Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật

  • 13 Lượt chia sẻ
  • 124K Lượt đọc
  • 163 Trả lời

  • Trang 9/9

    Chuyển tới trang

  • 1
  • ...
  • 8
  • 9

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của My Lăng
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 12 năm
    • 657 Bài viết

    • 487 Được cảm ơn

    #161
    Trích dẫn Nguyên văn bởi My Lăng Xem bài viết
    Giáo dục hòa nhập là gì?

    Trong những năm gần đây, việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng đang được các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước chú trọng phát triển. Nhiều trường Đại học, Cao đẳng bắt đầu mở các khóa đào tạo chính quy và không chính quy chuyên ngành Giáo dục đặc biệt để đáp ứng việc đáp ứng đội ngũ giáo viên cho các trường chuyên biệt. Ở Thành phố Hồ Chí Minh có 2 nơi mở khoa Giáo dục đặc biệt là trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm mẫu giáo trung ương 3.

    Hai khái niệm chủ đạo trong giáo dục đặc biệt là Giáo dục chuyên biệt( theo 3 dạng tật chính là khiếm thính, khiếm thị, và chậm phát triển trí tuệ và đa tật) và Giáo dục hòa nhập. Trong đó khái niệm Giáo dục hòa nhập thường hay bị hiểu sai nhất, tuy rằng khuynh hướng này hiện nay được áp dụng khá rộng rãi.

    Trong loạt bài viết này, tôi xin được giới thiệu đến quý độc giả quan tâm đến vấn đề Giáo dục đặc biệt một số quan niệm về vấn đề Giáo dục hòa nhập, qua đó làm rõ hơn cách hiểu về nội dung quan trọng này.

    "Khuynh hướng hòa nhập"( Mainstreaming - tiếng Anh) có nghĩa là giúp đỡ người khuyết tật sống, học tập và làm việc trong những điều kiện đặc thù, nơi họ có được cơ hội tốt nhất để trở nên độc lập tới mức mà họ có thể. Khuynh hướng hòa nhập được định nghĩa như việc hòa nhập trẻ khuyết tật và bình thường trong cùng một lớp học. Điều này mang lại cho trẻ khuyết tật cơ hội gia nhập "xu hướng chính của cuộc sống" bằng việc hướng chúng đến việc lĩnh hội những kinh nghiệm ở tuổi mầm non từ những bạn bè bình thường đồng tranh lứa, đồng thời cũng đem đến cho trẻ bình thường có hội học tập và phát triển thông qua việc học hỏi kinh nghiệm từ những mặt mạnh và yếu của những bạn bè khuyết tật.

    Do đó, ta có thể hiểu là "hòa nhập" không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ khuyết tật mà còn cho trẻ bình thường. Sự hòa nhập mở ra cơ hội học tập cho cả hai đối tượng trẻ: Trẻ bình thường và trẻ khuyết tật.

    Tuy nhiên, hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ trẻ khuyết tật vào trong một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường. Phải thiết lập những bước rõ ràng để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia một cách đầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học. Việc thiết lập những bước rõ ràng là vai trò của các giáo viên.

    Chúng ta vẫn thường quan niệm rằng, trẻ có một khuyết tật nào đó về thể chất sẽ được "bù trừ" bởi một khả năng phát triển trội hơn ở một cơ quan khác. Ví dụ trẻ khiếm thị sẽ có thính giác tốt hơn hay có thể định hướng tốt hơn trong không gian. Thực ra, nếu cứ để trẻ khiếm thị sống cùng nhau thì sẽ không có quá trình "bù trừ" đó diễn ra. Trẻ khiếm thị phải được đưa vào các trường hòa nhập. Điều này làm cho chúng nhận ra sự khiếm khuyết của mình và từ đó cố gắng hết sức để huy động sức mạnh của các cơ quan khác để đạt được những cái mà bình thường bạn đồng trang lứa của chúng làm được. Hơn nữa, ở trường hòa nhập chúng còn học được những kỹ năng sống thiết yếu của một người bình thường, chứ không phải của một người khuyết tật. Điều đó là vô cùng quan trọng.

