TIN TÀI TRỢ.

Tìm hiểu về một số bệnh lý có thể mắc phải khi mang thai

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 3.88K Lượt đọc
  • 3 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,133 Được cảm ơn

    #1
    Thai kỳ và bệnh lý của gan, túi mật, tụy

    Trong thời gian mang thai, người mẹ có thể mắc phải những vấn đề và bệnh tật liên quan đến các các quan nội tạng. Ở bài viết này, hãy tìm hiểu các bệnh về gan, mật và tuỵ ở bà mẹ mang thai.

    benh-thaiky-1-500
    Ảnh: Gettyimages.

    Ứ mật trong gan
    : Hay gặp vàng da tái diễn trong thai kỳ.

    - Nguyên nhân: Do sự thay đổi hormone estrogen làm giảm khả năng hòa tan mật, làm chậm đào thải ở những phụ nữ nhạy cảm gây tắc mật. Acid mật tích tụ trong máu tăng gấp 10 – 100 lần gây tăng bilirubin nhẹ. Cũng có thể là do yếu tố bẩm sinh di truyền.

    - Triệu chứng:
    • Ngứa trước khi vàng da, đôi khi chỉ có ngứa. Ngứa nhiều, toàn thân (chủ yếu ở thân mình, lòng bàn tay, lòng bàn chân), đặc biệt về đêm, thường xuất hiện trong tam cá nguyệt thứ 3 (64%), ít thấy hơn trong tam cá nguyệt thứ 2 (26%).
    • Trong 65% các trường hợp, vàng da nhẹ xuất hiện sau đó trong vòng 2 – 22 tuần với phân bạc màu và nước tiểu sậm.
    • Vàng da hay ngứa thường tái phát ở những lần có thai sau hay sử dụng thuốc tránh thai.
    • Không sốt, tổng trạng vẫn thường.

    - Xét nghiệm: Bilirubin tăng nhẹ; Tăng acid mật trong nước tiểu và trong huyết thanh; Có Lipoprotein X đặc trưng của ứ mật; Phosphatase cao hơn thai bình thường; Men gan bình thường hay tăng nhẹ; AgHBs (-); Siêu âm gan và đường mật bình thường.

    - Tiên lượng:
    • Mẹ tiến triển tốt, vàng da biến mất tự nhiên trong 1 – 2 tuần sau sinh.
    • Con nguy cơ sinh non tăng lên đến 20%; tỷ lệ tử vong sơ sinh trong tháng đầu sau sinh tăng.

    - Điều trị:
    • Điều trị triệu chứng: dùng anti Histamin. Liệu pháp tốt nhất để điều trị triệu chứng là chất trao đổi amion.
    • Bổ sung các vitamin tan trong mỡ A, D, E, K.
    • Là thai kỳ nguy cơ cao cần phải theo dõi sức khỏe thai đều đặn. Bác sĩ thường chỉ định khởi phát chuyển dạ sau cuối tuần thứ 37, đặc biệt trong những trường hợp mẹ có triệu chứng nặng.

    Bệnh gan trong tiền sản giật – sản giật

    Gan bị ảnh hưởng nhiều trong tiền sản giật – sản giật. Rối loạn chức năng gan dường như có liên quan đến mức độ nặng của bệnh.

    - Nguyên nhân: Nằm trong bệnh cảnh chung của tiền sản giật – sản giật.

    - Triệu chứng: Sản phụ trong bệnh cảnh tiền sản giật – sản giật (phù, huyết áp cao, protein niệu (+)) có biểu hiện đau thượng vị hoặc đau hạ sườn phải. Có thể có những triệu chứng khác không đặc hiệu như mệt mỏi toàn thân, buồn nôn, nôn ói.

    - Nếu tiền sản giật xảy ra trước tuần thứ 28 thường diễn tiến nặng hơn là các rối loạn xảy ra sau tuổi thai này.

