TIN TÀI TRỢ.

Khi nào bé đạt được những cột mốc phát triển quan trọng?

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 32.4K Lượt đọc
  • 9 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #1
    Khi nào con bạn bắt đầu biết đi, biết trò chuyện, mọc cái răng đầu tiên hoặc bắt đầu ăn dặm? Khi nào thì bé sẽ thôi ngủ rất nhiều giấc ngắn ban ngày, hay có đứa bạn đầu tiên, và rụng chiếc răng đầu đời nữa chứ? Và nếu bạn đang mang thai, khi nào bạn bắt đầu nghe được nhịp tim thai, khi nào thì biết giới tính của em bé trong bụng và khi nào thì cảm nhận được bé đang cử động rất yêu trong chiếc kén nước của mình?

    bephattrien-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Có rất nhiều cột mốc phát triển quan trọng mà một đứa trẻ phải trải qua để trưởng thành, từ khi bé còn là bào thai bé xíu trong bụng mẹ đến khi bé đứng trước ngưỡng cửa của tuổi thành niên. Hãy tham khảo bảng tóm tắt các cột mốc phát triển quan trọng nhất ở từng khía cạnh phát triển của trẻ dưới đây để bố mẹ có cái nhìn chung về con đường mà bạn và con sẽ đi trong khoảng chục năm đầu đời của bé nhé!

    1- Thời lượng giấc ngủ ban đêm và ban ngày của trẻ - từ mới sinh đến 8 tuổi;
    2- Lịch trình mọc và thay răng của trẻ - từ mới sinh đến 12 tuổi;
    3- Lịch trình phát triển khả năng và kỹ năng ăn uống của trẻ - từ mới sinh đế 3 tuổi;
    4- Lịch trình phát triển kỹ năng phát âm và nói của trẻ - từ mới sinh đến 8 tuổi;
    5- Lịch trình phát triển kỹ năng vận động và di chuyển của trẻ - từ mới sinh đến 5 tuổi;
    6 Lịch trình phát triển các kỹ năng giao tiếp và xã hội của trẻ - từ mới sinh đến 8 tuổi;
    7- Lịch trình phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ
    8- Lịch trình phát triển của thai nhi trong bụng mẹ
    Mẹ khám phá thêm thông tin tại đây
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #2
    Thời lượng ngủ ngày và đêm của trẻ - từ mới sinh đến 8 tuổi

    Con bạn cần ngủ bao nhiêu tiếng mỗi ngày là đủ? Câu trả lời sẽ khác nhau ở mỗi đứa trẻ, có bé sơ sinh cần ngủ nhiều hoặc ít hơn các bé khác đến 2 giờ mỗi ngày, trong khi các bé ở độ tuổi lớn hơn có thời gian ngủ xê xích nhau khoảng 1 giở mỗi ngày.

    Bảng thời lượng ngủ dưới đây gợi ý cho bạn thời gian ngủ trung bình mỗi ngày của một em bé từ khi mới sinh đến khi bé được 8 tuổi, và bạn cũng có thể thấy thời lượng giấc ngủ đêm và các giấc ngủ ngắn ban ngày của bé thay đổi thế nào khi bé lớn lên.

    Giai đoạn sơ sinh và nhũ nhi

    Trẻ sơ sinh (0-4 tuần tuổi): Bé ngủ khoảng 10 tiếng rưỡi đến 18 tiếng trong mỗi chu kỳ 24 giờ. Hầu như bé chưa hình thành một lịch trình ngủ nào, bé có thể ngủ từ vài phút đến vài giờ và sẽ thức giấc thường xuyên để lấp đầy chiếc bao tử nhỏ xíu của mình.

    bengu-2-640
    Ảnh: Gettyimages.

    1 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng 10 tiếng rưỡi đến 18 tiếng mỗi ngày. Bé bắt đầu có sự thích nghi với khác biệt giữa ngày và đêm. Bé sẽ dành cả đêm để ngủ và thức dậy nhiều hơn vào ban ngày, nhưng bé vẫn ngủ khá nhiều trong ngày.

    2 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng 10 tiếng rưỡi đến 18 tiếng mỗi ngày. Mặc dù khi thức bé đã tỉnh táo hơn để giao tiếp với mọi người, nhưng phần lớn các em bé vẫn ngủ từ 2 cho đến 4 (thậm chí nhiều hơn) giấc vào ban ngày. Con bạn có thể bắt đầu bỏ 1 cữ bú đêm.

    3 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng 10 tiếng rưỡi đến 16 tiếng rưỡi mỗi ngày. Một số em bé (không phải tất cả) ở tuổi này có thể ngủ giấc dài từ 6-8 tiếng vào ban đêm. Phần lớn các bé sẽ ngủ thêm 2-3 giấc vào ban ngày.

    6 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng 13 giờ 15 phút đến 14 giờ 15 phút mỗi ngày. Ban đêm, bé sẽ ngủ từ 9-11 giờ. Số giấc ngủ chợp ban ngày có thể giảm xuống còn một giấc vào buổi sáng và một giấc vào buổi chiều (một số bé vẫn duy trì ngủ từ 3-4 giấc ngắn ban ngày.)