    Các kết quả nghiên cứu đã rất nhiều lần chỉ ra rằng những năm đầu tiên của cuộc đời là rất quan trọng trong việc học và phát triển. Trong thời gian này sự phát triển về các mặt nhận thức, giao tiếp, xã hội và tình cảm của trẻ có thể bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nếu những nhu cầu đặc biệt được phát hiện và đáp ứng trong thời gian này, trẻ khuyết tật sẽ có cơ hội tốt hơn để trở nên những người trưởng thành tháo vát và độc lập. Những trẻ khuyết tật có được cơ hội cùng chơi với những trẻ khác trong lớp học hỏi được nhiều hơn về chính bản thân chúng cũng như thái độ về việc nhân nhượng lẫn nhau diễn ra mỗi ngày. Đó là một trong những bước đầu tiên để phát triển tính độc lập. Bằng cách tham gia những lớp học hòa nhập ở trường bình thường cùng với đội ngũ giáo viên hiểu cách ứmg dụng những kĩ thuật và hoạt động giáo dục, trẻ với những nhu cầu đặc biệt( trẻ khuyết tật) sẽ có một "bắt đầu thuận lợi" thực sự trong việc hiện thực hóa tiềm năng dồi dào của mình.

    Lợi ích của "Giáo dục hòa nhập"


    Có rất nhiều lợi ích của việc giáo dục hòa nhập – những lợi ích ảnh hưởng đến cả trẻ khuyếta tật và trẻ bình thường cũng như phụ huynhvà giáo viên của trẻ. Ở đây chúng ta sẽ bàn đến 2 lợi ích lớn nhất: Đó là lợi cíh ảnh hưởng đến trẻ khuyết tật và trẻ bình thường trong lớp học chung với trẻ khuyết tật.

    1. Giáo dục hòa nhập giúp trẻ khuyết tật:

    Việc tham gia lớp hòa nhập như một thành viên được tiếp đón ân cần dạy cho trẻ có những nhu cầu đặc biệt( trẻ khuyết tạt) tính tự lực và giúp chúng nắm vững những kỹ năng mới. Đối với một số trẻ, đó có thể là lần đầu tiên trong đời chúng được mong đợi và khuyến khích là những điều chúng có thể làm cho bản thân. Làm việc và vui chơi với những trẻ khác khuyến khích trẻ khuyết tật phán đấu để đạt được những thành tích lớn hơn. Do đó chúng phát triển được ý thức cái tôi khỏe mạnh và tích cực.

    Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật, trẻ khuyết tật sẽ không bao giờ khám phá ra những khả năng tiềm tàng mà chúng có. Vì vậy, việc học tập trong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lực của mình, từ đó chúng có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tự phát triển. Ví dụ, một trẻ khiếm thính sẽ rất khó phát hiện ra khả năng nhận biết từ ngữ diễn đạt bằng việc mấp máy môi. Hay chúng có thể không làm giàu được vốn ngôn ngữ ký hiệu của bản thân nếu không sinh hoạt với trẻ bình thường cùng tuổi. Việc hòa nhập trẻ khuyết tật giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnh hội những kỹ năng sống của chúng.

    Một số khuyết tật không chẩn đoán được cũng được khám phá thông qua chương trình hòa nhập trước tuổi học. Có một số khuyết tật không nhận biết được một cách rõ ràng cho đến khi trẻ gia nhập trường tiểu học, và do vậy rất nhiều thời gian học tập bị đánh mất. Giáo viên mầm non có thể quan sát và so sánh niều trẻ cùng độ tuổi. Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề cho thấy triệu chứng của một khuyết tật nào đó trở nên dễ dàng hơn. Nhà trẻ có thể là cơ hội đầu tiên mà một só trẻ nhận được sự chăm sóc mà chúng cần.

    2. Giáo dục hòa nhập giúp đỡ trẻ bình thường:

    Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật nữa. Chúng học cách vui vẻ tiếp nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, thái độ của trẻ đối với trẻ khuyết tật có thể trở nên tích cực hơn khi chúng có cơ hội chơi chung với nhau một cách thường xuyên. Chúng học được rằng trẻ khuyết tật, cũng như chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác. Trong một lớp hòa nhập, chúng có cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau.

    Chúng ta biết rằng, sự thân ái là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòng nhân hậu và vị tha cho trẻ. Trẻ em sống trong một môi trường đa chủng tộc, đa văn hóa thườmg dân chủ và độ lượng hơn trong cách nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt về màu da và đa dạng về văn hóa là vì vậy. Do đó, khi học trong cùng một lớp với trẻ khuyết tật, trẻ bình thường sẽ học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhân hậu với trẻ khuyết tật. Cũng chính vì vậy, chúng sẽ làm giàu được vốn sống của mình.