    - Xét nghiệm: SGOT, SGPT tăng; Bilirubin tăng; Giảm tiểu cầu; LDH tăng.

    - Biến chứng:
    • Xuất huyết trong bao, dưới bao đưa đến tụ máu gan hoặc gây vỡ gan gây tử vong.
    • Hội chứng HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu đáng kể).

    - Nguy cơ đối với thai nhi nằm trong bệnh cảnh chung của tiền sản giật – sản giật (thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối, sinh non…).

    - Điều trị: Khi có rối loạn chức năng gan phải chấm dứt thai kỳ.

    Viêm gan siêu vi

    Viêm gan siêu vi cấp được gây ra chủ yếu bởi các siêu vi hướng gan A, B, C, D, E và G có thể phân biệt về mặt huyết thanh học và siêu vi học. Viêm gan có thể gây ra bởi các siêu vi hướng gan thứ phát (Herpes simplex, Cytomegalovirus, Epstein-Barr) nhưng ít gặp hơn. Diễn tiến của các bệnh này không chịu ảnh hưởng của thai kỳ (ngoại trừ viêm gan siêu vi E).

    Tỷ lệ sinh non cao (16%) trong các trường hợp viêm gan siêu vi, đặc biệt nếu bệnh lý biểu hiện trong tam cá nguyệt thứ 3 (28%).

    - Triệu chứng: Có dấu hiệu tiền vàng da trước 1 – 2 tuần: đau đầu, sốt nhẹ, buồn nôn, nôn. Sau khi vàng da xuất hiện các triệu chứng trên giảm.

    - Xét nghiệm: Men gan tăng; Bilirubin trong máu tăng.

    Sự phục hồi hoàn toàn trong 1 – 2 tháng đối với viêm gan siêu vi A, B, C.

    * Viêm gan siêu vi A: Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa do thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm mầm bệnh, thời gian ủ bệnh 2 – 7 tuần. Phần lớn các trường hợp không vàng da. Với thai phụ, tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh tăng cao. Vì thế, thai phụ bị viêm gan phải nhập viện điều trị, có chế độ ăn uống cân bằng, nghỉ ngơi. Cho đến khi ăn uống được, chức năng gan cải thiện hay tình trạng không xấu đi mới được xuất viện.

    * Viêm gan siêu vi B: Gặp nhiều ở châu Á, Phi, thường lây qua đường tình dục, máu và có nguy cơ bị viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan về sau.

    - Viêm gan siêu vi B và thai kỳ: Thai kỳ không làm thay đổi diễn tiến của bệnh, đồng thời có nguy cơ lây truyền sang con khi sinh (nếu mẹ có HbsAg (+) và tăng nguy cơ khi có cả HbeAg (+)). 85% trẻ trở thành người lành mang virus mạn tính.

    * Viêm gan siêu vi C: Lây truyền chủ yếu qua đường máu, ngoài ra cũng có thể qua đường tình dục và có thể lây trực tiếp cho thai (10% thai phụ có RNA (+) có con bị nhiễm). Tuy nhiên, với thai phụ có kháng thể viêm gan siêu vi C (+), RNA (-) con không bị nhiễm.

    * Viêm gan siêu vi D: Lây truyền tương tự như viêm gan siêu vi B và có thể lây truyền lúc sinh.

    * Viêm gan siêu vi E: Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa. Bệnh thường diễn tiến nặng ở thai phụ. Tỷ lệ tử vong cho mẹ là 20% trong tam cá nguyệt thứ 3 của thai kỳ.

    * Viêm gan siêu vi G: Siêu vi G có thể lây truyền qua đường ăn uống lẫn đường máu nhưng chủ yếu là đường máu.

    Bệnh gan do rượu

    Khi mang thai, người mẹ tiếp tục uống rượu thì thai nhi có nguy cơ cao bị dị dạng. Những đứa trẻ này bị viêm gan mãn tính lúc mới sinh ra, có gan lớn , xơ hóa, tăng men gan. Trẻ cũng có thể có những bất thường khác như chậm phát triển tâm thần, chậm tăng trưởng, khiếm khuyết xương sọ, não, mặt. Do đó, phụ nữ không nên uống rượu trong thai kỳ.

