TIN TÀI TRỢ.

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP)

  • 1 Lượt chia sẻ
  • 23.8K Lượt đọc
  • 3 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #1
    Vào tuần thứ 16 của thai kỳ, lớp trong cùng phía sau của mắt, gọi là võng mạc, bắt đầu hình thành các mạch máu để cung cấp dưỡng chất và Oxy cho mắt. Theo thời gian, hệ thống mạch máu này dần dần phát triển ra phía trước, rồi phủ kín toàn bộ bề mặt của võng mạc. Quá trình này thường kết thúc vào cuối thai kỳ, khoảng tuần thứ 40.

    Nguy cơ bệnh võng mạc ở trẻ sinh non
    Hầu hết những trường hợp bệnh ROP xảy ra đều nhẹ và có thể điều trị được nhưng nó có thể ảnh hưởng lớn đến thị giác của trẻ về sau. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh mà ROP có thể gây ra những tổn thương thị giác từ nhẹ cho đến mù lòa, nhưng trường hợp này rất hiếm và chỉ xảy ra khi không được phát hiện và không được điều trị. Ở trẻ sinh non, quá trình phát triển của những mạch máu này có thể bị cản trở. Trường hợp này gọi là bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (retinopathy of prematurity – ROP). Cũng giống như nhiều bệnh lý khác, nguy cơ bị bệnh võng mạc ở trẻ sơ sinh phụ thuộc vào tuổi của thai nhi khi được sinh ra. Trên thực tế khoảng 80% các em bé sinh non dưới 26 tuần mắc bệnh ROP, nhưng chỉ có khoảng 15% trẻ sinh non trên 30 tuần mắc bệnh này. Trẻ sinh quá sớm hay quá nhẹ cân (dưới 1,5 kg) là những em bé có nguy cơ mắc bệnh ROP rất cao.
    aflibercept-for-amd-opuv2n2-2coljpg
    Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (trường hợp góc dưới bên phải). Ảnh: internet.

    Thông thường, mạch máu phát triển từ những nơi có nhu cầu tiêu thụ Oxy nhiều (đã có mạch máu sẵn) đến những nơi ít tiêu thụ Oxy (chưa có sẵn mạch máu). Như thế mạch máu sẽ dần dần phát triển đều khắp võng mạc từ sau ra trước như kiểu hình ảnh của con sóng vỗ vào bờ.

    Lượng oxy bé nhận được là một nhân tố quan trọng để hệ thống các mạch máu có thể phát triển bình thường. Khi thai nhi trong tử cung, nồng độ khí oxy lưu thông trong các mạch máu được duy trì ổn định và thấp hơn khi em bé đã được sinh ra. Sau khi một em bé sinh non sinh ra, hàm lượng khí ôxy lưu thông trong mạch máu được duy trì ở mức độ thích hợp nhờ vào lượng oxy bên ngoài môi trường; nó giúp cho bé sinh non có thể thở. Sự thay đổi nhanh chóng hàm lượng Oxy trong mạch máu này có tác động lớn đến sự phát triển bình thường của hệ thống mạch máu. Ngoài ra, nếu bé có mắc những bệnh lý liên quan đến lưu thông của hệ thống động mạch thì nó cũng sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố bình thường của hệ mạch máu.

    Đã có rất nhiều phương pháp được nghiên cứu và thực hiện để điều trị bệnh ROP. Nguyên nhân tăng cường độ oxy máu được phát hiện vào những năm 1940. Vào thời gian đó, nhiều em bé sinh non đã được cho thở bổ sung oxy mà không cần biết chúng có vấn đề về đường hô hấp hay không. Người ta phát hiện ra rằng những em bé thở oxy với nồng độ cao rơi vào tình trạng bị ROP nhiều hơn những em bé không thở bằng oxy hỗ trợ. Mặc dù thở bằng oxy hỗ trợ rất quan trọng với tính mạng của trẻ sinh non, đặc biệt là với những bé có bệnh lý nặng về đường hô hấp và phổi, thì liều lượng oxy hỗ trợ phải được theo dõi cẩn thận và điều chỉnh cho thích hợp với nồng độ Oxy cần thiết trong máu của bé. Nhờ thế mà nguy cơ bị ROP sẽ giảm bớt nhưng không hết hẳn.May mắn là hầu hết những trường hợp bị ROP đều nhẹ và tự khỏi. Tuy nhiên, trong những trường hợp nặng hoặc bé lớn rồi mà bệnh không giảm thì những mạch máu bất thường này sẽ tiếp tục phát triển lên phía trên bề mặt võng mạc tạo thành những mô xơ. Dần dần, những mô xơ này co kéo võng mạc sẽ gây bong khu trú hoặc toàn bộ võng mạc.Tất cả các bé sinh non đều cần được theo dõi khả năng xảy ra ROP. Nếu thấy có dấu hiệu tổn thương thì phải tiếp tục theo dõi định kỳ. Khi thấy cần điều trị thì phải tiến hành phẫu thuật Laser quang đông hoặc lạnh đông.