    9 tháng tuổi:
    Bé ngủ khoảng 13-14 tiếng mỗi ngày. Khoảng ¾ số em bé ở tuổi này đã có thể ngủ trọn đêm (thường được hiểu là không thức giấc trong khoảng từ nửa đêm đến 5 giờ sáng nữa). Một số bé có thể ngủ thẳng một giấc suốt đêm, tức ngủ liên tục 10-11 tiếng mà không thức giấc. Ở tầm tuổi này, con bạn hầu như đã cố định hai giấc ngủ ngắn vào ban ngày, một vào buổi sáng và một vào buổi trưa chiều. Bé cũng bắt đầu hình thành nỗi lo sợ rời xa mẹ và nỗi sợ này có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ của bé.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững tập đi

    12 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng từ 12 tiếng rưỡi đến hơn 13 tiếng rưỡi mỗi ngày. Bé sẽ tiếp tục ngủ liên tục 10-11 tiếng vào ban đêm, cộng với hai giấc ngủ ngày nhưng thời gian ngủ ban ngày sẽ ngắn hơn một chút.


    bengu-3-640
    Ảnh: Gettyimages.


    18 tháng tuổi: Bé ngủ khoảng 12 tiếng rưỡi đến 13 tiếng rưỡi mỗi ngày. Lúc này, bé thường đã bỏ giấc ngủ ngày buổi sáng, nhưng giấc ngủ chiều sẽ vẫn duy trì thêm vài năm nữa. Hầu hết các bé tuổi này vẫn ngủ từ 10-11 giờ mỗi đêm.

    Giai đoạn nhà trẻ - 2 đến 3 tuổi

    2 tuổi: Bé ngủ khoảng 12 tiếng rưỡi đến 13 tiếng. Hầu hết các bé 2 tuổi vẫn ngủ chiều và ngủ khoảng 10-11 tiếng vào ban đêm. Con bạn lúc này có thể không chịu đi ngủ và sẽ kháng cự khi bạn đặt bé vào giường. Có một sự thật là đến 2 tuổi, hầu hết trẻ nhỏ có thời gian ngủ nhiều hơn thời gian thức trong 1 ngày.

    3 tuổi:
    Bé ngủ khoảng 12-13 tiếng mỗi ngày. Con bạn có thể vẫn duy trì một giấc ngủ ngắn buổi trưa chiều, nhưng một số bé tuổi này sẽ bỏ qua luôn giấc ngủ ban ngày này. Thường thì những trẻ bỏ giấc ngủ ngày sẽ ngủ đêm dài hơn một chút để bù lại. Nhiều em bé chuyển từ ngủ cũi sang giường và năm 3 tuổi.


    Giai đoạn nhi đồng


    bengu-4-640
    Ảnh: Gettyimages.

    4-5 tuổi: Bé ngủ khoảng 11-12 tiếng mỗi ngày. Một số bé tuổi này có thể dành hết thời gian ngủ của mình cho giấc ngủ đêm, trong khi những bé khác chia một phần thời gian ngủ trong ngày của mình cho giấc ngủ chiều. Trẻ đi mẫu giáo hoặc có một ngày hoạt động tích cực hơn bình thường có thể có giờ ngủ thay đổi một chút và bé có thể đi ngủ sớm hơn bình thường.

    6 tuổi: Bé ngủ khoảng 10 tiếng đến 11 tiếng rưỡi mỗi ngày. Ở tuổi này, những giấc ngủ ban ngày của bé gần như đã thành quá khứ. Một số bé bắt đầu có nỗi sợ bóng tối nên bé có thể gặp khó khăn khi đi ngủ vào buổi tối.

    7-8 tuổi: Bé ngủ khoảng 9 tiếng rưỡi đến 11 tiếng rưỡi mỗi ngày. Hầu hết các bé ở tuổi này đã ổn định được thời gian ngủ vào khoảng 9 tiếng rưỡi đến 11 tiếng rưỡi vào ban đêm. Đây cũng là ngưỡng thời gian trẻ chuẩn bị bước vào tuổi vị thành niên, và bạn có thể sớm phải bực mình vì bé sẽ ngủ “nướng khét lẹt” vào những buổi sáng cuối tuần.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #3
    Lịch mọc răng và thay răng của trẻ - từ 0-12 tuổi

    Từ trước cả khi bé được sinh ra, những chiếc mầm răng đã hình thành và phát triển ngầm bên dưới nướu của bé. Và đây là lịch trình tham khảo để bạn biết khi nào thì bé sẽ mọc những chiếc răng sữa trắng ngần đầu tiên và khi nào bé sẽ thay răng trưởng thành.

    Lưu ý rằng lịch trình này chỉ mang ý nghĩa tham khảo, con bạn vẫn hoàn toàn bình thường nếu bé mọc răng khi mới 3 tháng tuổi hoặc đến hơn 1 tuổi mới mọc chiếc răng sữa đầu tiên. Bạn biết không, có bé đã có sẵn răng khi vừa mới chào đời.

    lichmocrang-480

    Năm đầu đời

    5 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 4 đến 10 tháng tuổi): Bé bắt đầu mọc răng. Nướu của bé có thể bị sưng đỏ ở vị trí răng sữa trồi lên.

