiều. Những người này đều là tu thiền định, trong kinh Phật có nói đến tứ thiền bát định, do đó, không gian duy thứ trong lục đạo, họ cơ hồ đều đã đột phá được. Cho nên trạng huống trong lục đạo, họ nói được rất rõ ràng. Nhưng họ chỉ biết được cái đương nhiên mà không biết được cái sở dĩ nhiên. Lục đạo làm sao mà có, tại sao lại có hiện tượng này, tại sao lại có những biến hóa như vậy, họ đều không biết. Vì vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian này, Người vì sao lại xuất hiện? Là vì những người có năng lực quan sát đến được những cảnh giới như thế, nhưng lại đối với những cảnh giới này có rất nhiều nghi hoặc không thể giải trừ. Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian là vì cái sự việc này. Cái gọi là, chúng sanh có cảm thì Phật, Bồ tát có ứng. Điều này đã cảm ứng Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này, vì chúng ta mà thuyết minh cái sở dĩ nhiên của những hiện tượng đó. Phật tại trong kinh Đại thừa đã giảng nói được rất nhiều, nhất là trong kinh Hoa Nghiêm. Không chỉ có lục đạo, bên ngoài lục đạo còn có Tứ thánh pháp giới, còn có nhất chân pháp giới, đây đều là quy nạp lại mà nói, nếu nói tỉ mỉ thì không thể dùng ngôn ngữ để nói một cách tường tận được. Cũng giống như chỗ mà khoa học gia đã nói, không gian duy thứ vô hạn, cùng với Phật tại trong kinh nói được hòan toàn tương ưng. Làm sao phát sinh ra nhiều không gian duy thứ không đồng như vậy? Phật nói với chúng ta, đều là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Chúng ta hãy tĩnh tâm mà quan sát, vọng tưởng của chúng sanh nhiều vô lượng vô biên, niệm trước vừa diệt thì niệm sau liền sanh, một ngày không biết đã khởi bao nhiêu vọng niệm, không biết có bao nhiêu phân biệt, chấp trước, điều này tạo nên không gian duy thứ không đồng; tạo nên hiện tượng không giống nhau. Phật tại trong kinh thường nói, thập pháp giới y chánh trang nghiêm, dùng lời hiện tại mà nói chính là hiện tượng vũ trụ nhân sinh, chính là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Cũng giống như trên màn ảnh ti vi hiện nay, tướng hiện trên màn ảnh ti vi là tâm, do tâm hiện, cái tướng này có thể hoạt động. Nó tại nơi này sản sinh biến hóa, những biến hóa đó gọi là thức biến. Thức chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Những thứ này có thể đem những hiện tượng cải biến, biến được vô cùng phức tạp. Đây chính là căn nguyên Phật đem hiện tượng vũ trụ nhân sinh nói rõ cho chúng ta. Cho nên, Vân Cốc thiền sư mới nói “mệnh do ta tạo”, không phải do người khác tạo, cùng người khác không có mảy may quan hệ. Hòan cảnh bên ngòai thân là huyễn cảnh. Trên kinh Kim Cang nói được rất hay “nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh”, không phải là thật. Những hiện tượng này, Phật nói với chúng ta rằng: không thể nói chúng có, cũng không thể nói chúng không có. Cũng giống như nằm mộng không khác, bạn không thể nói là không có cảnh giới mộng, trong mộng cảnh giới xác thực là có tồn tại. Nhưng bạn cũng không thể nói chúng có vì chúng là hư huyễn không thật, xác xác thực thực là liễu bất khả đắc. Nếu chúng ta tỉ mỉ quan sát, hiện tại, chúng ta ở cái thế giới này, xác xác thực thực cũng chỉ là một giấc mộng. Buổi tối, chúng ta đi ngủ, người khác mang chúng ta đi, chúng ta cũng không biết. Do đó mà thấy thân không phải là ta. Các nhà triết học phương Tây rất thông minh, họ biết thân này không phải là ta, do đó họ đưa ra lí luận rằng “tôi tư duy thì tôi tồn tại”. Điều này thừa nhận cái gì? Thân thể vật chất không phải là ta, là hư huyễn. Chỉ khi có thể tư duy, có thể tưởng tượng đó mới gọi là ta. Điều này so với người thông thường cao hơn một bậc. Đó có phải là chân tướng sự thật hay không? không phải. Chúng ta suy nghĩ là vọng tưởng, không phải là chân tướng sự thật. Cho nên cảnh giới của Phật so với họ cao hơn rất nhiều, ngay cả tư tưởng của chúng ta cũng buông bỏ thì thấu triệt căn nguyên, khôi phục chân tâm, khôi phục bổn tánh, sau đó mới có thể xem thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Cái chân tướng này trong Phật giáo có một tên gọi, là nhất chân pháp giới, hoặc gọi là chân như, cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế. Danh từ thuật ngữ mà Phật dùng để chỉ nó rất nhiều. Giáo học của Phật, tại sao lại dùng đến nhiều danh từ như thế? Ở đây có dụng ý, chính là muốn dạy chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chứ không được chấp trước trên danh tự. Nếu chấp vào danh tự thì lại sinh ra vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Ngày nay nếu muốn đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đoạn hết; trong tâm nghĩ “tôi cũng rất muốn”, vấn đề là cái gì? Đoạn không được, vọng niệm vẫn là tiếp nối nhau không dứt, đây chính là lí do chúng ta không thể thành tựu. Chúng ta tuy là từ trong kinh giáo hiểu rõ ràng minh bạch, tin sâu không nghi. Trong Phật pháp nói, chúng ta chỉ là giải ngộ chứ không phải chứng ngộ, không khế nhập được cảnh giới chân thật. Chỉ có chứng ngộ mới có chỗ dụng, giải ngộ không có chỗ dụng, không thể giải quyết được vấn đề. Do đó sau khi giải ngộ phải tu hành, phải đem những lí luận, những phương pháp này chân thật áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt của mình, dần dần nâng cao cảnh giới của mình. Được như vậy mới có thể giải quyết được vấn đề. Ở đây nói, chúng sanh trong lục đạo, vọng tưởng phân biệt chấp trước rất nặng, “mệnh do ta tạo”. Cuộc đời chúng ta giàu nghèo sang hèn, đây là mệnh. Vận mệnh này có định số, định số này từ đâu mà có, là do chính bản thân ta tạo. Nhà Phật giảng nhân quả thông ba đời, mỗi người quyết định là đều có đời quá khứ, đời vị lai. Phật giảng đến chỗ cứu cánh. Phật giảng thời gian nói đến cái sát na, sát na, đây là thời gian rất ngắn. Chúng ta ngày nay nói về đơn vị thời gian, nhỏ nhất là giây. Trong nhà Phật nói đến sát na, sát na làm sao mà tính? Phật dùng đàn chỉ, một đàn chỉ có 60 cái sát na. Một đàn chỉ (một khảy móng tay) chưa đến một giây, nếu chúng ta khảy được nhanh thì một giây đồng hồ chúng ta có thể khảy được 4 lần. Một đàn chỉ là ¼ giây, một đàn chỉ lại có 60 cái sát na, vậy 1/60 của ¼ giây mới gọi là một sát na. Trong một sát na lại có 900 sanh diệt, đó là niệm đầu, 1 niệm sanh, 1 niệm diệt, trong một sát na có 900 niệm sanh diệt. Điều này quá vi tế, người bình thường chúng ta không thể quan sát được. Chúng ta bình thường tâm khí bao chao, sao có thể quan sát đến được. Nhập định, trong định thì tâm thanh tịnh, có thể đem vọng tưởng phân biệt chấp trước của chúng ta lắng xuống. Ở trong thiền định thâm sâu, chúng ta mới có thể nhìn thấy được những hiện tượng sanh diệt. Đây phải là công phu rất cao, Vân Cốc thiền sư e rằng vẫn chưa thấy được. Trong đại