    Bác sĩ chẩn đoán bằng cách nào?
    Võng mạc rất dễ bị tổn thương từ khi bắt đầu quá trình hình thành hệ mạch máu trên võng mạc (tức là từ tuần 16) cho đến khoảng tuần thứ 35-37 của thai kỳ. Những mạch máu bất thường có thể cung câp quá nhiều hoặc quá ít oxy cho mắt. Thiếu dưỡng khí trong máu (hypoxemia) dẫn đến việc các mô bị phá hỏng, gọi là chứng thiếu máu cục bộ. Thừa dưỡng khí trong máu (hyperoxemia) sẽ làm giảm những kích thích bình thường vốn cần thiết cho sự phát triển mạch máu, đưa đến một sự khiếm khuyết mạch máu ở một số vùng nào đó và về sau cũng gây ra chứng thiếu máu cục bộ.Võng mạc của mắt tương tự như tấm phim trong máy chụp hình, nằm lót mặt trong của nhãn cầu. Vào tuần 16 của thai kỳ, võng mạc bắt đầu phát triển các mạch máu. Các mạch máu thường phát triển từ những nơi có nhu cầu tiêu thụ Oxy nhiều (đã có mạch máu sẵn) đến những nơi ít tiêu thụ Oxy (chưa có sẵn mạch máu). Cứ như thế, các mạch máu sẽ dần dần bao phủ đều khắp võng mạc.

    Tất cả những em bé sinh non rơi vào một trong những trường hợp sau: cân nặng dưới 1500grs, tuổi thai dưới 30 tuần thì đều cần được tiến hành kiểm tra thường quy để phát hiện bệnh ROP. Các khám nghiệm ban đầu có thể tiến hành vào khoảng 4 – 6 tuần sau sanh. Bác sỹ nhãn khoa sẽ dùng thuốc giãn đồng tử cho bé để khám phía trong mắt được tốt hơn với đèn soi đáy mắt gián tiếp.

    Tùy thuộc vào số lượng những mạch máu phát triển bất thường để phân loại mức độ năng của bệnh. Dựa trên những yếu tố như mức độ nghiêm trọng, vị trí của vùng thiếu máu trong mắt bị ROP, và tốc độ hình thành các mạch máu bất thường mà người ta sẽ làm thêm các xét nghiệm cần thiết khác từ mỗi 1 – 2 tuần. Phần lớn trong các trường hợp, bệnh sẽ tự thuyên giảm mà không ảnh hưởng gì nhiều đến thị giác, ngay cả khi ROP tiến triển. Tuy nhiên một tỷ lệ nhỏ khoảng 10% trong nhóm các bé được tác dụng ROP này sẽ tiến triển theo chiều hướng xấu nếu không được can thiệp điều trị.

    Các giai đoạn phát triển của bệnh ROP

    matbesinhnon-640
    Ảnh: Gettyimages.

    ROP được phân loại khác nhau tuỳ theo từng mức độ nặng nhẹ của bệnh, từ độ 1 đến độ 5, độ 5 là mức độ nặng nhất. Mức độ nặng nhẹ của bệnh ROP được đánh giá dựa trên sự tương quan giữa vùng võng mạc có mạch máu mọc bình thường, và vùng có phát triển mạch máu bất thường. Zone là vùng võng mạc mà trong đó có mạch máu mọc bình thường, còn ngoài đó thì chưa có mạch máu. Nếu Zone càng nhỏ thì vùng võng mạc chưa có mạch máu càng lớn hơn, nghĩa là nguy cơ bệnh sẽ lớn.

    Zone được chia ra làm ba loại:
    Zone 1: là vòng tròn có đường kính 2 lần từ gai thị đến hoàng điểm (đã có mạch máu mọc, còn ngoài phần đó là chưa có mạch máu), nặng nhất.

    Zone 2: vòng tròn từ bờ ngoài Zone 1 đến Ora serrata phía mũi (rộng hơn Zone 1).

    Zone 3: Hình liềm từ bờ ngoài Zone 2 đến Ora serrata phía Thái dương (rộng hơn Zone 2).

    Những giai đoạn tiến triển của ROP
    Giai đoạn 1: Có một ranh giới mỏng ngăn cách giữa khu vực đã hình thành các mạch máu và khu vực mà các mạch máu chưa phát triển. Ở giai đoạn này, những mạch máu vẫn có thể tự chúng phát triển bình thường nhưng tiến triển của bệnh cần được tiếp tục theo dõi.