    8 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 6 đến 10 tháng tuổi): Chiếc răng sữa đầu tiên nhú lên, thường là răng cửa ở giữa hàm dưới. Hai chiếc răng cửa dưới có thể mọc cùng lúc. Thường thì răng ở hàm dưới luôn mọc trước răng ở hàm trên.

    mocrang-640
    Ảnh: Gettyimages.

    10 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 8 đến 12 tháng tuổi): Hai chiếc răng cửa ở giữa hàm trên mọc ra. Có một thực tế thú vị là bé gái thường mọc răng sớm hơn so với bé trai.

    11-12 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 10 đến 16 tháng tuổi): Hai răng sữa liền kề răng cửa trung tâm của hàm dưới bắt đầu “lộ diện”. Răng bé thường mọc theo cặp, một chiếc bên trái và một chiếc bên phải.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững
    12 tháng tuổi ((ngưỡng bình thường từ 9 đến 13 tháng tuổi): Hai răng cửa bên cạnh răng cửa trung tâm hàm trên xuất hiện.

    Nếu qua sinh nhật đầu tiên mà bạn vẫn chưa thấy bé có bất kỳ dấu hiệu mọc răng nào thì hãy hỏi thăm bác sỹ của bé để được tư vấn. Nhưng đừng quá lo, một số bé vẫn trì hoãn chuyện “răng cỏ” cho đến vài tháng nữa mà không có vấn đề gì cả.


    rangbe-640
    Ảnh:: Gettyimages.

    15 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 13 đến 18 tháng tuổi): Những chiếc răng hàm trong cùng bất đầu nhô ra ở cả hàm dưới và hàm trên cùng một lúc.
    Bạn có biết rằng răng sữa của trẻ con thường rắng và nhỏ hơn so với răng vĩnh viễn không nhỉ?

    18 tháng tuổi
    (ngưỡng bình thường từ 16 đến 22 tháng tuổi): Bé bắt đầu mọc răng nanh, là chiếc răng sắc nhọn nhất, ở cả hàm trên và hàm dưới.


    26 tháng tuổi
    (ngưỡng bình thường từ 23 đến 31 tháng tuổi): Những chiếc răng hàm thứ hai (từ trong ra) bắt đầu xuất hiện ở hàm dưới.


    Giai đoạn mầm non:

    26 tháng tuổi (ngưỡng bình thường từ 25 đến 33 tháng tuổi): Hai răng hàm thứ hai (từ trong ra) của hàm trên bắt đầu mọc sau răng hàm thứ hai của hàm dưới..

    3 tuổi:
    Con bạn đã có đủ 20 chiếc răng đầu tiên, gọi là răng sữa.


    4 tuổi:
    Xương hàm và mặt của bé phát triển, tạo nên những khoảng cách giữa các răng sữa để sẵn sàng cho răng trưởng thành và vĩnh viễn mọc lên sau khi thay răng sữa.


    Giai đoạn tiểu học:

    6-12 tuổi: Con bạn bắt đầu thay răng. Trong những năm này, nụ cười của bé có lúc “sún răng”, và có lúc “nửa này, nửa nọ” với cả răng sữa và răng vĩnh viễn.


    thayrang-480
    Ảnh: Gettymages.

    Những chiếc răng sữa của bé bắt đầu lung lay và rụng đi không theo thứ tự khuôn mẫu nào cả, nhưng răng sữa của bé thường “ra đi” theo thứ tự mà chúng đã mọc lên. Bốn răng cửa ở giữa thường sẽ được thay đầu tiên (vào năm 6-7 tuổi), tiếp đến bốn chiếc hai bên răng cửa (năm bé 7-8 tuổi). Răng hàm sẽ thay sau đó, thường là vào khoảng 9-12 tuổi.


    12 tuổi: Bé đã có 28 chiếc răng vĩnh viễn rồi. (Bốn chiếc răng khôn sẽ bắt đầu mọc khi bé được 16-19 tuổi để hoàn thiện bộ 32 cái răng.)
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #4
    Lịch phát triển kỹ năng ăn uống của bé – từ mới sinh đến 3 tuổi

    Khi nào bé chuyển từ chế độ ăn lỏng (bú) sang chế độ ăn thức ăn thô, khi nào bé có thể tự ăn, và khi nào bé sẽ ăn uống gọn gàng tươm tất? Chỉ dẫn dưới đây sẽ trả lời cho bạn những câu hỏi “khi nào” đó!

    Giai đoạn 1 năm đầu đời:

    Từ mới sinh đến 4 tháng tuổi: Bé được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, hoặc sữa công thức, hoặc xen kẽ hai loại sữa. Bé có kỹ năng tự nhiên tìm vú mẹ, ngậm vú, bú và nuốt. Trong giai đoạn này, bé có phản xạ tự nhiên đẩy tất cả những thứ ở thế thô, rắn ra khỏi miệng nhờ phản xạ đẩy lưỡi, hay phản xạ phun. Ngoài ra, bé cũng có thể ợ sau khi bú để tống không khí thừa trong quá trình bú ra khỏi đường tiêu hoá.