    Đôi khi phụ huynh trẻ khuyết tật có thể lo lắng rằng con họ sẽ không được những trẻ khác thích và chấp nhận, có khi còn bị ăn hiếp, đối xử thô bạo hay trêu chọc. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng, một trong những điểm mạnh của trẻ em là chúng rất dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới nên lo lắng này có thể khắc phục được. Nếu là giáo viên, bạn cũng có thể nói với phụ huynh trẻ rằng bạn không cho phép bất cứ trẻ nào trêu chọc hay bắt nạt con của họ, và rằng bạn sẽ giải quyết ổn thỏa nếu những điều đó xảy ra.

    Đương nhiên, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải là vấn đề chỉ xảy ra với trẻ khuyết tật. Đó không phải là lý do để né tránh lớp học, lại càng không phải lý do để lẩn tránh cả thế giới còn lại. Dù sao đi nữa thì trẻ khuyết tật cũng cần được tiếp cận với cuộc sống bình thường bởi vì một lẽ: “Cuộc sống là một món quà phải được mở bởi chính đôi bàn tay của chúng.”
    210.245.120.43/file_attach/7071.doc
    Đưa bài này lên

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 4 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #162
    TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ CÁC NHU CẦU CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT

    I. Trẻ khuyết tật là gì?
    Là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể, suy giảm các chức năng, hạn chế khả năng hoạt động, khó khăn trong sinh hoạt học tập, vui chơi và lao động. Việt Nam có khoảng 1 triệu trẻ em dưới 6 tuổi bị khuyết tật.
    Có những dạng khuyết tật sau :

    1. Khuyết tật thính giác (khiếm thính) : chỉ sự suy giảm hay mất khả năng nghe dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ, hạn chế chức năng giao tiếp.

    2. Khuyết tật vận động : Do bị tổn thương các cơ quan vận động : tay chân, cột sống gây khó khăn trong cầm nắm, đi lại, di chuyển, nằm, ngồi, đi, đứng .

    3. Khuyết tật thị giác (khiếm thị) : chỉ sự suy giảm hay mất khả năng nhìn như mù hay nhìn kém.

    4. Khuyết tật trí tuệ : Chỉ sự suy giảm năng lực nhận thức, không thích nghi với các hoạt động xã hội, chỉ số thông minh thấp, xảy ra trước tuổi trưởng thành, khó chữa trị.

    5. Khuyết tật ngôn ngữ : Do bị tật ở cơ quan tiếp nhận chỉ huy ngôn ngữ vùng não và tổn thương của bộ phận phát âm làm ảnh hưởng đến ngôn ngữ giao tiếp.

    6. Ða tật : Có 2 hay nhiều loại khuyết tật.

    II. Nguyên nhân của khuyết tật do :

    - Do trong thời kỳ mang thai mẹ bị ốm, bị nhiễm độc, nhiễm vi rút (Rubella), bệnh di truyền gây dị tật bẩm sinh, sống và làm việc ở nơi quá ồn nữa.
    - Do mẹ đẻ khó, bị ngạt phải can thiệp dụng cụ .
    - Do nuôi dưỡng và chăm sóc : suy dinh dưỡng, thiếu Vitamin A, loét giác mạc, thiếu iốt, …
    - Do tai nạn, bệnh tật để lại di chứng : viêm não, sốt xuất huyết, sốt bại liệt, lao, viêm tai giữa lâu ngày.
    - Do một số hội chứng: Waardenburg, Treacher-Collin, Down, Usher, Stickler, Branchio-Oto-Renal, Alport, Pendred, CHARGE Association

    - Không rõ nguyên nhân ( mất thính lực đột ngột, mất thính lực tiến triển . . . )

    III. Nhu cầu của trẻ khuyết tật :


    1/ Trẻ khuyết tật cần được chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt để tồn tại và phát triển.

    2/ Cần được an toàn về tư tưởng1 và thể chất.

    3/ Cần được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng.

    4/ Cần được yêu thương, hoà nhập cộng đồng.

    5/ Cần được học hòa nhập, được vui chơi với trẻ cùng lứa tuổi.

    6/ Cần được tôn trọng, đánh giá, được khuyến khích và động viên.