    Giai đoạn 2: Ranh giới giữa hai khu vực (có và không có mạch máu) rộng ra và dày lên thành một cái gờ. Giai đoạn này bệnh vẫn có thể tự lành, nhưng cũng có thể bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn 3.

    Giai đoạn 3: Những mạch máu mới bắt đầu phát triển dọc theo gờ và lan vào khối chất lỏng vốn trong suốt ở phần sau của mắt gọi là pha lê thể. Những mạch máu này có thể chảy máu (xuất huyết) và hình thành nên các sẹo.

    Giai đoạn 4A: Các mạch máu bất thường và mô sẹo sẽ làm co kéo võng mạc, dẫn đến bong võng mạc khu trú. Ở giai đoạn này, vùng hoàng điểm, nơi chịu trách nhiệm cho thị lực trung tâm chưa bị ảnh hưởng.

    Giai đoạn 4B: Võng mạc vẫn chỉ tổn thương ở mức độ bong khu trú, nhưng hoàng điểm đã bị ảnh hưởng làm suy giảm cả thị lực trung tâm lẫn chu biên ở mức độ nào đó.

    Giai đoạn 5 ROP: Bong võng mạc hoàn toàn, làm giảm thị lực trầm trọng.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 1,006 Bài viết

    • 3,391 Được cảm ơn

    #2
    Điều trị bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP)

    Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non là một bệnh lý liên quan tới sự phát triển không bình thường của các mạch máu ở mắt, có thể ảnh hưởng tới thị lực của bé. Trong hầu hết những trường hợp nặng, ROP có thể gây ra bong khu trú hoặc bong toàn bộ võng mạc. Việc điều trị bệnh ROP phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh và vùng võng mạc bị tổn thương trong mắt.

    Bệnh được cho là nguy hiểm nên tất cả trẻ sinh non phải được theo dõi bệnh ROP cho tới khi thấy các mạch máu phát triển bình thường đến vùng chu biên của võng mạc. Nếu phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh ROP, thì việc kiểm tra võng mạc phải được diễn ra thường xuyên theo định kỳ. Trong một số ít trường hợp, khi sự phát triển của các mạch máu bình thường bị ngăn cản bởi sự phát triển của những mạch máu không bình thường, thì bắt buộc chúng ta phải điều trị.

    dieutrimat-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Điều trị ROP bằng phẫu thuật
    Các phương pháp điều trị ROP gồm có phẫu thuật bằng laser, hoặc đôi khi bằng lạnh đông. Mục đích của các biện pháp phẫu thuật này thì giống nhau, đó là ngăn chăn sự phát triển của các mạch máu bất thường. Biện pháp dùng laser quang đông được tiến hành bằng cách dùng tia laser để đốt (làm tổn thương) các phần của võng mạc, nơi chưa có các mạch máu phát triển. Biện pháp này giúp hạn chế sự phát triển các mạch máu bất thường trên những vùng võng mạc đó. Phương pháp lạnh đông là dùng nhiệt độ thấp để làm điều tương tự, nhằm đạt được cùng mục đích làm cho các mạch máu trên võng mạc phát triển bình thường.

    Đôi khi quá trình phát triển của bệnh vẫn tiếp diễn mặc dù đã điều trị bằng laser hoặc làm lạnh đông. Trong những trường hợp này thì võng mạc sẽ có thể bị bong khu trú hoặc bong toàn bộ cần phải làm phẫu thuật. Bong võng mạc nặng hay nhẹ sẽ là một yếu tố quyết định thị lực về sau. Mặc dù phẫu thuật đôi khi thành công trong việc áp dính võng mạc nhưng hầu hết các bệnh nhân sẽ bị giảm sút về thị lưc. Những bé có võng mạc bị tách rời hoàn toàn sẽ bị mù hoặc gần như mù ở mắt bị bệnh. Trong nhiều trường hợp nhiều bé có võng mạc mắt bị bong khu trú sẽ vẫn nhìn thấy mặc dù không hoàn hảo.

    Có rất nhiều cách và mức độ để điều trị mà bé sinh thiếu tháng có thể được áp dụng. Phương pháp điều trị và số lần điều trị cần thiết cho một trẻ sơ sinh phụ thuộc và tình trạng của em bé đó. Hầu hết tất cả trẻ sinh non đều chỉ nhẹ cân, nên việc điều trị thì không cần thiết. Tuy nhiên, bé càng sinh sớm thì bé càng cần phải nhận được những cách can thiệp thích hợp do tình trạng sức khỏe của bé.