    Dấu hiệu báo động: Nếu bạn nhận thấy dấu hiệu bé gặp khó khăn khi bú, hoặc thấy bé không tăng cân theo chuẩn, hoặc bé vặn mình khi ăn, cáu gắt, ho và sặc, hãy cho bé đi khám ngay.

    Từ 4 đến 6 tháng tuổi: Bé có thể đã sẵn sàng để bắt đầu ăn dặm, mặc dù thời điểm này sữa mẹ hay sữa công thức vẫn đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bé. Những dấu hiệu sau cho thấy bé đã muốn tập ăn dặm: há miệng khi thấy đưa muỗng lại gần, có thể ngậm muỗng và bắt đầu biết cách dùng lưỡi di chuyển thức ăn trong miệng, biết làm động tác nhai, nhưng thỉnh thoảng vẫn mút đồ ăn.

    beduocdutan-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Bé cũng đã có thể bốc thức ăn bằng lòng bàn tay, co các ngón tay lại để giữ thức ăn trong tay và di chuyển chúng về phía miệng mình, nhưng động tác của bé còn rất vụng về. Bé có thể ngồi thẳng trên ghế ăn.

    Từ 7 đến 9 tháng tuổi: Đây là lúc bé biết ăn bốc. Bé biết dùng ngón cái và ngón trỏ để bốc những miếng thức ăn nhỏ lên. Lúc này bé đã sẵn sàng để tập cầm muỗng xúc ăn.

    Với sự giúp đỡ của bạn, bé đã có thể uống từ ly uống nước của người lớn dù là vẫn còn đổ tèm lem. Bé cũng đang tập kỹ năng uống và kỹ năng phối hợp tay và miệng mà không làm đổ nước với ly có nắp.

    Từ 8 đến 10 tháng tuổi: Kỹ năng uống và nhai của bé đã tốt hơn nhiều. Bé biết cong môi ngậm vành ly đê nước không tràn khi uống. Bé bắt đầu biết nhai chéo hàm để chuyển thức ăn từ hai bên vào giữa khoang miệng. Bé cũng có thể ăn thức ăn thô và đặc dần.

    bean-640
    Ảnh: Gettymages.

    Từ 10 đến 12 tháng tuổi: Bé biết cầm ly và muỗng, và bắt đầu biết tự ăn. Bé biết dùng môi để gạt thức ăn từ muỗng vào miệng và nuốt khi môi đang ngậm. Bé cũng biết chỉ trỏ và với thức ăn khi đang đói. Bé cũng sẽ tỏ thái độ hứng thú với những gì bạn ăn. Nếu con bạn đã có thể ngồi lâu, bé có thể ngồi vào cùng bàn ăn với gia đình khi được dặt trên ghế hỗ trợ cho trẻ nhỏ, dù hầu hết cha mẹ vẫn muốn cho con ngồi ghế ăn dặm.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững
    Từ 12 đến 18 tháng tuổi: Bé đã có thể tự cầm muỗng xúc ăn, dù không phải lúc nào bé cũng muốn làm thế. Bé có thể nuốt nước trực tiếp từ ly mà không phải mút hay nhai với miệng ngậm. Bé cũng biết ngậm chặt miệng và lắc đầu để cho mẹ biết bé đã no và không muốn ăn nữa.

    Từ 18 đến 24 tháng tuổi: Bé đã ăn uống gọn gàng hơn mặc dù có thể bé vẫn thích nghịch và ném thức ăn khi đã ăn xong. Kỹ năng cầm muỗng nĩa của bé đã tốt hơn hẳn. Bé cũng biết được rằng không phải lúc nào cũng cần há miệng thật to để ăn. Có thể bé còn biết thông báo với bạn rằng bé đã ăn no hoặc muốn ăn nữa bằng vài câu đơn giản như “nữa, nữa” hay “no, no” và nghịch đĩa ăn hoặc đẩy nó đi khi bé đã ăn đủ.

    betuan-480
    Ảnh: Gettyimages.

    Giai đoạn mầm non
    Từ 24 đến 36 tháng tuổi: Bé đã hoàn toàn có thể tự ăn và tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng ăn uống và cư xử tại bàn ăn. Bé đã sẵn sàng để ăn mọi loại thức ăn và thích được lựa chọn món bé thích trong những món mà bạn đưa ra. Tuy nhiên, bé vẫn còn rất nhỏ và vẫn có thể bị hóc hoặc sặc thức ăn nên mẹ hãy cẩn thận khi cho con ăn nhé.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #5
    Lịch trình phát triển kỹ năng nói – từ mới sinh đến 8 tuổi

    Từ những tiếng ọ ẹ đến khi bé có thể nói năng lưu loát khi đi học là một chặng đường dài mà mỗi đứa trẻ sẽ phát triển theo cách riêng của mình. Dưới đây là những mốc phát triển kỹ năng nói quan trọng của bé mà bạn có thể tham khảo trước, nhưng hãy luôn nhớ rằng con bạn có thể “cán mốc” sớm hoặc trễ hơn chút đỉnh, và điều đó hoàn toàn không có gì đáng lo cả.