    Viêm túi mật cấp
    : Rất hay gặp ở thai phụ.

    - Nguyên nhân:

    Progesterone huyết thanh cao trong thai kỳ đưa đến giảm toàn bộ trương lực của cơ trơn trong đó có giảm trương lực túi mật, tăng nguy cơ sỏi mật.

    Sự tạo thành sỏi túi mật trong thai kỳ có thể nói là do sự bão hòa quá mức của túi mật với cholesterol và sự giảm lượng chứa acid mật (mật tạo sỏi).

    Ngoài ra, đường mật bị suy yếu do tử cung tăng trưởng và do túi mật giảm co bóp (qua trung gian của progesterone) đưa đến tăng thể tích túi mật do mật không bị đẩy ra hết. Điều này dẫn đến một loạt những biểu hiện sớm của sỏi túi mật trong năm đầu tiên sau khi mang thai

    Viêm túi mật thường do tắc nghẽn dẫn đến nhiễm trùng đường mật. 50% trường hợp có tiền sử bệnh lý đường mật trước khi có thai.

    - Triệu chứng: tương tự lúc không có thai:
    • Đau hạ sườn phải, đau thượng vị hoặc đau một phần bụng trên, đau dai dẳng lan lên vai trái hoặc lan đến hông phải, lưng.
    • Buồn nôn, nôn.
    • Sốt (thân nhiệt: 38 – 390C).
    • Có thể có vàng da do sỏi ống mật chủ.

    - Xét nghiệm: Tốc độ lắng hồng cầu tăng, bạch cầu tăng. Gan có ứ đọng mật, bilirubin gián tiếp tăng. Tổng phân tích nước tiểu bình thường. Siêu âm: có thể thấy sỏi túi mật, túi mật dãn to, dãn đường mật trong gan.

    - Điều trị: 80% viêm đường mật có thể được điều trị bảo tồn.
    • Nghỉ ngơi tại giường.
    • Chườm lạnh.
    • Ngưng ăn uống qua đường miệng.

    Bác sĩ thường sẽ chỉ định: Truyền dịch thay thế, tiêm kháng sinh, giảm đau chống co thắt, điều chỉnh nước – điện giải.

    - Phẫu thuật: Thai phụ sẽ được chỉ định phẫu thuật nếu có vàng da do sỏi ống mật chủ, những trường hợp viêm túi mật/viêm đường mật không đáp ứng điều trị, đi kèm viêm tụy, tái phát đau do sỏi túi mật, vàng da do sỏi làm tắc nghẹt, mưng mủ túi mật và thủng túi mật. Tuy nhiên, Tỷ lệ tử vong chu sinh lên đến 50% sau khi có viêm túi mật.

    Viêm tụy cấp:
    Trong thai kỳ, sỏi mật là yếu tố mở đường. Khi người phụ nữ có thai sẽ làm gia tăng sỏi mật dễ gây viêm tụy.

    - Triệu chứng: (tương tự như không có thai) Đau thượng vị từ nhẹ đến nặng, buồn nôn, nôn, chướng bụng, mạch tăng, nhiệt độ tăng, huyết áp giảm.

    - Điều trị: Đa số thai phụ bị viêm tụy cấp nhẹ, 90% giảm sau khi điều trị bảo tồn 7 ngày.
    • Ngưng ăn đường miệng.
    • Đặt sonde dạ dày.
    • Truyền dịch.
    • Giảm đau, kháng sinh.
    • Nếu viêm tụy cấp kèm sỏi mật thì vấn đề cắt túi mật được đặt ra sau khi viêm tụy cấp lui bệnh.
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,133 Được cảm ơn

    #2
    Thai kỳ và bệnh lý đường tiêu hóa trên

    Với một thai kỳ bình thường đường tiêu hóa và các cơ quan sẽ trải qua những biến đổi giải phẫu và chức năng. Riêng đường tiêu hóa trên thường có những thay đổi về sinh lý.

    benh-thaiky-2-500
    Ảnh: Gettyimages.