    Tái tạo lại môi trường của dạ con
    Cũng giống như dạ con, NICU cũng tối, yên tĩnh, và ấm áp, và bé được bảo vệ khỏi những va chạm và nguy cơ nhiễm trùng. Phụ thuộc vào mức độ sinh non của trẻ mà mỗi bé cần một chế độ hỗ trợ khác nhau, đặc biệt là các vấn đề hô hấp và tim mạch. Các bé sơ sinh cũng cần được cung cấp các nhu cầu về sinh hóa của cơ thể mình ở nhiều cách. Thường thì đây cũng là cách để bảo đảm sự cân bằng dịch và điện giải mà cơ thể của một bé sinh non chưa thể tự điều chỉnh.

    Tất cả những phương pháp này có thể áp dụng ngay cả khi cơ thể bé không có gì bất ổn. Bình thường, sự bất ổn duy nhất ở những bé sinh non đặc biệt là sinh non khoảng vài tuần là bé được nuôi không đúng chỗ và bé vẫn cần có thời gian để phát triển và thích nghi với thế giới bên ngoài.

    Sự kết hợp giữa các cách điều trị có thể được coi như là một sự chăm sóc tuyệt đối đặc biêt. Sự chăm sóc này mang lại nhiều lợi ích hơn bất kỳ một phương pháp trị bệnh riêng lẻ nào. Nói chung, các cách điều trị trong môi trường NICU thường hiệu quả hơn.

    Các bước điều kiện điều trị cụ thể dựa trên số liệu và tình trạng riêng của bé.

    Ngoài việc tạo ra được một môi trường kích thích trẻ sinh non phát triển bình thường, các bác sĩ còn các cách điều trị khác. Thông thường, việc điều trị phải tuân theo sự chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu các bác sĩ cho rằng phải tiến hành ngay việc điều trị cho bé cần thiết hơn là ngồi chờ kết quả chẩn đoán thì cần bắt tay vào điều trị ngay dù chưa hoàn toàn xác định đầy đủ các yếu tố chẩn đoán. Ví dụ, khi có nghi ngờ nhiễm trùng, các bác sĩ sẽ không chờ nhiều giờ liền để cho phòng xét nghiệm có kết luận về thuốc nhiễm trùng và kháng sinh, việc điều trị cho bệnh nhiễm trùng sẽ được tiến hành ngay sau đó.

    Quan niệm về “nguy cơ” khi so sánh với “lợi ích” phải được áp dụng cho mọi phương pháp điều trị. Mặc dù tỉ lệ rủi ro có thể nhỏ, nhưng mọi cách điều trị đều tiềm ẩn một số rủi ro. Tuy nhiên các cha mẹ có con sinh non cần phải nghĩ rằng trị bệnh vẫn tốt hơn là ngồi sợ rủi ro và chẳng làm gì cả.

    Khi một em bé sinh non có một vấn đề nào đó thì các bác sĩ sẽ tìm ra cách điều trị thích hợp cho bé nhờ vào nghiên cứu. Sau đó các bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị cho một bệnh lý cụ thể nào đó. Nhưng sẽ có một hạn chế: Đó là những phương pháp điều trị dù được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân, thậm chí hầu như tất cả các bệnh nhân vẫn có thể không có hiệu quả với một trường hợp cụ thể nào đó. Thật khó để bác sĩ có thể biết trước được là một em bé đặc biệt nào đó sẽ đáp ứng lại với một cách điều trị nào thích hợp và phương án điều trị đó sẽ có hiệu quả như thế nào.

    matbe-640
    Ảnh: Gettyimages.
    Khi việc điều trị không có tác dụng

    Mục đích của việc điều trị là cải thiện tình trạng của bé. Nếu một em bé sinh non bị nhiễm trùng, thì mục tiêu của việc điều trị, kháng sinh, chính là đấu tranh với sự viêm nhiễm.Đôi khi, đối với một số bé sinh quá non, việc điều trị có thể không mang lại kết quả, và khả năng áp dụng thành công các biện pháp trị bệnh khác cũng là rất ít.

    Trong những trường hợp này, thường cha mẹ có thể muốn tiếp tục điều trị cho bé bằng mọi cách, họ có cảm giác là phải làm một cách gì đó mà không biết việc đó có thể khiến bé có khả năng gặp những nguy cơ khác hoặc không tốt cho bé về sau.