thừa Phật pháp có nói, có thể nhìn thấy đầu số của sát na sanh diệt, phải là bát địa bồ tát của đại thừa viên giáo. Bát địa còn gọi là bất động địa, rất gần với quả vị của Như Lai. Trên bát địa là cửu địa, thập địa, đẳng giác, rất gần với quả vị Phật, lúc này mới chân chính có thể hiểu được chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Hôm nay, chúng ta nói đến ý niệm là niệm thô, vô cùng vô cùng thô. Chúng ta khởi lên một thiện niệm, lợi ích cho người khác, cho xã hội, cho chúng sanh, quả báo là được phước. Chúng ta khởi lên một niệm ác, niệm ác là vì lợi ích bản thân, cái gọi là tổn người lợi mình. Cái niệm này trong nhà Phật gọi là ác niệm. Ác niệm thì quả báo là hung, là tai họa. Cho nên, cát hung họa phước trong một đời chính là quả báo của ngôn ngữ tạo tác, khởi tâm động niệm của chính chúng ta, cũng có thể nói là hiện tượng của ngôn ngữ tạo tác. Đây chính là sở dĩ mà nói “mệnh do ta tạo”. Người chân chánh minh bạch hiểu rõ thì khẳng định đối với lời nói này, khẳng định đối với sự thật này. Trong suốt cuộc đời anh ta, bất luận là gặp bất cứ hoàn cảnh trái nghịch, bất thiện thế nào, anh ta cũng quyết không oán trời, quyết không trách người. Anh ta không trách người, mà quay lại trách chính mình “bản thân tôi tạo tác bất thiện nên mới phải chịu quả báo khổ sở như thế này.” Sau khi đã hiểu rõ rồi, phước phải do chính mình cầu, làm sao mà cầu đây? Cải ác làm thiện. Khi tôi còn nhỏ, lúc nhỏ, cha tôi qua đời rất sớm, lúc tôi 21 tuổi thì cha tôi qua đời. Tôi sống đúng vào lúc chiến tranh Trung-Nhật diễn ra, phải chịu 8 năm khổ nạn của chiến tranh, việc học dở dang, vào thời gian đó tôi là học sinh lưu vong, hòan toàn thoát ly gia đình. Nhà nước đối với chúng tôi cũng tính là không tệ, thành lập rất nhiều trường trung học quốc lập, thu nạp những học sinh lưu vong như chúng tôi. Trường học là nhà chúng tôi, thầy cô là cha mẹ chúng tôi, đồng học là huynh đệ tỷ muội của chúng tôi. Cho nên vào thời gian đó, chúng tôi đối với trường học, đối với bạn học, đối với thầy cô là cả một tấm lòng thân ái chân tình. Người hiện tại không cách gì tưởng tượng được, chúng tôi là bạn bè trong hoạn nạn mà có nhau, giúp đỡ chiếu cố lẫn nhau trải qua ngày tháng khó khổ. Cha tôi qua đời, trong gia đình một người cũng không còn. Tôi lưu lạc đến Đài Loan, tại Đài Loan làm việc hết 7,8 năm, tự thấy bản thân mình không có tiền đồ. Thầy của tôi là Chương Gia đại sư, đã thay tôi chọn một nghề nghiệp, ông khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi hoằng dương Phật pháp. Tôi đã suy nghĩ rất lâu, Lão nhân gia chỉ thị rất chính xác, tôi nghe theo giáo huấn của ông, chọn cái hành nghiệp này. Tôi học với ông ba năm, ông cho tôi nền tảng cơ bản. Sau khi từ chức, tôi đến Đài Trung học giáo với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ở Đài Trung hơn mười năm. Vì vậy ở trong Phật pháp, tôi đã tiếp nhận sự chỉ dạy của hai vị lão sư trong 13 năm, nhưng trong giới học thuật, tôi chỉ mới tốt nghiệp sơ trung. Cuộc đời sau này của tôi, phước báu là do tôi tự mình mà cầu được. Tôi minh bạch rồi, tôi giác ngộ rồi, cho nên từ sau khi 26 tuổi học Phật, tôi cẩn thận tỉ mỉ, y giáo phụng hành. Lúc nhỏ, cũng có một số người xem tướng đóan mệnh cho tôi, đây là phong tục cổ của người Trung Quốc. Lúc nhỏ, mẹ tôi dẫn tôi đi xem đóan mệnh, tôi cũng gặp qua không ít cao nhân, nói tôi sống không quá 45 tuổi. Vận mạng của tôi so với tiên sinh Viên Liễu Phàm còn khổ cực hơn, thọ mạng cũng ngắn hơn. Ông ấy còn sống đến 53 tuổi, chứ tôi đến 45 tuổi đã hết rồi, Cho nên lúc đó học Phật, tôi đem thọ mạng của mình tính đến 45 tuổi, sau 45 tuổi thì không còn nữa. Trong thời hạn 45 năm này tôi nhất định phải có thành tựu. Thành tựu này chính là quyết định vãng sanh Tịnh độ. Tôi đem mục tiêu đặt ở chỗ này, bản thân cũng có sự tính toán. Đến năm 45 tuổi, quả nhiên tôi bị bệnh nặng, bệnh suốt một tháng. Tôi không đi bác sĩ, cũng không uống thuốc bởi vì bản thân tôi hiểu rất rõ, bác sĩ chỉ chữa được bệnh chứ không cứu được mạng. Mạng đã đến, bạn đi bác sĩ có ích gì? Vì vậy tôi đóng cửa niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ. Mỗi ngày có mấy vị học trò đến nấu cơm cho tôi, ăn cháo, rau dưa. Sau một tháng, thân thể từ từ khỏe lại. Tôi cả đời hầu như không mang bệnh, sau khi khỏe lại, tôi vẫn tiếp tục công việc giảng kinh hoằng pháp. Đến năm sau, càng ngày càng thuận lợi, tôi ở chùa Thiện Đạo gặp được vị Cam Châu Hoạt Phật, đó cũng là bạn học cũ của tôi. Ông ấy là học trò của Chương Gia đại sư, đại khái hơn tôi xấp xỉ 12 tuổi. Lúc gặp nhau, ông ấy nói với tôi, ông ấy nói: Tịnh Không pháp sư, ông qua đây. Chúng tôi rất khó có cơ hội gặp nhau được một lần, cho nên vô cùng hoan hỷ. Ông nói: số mạng của ông bây giờ đã hoàn toàn chuyển đổi rồi. Tôi hỏi: tại sao vậy? Ông nói: lúc trước chúng tôi hay nói sau lưng ông. Tôi hỏi lại: nói điều gì? Nói: ông là người tuy rất thông minh nhưng không có phước báu, lại thêm đoản mệnh nữa. Tôi nói: điều này có thể nói trước mặt tôi, không cần phải nói sau lưng. Tôi còn nói thêm: tôi biết rất rõ. Ông nói tiếp: nhưng hiện tại những năm gần đây ông hoằng dương Phật pháp nên đã hòan toàn chuyển đổi lại rồi, không những có phước báu mà còn trường thọ nữa. Tôi rất cảm khái, đến năm sau thì Cam Châu Hoạt Phật qua đời. Đây là một vị đại đức rất khó có trong Phật giáo Tây Tạng, là một vị thiện tri thức chân chánh, một người xuất gia rất có quy củ, thực sự rất hiếm thấy. Tôi ở Hương Cảng có gặp qua một người, đó là pháp sư Thánh Nhất ở chùa Bảo Lâm trên núi Đại Tự. Tôi đối với ông vô cùng tôn trọng, vô cùng kính ngưỡng. Nghe nói hai năm qua, thân thể ông không được tốt, ông có cống hiến rất lớn cho phật giáo Trung Quốc. Cho nên mệnh có thể cải đổi, phương pháp cải mệnh chính là sau khi đã giác ngộ rồi thì không tiếp tục tạo ác nữa. Khởi tâm động niệm đều vì người khác, vì xã hội, vì chúng sanh mà nghĩ, quyết không phải vì bản thân mình. Câu nói này nói được rất dễ, nhưng làm không dễ chút nào. Liễu Phàm tiên sinh làm suốt mười mấy năm liền có cảm ứng hiện tiền. Tôi cũng làm gần 30 năm, cảm ứng cũng rất rõ ràng mà bản thân tôi có thể cảm nhận được. Sau khi học xong, tôi ra giảng kinh thuyết pháp, 20 năm mới có một đạo tràng nhỏ, chính là Hoa Tạng Đồ thư quán ở Kinh Mỹ. Tôi hoằng pháp 20 năm mới có một nơi như vậy. Sau 5 năm nữa mới có “Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội” này. Lại thêm 5 năm nữa, trên thế giới có rất nhiều nơi, chúng tôi thành lập nên “Tịnh Tông Đạo Tràng”. Cho đến năm ngoái, xác thực là lời nói của Kim Châu Hoạt Phật đã ứng nghiệm, mọi việc càng ngày càng thuận lợi, tâm cũng càng ngày càng thanh tịnh, càng ngày càng không nghĩ cho mình. Ngày nay tôi sống