    7/ Cần được giúp đỡ để phát triển và hoàn thiện dần.

    8/ Trẻ khuyết tật thường có năng lực bù trừ và tính sáng tạo.

    IV. Làm gì để giúp trẻ khuyết tật :

    1. Hãy phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật Mầm non :

    Phát hiện sớm tình trạng khuyết tật của trẻ càng sớm càng tốt ngay sau khi sinh hoặc trong thời gian từ 0 đến 5 tuổi (trước khi đi học phổ thông), khi thấy trẻ có biểu hiện phát triển không bình thường, cần cho trẻ đi khám bác sĩ để sớm phát hiện và giúp trẻ kịp thời.
    Can thiệp và hỗ trợ trẻ trong khoảng thời gian từ 0 đến 3 tuổi sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
    NHỮNG ÍCH LỢI KHI THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP SỚM
    Can thiệp sớm giúp trẻ khuyết tật và gia đình sớm vượt qua những khó khăn ban đầu bằng các hướng dẫn về y tế và giáo dục.

    Can thiệp sớm nhằm hạn chế tác hại của khuyết tật, tạo điều kiện kích thích sự phát triển tối đa cho trẻ khuyết tật, chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hoạt động học tập và phát triển.

    Can thiệp sớm giúp trẻ phát triển mọi kỹ năng và hoạt động trong cuộc sống gia đình và xã hội - để trẻ có một tương lai tốt đẹp hơn.


    Can thiệp sớm được thực hiện tại : Gia đình, trung tâm Can thiệp sớm, trường Mầm non, Bệnh viện Nhi . . .
    Những người tham gia thực hiện can thiệp sớm giúp trẻ có kết quả đó là : Bác sĩ Nhi khoa, bác sĩ chuyên ngành, giáo viên chuyên biệt , nhà Xã hội học, nhà Thính học, chuyên gia trị liệu ngôn ngữ, chuyên gia vật l‎ý trị liệu, nhà Tâm lý học, giáo viên Mầm non, người chăm sóc trực tiếp trẻ , các tình nguyện viên được hướng dẫn. . .

    2. Hãy tin tưởng vào khả năng của trẻ khuyết tật :

    1. Mỗi trẻ em đều có thể học được, kể cả trẻ khuyết tật, trong lúc học có khó khăn và chậm hơn trẻ bình thường.

    2. Những năm đầu cuộc đời, trẻ cần được học tập và bắt chước trong môi trường bạn cùng lứa tuổi.

    3. Trẻ khuyết tật được học càng nhiều càng tốt các kỹ năng sống mà mọi trẻ em đều học để trở thành người.

    4. Bố mẹ là người thầy quan trọng nhất của trẻ khuyết tật. Giáo viên Mầm non là người hướng dẫn, hỗ trợ tốt nhất cho trẻ và gia đình.

    5. Mỗi trẻ khuyết tật, mỗi gia đình có nhu cầu và điều kiện khác nhau nên mỗi trẻ có một chương trình can thiệp khác nhau phù hợp với từng trẻ.

    3. Hãy đưa trẻ đi học hòa nhập từ tuổi Mầm non :

    Lớp học Hòa nhập : là lớp học bình thường có 1 - 2 trẻ khuyết tật học cùng với trẻ bình thường cùng lứa tuổi tại nơi trẻ sinh sống và trong môi trường học tập bình thường. Tại lớp học hòa nhập - trẻ học chung chương trình, có sự hỗ trợ tích cực của giáo viên phụ trách, giáo viên chuyên biệt, nhóm bạn bè hỗ trợ và gia đình trẻ khuyết tật.

    Học hòa nhập sẽ mang lại cho trẻ những cơ hội : phát triển hết khả năng, học được nghề nghiệp và sống hòa nhập vào xã hội như mọi trẻ bình thường.