    Phải nhớ rằng bản chất của việc điều trị không phải là một mục tiêu. Hơn nữa nó chỉ là một phương pháp để cố đạt được mục đích chính: cải thiện tình trạng của bé sinh non. Nguyện vọng tiếp tục điều trị cho trẻ sinh non dù cho khả năng thất bại là rất lớn là hoàn toàn có thể thông cảm được. Cha mẹ muốn có cảm giác rằng họ đã làm mọi thứ họ có thể. Họ cho rằng họ không thể sống với mặc cảm tội lỗi là họ đã chẳng làm được gì. Tuy nhiên, đây không phải là một cách làm dựa trên lý trí trong hoàn cảnh khó khăn. Việc quyết định phương pháp điều trị phải dựa trên lợi ích của trẻ và trong một vài trường hợp thì việc không tiếp tục điều trị nữa cũng phải dựa trên lợi ích của bé sinh non.
    [SIZE=4][COLOR="#FF0000"][B][COLOR="#FF0000"][COLOR="#000000"][Nghệ sỹ nửa mùa][/COLOR][/COLOR][/B][/COLOR][/SIZE]
    • 1 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #3
    Trích dẫn Nguyên văn bởi meeville Xem bài viết
    Điều trị bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP)

    Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non là một bệnh lý liên quan tới sự phát triển không bình thường của các mạch máu ở mắt, có thể ảnh hưởng tới thị lực của bé. Trong hầu hết những trường hợp nặng, ROP có thể gây ra bong khu trú hoặc bong toàn bộ võng mạc. Việc điều trị bệnh ROP phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh và vùng võng mạc bị tổn thương trong mắt.

    Bệnh được cho là nguy hiểm nên tất cả trẻ sinh non phải được theo dõi bệnh ROP cho tới khi thấy các mạch máu phát triển bình thường đến vùng chu biên của võng mạc. Nếu phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh ROP, thì việc kiểm tra võng mạc phải được diễn ra thường xuyên theo định kỳ. Trong một số ít trường hợp, khi sự phát triển của các mạch máu bình thường bị ngăn cản bởi sự phát triển của những mạch máu không bình thường, thì bắt buộc chúng ta phải điều trị.

    dieutrimat-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Điều trị ROP bằng phẫu thuật
    Các phương pháp điều trị ROP gồm có phẫu thuật bằng laser, hoặc đôi khi bằng lạnh đông. Mục đích của các biện pháp phẫu thuật này thì giống nhau, đó là ngăn chăn sự phát triển của các mạch máu bất thường. Biện pháp dùng laser quang đông được tiến hành bằng cách dùng tia laser để đốt (làm tổn thương) các phần của võng mạc, nơi chưa có các mạch máu phát triển. Biện pháp này giúp hạn chế sự phát triển các mạch máu bất thường trên những vùng võng mạc đó. Phương pháp lạnh đông là dùng nhiệt độ thấp để làm điều tương tự, nhằm đạt được cùng mục đích làm cho các mạch máu trên võng mạc phát triển bình thường.

    Đôi khi quá trình phát triển của bệnh vẫn tiếp diễn mặc dù đã điều trị bằng laser hoặc làm lạnh đông. Trong những trường hợp này thì võng mạc sẽ có thể bị bong khu trú hoặc bong toàn bộ cần phải làm phẫu thuật. Bong võng mạc nặng hay nhẹ sẽ là một yếu tố quyết định thị lực về sau. Mặc dù phẫu thuật đôi khi thành công trong việc áp dính võng mạc nhưng hầu hết các bệnh nhân sẽ bị giảm sút về thị lưc. Những bé có võng mạc bị tách rời hoàn toàn sẽ bị mù hoặc gần như mù ở mắt bị bệnh. Trong nhiều trường hợp nhiều bé có võng mạc mắt bị bong khu trú sẽ vẫn nhìn thấy mặc dù không hoàn hảo.

    Có rất nhiều cách và mức độ để điều trị mà bé sinh thiếu tháng có thể được áp dụng. Phương pháp điều trị và số lần điều trị cần thiết cho một trẻ sơ sinh phụ thuộc và tình trạng của em bé đó. Hầu hết tất cả trẻ sinh non đều chỉ nhẹ cân, nên việc điều trị thì không cần thiết. Tuy nhiên, bé càng sinh sớm thì bé càng cần phải nhận được những cách can thiệp thích hợp do tình trạng sức khỏe của bé.

    Tái tạo lại môi trường của dạ con
    Cũng giống như dạ con, NICU cũng tối, yên tĩnh, và ấm áp, và bé được bảo vệ khỏi những va chạm và nguy cơ nhiễm trùng. Phụ thuộc vào mức độ sinh non của trẻ mà mỗi bé cần một chế độ hỗ trợ khác nhau, đặc biệt là các vấn đề hô hấp và tim mạch. Các bé sơ sinh cũng cần được cung cấp các nhu cầu về sinh hóa của cơ thể mình ở nhiều cách. Thường thì đây cũng là cách để bảo đảm sự cân bằng dịch và điện giải mà cơ thể của một bé sinh non chưa thể tự điều chỉnh.

    Tất cả những phương pháp này có thể áp dụng ngay cả khi cơ thể bé không có gì bất ổn. Bình thường, sự bất ổn duy nhất ở những bé sinh non đặc biệt là sinh non khoảng vài tuần là bé được nuôi không đúng chỗ và bé vẫn cần có thời gian để phát triển và thích nghi với thế giới bên ngoài.