ở cái thế giới này là vì người khác mà sống, không phải vì chính mình, bản thân tôi không còn nữa. Danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần tôi thảy đều buông xuống cả rồi. Ấn Quang đại sư lúc cuối đời thường nói: tôi không có gì hết, tôi cũng không sợ chết. Tôi hiện tại cũng sắp nhập vào cảnh giới của đại sư rồi, bản thân không có gì, chân thật cũng không sợ chết. Chết đối với tôi mà nói là sự việc rất hoan hỷ, vô cùng hào hứng. Bởi vì tôi biết chết sẽ đi về đâu; sanh từ đâu tới, chết sẽ đi về đâu. Tất cả tôi đều rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch. Đây gọi là “mệnh do ngã tác, phúc tại kỷ cầu” (mệnh do mình tạo, phước tại mình cầu) vậy. Câu nói này là thật, một chút cũng không giả. Viên Liễu Phàm tiên sinh cải đổi vận mạng một cách không dễ dàng gì. Về sau khi đọc đến đoạn văn này tôi sẽ đề tỉnh cho quý vị. Tôi khi cải đổi vận mạng của mình, tôi rất may mắn, tôi so với ông thuận lợi hơn rất nhiều. Nguyên nhân là bởi tôi trước sau đều không rời thầy, thầy thường ở bên cạnh đốc thúc, chỉ dạy, điều này mang lại lợi ích rất lớn. Tôi học cùng Chương Gia đại sư 3 năm, học cùng thầy Lý 10 năm, 13 năm này tôi luôn ở bên cạnh thầy. Điều này có được lợi ích vô cùng lớn. Tôi lúc đó chung quy vẫn còn trẻ tuổi, cho dù đã rất dụng công nhưng vẫn không đạt được cái tiêu chuẩn mà người xưa nói. Bản thân tôi đã rất dụng công nỗ lực, cho dù đã cố hết sức thì điểm số cũng không vượt quá 60 điểm, cũng chỉ đủ điểm đậu mà thôi. Hiện tại đại khái có thể đạt được tám, chín mươi điểm. Hiệu quả ngày càng rõ ràng, cái sự việc này, cổ đại đức nói chính là “chân can (tức chân thành)”. Tôi tổng hợp tâm đắc của bản thân sau 50 năm học Phật viết ra 20 chữ. Có người hỏi tôi: Pháp sư, ngài tu như thế nào, dạy người ra sao? Tôi đều là ở trong 20 chữ “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”. Mười chữ này là dụng tâm. Bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên. Nhà Phật nói chữ duyên là đối với người, đối với sự; hoàn cảnh nhân sự là dùng chữ duyên để nói, hoàn cảnh vật chất là nói đến cảnh giới, thuận cảnh hay nghịch cảnh là nói về hòan cảnh vật chất, còn thiện duyên hay ác duyên là nói về hoàn cảnh nhân sự. Chúng ta cần phải trong những cảnh duyên đó mà tôi luyện bản thân, nhất định phải lấy tâm chân thành mà xử sự, đối người, tiếp vật. Người khác dùng tâm hư vọng đối với ta, không có quan hệ, đó là anh ta, cùng ta không liên can. Thậm chí là anh ta hủy báng ta, vũ nhục ta, hãm hại ta, cùng ta không liên can. Bản thân chúng ta chỉ dùng tâm chân thành để đối người. Làm được như vậy thì sẽ chuyển họa thành phước, chuyển được rất nhanh, tai tiêu phước đến. Xử sự đối người tiếp vật cần phải dùng tâm thanh tịnh, thanh tịnh tức là một trần cũng không nhiễm, thuận cảnh tuyệt không khởi tâm tham luyến, ác cảnh không khởi tâm sân hận; phải luôn giữ được tâm thanh tịnh, bình đẳng của chúng ta, tự nhiên sẽ sinh trí huệ. Tâm ái hộ nhất thiết chúng sanh tự nhiên sinh ra, đó gọi là từ bi tâm. Từ bi tâm phải hai, ba năm mới có hiệu nghiệm. Lúc trước, tôi có đọc truyện ký của Ấn Quang đại sư, căn phòng khi đại sư mới ở, trong đó có rất nhiều muỗi, ruồi, bọ chét, chúng gây nhiều trở ngại. Thị giả của đại sư, tức người chăm sóc ông, muốn thanh trừ bọn chúng, đem bọn chúng đuổi đi hết. Đại sư nói: không cần, trong nhà có con vật, cho thấy đức hạnh tu hành của chúng ta chưa đủ, cho nên không thể cảm động được chúng, vì vậy không cần đuổi chúng đi. Sau khi đại sư 70 tuổi, trong phòng ở của Ngài muốn tìm một con cũng không thấy, quả nhiên chúng đã dọn nhà rồi, thuật ngữ trong nhà Phật gọi là “thiên đan (chuyển đến nơi khác)”, những con vật này đã chuyển đi rồi. Ấn Quang đại sư là sau 70 tuổi, tôi hiện tại cũng đã qua 70 tuổi rồi, hai năm gần đây, tôi rất hoan hỷ vì đã có hiệu quả, căn phòng tôi ở cũng có kiến, gián; cũng thường hay thấy; nhưng trong hai năm gần đây đã dần dần ít đi. Tôi ở tại một địa phương ở Toowoomba cũng đã được 1 năm 8 tháng, lúc mới mua nó, kiến rất nhiều, còn có gián, côn trùng cũng rất nhiều. Sống trên núi với tôi còn có hai vị đồng tu, tôi nói với họ nhất định không được giết chúng. Đối với những động vật nhỏ này cần phải dùng tâm thanh tịnh, dùng tâm cung kính mà đối đãi. Không những không được giết những con kiến nhỏ này, mà ngay cả ý niệm làm hại chúng cũng phải đoạn sạch. Khi nhìn thấy chúng, chúng ta phải chắp tay lại, cung kính mà nói “bồ tát kiến, bồ tát gián”, chúng ta phải dùng cái tâm này mà đối với chúng. Nói với chúng rằng: môi trường sống của chúng ta không giống nhau, bên trong căn phòng này là chỗ của chúng tôi, còn bên ngoài căn phòng này là môi trường sống của các bạn. Hy vọng chúng ta có thể đối xử hòa hài với nhau, hai bên không quấy nhiễu nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Phải thường dùng cái tâm như vậy mà đối đãi với chúng, khuyến miễn chúng. Một năm rưỡi sau, tôi thấy kiến đã ít đi chín mươi phần trăm, hiện tại vẫn còn nhưng rất ít, chứ không như lúc trước chúng kéo đàn kết bè lại. Tôi nói với mọi người rằng, chúng ta nỗ lực thêm hai năm nữa, có lẽ hoàn toàn không còn nữa. Phải dùng tâm yêu thương chân thành như vậy để đối với những động vật nhỏ, không chỉ đối với động vật nhỏ mà ngay cả với thực vật cũng không ngoại lệ. Trong hoa viên của chúng ta có rất nhiều cỏ, nhiều cây cối, còn có rau nữa. Trên núi, chúng ta trồng rất nhiều rau, chúng ta cũng phải dùng tâm yêu thương để đối đãi nó, để chiếu cố nó. Hoa nở rất đẹp, cũng tỏa ra rất nhiều hương. Những loại cây cối, rau củ này sinh trưởng rất tốt. Chúng ta không cần dùng phân bón, cũng không cần dùng đến thuốc trừ sâu, hoàn toàn không cần, chỉ cần dùng tâm yêu thương để bảo hộ chúng. Có cảm ứng, ngay cả cây cối hoa cỏ cũng đều có cảm ứng, điều này khiến chúng ta nghĩ đến một truyền thuyết thời xưa “sinh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu”, ngay cả đá cũng cảm động. Chúng ta hiện nay vẫn chưa có được cái cảm ứng này. Hiên tại, tôi chỉ mới có sự tương giao với thực vật, cùng thực vật có sự cảm ứng, còn với đất đá thì vẫn chưa có. Công phu của Sinh công so với tôi đã cao hơn một bậc. Tôi vẫn chưa đạt đến công phu của ông ấy. Đây đều là muốn nói với chư vị rằng “mệnh do mình tạo, phước do mình cầu”. Trong cuộc đời tôi, đây là điều tôi mà thể nghiệm được trong suốt 50 năm học Phật, vận mạng đã hoàn toàn chuyển đổi được. Tuy rằng không thể nói là đạt được đại tự tại, đại viên mãn, nhưng cũng đã tiếp cận được đến cái gọi là tự tại, viên mãn; có tín tâm là sẽ đạt được. Phía sau, trên văn tự viết: [Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn], đây là những giáo huấn rất rõ ràng, minh bạch được nói đến trong các tác phẩm của Cổ Thánh Tiên