    (Soeur Thanh Thúy - Đaminh Thánh Tâm).
    • 4 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #163
    SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI – CẢM XÚC CỦA TRẺ:


    1/ 0-6 tháng
    • Mĩm cười và gù gù khi đáp ứng.
    • Cho thấy đã biết luân phiên.
    • Thích nhìn mặt người hơn.
    • Chú ý vào mặt và miệng.
    • Liên hệ bằng mắt thích hợp. ( 3 – 6 tháng )
    • Tỏ vẻ thích thú khi luân phiên.
    • Khóc khi không được thoải mái.
    • Nhận ra được mẹ.
    2/ 6-9 tháng
    • Thích thú khi được chơi với.
    • Biểu hiện sự quyến luyến gắn bó.
    • Đòi hỏi sự chú ý xã hội.
    • Thích thú với những trò chơi xã hội.
    3/ 9-12 tháng
    • Biểu hiện ảnh hưởng đến những người quen thuộc.
    • Trực tiếp đến những cái khác (đẩy, kéo, giật)
    • Hiểu những thói quen- những sự tham gia.
    • Thích thú với trò chơi.
    • Lặp lại những hành động làm cho trẻ cười.
    • Phát âm với điệu bộ đối với những mục đích xã hội khác nhau.
    4/ 12-18 tháng
    • Bắt chước những trẻ khác
    • Bắt chước những thói quen
    • Dùng những từ để tăng sự đa dạng của những mục tiêu xã hội
    • Đáp ứng những cuộc trò chuyện của người lớn
    Social purposes: protest/reject, greet/call, respond to others, label/notice, request object/action, express feelings/wants, request information, initiate pretend play, comment/tell info, acknowledge/answer
    5/ 18-24 tháng
    • Đáp ứng bằng lời với người đang trò chuyện với bé
    • Biết luân phiên nhiều hơn khi được trò chuyện
    • Sử dụng những âm giọng dài hơn cho những mục tiêu xã hội khác nhau.
    • Thực hành những chuỗi sự kiện tưởng tượng và những thói quen bằng lời của gia đình
    • Thích thú được chơi độc lập một mình.
    • Thích thú với trò chơi thô
    • Cho thấy lòng trắc ẩn
    • Tự tôn – con là tất cả
    6/ 24 -36 tháng
    • Chia sẻ đồ chơi nhưng hiểu được giá trị của tài sản của riêng mình – “của con”
    • Giả bộ làm người chăm sóc.
    • Dùng những từ ngữ lịch sự “Xin cám ơn”, “Con xin lỗi”.
    • Chuyển từ hành vi phụ thuộc ( 24 – 30 tháng ) sang khăng khăng không phụ thuộc ( 30 – 36 tháng )
    • Biểu hiện cảm xúc non nớt ( khóc khi tự mình không làm được)
    • Kháng cự sự thay đổi và khó khăn khi phải chuyển tiếp.
    • Kháng cự sự thay đổi và khó khăn khi phải chuyển tiếp.
    • Tham gia vào hoạt động nhóm và hoàn chỉnh các bài tập độc lập.
    • Bắt đầu theo những nguyên tắc đơn giản.
    • Thích được quyết định.
    • Tò mò về những mối tương tác và tình huống xã hội.
    • Quan hệ tốt nhất với một trẻ khác hoặc một người lớn.
    (Soeur Thanh Thúy - Đaminh Thánh Tâm)
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 4 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #164
    NHỮNG MỐC PHÁT TRIỂN THÍNH GIÁC CỦA TRẺ BÌNH THƯỜNG

    Sơ sinh đến 3 tháng:
    Giật mình với tiếng ồn lớn
    Ý thức với âm thanh
    Chớp mắt hoặc mở to mắt đáp ứng với tiếng ồn
    3-4 tháng:
    Yên lặng khi nghe tiếng nói của mẹ
    Dừng chơi, lắng nghe âm thanh mới
    Tìm nguồn âm thanh mới không ở trong tầm mắt
    6-9 tháng:
    Thích đồ chơi phát ra âm nhạc
    Gù gù hoặc ực ực có biến tố
    Nói "mama"
    12-15 tháng:
    Phản ứng với tên của mình và nói "không"
    Làm theo được những yêu cầu đơn giản
    Sử dụng vốn từ vựng diễn đạt khoảng từ 3 đến 5 từ
    Bắt chước một số âm thanh
    18-24 tháng:
    Biết các bộ phận cơ thể
    Sử dụng vốn từ vựng diễn đạt là cụm từ có 2-từ
    Sử dụng tối thiểu 20 đến 50 từ
    Người lạ có thể hiểu được 50% lời nói
    36 tháng:
    Sử dụng vốn từ vựng diễn đạt khoảng từ 4 đến 5 từ trong câu
    Sử dụng khoảng 500 từ
    Người lạ có thể hiểu được khoảng 80% lời nói
    Hiểu một số động từ