    Sự kết hợp giữa các cách điều trị có thể được coi như là một sự chăm sóc tuyệt đối đặc biêt. Sự chăm sóc này mang lại nhiều lợi ích hơn bất kỳ một phương pháp trị bệnh riêng lẻ nào. Nói chung, các cách điều trị trong môi trường NICU thường hiệu quả hơn.

    Các bước điều kiện điều trị cụ thể dựa trên số liệu và tình trạng riêng của bé.

    Ngoài việc tạo ra được một môi trường kích thích trẻ sinh non phát triển bình thường, các bác sĩ còn các cách điều trị khác. Thông thường, việc điều trị phải tuân theo sự chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu các bác sĩ cho rằng phải tiến hành ngay việc điều trị cho bé cần thiết hơn là ngồi chờ kết quả chẩn đoán thì cần bắt tay vào điều trị ngay dù chưa hoàn toàn xác định đầy đủ các yếu tố chẩn đoán. Ví dụ, khi có nghi ngờ nhiễm trùng, các bác sĩ sẽ không chờ nhiều giờ liền để cho phòng xét nghiệm có kết luận về thuốc nhiễm trùng và kháng sinh, việc điều trị cho bệnh nhiễm trùng sẽ được tiến hành ngay sau đó.

    Quan niệm về “nguy cơ” khi so sánh với “lợi ích” phải được áp dụng cho mọi phương pháp điều trị. Mặc dù tỉ lệ rủi ro có thể nhỏ, nhưng mọi cách điều trị đều tiềm ẩn một số rủi ro. Tuy nhiên các cha mẹ có con sinh non cần phải nghĩ rằng trị bệnh vẫn tốt hơn là ngồi sợ rủi ro và chẳng làm gì cả.

    Khi một em bé sinh non có một vấn đề nào đó thì các bác sĩ sẽ tìm ra cách điều trị thích hợp cho bé nhờ vào nghiên cứu. Sau đó các bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị cho một bệnh lý cụ thể nào đó. Nhưng sẽ có một hạn chế: Đó là những phương pháp điều trị dù được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân, thậm chí hầu như tất cả các bệnh nhân vẫn có thể không có hiệu quả với một trường hợp cụ thể nào đó. Thật khó để bác sĩ có thể biết trước được là một em bé đặc biệt nào đó sẽ đáp ứng lại với một cách điều trị nào thích hợp và phương án điều trị đó sẽ có hiệu quả như thế nào.

    matbe-640
    Ảnh: Gettyimages.
    Khi việc điều trị không có tác dụng

    Mục đích của việc điều trị là cải thiện tình trạng của bé. Nếu một em bé sinh non bị nhiễm trùng, thì mục tiêu của việc điều trị, kháng sinh, chính là đấu tranh với sự viêm nhiễm.Đôi khi, đối với một số bé sinh quá non, việc điều trị có thể không mang lại kết quả, và khả năng áp dụng thành công các biện pháp trị bệnh khác cũng là rất ít.

    Trong những trường hợp này, thường cha mẹ có thể muốn tiếp tục điều trị cho bé bằng mọi cách, họ có cảm giác là phải làm một cách gì đó mà không biết việc đó có thể khiến bé có khả năng gặp những nguy cơ khác hoặc không tốt cho bé về sau.

    Phải nhớ rằng bản chất của việc điều trị không phải là một mục tiêu. Hơn nữa nó chỉ là một phương pháp để cố đạt được mục đích chính: cải thiện tình trạng của bé sinh non. Nguyện vọng tiếp tục điều trị cho trẻ sinh non dù cho khả năng thất bại là rất lớn là hoàn toàn có thể thông cảm được. Cha mẹ muốn có cảm giác rằng họ đã làm mọi thứ họ có thể. Họ cho rằng họ không thể sống với mặc cảm tội lỗi là họ đã chẳng làm được gì. Tuy nhiên, đây không phải là một cách làm dựa trên lý trí trong hoàn cảnh khó khăn. Việc quyết định phương pháp điều trị phải dựa trên lợi ích của trẻ và trong một vài trường hợp thì việc không tiếp tục điều trị nữa cũng phải dựa trên lợi ích của bé sinh non.
    Cháu nhà em sinh thiếu 2 tháng. Khi sinh được 1,2kg. Đến tháng t5 cháu được 4,5 kg. Thì gđ em mới cho cháu đi hà nội khám. Thì biết cháu bị bong vòng mõng mạc gđ 5. Cháu được đưa đến bv mắt tw phẫu thuật 1 mắt phải. Còn 1 mắt chưa phẫu thuật. Bs cho hỏi bây giời cháu nhà em cần bổ sung gì để cháu có thể bình phục được ạ
    • 2 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #4
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Hahuytuong Xem bài viết
    Trích dẫn Nguyên văn bởi meeville Xem bài viết
    Điều trị bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP)

    Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non là một bệnh lý liên quan tới sự phát triển không bình thường của các mạch máu ở mắt, có thể ảnh hưởng tới thị lực của bé. Trong hầu hết những trường hợp nặng, ROP có thể gây ra bong khu trú hoặc bong toàn bộ võng mạc. Việc điều trị bệnh ROP phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh và vùng võng mạc bị tổn thương trong mắt.