Hiền, chúng ta cần phải tin tưởng. [Ngã giáo điển trung thuyết], “ngã” là chỉ cho Vân Cốc thiền sư, ông là người xuất gia. “Ngã giáo” là chỉ Phật giáo. Trong kinh điển Phật giáo có nói: [cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ], phàm phu chúng ta không thể vô cầu. Tôi lúc mới học Phật, trong tâm cũng có mong cầu. Chương Gia đại sư nhìn thấy được đã dạy tôi: “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng”. Đây là lão nhân gia đã dạy cho tôi phương pháp để cầu. Viên Liễu Phàm là do Vân Cốc thiền sư dạy cho cách cầu, còn phương pháp của tôi là do Chương Gia đại sư truyền cho tôi. Ngôn ngữ so với Vân Cốc thiền sư thì đơn giản hơn nhưng lại vô cùng có hiệu quả. Ngài dạy cho tôi: khi ông dùng chân tâm để cầu mà không có cảm ứng, khi cầu mà không có cảm, đây là nguyên nhân gì? Đó là do nghiệp chướng của ông quá nặng, chướng ngại không phải ở phật pháp, không phải tại bên ngòai mà chính là từ trên thân chúng ta, do bản thân chúng ta có nghiệp chướng. Chỉ cần đem nghiệp chướng tiêu trừ hết thì cảm ứng liền hiện tiền, hữu cầu tất ứng. Tôi lại hỏi ông, hướng đến lão sư mà thỉnh giáo, tôi hỏi: nghiệp chướng làm sao tiêu trừ? Ông nói với tôi: sám hối. “Sám trừ nghiệp chướng”, đây cũng là điều mà Phổ Hiền bồ tát trên kinh Hoa Nghiêm đã nói. Sau đó lại dạy cho tôi làm sao để sám hối? Tuyết đối không phải đi lạy Lương Hoàng sám, lạy Thủy sám, không phải làm cái việc này. Cho nên, vị thầy mà tôi gặp được, chân thật là một vị thầy giỏi. Ông nói: Phật pháp không tại hình thức, mà ở thực chất. Cái gì gọi là thực chất? chính là về sau không làm nữa. Ví như chúng ta khởi lên ý niệm không tốt, nói những lời không tốt, làm những việc không tốt, hiện tại biết đó là lỗi, là sai rồi thì về sau sẽ không phạm lại sai lầm đó nữa, đó mới gọi là chân thật sám hối, như vậy mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Giả như bạn ở trước Phật, Bồ Tát tụng kinh niệm chú, cho là đã sám hối rồi, sau khi sám thì lại tạo, tạo xong lại sám. Như vậy chẳng có lợi ích gì, hòan toàn sai rồi. Thầy đã nói với tôi lời thật, phật pháp trọng thực chất, không trọng hình thức. Thí như nói đến giới luật, ông vô cùng coi trọng giới luật. Tôi theo học với ông ba năm, ông đề cập đến sự quan trọng của giới luật, tổng cộng hết 10 lần, khiến ấn tượng của tôi rất sâu. Làm sao để trì giới? Ông nói với tôi: không cần phải đến bất cứ nơi nào cầu pháp sư thọ giới. Ông nói: không cần thiết, vô dụng. Tôi hỏi: vậy phải làm sao? Học một điều, làm được một điều, vậy thì điều này bạn giữ được. Thí như không sát sanh, bạn chân chánh làm đến được, đối với tất cả sinh vật bạn tuyệt đối không khởi lên ý niệm sát hại, như vậy bạn đối với cái giới này đã giữ được viên mãn, mà không nhất định phải đi thọ giới. Đến giới đàn thọ giới, thọ giới rồi, bạn lại không làm được, như vậy bạn hoàn toàn đã phá giới, phạm giới rồi, không phải là tội càng thêm tội hay sao? Lão sư đã dạy cho tôi chính là cái phương pháp này; học một điều, làm một điều, làm được rồi thì chính là chân chánh trì giới. Cho nên tôi học Phật, đắc lực là ở sự giáo huấn của những đại thiện tri thức. Vào năm ngoái, tôi gặp tổng thống Nathan của Singapore, chúng tôi cùng nhau ăn cơm. Tổng thống Nathan là giáo đồ của Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Ông nói với tôi: phật giáo trọng thực chất, không trọng hình thức. Tôi nghe xong, ngồi ngẩn ra. Câu nói này mấy chục năm trước là Chương Gia đại sư đã nói với tôi. Trong suốt mấy chục năm qua, tôi chưa từng nghe thấy ai nhắc đến câu này cả. Tôi nghe tổng thống Nathan nói vậy, liền biết ông là người “trong nghề”, người này không đơn giản. Cho nên tôi đối với ông rất kính trọng. Chúng ta phải hiểu được rốt cuộc làm sao để cầu, chân chánh tiêu trừ nghiệp chướng rồi thì hữu cầu tất ứng. Nhưng nếu nghiệp chướng tập khí quá nặng thì sao? cái này không đáng lo, chúng ta cần phải nhẫn nại, cần thời gian để tiêu trừ. Liễu Phàm tiên sinh dùng thời gian mấy mươi năm, tôi cũng dùng từ hai mươi đến ba mươi năm, cho nên bạn không có khỏang thời gian đủ dài thì không được, không phải nói đoạn thì có thể đoạn được, nào có dễ dàng như vậy chứ. Tập khí của chúng ta nhất định phải đè phục nó xuống, phải thường thường cảnh tỉnh bản thân. Cho nên cổ nhân rất coi trọng việc đọc tụng, điều này rất có đạo lý. Bản thân tôi một đời này có thể thành tựu, tôi biết được đó là nhờ tôi ở trên giảng đài. Hơn bốn mươi năm qua, tôi không một ngày nào gián đoạn trên giảng đài. Ngày ngày giảng kinh, ngày ngày khuyên người khác, cũng chính là ngày ngày khuyên chính mình. Người khác có được lợi ích hay không, tôi không biết, nhưng bản thân tôi chân thật có được lợi ích. Đây chính là điều trong nhà Phật thường nói: “nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu”. Nếu như không được huân tu trong thời gian dài, làm sao có được thành tựu. Tập khí xấu của chúng ta cũng là do vô lượng kiếp huân tập mà thành, đều là trường thời huân tu. Hiện tại chúng ta cần phải đem những tập khí xấu, tập khí ác này tiêu trừ, cần phải học tập Cổ Thánh Tiên Hiền, học tập Phật Bồ tát, điều này vẫn là cần phải có thời gian. Cho nên nếu như không có thời gian tương đối dài, cần có quyết tâm, có nỗ lực, đọan trừ tập khí của mình mới có thể viên mãn thành tựu.
    • Avatar của be-buti
    • Đang bị khóa tại diễn đàn
      Offline
    • 10 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 2,185 Bài viết

    • 3,084 Được cảm ơn

    #3
    Hoà Thượng Tịnh Không giảng Liễu Phàm Tứ Huấn (Tập 2)

    2013-05-31 0907
    (PPUD) Giảng tại Thẩm Quyến - Trung Quốc ngày 16/04/2001
    Chư vị đồng tu, xin chào mọi người!
    Phía trước chúng ta đã giảng đến chỗ tiên sinh Viên Liễu Phàm bái kiến thiền sư Vân Cốc, ngồi đối diện trong thiền đường suốt ba ngày ba đêm, mà không khởi một vọng niệm nào.
    Vân Cốc thiền sư thấy lạ, liền hỏi ông duyên cớ vì sao? Viên Liễu Phàm tiên sinh thưa với Vân Cốc thiền sư là vận mệnh của ông đã được Khổng tiên sinh đoán định, trong hai mươi năm nay một tơ hào cũng không sai, nên ông cho rằng khởi tâm động niệm cũng đều vô ích, do vậy tâm ông định lại.
    Lúc này, Vân Cốc thiền sư mới bảo: Cuộc đời của ông đã bị số mệnh câu thúc. Có thể bị vận số câu thúc, là bởi vì ông còn có vọng niệm, không thể gọi là người có công phu, chỉ có thể gọi là một phàm phu tiêu chuẩn mà thôi. Liễu Phàm tiên sinh sau khi nghe xong, vội quay lại thỉnh giáo ông.
    [Dư vấn viết: nhiên tắc số khả đào hồ? Viết: mệnh do ngã tác, phúc tự kỷ cầu, Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn. Ngã giáo điển trung thuyết, cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ. Phù vọng ngữ nãi Thích Ca đại giới, chư Phật Bồ Tát, khởi cuống ngữ khi nhân.]