    Năm đầu đời
    Từ mới sinh đến 3 tháng tuổi: Bé có thể tạo ra những tiếng ọ ẹ nho nhỏ khi bạn khuyến khích bé. Đó thường là âm thanh của những nguyên âm đơn như “a” hay “ư”.

    betapnoi-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 2 đến 3 tháng tuổi: Bé biết khóc theo những kiểu khác nhau trong những tình huống khác nhau. Nếu bạn là người chăm sóc gần gũi của con, bạn sẽ phân biệt được khi nào con khóc do đói và khi nào con đang mệt.

    Từ 3 đến 4 tháng tuổi: Bé có thể phát âm hầu hết các nguyên âm, và tiếng ọ ẹ của bé giờ nghe đã phức tạp và đa dạng âm thanh hơn nhiều rồi.

    Từ 5 đến 6 tháng tuổi: Bé đang thực hành tạo ra những ngữ điệu khác nhau bằng cách lên và xuống giọng. Bé cũng hứng thú đáp lại khi bạn nói chuyện hoặc tạo ra những biểu cảm mặt với bé.

    Dấu hiệu báo động: Nếu con bạn vẫn không chịu “lên tiếng” khi đã được 6 tháng tuổi, bạn hãy nêu vấn đề với bác sỹ nhi của bé.

    Từ 7 đến 12 tháng tuổi: Bé đã bắt đầu “hay chuyện” hơn nhiều, và đã biết cách phối hợp các âm thanh với ngữ điệu. Bé cũng thích bắt chước bạn nói chuyện, và biết kết hợp âm giữa phụ âm và nguyên âm, tạo thành những tiếng kêu nghe rất ngộ như “ba ba ba”, “đi đi đa”. Bé cũng thích thú với việc giả vờ trò chuyện với bạn, và bé cũng đã biết cách trò chuyện luân phiên qua lại.

    benoi-1-640
    Ảnh: Gettymages.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững
    12 tháng tuổi:Bé đã có thể nói được từ đầu tiên. Lúc này, bé có thể biết từ 1-5 từ và như vậy đã đủ dùng với bé rồi.

    14 tháng tuổi: Bé biết dùng ngữ điệu và viện đến cả tay chân để bổ sung cho phần “diễn thuyết” của mình.

    Dấu hiệu báo động: Nếu con bạn vẫn chưa nói được từ nào cho đến khi bé được 15 tháng tuổi, bạn hãy cho bé đi khám nhé.

    16 tháng tuổi: Bé đã bi bô và “nhiều chuyện” hơn nhiều, và đã xác định đối tượng yêu thích để trò chuyện nhiều hơn. Bé cũng có thể biết gọi “mẹ” để được bạn chú ý, biết gật hay lắc đầu để trả lời “có” hoặc “không”. Bé đã có thể nói được các phụ âm phức tạp hơn như t, d-đ, n, qu, và h.

    18 tháng tuổi: Bé đã có vốn từ vựng lên đến 20 từ, bao gồm tên gọi (như “mẹ”), động từ (“ăn”) và tính từ (“nóng”). Bé cũng đã biết dùng những cụm từ ngắn (như “chơi búp bê”) để đưa ra các yêu cầu.

    Từ 18 đến 24 tháng tuổi: Bé biết đặt hai từ lại với nhau để tạo thành những cụm từ có nghĩa như “bố bế” hay “uống sữa”.

    Giai đoạn mầm non
    24 tháng tuổi: Vốn từ của bé giờ đây đã tăng lên 150 đến 300 từ. Bé biết dùng những câu ngắn 2-3 từ nhưng vẫn còn ngập ngừng khá nhiều, ví dụ như “con… bị té”, “Bi… đi học”.

    Từ 2 đến 3 tuổi: Có thể nói chuyện đơn giản về những thứ vừa xảy ra tức thì. Bé đã bắt đầu hỏi những câu hỏi đơn giản. Khả năng ghép câu đã tốt hơn và bé có thể nói được những câu dài đến 6 từ và vốn từ vựng giờ đã có khoảng 450 từ, gồm rất nhiều động từ.

    Dấu hiệu báo động: Nếu đến 2-3 tuổi mà bé chỉ có thể lập lại câu hỏi của bạn thay vì trả lời, hãy đưa bé đi khám. Đó có thể là dấu hiệu chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ.

    Từ 3 đến 4 tuổi: Bé có thể vừa nói vừa chơi cùng lúc và vốn từ vựng của bé giờ đã lên đến 800-1000 từ. Và bạn chắc cũng biết rồi, bé đặc biệt yêu thích những từ “tại sao”, “cái gì” và “ai”. Bé có thể hiểu phần lớn những gì bạn nói và có thể kể cho bạn biết chuyện gì xảy ra khi bạn vắng mặt.

    Dấu hiệu báo động: Bé có thể nói vấp hoặc nói lắp vào thời điểm này khi việc tìm từ thích hợp không bắt kịp với sự phấn khích được nói chuyện của bé, và điều này là bình thường. Dù vậy, nếu bé vẫn cà lăm sau hơn 6 tháng, hoặc bạn thấy bé phải rất cố gắng khi phát âm thì hãy cho bé đi khám vì có thể bé bị tật khó phát âm bệnh lý.