    - Do Progesterone huyết thanh cao đưa đến làm giảm toàn bộ trương lực của cơ trơn trong đó có giảm trương lực cơ vòng thực quản đưa đến rát ngực, bệnh lý trào ngược thực quản.

    - Tử cung phát triển nên các cơ quan trong ổ bụng thay đổi vị trí và sự tương quan. Dạ dày được nâng lên, trục dọc trở nên ngang hơn.

    Những biến đổi đó đã gây ra các triệu chứng cho thai phụ, đồng thời cũng gây khó khăn trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh trong thời điểm này.

    Thai hành

    Nguyên nhân: không rõ. Có giả thiết cho rằng:

    - Do yếu tố tâm lý xã hội.

    - Do hormone: sự tăng nhanh và cao của HCG và estrogen trong huyết thanh (nồng độ HCG và ß HCG tăng có ý nghĩa ở nhóm thai phụ có thai hành so với nhóm không có triệu chứng).

    Triệu chứng:

    • Buồn nôn, nôn ở mức độ vừa phải, hay xuất hiện vào buổi sáng. Triệu chứng này thường gặp trong 50 – 90% thai phụ và thường được xem là dấu hiệu đặc trưng của thai kỳ. Thai phụ bắt đầu bị nôn ói vào tuần thứ 4 – 10, cao nhất là khoảng tuần thứ 8 – 12 của thai kỳ. Tuy nhiên, trường hợp buồn nôn và nôn kéo dài gây rối loạn nước và điện giải do mang thai thì cũng biểu hiện trước tuần thứ 20 của thai kỳ.

    Tổng trạng người mẹ vẫn bình thường. Trừ một số trường hợp nặng:

    • Nôn ói nhiều liên tục gây rối loạn điện giải, hạK trong máu.
    • Thai phụ sụt cân.
    • Thai hành nhiều có biến chứng rối loạn chức năng gan tiềm ẩn.

    - Điều trị:

    • Thai phụ cần hiểu, an tâm về tư tưởng.
    • Ăn nhiều bữa, mỗi lần một ít. Tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ, nước có gas. Nhưng nên ăn thức ăn giàu carbohydrate.
    • Chỉ sử dụng thuốc khi cần thiết và theo sự chỉ định của bác sĩ (các thuốc chống nôn).

    Trường hợp thai hành nhiều, có sự hiện diện của ketones niệu cần nhập viện để bác sĩ có thể:

    • Điều chỉnh rối loạn nước – điện giải.
    • Điều trị triệu chứng bằng kháng histamin H1, đối vận dopamine hoặc phenothiazine.
    • Bổ sung vitamin nếu cần qua đường tiêm chích.
    • Một số trường hợp nặng phải được nuôi ăn ngoài đường tiêu hóa (qua đường tĩnh mạch). Khi triệu chứng ổn định, sẽ cho từ từ gầy dựng lại chế độ tiết thực.
    • Hỗ trợ tâm lý liệu pháp hoặc tâm lý xã hội nếu cần thiết như trong trường hợp thai phụ có xung đột tâm lý trong gia đình, cho thai phụ rời khỏi môi trường gây stress sẽ góp phần cải thiện tình trạng nôn ói.

    Trào ngược dạ dày – thực quản: Hay gặp ở các thai phụ.

    - Nguyên nhân:

    Trong thai kỳ có sự giảm nhu động thực quản, giảm hoạt động của cơ thắt dưới tâm vị do progesterone làm dãn các cơ trơn xuất hiện ngay khi có thai, tối đa ở tuần thứ 36 và gia tăng áp lực trong dạ dày, áp lực này tăng thêm vì tử cung to ra.