    Trong đoạn đối thoại này, ý nghĩa hàm chứa trong đó vô cùng sâu sắc. Tiên sinh Viên Liễu Phàm hỏi: Người đều có số mạng, số mạng này có thể thay đổi sao? Ông đưa ra nghi vấn này, thiền sư đáp lại rằng “mạng là do mình tạo, phước là do mình cầu”. Hai câu nói này, phía trong ẩn chứa vấn đề rất quan trọng. Trước tiên chúng ta phải hiểu rõ, lục đạo phàm phu chạy không thoát khỏi số mạng. Số mạng từ đâu mà có? Cổ Thánh Tiên Hiền, chư Phật Bồ Tát, họ là người đến nơi đây, họ đối với chân tướng sự thật thấu triệt hiểu rõ, tơ hào cũng không sai, điều này chúng ta phải tin tưởng. Nếu như dùng cách nói của các khoa học gia hiện đại, đó chính là không gian duy thứ vô hạn, cũng chính là ba độ không gian, bốn độ không gian, năm độ không gian mà họ nói đến. Trên lí luận mà nói, không gian là độ số vô hạn. Chúng ta sinh tại nhân đạo, cho nên chỉ sinh hoạt trong ba độ không gian, chúng sanh ở duy thứ từ bốn độ không gian trở lên, chúng ta không biết được. Ngày nay khoa học gia cho chúng ta biết được xác thực là tồn tại mười một độ không gian. Nhưng làm thế nào để đột phá không gian duy thứ, hiện tại các khoa học gia vẫn còn đang nghiên cứu. Một khi đột phá được không gian duy thứ, điều mà chúng ta đã nói, tức bạn có thể biết được quá khứ, tương lai. Quá khứ đã tạo nhân gì, hiện tại phải chịu quả báo như thế nào, đời nay tạo cái nhân gì, tương lai quả báo ra sao, không phải đều hiểu rõ ràng hay sao? Đây không phải là cách suy đoán, so với Khổng tiên sinh còn cao minh hơn hay sao? Khổng tiên sinh là từ số học, “Kinh dịch” là một bộ số học, ông từ trên số học mà suy đoán, suy đoán được rất chính xác, tuy nhiên không dám nói là hoàn toàn chính xác. Bởi vì lúc suy đoán nếu có một tơ hào không chính xác thì kết quả hòan tòan không giống nhau. Nhưng nếu có thể đột phá không gian duy thứ thì quyết định là hoàn toàn chính xác, một tơ hào cũng không sai. Vì sao? vì quá khứ, hiện tại, vị lai, bạn đều là chính mắt mình nhìn thấy.
    Cái sự việc này, hiện tại mà nói cũng không khó. Tại Cổ Ấn Độ, những chuyên gia về số luận, yoga, bà la môn giáo, họ đều có năng lực này. Cho nên thuyết về lục đạo luân hồi không phải của Phật giáo, mà là của cổ Bà La Môn giáo, nay là Ấn Độ giáo. Lịch sử của họ, hiện tại thế giới công nhận là có 8500 năm lịch sử. So với Phật giáo, họ ra đời sớm hơn rất nhiều. Những người này đều là tu thiền định, trong kinh Phật có nói đến tứ thiền bát định, do đó, không gian duy thứ trong lục đạo, họ cơ hồ đều đã đột phá được. Cho nên trạng huống trong lục đạo, họ nói được rất rõ ràng. Nhưng họ chỉ biết được cái đương nhiên mà không biết được cái sở dĩ nhiên. Lục đạo làm sao mà có, tại sao lại có hiện tượng này, tại sao lại có những biến hóa như vậy, họ đều không biết. Vì vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian này, Người vì sao lại xuất hiện? Là vì những người có năng lực quan sát đến được những cảnh giới như thế, nhưng lại đối với những cảnh giới này có rất nhiều nghi hoặc không thể giải trừ. Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại thế gian là vì cái sự việc này. Cái gọi là, chúng sanh có cảm thì Phật, Bồ tát có ứng. Điều này đã cảm ứng Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này, vì chúng ta mà thuyết minh cái sở dĩ nhiên của những hiện tượng đó. Phật tại trong kinh Đại thừa đã giảng nói được rất nhiều, nhất là trong kinh Hoa Nghiêm. Không chỉ có lục đạo, bên ngoài lục đạo còn có Tứ thánh pháp giới, còn có nhất chân pháp giới, đây đều là quy nạp lại mà nói, nếu nói tỉ mỉ thì không thể dùng ngôn ngữ để nói một cách tường tận được. Cũng giống như chỗ mà khoa học gia đã nói, không gian duy thứ vô hạn, cùng với Phật tại trong kinh nói được hòan toàn tương ưng. Làm sao phát sinh ra nhiều không gian duy thứ không đồng như vậy? Phật nói với chúng ta, đều là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Chúng ta hãy tĩnh tâm mà quan sát, vọng tưởng của chúng sanh nhiều vô lượng vô biên, niệm trước vừa diệt thì niệm sau liền sanh, một ngày không biết đã khởi bao nhiêu vọng niệm, không biết có bao nhiêu phân biệt, chấp trước, điều này tạo nên không gian duy thứ không đồng; tạo nên hiện tượng không giống nhau.

    Phật tại trong kinh thường nói, thập pháp giới y chánh trang nghiêm, dùng lời hiện tại mà nói chính là hiện tượng vũ trụ nhân sinh, chính là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Cũng giống như trên màn ảnh ti vi hiện nay, tướng hiện trên màn ảnh ti vi là tâm, do tâm hiện, cái tướng này có thể hoạt động. Nó tại nơi này sản sinh biến hóa, những biến hóa đó gọi là thức biến. Thức chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Những thứ này có thể đem những hiện tượng cải biến, biến được vô cùng phức tạp. Đây chính là căn nguyên Phật đem hiện tượng vũ trụ nhân sinh nói rõ cho chúng ta.
    Cho nên, Vân Cốc thiền sư mới nói “mệnh do ta tạo”, không phải do người khác tạo, cùng người khác không có mảy may quan hệ. Hòan cảnh bên ngòai thân là huyễn cảnh. Trên kinh Kim Cang nói được rất hay “nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh”, không phải là thật. Những hiện tượng này, Phật nói với chúng ta rằng: không thể nói chúng có, cũng không thể nói chúng không có. Cũng giống như nằm mộng không khác, bạn không thể nói là không có cảnh giới mộng, trong mộng cảnh giới xác thực là có tồn tại. Nhưng bạn cũng không thể nói chúng có vì chúng là hư huyễn không thật, xác xác thực thực là liễu bất khả đắc. Nếu chúng ta tỉ mỉ quan sát, hiện tại, chúng ta ở cái thế giới này, xác xác thực thực cũng chỉ là một giấc mộng. Buổi tối, chúng ta đi ngủ, người khác mang chúng ta đi, chúng ta cũng không biết. Do đó mà thấy thân không phải là ta. Các nhà triết học phương Tây rất thông minh, họ biết thân này không phải là ta, do đó họ đưa ra lí luận rằng “tôi tư duy thì tôi tồn tại”. Điều này thừa nhận cái gì? Thân thể vật chất không phải là ta, là hư huyễn. Chỉ khi có thể tư duy, có thể tưởng tượng đó mới gọi là ta. Điều này so với người thông thường cao hơn một bậc. Đó có phải là chân tướng sự thật hay không? không phải. Chúng ta suy nghĩ là vọng tưởng, không phải là chân tướng sự thật. Cho nên cảnh giới của Phật so với họ cao hơn rất nhiều, ngay cả tư tưởng của chúng ta cũng buông bỏ thì thấu triệt căn nguyên, khôi phục chân tâm, khôi phục bổn tánh, sau đó mới có thể xem thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Cái chân tướng này trong Phật giáo có một tên gọi, là nhất chân pháp giới, hoặc gọi là chân như, cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế. Danh từ thuật ngữ mà Phật dùng để chỉ nó rất nhiều. Giáo học của Phật, tại sao lại dùng đến nhiều danh từ như thế? Ở đây có dụng ý, chính là muốn dạy chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chứ không được chấp trước trên danh tự. Nếu chấp vào danh tự thì lại sinh ra vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
    Ngày nay nếu muốn đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đoạn hết; trong tâm nghĩ “tôi cũng rất muốn”, vấn đề là cái gì? Đoạn không được, vọng niệm vẫn là tiếp nối nhau không dứt, đây chính là lí do chúng ta không thể thành tựu. Chúng ta tuy là từ trong kinh giáo hiểu rõ ràng minh bạch, tin sâu không nghi. Trong Phật pháp nói, chúng ta chỉ là giải ngộ chứ không phải chứng ngộ, không khế nhập được cảnh giới chân thật. Chỉ có chứng ngộ mới có chỗ dụng, giải ngộ không có chỗ dụng, không thể giải quyết được vấn đề. Do đó sau khi giải ngộ phải tu hành, phải đem những lí luận, những phương pháp này chân thật áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt của mình, dần dần nâng cao cảnh giới của mình. Được như vậy mới có thể giải quyết được vấn đề. Ở đây nói, chúng sanh trong lục đạo, vọng tưởng phân biệt chấp trước rất nặng, “mệnh do ta tạo”. Cuộc đời chúng ta giàu nghèo sang hèn, đây là mệnh. Vận mệnh này có định số, định số này từ đâu mà có, là do chính bản thân ta tạo. Nhà Phật giảng nhân quả thông ba đời, mỗi người quyết định là đều có đời quá khứ, đời vị lai. Phật giảng đến chỗ cứu cánh. Phật giảng thời gian nói đến cái sát na, sát na, đây là thời gian rất ngắn. Chúng ta ngày nay nói về đơn vị thời gian, nhỏ nhất là giây. Trong nhà Phật nói đến sát na, sát na làm sao mà tính? Phật dùng đàn chỉ, một đàn chỉ có 60 cái sát na. Một đàn chỉ (một khảy móng tay) chưa đến một giây, nếu chúng ta khảy được nhanh thì một giây đồng hồ chúng ta có thể khảy được 4 lần. Một đàn chỉ là ¼ giây, một đàn chỉ lại có 60 cái sát na, vậy 1/60 của ¼ giây mới gọi là một sát na. Trong một sát na lại có 900 sanh diệt, đó là niệm đầu, 1 niệm sanh, 1 niệm diệt, trong một sát na có 900 niệm sanh diệt. Điều này quá vi tế, người bình thường chúng ta không thể quan sát được. Chúng ta bình thường tâm khí bao chao, sao có thể quan sát đến được. Nhập định, trong định thì tâm thanh tịnh, có thể đem vọng tưởng phân biệt chấp trước của chúng ta lắng xuống. Ở trong thiền định thâm sâu, chúng ta mới có thể nhìn thấy được những hiện tượng sanh diệt. Đây phải là công phu rất cao, Vân Cốc thiền sư e rằng vẫn chưa thấy được. Trong đại thừa Phật pháp có nói, có thể nhìn thấy đầu số của sát na sanh diệt, phải là bát địa bồ tát của đại thừa viên giáo. Bát địa còn gọi là bất động địa, rất gần với quả vị của Như Lai. Trên bát địa là cửu địa, thập địa, đẳng giác, rất gần với quả vị Phật, lúc này mới chân chính có thể hiểu được chân tướng của vũ trụ nhân sinh.