    Bệnh được cho là nguy hiểm nên tất cả trẻ sinh non phải được theo dõi bệnh ROP cho tới khi thấy các mạch máu phát triển bình thường đến vùng chu biên của võng mạc. Nếu phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh ROP, thì việc kiểm tra võng mạc phải được diễn ra thường xuyên theo định kỳ. Trong một số ít trường hợp, khi sự phát triển của các mạch máu bình thường bị ngăn cản bởi sự phát triển của những mạch máu không bình thường, thì bắt buộc chúng ta phải điều trị.

    dieutrimat-640
    Ảnh: Gettyimages.

    Điều trị ROP bằng phẫu thuật
    Các phương pháp điều trị ROP gồm có phẫu thuật bằng laser, hoặc đôi khi bằng lạnh đông. Mục đích của các biện pháp phẫu thuật này thì giống nhau, đó là ngăn chăn sự phát triển của các mạch máu bất thường. Biện pháp dùng laser quang đông được tiến hành bằng cách dùng tia laser để đốt (làm tổn thương) các phần của võng mạc, nơi chưa có các mạch máu phát triển. Biện pháp này giúp hạn chế sự phát triển các mạch máu bất thường trên những vùng võng mạc đó. Phương pháp lạnh đông là dùng nhiệt độ thấp để làm điều tương tự, nhằm đạt được cùng mục đích làm cho các mạch máu trên võng mạc phát triển bình thường.

    Đôi khi quá trình phát triển của bệnh vẫn tiếp diễn mặc dù đã điều trị bằng laser hoặc làm lạnh đông. Trong những trường hợp này thì võng mạc sẽ có thể bị bong khu trú hoặc bong toàn bộ cần phải làm phẫu thuật. Bong võng mạc nặng hay nhẹ sẽ là một yếu tố quyết định thị lực về sau. Mặc dù phẫu thuật đôi khi thành công trong việc áp dính võng mạc nhưng hầu hết các bệnh nhân sẽ bị giảm sút về thị lưc. Những bé có võng mạc bị tách rời hoàn toàn sẽ bị mù hoặc gần như mù ở mắt bị bệnh. Trong nhiều trường hợp nhiều bé có võng mạc mắt bị bong khu trú sẽ vẫn nhìn thấy mặc dù không hoàn hảo.

    Có rất nhiều cách và mức độ để điều trị mà bé sinh thiếu tháng có thể được áp dụng. Phương pháp điều trị và số lần điều trị cần thiết cho một trẻ sơ sinh phụ thuộc và tình trạng của em bé đó. Hầu hết tất cả trẻ sinh non đều chỉ nhẹ cân, nên việc điều trị thì không cần thiết. Tuy nhiên, bé càng sinh sớm thì bé càng cần phải nhận được những cách can thiệp thích hợp do tình trạng sức khỏe của bé.

    Tái tạo lại môi trường của dạ con
    Cũng giống như dạ con, NICU cũng tối, yên tĩnh, và ấm áp, và bé được bảo vệ khỏi những va chạm và nguy cơ nhiễm trùng. Phụ thuộc vào mức độ sinh non của trẻ mà mỗi bé cần một chế độ hỗ trợ khác nhau, đặc biệt là các vấn đề hô hấp và tim mạch. Các bé sơ sinh cũng cần được cung cấp các nhu cầu về sinh hóa của cơ thể mình ở nhiều cách. Thường thì đây cũng là cách để bảo đảm sự cân bằng dịch và điện giải mà cơ thể của một bé sinh non chưa thể tự điều chỉnh.

    Tất cả những phương pháp này có thể áp dụng ngay cả khi cơ thể bé không có gì bất ổn. Bình thường, sự bất ổn duy nhất ở những bé sinh non đặc biệt là sinh non khoảng vài tuần là bé được nuôi không đúng chỗ và bé vẫn cần có thời gian để phát triển và thích nghi với thế giới bên ngoài.

    Sự kết hợp giữa các cách điều trị có thể được coi như là một sự chăm sóc tuyệt đối đặc biêt. Sự chăm sóc này mang lại nhiều lợi ích hơn bất kỳ một phương pháp trị bệnh riêng lẻ nào. Nói chung, các cách điều trị trong môi trường NICU thường hiệu quả hơn.