    Trào ngược dạ dày – thực quản đầu tiên chỉ là hiện tượng sinh lý nhưng nếu tăng quá mức sẽ gây ợ nóng thậm chí có tổn thương thực quản.

    - Triệu chứng:

    • Ợ nóng, ợ chua:
    • Sau nôn ói vào buổi sáng thì ợ nóng là một triệu chứng rất thường gặp của đường tiêu hóa trong thai kỳ, thường gặp ở 70 – 80% các thai phụ. Triệu chứng thường nặng dần theo tuổi thai.
    • Ợ nóng xuất hiện rõ khi thai phụ nằm ngửa, sau khi ăn.
    • Sau sinh, 98% trường hợp dấu hiệu này biến mất không để lại hậu quả sau sinh.

    Trường hợp nặng có biểu hiện:

    • Viêm thực quản: cảm giác rát bỏng sau xương ức sau khi ăn các thức ăn nóng, có đường.
    • Xuất huyết đường tiêu hóa trên.

    Điều trị:

    - Không dùng thuốc:

    • Ăn ít hơn nhưng nhiều bữa.
    • Tránh các chất: rượu, café, thức ăn giàu đường hoặc mỡ, thuốc lá…
    • Khoảng cách từ khi ăn đến khi ngủ > 3 giờ.
    • Nằm đầu cao khoảng 30 cm khi ngủ.

    - Dùng thuốc: bác sĩ có thể chỉ định:

    • Sử dụng thuốc kháng acid, thuốc để tăng áp lực cơ thắt dưới.
    • Khi có triệu chứng nặng thì thêm đối vận thụ thể H2 .

    - Nội soi trong trường hợp: điều trị nội thất bại; viêm thực quản; nôn ra máu.

    Không giãn cơ thắt tâm vị:

    Nguyên nhân:

    Do rối loạn hoạt động cơ thắt tâm vị dưới và co thắt bất thường của thực quản. Nguyên nhân là do sự khiếm khuyết dẫn truyền thần kinh ở cơ trơn thực quản và co thắt tâm vị dưới.

    Triệu chứng:

    • Nuốt khó.
    • Ọe.
    • Đau ngực.
    • Chụp thực quản có cản quang, nội soi thực quản với ống nội soi mềm giúp chẩn đoán.

    Điều trị:

    • Sử dụng thức ăn mềm.
    • Bác sĩ có thể chỉ định: Sử dụng thuốc chống tác động kiểu cholin. Trường hợp nặng phải đặt balon thực quản.

    Loét dạ dày – tá tràng:

    - Nguyên nhân:

    • Ghi nhận có vai trò của Helicobacter Pylory trong viêm dạ dày, loét dạ dày – tá tràng.
    • Vai trò của aspirin, kháng viêm nonsteroid.

    Ở thai phụ có sự giảm tiết dịch dạ dày, nhu động giảm, chất nhầy thường tiết đáng kể nên ít gặp thể hoạt động trong thai kỳ và thai kỳ làm giảm tính nghiêm trọng của bệnh Clark (90% có sự lui bệnh). Tuy nhiên, trong vòng 3 tháng sau sinh tỷ lệ tái phát >50%; khoảng 2 năm hầu hết các phụ nữ bị tái phát và có thể triệu chứng nặng hơn.

    Triệu chứng: đau thượng vị, ợ nóng, nôn, có thể nôn ra máu. Biến chứng có thể xuất huyết tiêu hóa, thủng hiếm gặp.

    Điều trị:

    - Không dùng thuốc:

    • Ăn ít hơn nhưng nhiều bữa.
    • Tránh các chất: rượu, café, thức ăn giàu đường hoặc mỡ, thuốc lá…
    • Khoảng cách từ khi ăn đến khi ngủ > 3 giờ.
    • Nằm đầu cao khoảng 30 cm khi ngủ.