    Hôm nay, chúng ta nói đến ý niệm là niệm thô, vô cùng vô cùng thô. Chúng ta khởi lên một thiện niệm, lợi ích cho người khác, cho xã hội, cho chúng sanh, quả báo là được phước. Chúng ta khởi lên một niệm ác, niệm ác là vì lợi ích bản thân, cái gọi là tổn người lợi mình. Cái niệm này trong nhà Phật gọi là ác niệm. Ác niệm thì quả báo là hung, là tai họa. Cho nên, cát hung họa phước trong một đời chính là quả báo của ngôn ngữ tạo tác, khởi tâm động niệm của chính chúng ta, cũng có thể nói là hiện tượng của ngôn ngữ tạo tác. Đây chính là sở dĩ mà nói “mệnh do ta tạo”. Người chân chánh minh bạch hiểu rõ thì khẳng định đối với lời nói này, khẳng định đối với sự thật này. Trong suốt cuộc đời anh ta, bất luận là gặp bất cứ hoàn cảnh trái nghịch, bất thiện thế nào, anh ta cũng quyết không oán trời, quyết không trách người. Anh ta không trách người, mà quay lại trách chính mình “bản thân tôi tạo tác bất thiện nên mới phải chịu quả báo khổ sở như thế này.” Sau khi đã hiểu rõ rồi, phước phải do chính mình cầu, làm sao mà cầu đây? Cải ác làm thiện. Khi tôi còn nhỏ, lúc nhỏ, cha tôi qua đời rất sớm, lúc tôi 21 tuổi thì cha tôi qua đời. Tôi sống đúng vào lúc chiến tranh Trung-Nhật diễn ra, phải chịu 8 năm khổ nạn của chiến tranh, việc học dở dang, vào thời gian đó tôi là học sinh lưu vong, hòan toàn thoát ly gia đình. Nhà nước đối với chúng tôi cũng tính là không tệ, thành lập rất nhiều trường trung học quốc lập, thu nạp những học sinh lưu vong như chúng tôi. Trường học là nhà chúng tôi, thầy cô là cha mẹ chúng tôi, đồng học là huynh đệ tỷ muội của chúng tôi. Cho nên vào thời gian đó, chúng tôi đối với trường học, đối với bạn học, đối với thầy cô là cả một tấm lòng thân ái chân tình. Người hiện tại không cách gì tưởng tượng được, chúng tôi là bạn bè trong hoạn nạn mà có nhau, giúp đỡ chiếu cố lẫn nhau trải qua ngày tháng khó khổ. Cha tôi qua đời, trong gia đình một người cũng không còn. Tôi lưu lạc đến Đài Loan, tại Đài Loan làm việc hết 7,8 năm, tự thấy bản thân mình không có tiền đồ. Thầy của tôi là Chương Gia đại sư, đã thay tôi chọn một nghề nghiệp, ông khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi hoằng dương Phật pháp. Tôi đã suy nghĩ rất lâu, Lão nhân gia chỉ thị rất chính xác, tôi nghe theo giáo huấn của ông, chọn cái hành nghiệp này. Tôi học với ông ba năm, ông cho tôi nền tảng cơ bản. Sau khi từ chức, tôi đến Đài Trung học giáo với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ở Đài Trung hơn mười năm. Vì vậy ở trong Phật pháp, tôi đã tiếp nhận sự chỉ dạy của hai vị lão sư trong 13 năm, nhưng trong giới học thuật, tôi chỉ mới tốt nghiệp sơ trung. Cuộc đời sau này của tôi, phước báu là do tôi tự mình mà cầu được. Tôi minh bạch rồi, tôi giác ngộ rồi, cho nên từ sau khi 26 tuổi học Phật, tôi cẩn thận tỉ mỉ, y giáo phụng hành. Lúc nhỏ, cũng có một số người xem tướng đóan mệnh cho tôi, đây là phong tục cổ của người Trung Quốc. Lúc nhỏ, mẹ tôi dẫn tôi đi xem đóan mệnh, tôi cũng gặp qua không ít cao nhân, nói tôi sống không quá 45 tuổi. Vận mạng của tôi so với tiên sinh Viên Liễu Phàm còn khổ cực hơn, thọ mạng cũng ngắn hơn. Ông ấy còn sống đến 53 tuổi, chứ tôi đến 45 tuổi đã hết rồi, Cho nên lúc đó học Phật, tôi đem thọ mạng của mình tính đến 45 tuổi, sau 45 tuổi thì không còn nữa. Trong thời hạn 45 năm này tôi nhất định phải có thành tựu. Thành tựu này chính là quyết định vãng sanh Tịnh độ. Tôi đem mục tiêu đặt ở chỗ này, bản thân cũng có sự tính toán. Đến năm 45 tuổi, quả nhiên tôi bị bệnh nặng, bệnh suốt một tháng. Tôi không đi bác sĩ, cũng không uống thuốc bởi vì bản thân tôi hiểu rất rõ, bác sĩ chỉ chữa được bệnh chứ không cứu được mạng. Mạng đã đến, bạn đi bác sĩ có ích gì? Vì vậy tôi đóng cửa niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ. Mỗi ngày có mấy vị học trò đến nấu cơm cho tôi, ăn cháo, rau dưa. Sau một tháng, thân thể từ từ khỏe lại. Tôi cả đời hầu như không mang bệnh, sau khi khỏe lại, tôi vẫn tiếp tục công việc giảng kinh hoằng pháp. Đến năm sau, càng ngày càng thuận lợi, tôi ở chùa Thiện Đạo gặp được vị Cam Châu Hoạt Phật, đó cũng là bạn học cũ của tôi. Ông ấy là học trò của Chương Gia đại sư, đại khái hơn tôi xấp xỉ 12 tuổi. Lúc gặp nhau, ông ấy nói với tôi, ông ấy nói: Tịnh Không pháp sư, ông qua đây. Chúng tôi rất khó có cơ hội gặp nhau được một lần, cho nên vô cùng hoan hỷ. Ông nói: số mạng của ông bây giờ đã hoàn toàn chuyển đổi rồi. Tôi hỏi: tại sao vậy? Ông nói: lúc trước chúng tôi hay nói sau lưng ông. Tôi hỏi lại: nói điều gì? Nói: ông là người tuy rất thông minh nhưng không có phước báu, lại thêm đoản mệnh nữa. Tôi nói: điều này có thể nói trước mặt tôi, không cần phải nói sau lưng. Tôi còn nói thêm: tôi biết rất rõ. Ông nói tiếp: nhưng hiện tại những năm gần đây ông hoằng dương Phật pháp nên đã hòan toàn chuyển đổi lại rồi, không những có phước báu mà còn trường thọ nữa. Tôi rất cảm khái, đến năm sau thì Cam Châu Hoạt Phật qua đời. Đây là một vị đại đức rất khó có trong Phật giáo Tây Tạng, là một vị thiện tri thức chân chánh, một người xuất gia rất có quy củ, thực sự rất hiếm thấy. Tôi ở Hương Cảng có gặp qua một người, đó là pháp sư Thánh Nhất ở chùa Bảo Lâm trên núi Đại Tự. Tôi đối với ông vô cùng tôn trọng, vô cùng kính ngưỡng. Nghe nói hai năm qua, thân thể ông không được tốt, ông có cống hiến rất lớn cho phật giáo Trung Quốc.