    Giai đoạn tiểu học

    benoi-2-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 4 đến 5 tuổi: Bé đã có thể nói chuyện dễ dàng với vốn từ hơn 2000 từ. Bé có thể kể lại một câu chuyện đơn giản với phần mở, thân và kết truyện khi nhìn vào tranh. Bé có thể dùng từ 4-5 câu để mô tả một bức hình với ngữ pháp khá chuẩn. Sử dụng đại từ nhân xưng tương đối chính xác, và việc xưng “con” với tất cả mọi người hầu như đã được giải quyết. Bé đã dùng được rất nhiều từ miêu tả, bao gồm cả các từ biểu thị thời gian như “hôm nay”, “ngày mai”.

    Từ 6 đến 7 tuổi: Bé có thể giải thích hai vật giống hoặc khác nhau như thế nào, có thể kể lại câu chuyện mà không cần nhìn hình ảnh minh hoạ, và có thể nhắc lại những sự kiện và cuộc hội thoại đã xảy ra. Bé biết dùng thêm phụ từ chỉ số nhiều như “những, các, mấy…”

    8 tuổi: Bé đã hoàn toàn làm chủ và thuần thục trong cách sử dụng ngôn ngữ với ngữ điệu, cường độ, tốc độ nói và khả năng ghép câu phức tạp một cách chính xác. Ở tuổi này, bé đã nói chuyện trôi chảy với người lớn và thậm chí có bé còn khiến người lớn ngạc nhiên về khả năng nói chuyện của mình.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #6
    Lịch trình phát triển kỹ năng vận động và di chuyển – từ mới sinh đến 5 tuổi

    Từ một em bé sơ sinh mẹ luôn phải bế bồng đến một đứa trẻ chạy nhảy tung tăng là một quá trình phấn đấu đáng nể của trẻ trong những năm đầu đời. Đó không chỉ là việc của đôi bàn chân bé nhỏ mà còn là sự vận động toàn thân rất phức tạp. Hãy xem bé học cách di chuyển như thế nào trong 5 năm đầu đời nhé!

    Lưu ý rằng lịch trình dưới đây chỉ mang ý nghĩa tham khảo, các mốc thời gian mẫu dựa trên độ tuổi trung bình mà trẻ nhỏ đạt được các mốc phát triển chính; tuy nhiên, biên độ thời gian cho mỗi mốc phát triển là khá rộng và trẻ con mỗi đứa có một tốc độ lớn của riêng mình. Chẳng hạn có trẻ biết chập chững biết đi khá sớm từ lúc 8 tháng tuổi, nhưng có bé đến 17 tháng mới biết đi, và cả hai trường hợp đều hoàn toàn bình thường. Nếu bạn linh cảm thấy điều không ổn với con mình, hãy mạnh dạn đề cập với bác sỹ để được tư vấn cụ thể.

    Năm đầu đời
    Từ mới sinh đến 2 tháng tuổi: Trẻ sơ sinh đã có phản xạ bước đi ngay từ lúc chào đời. Khi bạn bế đứng bé trên mặt phẳng rắn, bé sẽ di chuyển chân như đang đi. Phản xạ này mất đi khi bé được 6 tuần tuổi.

    Từ 3 đến 4 tháng tuổi: Bé có thể nâng được đầu và ngực lên khỏi sàn với sự hỗ trợ của tay khi bé được đặt nằm sấp. Động tác này giúp rèn luyện các cơ thân trên rất cần thiết cho việc đi lại sau này.

    chanbe-640
    Ảnh: Gettyimages.

    5 tháng tuổi: Bé có thể nhún chân khi được bế đứng. Cử động này là cách để bé rèn luyện sức mạnh của đôi chân. Lưu ý cho bố mẹ: Hãy nhớ kiểm tra tính an toàn của nhà bạn trước khi bé có thể tự di chuyển.


    Từ 6 đến 8 tháng tuổi: Bé học ngồi. Tư thế ngồi giúp phát triển sức mạnh của cổ bé, khả năng kiểm soát đầu, khả năng thăng bằng và phối hợp cơ thể; tất cả những kỹ năng này đều cần thiết và quan trọng để bé có thể tập đi sau đó. Phần lớn các bé cũng tập bò trong khoảng 6 đến 10 tháng tuổi, nhưng một số bé có thể trốn bò và chuyển sang tập đi.

    8 tháng tuổi: Bé có thể tự đứng khi vịn vào thứ gì đó xung quanh. Khoảng vài tuần sau, bạn sẽ thấy con mình bắt đầu đi men, hoặc bước từng bước chân sang ngang trong khi bám vào thành.

    Từ 9 đến 10 tháng tuổi: Bé biết tự kéo mình đứng lên bằng cách bám thành ghế hay chân bàn. Bé cũng đã biết cách khuỵu gối để ngồi xuống sau khi đã đứng lên.

    11 tháng tuổi: Bé có thế đứng mà không cần đỡ trong vài giây, và có thể bước đi nếu được bạn dắt tay bé.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững


    betapdi-480
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 11 đến 14 tháng tuổi: A, bé đã thực sự đi được những bước đi đầu đời! Ở mốc 13 tháng tuổi, cứ 4 bé thì có đến 3 bé đã có thể đi được dù còn khá vụng về lúng túng. Để giữ thăng bằng cho những bước đi đầu tiên, bé thường đưa hai tay ra trước khi chập chững bước đi. Không lâu sau đó, con bạn sẽ học được cách ngồi thụp xuống và đứng lên trở lại.