    - Dùng thuốc: bác sĩ có thể chỉ định:

    • Sử dụng thuốc kháng acid.
    • Khi có triệu chứng nặng, thì thêm đối vận thụ thể H2 .

    - Nội soi khi cần thiết. Phẫu thuật nội soi để cầm máu trong trường hợp xuất huyết tái phát hoặc xuất huyết rộng.

    - Phẫu thuật khi loét biến chứng thủng dạ dày có thể đồng thời mổ lấy thai khi thai đủ ngày.

    Xuất huyết tiêu hóa trên:

    Phải loại trừ nguyên nhân do loét dạ dày – tá tràng. Đa số các trường hợp do rách niêm mạc chỗ nối dạ dày – thực quản.

    - Triệu chứng:

    • Buồn nôn, nôn.
    • Nôn ra máu.

    * Điều trị:

    Bác sĩ thường chỉ định:

    • Rửa dạ dày.
    • Sử dụng thuốc: kháng acid, đối vận thụ thể H2.
    • Truyền hợp nặng phải truyền máu.

    Thoát vị hoành

    Là sự thoát vị của các tạng qua lỗ Bochdalek hay lỗ Morgagni.

    - Triệu chứng:

    • Khó thở, tím tái, có lúc ngưng thở.
    • Nhìn thấy lồng ngực bên bị thoát vị di động ít theo nhịp thở.
    • Ngực phồng lên.

    - Siêu âm giúp phát hiện thoát vị hoành.

    - Biến chứng: tắc nghẽn cấp tính và tử vong là 45%. Nhưng thoát vị hoành có triệu chứng hiếm khi gây biến chứng trong thai kỳ.

    - Nên điều trị mặc dù không có triệu chứng (tình cờ phát hiện).
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]
    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,133 Được cảm ơn

    #3
    Thai kỳ và bệnh lý ruột non, ruột già

    Ngoài đường tiêu hóa trên, ruột non và ruột già cũng là hai cơ quan có nhiều sự thay đổi sinh lý trong thai kỳ.

    benh-thaiky-3-500
    Ảnh: Gettyimages.

    Nguyên nhân là do progesterone huyết thanh cao đưa đến giảm toàn bộ trương lực của cơ trơn nên nhu động ruột giảm, thời gian vận chuyển thức ăn kéo dài, ruột già tăng hiện tượng hấp thụ nước và có hiện tượng giãn cơ. Hơn nữa, do tử cung phát triển nên các cơ quan trong ổ bụng thay đổi vị trí: Ruột non bị đẩy lên trên, các quai ruột già bị dồn lại, manh tràng và ruột thừa bị đẩy lên trên. Một số các rối loạn chức năng và các bệnh lý về ruột non, ruột già thường gặp trong thai kỳ:

    Táo bón

    * Nguyên nhân: Do sự giãn cơ, tăng hấp thụ muối, nước, tử cung to đè lên. Hoặc do chế độ ăn: thai phụ ăn ít chất xơ 40% bị táo bón trong thai kỳ, 20% bị táo bón vào giai đoạn cuối thai kỳ.

    * Triệu chứng:

    Thai phụ bị táo bón (đi tiêu dưới ba lần trong một tuần, phân khô và cứng hơn, đau khi đi tiêu), có dấu hiệu mót rặn, có thể đi tiêu ra máu.

    * Điều trị:

    - Không dùng thuốc:


    • Ăn nhiều chất xơ, uống nhiều nước.
    • Vận động.
    • Tập đi tiêu đều đặn.

    - Dùng thuốc: bác sĩ có thể chỉ định:

    • Sử dụng thuốc nhuận tràng.
    • Dẫn xuất Diphenylmethane.
    • Clysmata để giúp tống phân khi bón ở trực tràng.