    (Soeur Thanh Thúy - Đaminh Thánh Tâm).
    (Bản quyền © 1998, 1999, 2000 do Viện Phát triển trẻ em) www.childdevelopmentinfo.com
    • 4 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #165
    BIỂU ĐỒ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Của trẻ bình thường


    6 tháng:
    Phát ra âm có ngữ điệu
    Phản ứng với tên của mình
    Phản ứng với tiếng nói của con người bằng cách xoay đầu và đưa mắt nhìn mà không cần gợi ý thị giác
    Đáp ứng một cách thích hợp với giọng thân thiện hoặc giận dữ

    12 tháng

    Sử dụng một hoặc nhiều từ có ý nghĩa (có thể là một phần của một từ)
    Hiểu những hướng dẫn đơn giản, đặc biệt là khi có gợi ý bằng giọng hay bằng tín hiệu cơ thể.
    Thực hành những biến tố
    Nhận thức được giá trị xã hội của lời nói

    18 tháng
    Có vốn từ vựng khoảng 5-20 từ
    Vốn từ vựng được tạo thành chủ yếu do các danh từ
    Có hiện tượng lặp lại máy móc (lặp đi lặp lại một từ hoặc một cụm từ nhiều lần)
    Nhiều biệt ngữ với nội dung tình cảm
    Có thể làm theo các lệnh đơn giản

    24 tháng
    Có thể gọi tên một số đồ vật phổ biến trong môi trường xung quanh trẻ
    Có thể sử dụng ít nhất hai giới từ, thường chọn trong số những giới từ sau: trong, trên, dưới
    Kết hợp các từ thành một sự câu ngắn, độ dài (trung bình) của các câu là khoảng 1,2 từ gồm có sự liên kết giữa danh từ-động từ.
    Khoảng 2/3 những điều trẻ nói có thể hiểu được
    Vốn từ vựng khoảng 150-300 từ
    Nghèo nhịp điệu và sự trôi chảy.
    Độ lớn và độ cao của giọng nói chưa được kiểm soát tốt
    Có thể sử dụng hai đại từ chính xác: con/em( chủ từ ), con/em ( túc từ ), mẹ/cô/ba, mặc dù con và em thường bị nhầm lẫn
    Của con ( tính từ sở hữu) và con ( đại từ sở hữu ) đang bắt đầu xuất hiện
    Phản ứng với các lệnh như "Chỉ cho mẹ đôi mắt của con (mũi, miệng, tóc)"

    36 tháng
    Sử dụng đại từ con, mẹ, cho con một cách chính xác
    Đang sử dụng một số số nhiều và các thì quá khứ
    Biết ít nhất ba giới từ, thường là trong, trên, dưới
    Biết các bộ phận chính của cơ thể và có thể chỉ ra chúng nếu không gọi tên
    Xử lý câu có ba từ dễ dàng
    Có số từ gần gũi khoảng 900-1000 từ
    Khoảng 90% những điều trẻ nói có thể hiểu được
    Động từ bắt đầu chiếm ưu thế
    Hiểu những câu hỏi đơn giản nhất liên quan đến môi trường xung quanh trẻ và hoạt động của trẻ.
    Liên hệ với kinh nghiệm của mình mà những kinh nghiệm đó có thể theo sau một lý do.
    Có thể nêu ra được lý do khi bị hỏi những câu như "Con phải làm gì khi con buồn ngủ, đói, lạnh, hoặc khát? "
    Có thể cho biết tên, giới tính, tuổi của trẻ
    Không nên mong đợi trẻ sẽ trả lời tất cả câu hỏi mặc dù trẻ hiểu những gì được hỏi.

    48 tháng
    Biết tên của các loài vật quen thuộc
    Có thể sử dụng ít nhất bốn giới từ hoặc có thể chứng minh sự hiểu biết về ý nghĩa của những lệnh được đưa ra
    Gọi tên một số đồ vật phổ biến trong sách tranh ảnh hoặc tạp chí
    Biết một hoặc nhiều màu sắc
    Có thể lặp lại 4 chữ số khi chúng được đưa ra từ từ
    Có thể thường xuyên lặp lại từ có bốn âm tiết
    Thể hiện sự hiểu biết các từ trên và dưới
    Có hầu hết các nguyên âm, nguyên âm đôi và các phụ âm p, b, m, qu, n cũng được hình thành tốt.
    Thường tạo được niềm tin
    Âm phát ra được mở rộng khi trẻ thực hiện các hoạt động
    Hiểu những khái niệm như dài hơn, lớn hơn, khi có sự tương phản
    Sẵn sàng thực hiện các lệnh đơn giản ngay cả khi không nhìn thấy đối tượng kích thích.
    Có nhiều sự lặp lại các từ, cụm từ, âm tiết, và thậm chí cả âm thanh