    Từ 14 đến 15 tháng tuổi: Con bạn có thể sẽ rất thích trò chơi kéo và đẩy đồ chơi, và bé còn biết đi giật lùi nữa đấy.

    Dấu hiệu cảnh báo: Nếu đến 14-15 tháng tuổi mà con bạn vẫn không thể chập chững bước đi, bạn hãy cho bé đi khám. Mặc dù thời điểm này vẫn nằm trong biên độ phát triển bình thường nhưng đây là lúc bạn nên cho bé kiểm tra xem có vấn đề gì khiến mốc phát triển bị trì hoãn.

    16 tháng tuổi: Với sự hỗ trợ của người lớn, bé đã có thể bước lên hoặc xuống cầu thang.

    18 tháng tuổi: Bé đã có thể nhảy theo nhạc.

    Từ 19 đến 24 tháng tuổi: Con bạn đang tăng tốc từ đi sang chạy. Bé thích cầm thứ gì đó trong tay khi đi. Đến sinh nhật lên 2, bé sẽ học cách nhảy từ bậc thấp xuống sàn.

    Giai đoạn mầm non


    lecauthang-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 25 đến 30 tháng tuổi: Bé có thể tự đi lên cầu thang một mình nhưng vẫn chưa thể tự đi xuống được đâu bạn ạ. Bé đã chạy rất siêu và đã có thể tham gia vào các trò chơi vận động ngoài trời rất tốt.

    Từ 31 đến 36 tháng tuổi: Bé có thể nhảy trên sàn chụm hai chân, và có thể nhảy sang hai bên. Khả năng chạy theo và điều khiển bóng sẽ đến rất sớm sau đó.

    4 tuổi: Bé tập giữ thăng bằng và nhảy lò cò trên một chân. Bé cũng sẽ phát hiện ra mình thuận chân bên nào hơn.

    Giai đoạn nhi đồng
    5 tuổi: Bé trở nên thuần thục hơn tất cả các kỹ năng trước đó (đi, chạy, nhảy lò cò, nhảy hai chân, nhảy xa) và giờ đã có thể phối hợp chúng với nhau nhịp nhàng.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #7
    Lịch trình phát triển kỹ năng giao tiếp và xã hội – từ mới sinh đến 8 tuổi

    Bé đã biết phản hồi lại người khác ngay từ thời điểm chào đời, nhưng bé sẽ còn phải học hỏi rất nhiều để biết cách kết bạn hay hôn mẹ và nói “con yêu mẹ”. Dưới đây là lộ trình phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội tiêu biểu của một em bé từ khi sinh ra đến khi bé được 8 tuổi


    Năm đầu đời

    Từ mới sinh đến 3 tháng tuổi: Bé biết giao tiếp bằng mắt, kêu ư, a, và thể hiện những nét mặt khác nhau khi bạn chơi với bé. Bé cũng có thể bắt chước một số biểu cảm khuôn mặt của bạn.

    becuoi-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 3 đến 6 tháng tuổi: Bé đã biết cười và đáp lại khi bạn gọi tên bé. Bé hứng thú khi gặp những người mới và rất thích chơi ú oà. Bé đang học ý thức rằng mình là một cá thể tách biệt với mọi người.


    Dấu hiệu báo động: Nếu con bạn có vẻ không hứng thú chút nào với việc giao tiếp với mọi người, hãy cho bé đi khám.

    Từ 6 đến 9 tháng tuổi: Ở thời điểm này, bé thích những người quen thuộc với mình hơn và có thể có những dấu hiệu đầu tiên của nỗi sợ xa cách. Bé có thể tỏ ra hứng thú với đứa trẻ khác bằng cách nhìn và túm lấy cô/ cậu bé này hoặc lăn về phía người bạn mới.

    Từ 10 đến 12 tháng tuổi: Bé thích chơi cạnh những đứa trẻ khác nhưng vẫn chưa biết cách chơi cùng. Bé cũng thích quan sát những đứa trẻ khác và bắt chước hành động của chúng. Nỗi sợ xa mẹ có thể đã rõ ràng hơn.

    Giai đoạn đầy năm và chập chững
    Từ 13 đến 18 tháng tuổi: Bé bắt đầu trò chuyện, và việc này sẽ giúp bé phát triển các mối quan hệ. Bé tiếp tục chơi bên cạnh (hơn là chơi cùng) các bé khác; hiện tượng này được gọi là chơi song song. Nỗi sợ xa cách có thể nói là đã lên đến đỉnh điểm.


    behonme-2-480
    Ảnh: Gettyimages.

    Từ 19 đến 24 tháng tuổi: Bé biết bày tỏ tình cảm bằng cách ôm và hôn, dù một số bé không thích ôm ấp cho lắm và một số bé có giai đoạn thích tách biệt. Bé bắt đầu tránh né và tỏ ra đề phòng với những người không quen thuộc với bé và bắt đầu giao tiếp với trẻ khác để chơi cùng, nhưng vẫn chưa biết cách chia sẻ khi chơi cùng bạn.