    Viêm ruột mãn tính

    Viêm ruột mãn tính hay gặp ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ. Diễn tiến đặc trưng của viêm ruột mãn tính là có những đợt viêm nhiều xen kẽ với những đợt lui bệnh. Không có chống chỉ định mang thai ở phụ nữ bị viêm ruột mãn tính. Tuy nhiên, có những điểm cần lưu ý tùy theo từng thời điểm:

    - Trước khi có thai: nên có thai trong giai đoạn lui bệnh. Các phương pháp thăm dò đường ruột phải được tiến hành trước khi có thai để có thể ước đoán mức độ bệnh lý. Bệnh lý phải được điều trị để trở thành dạng không hoạt động trước khi có thai. Khi có thai trong giai đoạn không hoạt động của bệnh lý thì nguy cơ tái phát tương tự như khi không có thai.

    - Khi có thai: Những biểu hiện lần đầu hoặc các đợt tái phát không xảy ra ở một thời điểm đặc hiệu nào trong thai kỳ. Diễn biến thường nặng nề và đi kèm với tiên lượng xấu cho mẹ và thai nhi. Trong những trường hợp này, để giảm nguy cơ phẫu thuật cấp cứu cho mẹ và thai nhi phải bắt đầu điều trị nội khoa hoặc tăng cường điều trị sẵn có.

    - Sinh đẻ: Phương pháp sinh được quyết định bởi các chỉ định sản khoa thông thường. Mổ lấy thai chỉ được lựa chọn nhiều hơn trong các giai đoạn bệnh lý bùng phát hoặc có lỗ dò quanh hậu môn.

    Viêm ruột mãn tính có thể là viêm loét ruột hoặc bệnh Cornh.

    Nguyên nhân: Chưa có sự xác định rõ ràng nhưng hay gặp ở các cặp sinh đôi và họ hàng thế hệ thứ nhất.

    Triệu chứng:

    - Viêm loét ruột: Gồm có triệu chứng chính là đi tiêu phân máu và các triệu chứng khác là viêm khớp, hồng ban dạng nút.

    - Bệnh Cornh: Đau bụng, tiêu chảy, tắc ruột.

    * Viêm loét ruột, bệnh Cornh và thai kỳ:

    - Viêm loét ruột: Viêm loét ruột gây ra một vài ảnh hưởng xấu cho thai.

    - Bệnh Cornh: Không có bằng chứng thai kỳ ảnh hưởng xấu đến bệnh. Bản thân bệnh cũng không gây nguy hại cho thai.

    Nên tiến hành chẩn đoán viêm ruột mãn tính sớm, không nên chậm trễ vì kết quả có thể ảnh hưởng đến việc xử trí.

    * Điều trị:

    Điều trị nội khoa: Tạo lập các giai đoạn lui bệnh hoặc ổn định bệnh càng lâu càng tốt.


    • Có nhiều phác đồ điều trị kể cả việc sử dụng corticoide có thể tiếp tục trong thai kỳ.
    • Phương pháp điều trị được lựa chọn nhiều là sự kết hợp giữa Salazosulfapyridine và Glucocorticoids qua đường uống.
    • Các chất ức chế miễn dịch (như Azathiprine) hoặc Methotrexate có thể được chỉ định trong trường hợp phương pháp điều trị kết hợp trên bị thất bại.

    - Can thiệp phẫu thuật: Trong thai kỳ, phẫu thuật được chỉ được chỉ định khi có biến chứng nặng (xuất huyết trầm trọng, thủng, phình ruột do nhiễm độc, áp-xe hoặc tắc ruột). Thai đủ tháng phải được mổ lấy thai trong quá trình thực hiện các phẫu thuật này.

    Tắc ruột

    Tần xuất bệnh trong lúc có thai không khác so với dân số chung.

    * Nguyên nhân: 60 – 70% trường hợp do dính ruột sau mổ, xoắn ruột.

    * Triệu chứng:

    - Tắc ruột cao: Đau xuất hiện đột ngột, co thắt, ói liên tục, bí trung, đại tiện muộn.