    Cho nên mệnh có thể cải đổi, phương pháp cải mệnh chính là sau khi đã giác ngộ rồi thì không tiếp tục tạo ác nữa. Khởi tâm động niệm đều vì người khác, vì xã hội, vì chúng sanh mà nghĩ, quyết không phải vì bản thân mình. Câu nói này nói được rất dễ, nhưng làm không dễ chút nào. Liễu Phàm tiên sinh làm suốt mười mấy năm liền có cảm ứng hiện tiền. Tôi cũng làm gần 30 năm, cảm ứng cũng rất rõ ràng mà bản thân tôi có thể cảm nhận được. Sau khi học xong, tôi ra giảng kinh thuyết pháp, 20 năm mới có một đạo tràng nhỏ, chính là Hoa Tạng Đồ thư quán ở Kinh Mỹ. Tôi hoằng pháp 20 năm mới có một nơi như vậy. Sau 5 năm nữa mới có “Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội” này. Lại thêm 5 năm nữa, trên thế giới có rất nhiều nơi, chúng tôi thành lập nên “Tịnh Tông Đạo Tràng”. Cho đến năm ngoái, xác thực là lời nói của Kim Châu Hoạt Phật đã ứng nghiệm, mọi việc càng ngày càng thuận lợi, tâm cũng càng ngày càng thanh tịnh, càng ngày càng không nghĩ cho mình. Ngày nay tôi sống ở cái thế giới này là vì người khác mà sống, không phải vì chính mình, bản thân tôi không còn nữa. Danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần tôi thảy đều buông xuống cả rồi. Ấn Quang đại sư lúc cuối đời thường nói: tôi không có gì hết, tôi cũng không sợ chết. Tôi hiện tại cũng sắp nhập vào cảnh giới của đại sư rồi, bản thân không có gì, chân thật cũng không sợ chết. Chết đối với tôi mà nói là sự việc rất hoan hỷ, vô cùng hào hứng. Bởi vì tôi biết chết sẽ đi về đâu; sanh từ đâu tới, chết sẽ đi về đâu. Tất cả tôi đều rõ rõ ràng ràng, minh minh bạch bạch. Đây gọi là “mệnh do ngã tác, phúc tại kỷ cầu” (mệnh do mình tạo, phước tại mình cầu) vậy. Câu nói này là thật, một chút cũng không giả. Viên Liễu Phàm tiên sinh cải đổi vận mạng một cách không dễ dàng gì. Về sau khi đọc đến đoạn văn này tôi sẽ đề tỉnh cho quý vị. Tôi khi cải đổi vận mạng của mình, tôi rất may mắn, tôi so với ông thuận lợi hơn rất nhiều. Nguyên nhân là bởi tôi trước sau đều không rời thầy, thầy thường ở bên cạnh đốc thúc, chỉ dạy, điều này mang lại lợi ích rất lớn. Tôi học cùng Chương Gia đại sư 3 năm, học cùng thầy Lý 10 năm, 13 năm này tôi luôn ở bên cạnh thầy. Điều này có được lợi ích vô cùng lớn. Tôi lúc đó chung quy vẫn còn trẻ tuổi, cho dù đã rất dụng công nhưng vẫn không đạt được cái tiêu chuẩn mà người xưa nói. Bản thân tôi đã rất dụng công nỗ lực, cho dù đã cố hết sức thì điểm số cũng không vượt quá 60 điểm, cũng chỉ đủ điểm đậu mà thôi. Hiện tại đại khái có thể đạt được tám, chín mươi điểm. Hiệu quả ngày càng rõ ràng, cái sự việc này, cổ đại đức nói chính là “chân can (tức chân thành)”. Tôi tổng hợp tâm đắc của bản thân sau 50 năm học Phật viết ra 20 chữ. Có người hỏi tôi: Pháp sư, ngài tu như thế nào, dạy người ra sao? Tôi đều là ở trong 20 chữ “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”. Mười chữ này là dụng tâm. Bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên. Nhà Phật nói chữ duyên là đối với người, đối với sự; hoàn cảnh nhân sự là dùng chữ duyên để nói, hoàn cảnh vật chất là nói đến cảnh giới, thuận cảnh hay nghịch cảnh là nói về hòan cảnh vật chất, còn thiện duyên hay ác duyên là nói về hoàn cảnh nhân sự. Chúng ta cần phải trong những cảnh duyên đó mà tôi luyện bản thân, nhất định phải lấy tâm chân thành mà xử sự, đối người, tiếp vật. Người khác dùng tâm hư vọng đối với ta, không có quan hệ, đó là anh ta, cùng ta không liên can. Thậm chí là anh ta hủy báng ta, vũ nhục ta, hãm hại ta, cùng ta không liên can. Bản thân chúng ta chỉ dùng tâm chân thành để đối người. Làm được như vậy thì sẽ chuyển họa thành phước, chuyển được rất nhanh, tai tiêu phước đến.
    Xử sự đối người tiếp vật cần phải dùng tâm thanh tịnh, thanh tịnh tức là một trần cũng không nhiễm, thuận cảnh tuyệt không khởi tâm tham luyến, ác cảnh không khởi tâm sân hận; phải luôn giữ được tâm thanh tịnh, bình đẳng của chúng ta, tự nhiên sẽ sinh trí huệ. Tâm ái hộ nhất thiết chúng sanh tự nhiên sinh ra, đó gọi là từ bi tâm. Từ bi tâm phải hai, ba năm mới có hiệu nghiệm. Lúc trước, tôi có đọc truyện ký của Ấn Quang đại sư, căn phòng khi đại sư mới ở, trong đó có rất nhiều muỗi, ruồi, bọ chét, chúng gây nhiều trở ngại. Thị giả của đại sư, tức người chăm sóc ông, muốn thanh trừ bọn chúng, đem bọn chúng đuổi đi hết. Đại sư nói: không cần, trong nhà có con vật, cho thấy đức hạnh tu hành của chúng ta chưa đủ, cho nên không thể cảm động được chúng, vì vậy không cần đuổi chúng đi. Sau khi đại sư 70 tuổi, trong phòng ở của Ngài muốn tìm một con cũng không thấy, quả nhiên chúng đã dọn nhà rồi, thuật ngữ trong nhà Phật gọi là “thiên đan (chuyển đến nơi khác)”, những con vật này đã chuyển đi rồi. Ấn Quang đại sư là sau 70 tuổi, tôi hiện tại cũng đã qua 70 tuổi rồi, hai năm gần đây, tôi rất hoan hỷ vì đã có hiệu quả, căn phòng tôi ở cũng có kiến, gián; cũng thường hay thấy; nhưng trong hai năm gần đây đã dần dần ít đi. Tôi ở tại một địa phương ở Toowoomba cũng đã được 1 năm 8 tháng, lúc mới mua nó, kiến rất nhiều, còn có gián, côn trùng cũng rất nhiều. Sống trên núi với tôi còn có hai vị đồng tu, tôi nói với họ nhất định không được giết chúng. Đối với những động vật nhỏ này cần phải dùng tâm thanh tịnh, dùng tâm cung kính mà đối đãi. Không những không được giết những con kiến nhỏ này, mà ngay cả ý niệm làm hại chúng cũng phải đoạn sạch. Khi nhìn thấy chúng, chúng ta phải chắp tay lại, cung kính mà nói “bồ tát kiến, bồ tát gián”, chúng ta phải dùng cái tâm này mà đối với chúng. Nói với chúng rằng: môi trường sống của chúng ta không giống nhau, bên trong căn phòng này là chỗ của chúng tôi, còn bên ngoài căn phòng này là môi trường sống của các bạn. Hy vọng chúng ta có thể đối xử hòa hài với nhau, hai bên không quấy nhiễu nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Phải thường dùng cái tâm như vậy mà đối đãi với chúng, khuyến miễn chúng. Một năm rưỡi sau, tôi thấy kiến đã ít đi chín mươi phần trăm, hiện tại vẫn còn nhưng rất ít, chứ không như lúc trước chúng kéo đàn kết bè lại. Tôi nói với mọi người rằng, chúng ta nỗ lực thêm hai năm nữa, có lẽ hoàn toàn không còn nữa. Phải dùng tâm yêu thương chân thành như vậy để đối với những động vật nhỏ, không chỉ đối với động vật nhỏ mà ngay cả với thực vật cũng không ngoại lệ. Trong hoa viên của chúng ta có rất nhiều cỏ, nhiều cây cối, còn có rau nữa. Trên núi, chúng ta trồng rất nhiều rau, chúng ta cũng phải dùng tâm yêu thương để đối đãi nó, để chiếu cố nó. Hoa nở rất đẹp, cũng tỏa ra rất nhiều hương. Những loại cây cối, rau củ này sinh trưởng rất tốt. Chúng ta không cần dùng phân bón, cũng không cần dùng đến thuốc trừ sâu, hoàn toàn không cần, chỉ cần dùng tâm yêu thương để bảo hộ chúng. Có cảm ứng, ngay cả cây cối hoa cỏ cũng đều có cảm ứng, điều này khiến chúng ta nghĩ đến một truyền thuyết thời xưa “sinh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu”, ngay cả đá cũng cảm động. Chúng ta hiện nay vẫn chưa có được cái cảm ứng này. Hiên tại, tôi chỉ mới có sự tương giao với thực vật, cùng thực vật có sự cảm ứng, còn với đất đá thì vẫn chưa có. Công phu của Sinh công so với tôi đã cao hơn một bậc. Tôi vẫn chưa đạt đến công phu của ông ấy. Đây đều là muốn nói với chư vị rằng “mệnh do mình tạo, phước do mình cầu”. Trong cuộc đời tôi, đây là điều tôi mà thể nghiệm được trong suốt 50 năm học Phật, vận mạng đã hoàn toàn chuyển đổi được. Tuy rằng không thể nói là đạt được đại tự tại, đại viên mãn, nhưng cũng đã tiếp cận được đến cái gọi là tự tại, viên mãn; có tín tâm là sẽ đạt được.