    Giai đoạn mầm non
    Từ 2 đến 3 tuổi: Bé đã tỏ ra thích thú với một hai bạn nhỏ cùng tuổi. Bạn có thể bắt đầu quan sát thấy bé chơi với người bạn tưởng tượng ở tuổi này. Bé đã biết chia sẻ hơn và biết chơi luân phiên theo lượt, nhưng vẫn cần phải luyện tập thêm. Bé có thể thể hiện sự hung hăng, sẵn sàng cắn hoặc đánh bạn để bảo vệ chỗ chơi hoặc đồ chơi của mình. Bé bắt đầu cảm nhận cảm xúc của người khác tốt hơn nhưng vẫn xem mình là trung tâm và chưa thể đặt mình vào vị trí của người khác được. Bé chơi đùa vui vẻ nhất khi có mặt người lớn xung quanh.

    Dấu hiệu báo động:
    Hãy nói chuyện với bác sỹ nhi nếu bạn lo ngại rằng con mình quá hung hăng và có xu hướng bạo lực thái quá.

    Từ 3 đến 4 tuổi: Bé tự tin và độc lập hơn, nhưng bé vẫn cần sự quan tâm và hướng dẫn của bạn. Bé cũng học được nhiều từ việc quan sát và tương tác với những đứa trẻ khác, trong đó có bài học về cách xây dựng một mối quan hệ.

    Bé có thể cãi nhau với bạn cùng chơi đặc biệt nếu bé có tính cách mạnh, bé vẫn quý mến người bạn nhỏ của mình. Bé bắt đầu biết “thêm thắt” cho các trò chơi và thích tạo ấn tượng cá nhân khi chơi cùng bạn, và cả khi chơi một mình. Bé đã có thể tham gia các trò chơi nhóm có luật chơi và thậm chí có thể chơi cờ với luật chơi tương đối linh hoạt. Bé đã có thể chia sẻ đồ chơi và chơi theo lượt mà không cần sự chỉ bảo của người lớn.
    Bạn có biết rằng khả năng đồng cảm và chơi cùng nhau phát triển sớm hơn ở trẻ có anh chị em hoặc trẻ được gửi đi nhà trẻ.

    Giai đoạn nhi đồng


    bechoi-640
    Ảnh: Gettyiamges.

    Từ 4 đến 5 tuổi: Bé đã thể hiện sự đồng cảm và tạo dựng những tình bạn thực sự. Bé quan tâm đến những gì bạn bè nghĩ và muốn hoà nhập với các bạn. Bé đã có thể chia sẻ tốt hơn bao giờ hết, mặc dù vẫn hơi khó để bé đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của mình.

    Từ 6 đến 8 tuổi: Bé tỏ ra muốn tự kiểm soát thế giới của mình hơn và có thể tranh giành quyền quyết định với bố mẹ. Bé sẽ học cách cư xử với mọi người từ bố mẹ, vì vậy bạn hãy làm gương tốt cho con bằng cách thể hiện sự tử tế và hoà nhã của mình. Bé vẫn bày tỏ tình cảm âu yếm với bố mẹ nhưng sẽ e dè và tỏ ra miễn cưỡng hơn khi nũng nịu bố mẹ ở nơi công cộng trong những năm tới.

    Bé có thể chơi đùa lâu hơn, và tham gia vào các trò chơi cùng những bé khác tốt hơn trước, một phần vì bé đã hiểu được luật chơi theo lượt tốt hơn và cũng bớt cay cú khi thua cuộc hơn. Ở tuổi này, bé đã sẵn sàng để ngủ lại qua đêm ở nhà người khác hoặc đi cắm trại qua đêm mà không cần bố mẹ.

    Trẻ con ở tuổi này thường thích chơi với các bạn cùng giới tính với mình hơn. Bé có có thể có bạn thân, dù người bạn thân này có thể bị thay thế nhanh chóng. Bé cũng thích chơi với các bạn đồng trang lứa với mình và cũng tỏ ra kén chọn bạn bè hơn. Và bé cũng bắt đầu có sự bắt chước bạn mình, và bố mẹ đôi khi cũng đau đầu vì trẻ con học thói quen xấu của nhau khá nhanh.

    Bé có thể thích ở một mình nhiều hơn, và có ý thức cá nhân rõ ràng hơn. Đây chính là giai đoạn chuyển giao quan trọng từ một đứa trẻ bước sang tuổi dậy thì và vị thành niên.

    Bé bắt đầu thể hiện sự hài hước của mình theo cách tinh tế hơn và đã biết kể những câu chuyện cười có ý nghĩa.

    Đến tuổi này, con bạn đã hiểu những tiêu chí làm người tốt và đây là lúc bạn cần hướng dẫn và động viên con để bé trở thành một đứa trẻ ngoan ở trường và một công dân tốt sau này.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 13 Bài viết

    • 4 Được cảm ơn

    #8
    danh dau de xem lai khi can
    • 173 Bài viết

    • 171 Được cảm ơn

    #9
    Đánh dấu để tham khảo
    • Avatar của lis23
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 6 năm
    • 120 Bài viết

    • 14 Được cảm ơn

    #10
    Đánh dấu nhé, tks mẹ meeville