    60 tháng
    Có thể sử dụng nhiều từ mô tả một cách tự phát, cả tính từ và phó từ
    Biết những đối lập thông thường: lớn-nhỏ, cứng - mềm, nặng – nhẹ, vv
    Có khái niệm số 4 hoặc nhiều hơn
    Có thể đếm đến mười
    Lời nói có thể được dễ hiểu hoàn toàn, mặc dù còn có các vấn đề về phát âm
    Có thể có tất cả các nguyên âm và phụ âm, m, p, b, h, qu, k, g, t, đ, n, ng, y (trong yellow)
    Có thể lặp lại câu dài có chín từ
    Có thể xác định môt số đồ vật phổ biến trong khi sử dụng (mũ, giày, ghế)
    Có thể làm theo được ba lệnh mà không bị gián đoạn
    Có thể biết tuổi của mình
    Nếu có khái niệm thời gian đơn giản: sáng, chiều, đêm, ngày, sau đó, sau khi, trong khi, ngày mai, ngày hôm qua, hôm nay
    Có thể sử dụng những câu khá dài và có thể sử dụng một số từ ghép và một số câu phức tạp.
    Khi nói nguyên câu thì thường đúng ngữ pháp

    6 tuổi
    Ngoài các phụ âm ở trên, có thể nói đúng các âm: ph, v, s, zd, th, 1
    Trẻ cần phải có khái niệm số 7
    Lời nói có thể được hiểu hoàn toàn và có lợi ích về xã hội
    Có thể có thể cho biết một câu chuyện khá dài có liên kết với tranh ảnh, nhìn thấy mối quan hệ giữa các đối tượng và diễn biến

    7 tuổi

    Có thể nói được phụ âm x, d, r, âm th vô thanh, ch, qu và âm g nhẹ như ở trong từ George
    Có thể nắm được các khái niệm tương tự – đối nghịch dễ dàng: con trai – con gái, đàn ông – đàn bà, bay- bơi, cùn-sắc, ngắn dài, ngọt-chua, vv
    Hiểu những thuật ngữ như: giống nhau, khác nhau, bắt đầu, kết thúc, vv
    Có thể nói được thời gian theo khắc ( 15’ )
    Có thể đọc được những bài viết đơn giản hoặc bài in có nhiều từ

    8 tuổi
    Có thể liên hệ nhiều sự kiện với nhau hơn, nhiều trong số đó đã xảy ra tại một số thời điểm trong quá khứ
    Từ ghép và câu phức nên được sử dụng cách dễ dàng
    Có thể còn vài sai sót trong ngữ pháp - thì, đại từ, số nhiều
    Tất cả những âm thanh lời nói, kể cả phụ âm ghép cũng nên phát âm đúng
    Có thể đọc khá trôi chảy và bây giờ viết được những câu đơn giản
    Có thể có sự hiện diện của những lời nói bông đùa lịch sự trong lời nói của trẻ trong những tình huống thích hợp
    Kiểm soát tốc độ, cao độ và âm lượng nói chung là tốt và thích hợp
    Có thể tham gia các cuộc trò chuyện gần với mức độ của người lớn
    Làm theo được những hướng dẫn khá phức tạp với sự lặp lại ít
    Cũng đã phát triển sự hiểu về khái niệm thời gian và khái niệm số

    (Soeur Thanh Thúy - Đaminh Thánh Tâm).
    (Bản quyền © 1998, 1999, 2000 do Viện Phát triển trẻ em) www.childdevelopmentinfo.com
    • 110 Bài viết

    • 8 Được cảm ơn

    #166
    Nếu bạn ở Q3 thì trường Nguyễn Thiện Thuật (đường Nguyễn thiện Thuật) có kinh nghiệm dạy những trẻ như thế đó
  • Trang 9/9

    Chuyển tới trang

  • 1
  • ...
  • 8
  • 9