    Các bước điều kiện điều trị cụ thể dựa trên số liệu và tình trạng riêng của bé.

    Ngoài việc tạo ra được một môi trường kích thích trẻ sinh non phát triển bình thường, các bác sĩ còn các cách điều trị khác. Thông thường, việc điều trị phải tuân theo sự chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu các bác sĩ cho rằng phải tiến hành ngay việc điều trị cho bé cần thiết hơn là ngồi chờ kết quả chẩn đoán thì cần bắt tay vào điều trị ngay dù chưa hoàn toàn xác định đầy đủ các yếu tố chẩn đoán. Ví dụ, khi có nghi ngờ nhiễm trùng, các bác sĩ sẽ không chờ nhiều giờ liền để cho phòng xét nghiệm có kết luận về thuốc nhiễm trùng và kháng sinh, việc điều trị cho bệnh nhiễm trùng sẽ được tiến hành ngay sau đó.

    Quan niệm về “nguy cơ” khi so sánh với “lợi ích” phải được áp dụng cho mọi phương pháp điều trị. Mặc dù tỉ lệ rủi ro có thể nhỏ, nhưng mọi cách điều trị đều tiềm ẩn một số rủi ro. Tuy nhiên các cha mẹ có con sinh non cần phải nghĩ rằng trị bệnh vẫn tốt hơn là ngồi sợ rủi ro và chẳng làm gì cả.

    Khi một em bé sinh non có một vấn đề nào đó thì các bác sĩ sẽ tìm ra cách điều trị thích hợp cho bé nhờ vào nghiên cứu. Sau đó các bác sĩ sẽ lên phác đồ điều trị cho một bệnh lý cụ thể nào đó. Nhưng sẽ có một hạn chế: Đó là những phương pháp điều trị dù được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân, thậm chí hầu như tất cả các bệnh nhân vẫn có thể không có hiệu quả với một trường hợp cụ thể nào đó. Thật khó để bác sĩ có thể biết trước được là một em bé đặc biệt nào đó sẽ đáp ứng lại với một cách điều trị nào thích hợp và phương án điều trị đó sẽ có hiệu quả như thế nào.

    matbe-640
    Ảnh: Gettyimages.
    Khi việc điều trị không có tác dụng

    Mục đích của việc điều trị là cải thiện tình trạng của bé. Nếu một em bé sinh non bị nhiễm trùng, thì mục tiêu của việc điều trị, kháng sinh, chính là đấu tranh với sự viêm nhiễm.Đôi khi, đối với một số bé sinh quá non, việc điều trị có thể không mang lại kết quả, và khả năng áp dụng thành công các biện pháp trị bệnh khác cũng là rất ít.

    Trong những trường hợp này, thường cha mẹ có thể muốn tiếp tục điều trị cho bé bằng mọi cách, họ có cảm giác là phải làm một cách gì đó mà không biết việc đó có thể khiến bé có khả năng gặp những nguy cơ khác hoặc không tốt cho bé về sau.

    Phải nhớ rằng bản chất của việc điều trị không phải là một mục tiêu. Hơn nữa nó chỉ là một phương pháp để cố đạt được mục đích chính: cải thiện tình trạng của bé sinh non. Nguyện vọng tiếp tục điều trị cho trẻ sinh non dù cho khả năng thất bại là rất lớn là hoàn toàn có thể thông cảm được. Cha mẹ muốn có cảm giác rằng họ đã làm mọi thứ họ có thể. Họ cho rằng họ không thể sống với mặc cảm tội lỗi là họ đã chẳng làm được gì. Tuy nhiên, đây không phải là một cách làm dựa trên lý trí trong hoàn cảnh khó khăn. Việc quyết định phương pháp điều trị phải dựa trên lợi ích của trẻ và trong một vài trường hợp thì việc không tiếp tục điều trị nữa cũng phải dựa trên lợi ích của bé sinh non.
    Cháu nhà em sinh thiếu 2 tháng. Khi sinh được 1,2kg. Đến tháng t5 cháu được 4,5 kg. Thì gđ em mới cho cháu đi hà nội khám. Thì biết cháu bị bong vòng mõng mạc gđ 5. Cháu được đưa đến bv mắt tw phẫu thuật 1 mắt phải. Còn 1 mắt chưa phẫu thuật. Bs cho hỏi bây giời cháu nhà em cần bổ sung gì để cháu có thể bình phục được ạ
    Bạn ơi, cháu nhà bạn hiện tại thế nào rồi ạ? Con trai mình cũng sinh non ở tuần 30, đã bong võng mạc và chuẩn bị mổ mắt trái ở viện mắt tw, mình ko quá!