    Phía sau, trên văn tự viết: [Thi Thư sở xưng, đích vi minh huấn], đây là những giáo huấn rất rõ ràng, minh bạch được nói đến trong các tác phẩm của Cổ Thánh Tiên Hiền, chúng ta cần phải tin tưởng.
    [Ngã giáo điển trung thuyết], “ngã” là chỉ cho Vân Cốc thiền sư, ông là người xuất gia. “Ngã giáo” là chỉ Phật giáo. Trong kinh điển Phật giáo có nói: [cầu phú quý đắc phú quý, cầu nam nữ đắc nam nữ, cầu trường thọ đắc trường thọ], phàm phu chúng ta không thể vô cầu.
    Tôi lúc mới học Phật, trong tâm cũng có mong cầu. Chương Gia đại sư nhìn thấy được đã dạy tôi: “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng”. Đây là lão nhân gia đã dạy cho tôi phương pháp để cầu. Viên Liễu Phàm là do Vân Cốc thiền sư dạy cho cách cầu, còn phương pháp của tôi là do Chương Gia đại sư truyền cho tôi. Ngôn ngữ so với Vân Cốc thiền sư thì đơn giản hơn nhưng lại vô cùng có hiệu quả. Ngài dạy cho tôi: khi ông dùng chân tâm để cầu mà không có cảm ứng, khi cầu mà không có cảm, đây là nguyên nhân gì? Đó là do nghiệp chướng của ông quá nặng, chướng ngại không phải ở phật pháp, không phải tại bên ngòai mà chính là từ trên thân chúng ta, do bản thân chúng ta có nghiệp chướng. Chỉ cần đem nghiệp chướng tiêu trừ hết thì cảm ứng liền hiện tiền, hữu cầu tất ứng.
    Tôi lại hỏi ông, hướng đến lão sư mà thỉnh giáo, tôi hỏi: nghiệp chướng làm sao tiêu trừ? Ông nói với tôi: sám hối. “Sám trừ nghiệp chướng”, đây cũng là điều mà Phổ Hiền bồ tát trên kinh Hoa Nghiêm đã nói. Sau đó lại dạy cho tôi làm sao để sám hối? Tuyết đối không phải đi lạy Lương Hoàng sám, lạy Thủy sám, không phải làm cái việc này. Cho nên, vị thầy mà tôi gặp được, chân thật là một vị thầy giỏi. Ông nói: Phật pháp không tại hình thức, mà ở thực chất. Cái gì gọi là thực chất? chính là về sau không làm nữa. Ví như chúng ta khởi lên ý niệm không tốt, nói những lời không tốt, làm những việc không tốt, hiện tại biết đó là lỗi, là sai rồi thì về sau sẽ không phạm lại sai lầm đó nữa, đó mới gọi là chân thật sám hối, như vậy mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng.
    Giả như bạn ở trước Phật, Bồ Tát tụng kinh niệm chú, cho là đã sám hối rồi, sau khi sám thì lại tạo, tạo xong lại sám. Như vậy chẳng có lợi ích gì, hòan toàn sai rồi. Thầy đã nói với tôi lời thật, phật pháp trọng thực chất, không trọng hình thức. Thí như nói đến giới luật, ông vô cùng coi trọng giới luật. Tôi theo học với ông ba năm, ông đề cập đến sự quan trọng của giới luật, tổng cộng hết 10 lần, khiến ấn tượng của tôi rất sâu.
    Làm sao để trì giới? Ông nói với tôi: không cần phải đến bất cứ nơi nào cầu pháp sư thọ giới. Ông nói: không cần thiết, vô dụng. Tôi hỏi: vậy phải làm sao? Học một điều, làm được một điều, vậy thì điều này bạn giữ được. Thí như không sát sanh, bạn chân chánh làm đến được, đối với tất cả sinh vật bạn tuyệt đối không khởi lên ý niệm sát hại, như vậy bạn đối với cái giới này đã giữ được viên mãn, mà không nhất định phải đi thọ giới. Đến giới đàn thọ giới, thọ giới rồi, bạn lại không làm được, như vậy bạn hoàn toàn đã phá giới, phạm giới rồi, không phải là tội càng thêm tội hay sao?
    Lão sư đã dạy cho tôi chính là cái phương pháp này; học một điều, làm một điều, làm được rồi thì chính là chân chánh trì giới. Cho nên tôi học Phật, đắc lực là ở sự giáo huấn của những đại thiện tri thức. Vào năm ngoái, tôi gặp tổng thống Nathan của Singapore, chúng tôi cùng nhau ăn cơm. Tổng thống Nathan là giáo đồ của Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Ông nói với tôi: phật giáo trọng thực chất, không trọng hình thức. Tôi nghe xong, ngồi ngẩn ra. Câu nói này mấy chục năm trước là Chương Gia đại sư đã nói với tôi. Trong suốt mấy chục năm qua, tôi chưa từng nghe thấy ai nhắc đến câu này cả. Tôi nghe tổng thống Nathan nói vậy, liền biết ông là người “trong nghề”, người này không đơn giản. Cho nên tôi đối với ông rất kính trọng.
    Chúng ta phải hiểu được rốt cuộc làm sao để cầu, chân chánh tiêu trừ nghiệp chướng rồi thì hữu cầu tất ứng. Nhưng nếu nghiệp chướng tập khí quá nặng thì sao? cái này không đáng lo, chúng ta cần phải nhẫn nại, cần thời gian để tiêu trừ. Liễu Phàm tiên sinh dùng thời gian mấy mươi năm, tôi cũng dùng từ hai mươi đến ba mươi năm, cho nên bạn không có khỏang thời gian đủ dài thì không được, không phải nói đoạn thì có thể đoạn được, nào có dễ dàng như vậy chứ.
    Tập khí của chúng ta nhất định phải đè phục nó xuống, phải thường thường cảnh tỉnh bản thân. Cho nên cổ nhân rất coi trọng việc đọc tụng, điều này rất có đạo lý. Bản thân tôi một đời này có thể thành tựu, tôi biết được đó là nhờ tôi ở trên giảng đài. Hơn bốn mươi năm qua, tôi không một ngày nào gián đoạn trên giảng đài. Ngày ngày giảng kinh, ngày ngày khuyên người khác, cũng chính là ngày ngày khuyên chính mình. Người khác có được lợi ích hay không, tôi không biết, nhưng bản thân tôi chân thật có được lợi ích. Đây chính là điều trong nhà Phật thường nói: “nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu”. Nếu như không được huân tu trong thời gian dài, làm sao có được thành tựu. Tập khí xấu của chúng ta cũng là do vô lượng kiếp huân tập mà thành, đều là trường thời huân tu. Hiện tại chúng ta cần phải đem những tập khí xấu, tập khí ác này tiêu trừ, cần phải học tập Cổ Thánh Tiên Hiền, học tập Phật Bồ tát, điều này vẫn là cần phải có thời gian. Cho nên nếu như không có thời gian tương đối dài, cần có quyết tâm, có nỗ lực, đọan trừ tập khí của mình mới có thể viên mãn thành tựu.
    • 6 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #4
    rất hay và thiết thực các bạn nhé