    - Tắc ruột thấp: Bí trung, đại tiện sớm, nôn muộn, chướng bụng lúc đầu không đối xứng sau đó tăng lên., bụng căng, đau.

    - Chụp X quang sẽ giúp cho chẩn đoán.

    * Điều trị: Bác sĩ thường sẽ chỉ định: Đặt ống thông dạ dày; Điều chỉnh rối loạn nước – điện giải; Mổ.

    Viêm ruột thừa cấp

    Viêm ruột thừa cấp là một biến chứng thường gặp nhất trong thai kỳ đòi hỏi phải phẫu thuật. Viêm ruột thừa ở thai phụ thường nặng hơn vì tình trạng thai nghén làm tổn thương ruột thừa, diễn biến nhanh, dễ dẫn đến thủng ruột hơn ở người bình thường và gây ra viêm phúc mạc toàn thể. Ngược lại, viêm ruột thừa có thể ảnh hưởng tới thai làm sẩy thai hoặc đẻ non.

    Tỷ lệ tử vong ở các phụ nữ mang thai bị viêm ruột thừa (2 – 4%) cao hơn ở phụ nữ không mang thai bị viêm ruột thừa (<0,5%) điều này thường do sự chậm trễ trong việc phát hiện, quá trình viêm nặng.

    * Triệu chứng:

    - Trong những tháng đầu: triệu chứng giống viêm ruột thừa ở người không có thai: Đau hố chậu phải, rối loạn tiêu hóa: táo bón hoặc tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói, thân nhiệt tăng, môi khô, lưỡi bẩn.

    - Trong những tháng cuối:


    • Đau bụng, thường ban đầu đau quanh rốn sau đó đau ở bụng trên phải hay hạ sườn phải (ruột thừa bị đẩy lên trên do sự tăng trưởng của tử cung, vị trí đau tùy thuộc vào vị trí của ruột thừa). Đau tăng khi thai cử động.
    • Nôn ói, ăn không ngon, táo bón.
    • Thân nhiệt cao.

    * Điều trị:

    - Khi đã nghi ngờ viêm ruột thừa thì dù ở giai đoạn nào của thai kỳ bác sĩ cũng phải tiến hành thám sát và can thiệp ngoại khoa. Trong trường hợp không chắc chắn lắm, bác sĩ thường chỉ định soi ổ bụng.

    - Bác sĩ thường cho thuốc giảm co để tránh sẩy thai hay đẻ non. Nếu vào cuối thai kỳ có thể đồng thời mổ lấy thai.

    Viêm đại tràng cấp
    : Viêm đại tràng cấp có thể do virus, vi trùng hoặc sau sử dụng kháng sinh.

    Viêm đài tràng cấp có thể là:

    * Lỵ cấp tính: do Shigella, Campylobacter hay Salmonella không gây thương hàn.

    - Triệu chứng: Sốt, môi khô, lưỡi bẩn.`Đi tiêu nhiều lần, mỗi lần một ít phân lẫn đàm máu.

    - Xét nghiệm: cấy phân giúp bác sĩ chẩn đoán xác định.

    - Điều trị: dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ.

    * Viêm đại tràng sau sử dụng kháng sinh: Xảy ra sau sử dụng kháng sinh như Ampicilline, Amoxcinline, Cephalo, Clindamycine. Dạng xấu nhất là viêm ruột giả mạc đa độc tố Clostridium difficile.

    - Triệu chứng: Sốt, biếng ăn, tiêu chảy nhiều, đau bụng, chướng bụng.

    - Nội soi đại trực tràng giúp cho bác sĩ chẩn đoán.

    - Điều trị: Bác sĩ thường sẽ chỉ định:


    • Bù nước – điện giải.
    • Sử dụng thuốc: Metronidazol, Vancomycin.
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]
    • 25 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #4
    mọi người có biết bệnh men gan cao không nên ăn gì chưa chưa biết thì vào tham khảo nhé