TIN TÀI TRỢ.

Các bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu bà bầu có thể mắc phải

  • 96 Lượt chia sẻ
  • 47.8K Lượt đọc
  • 2 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,132 Được cảm ơn

    #1
    Nhiễm trùng tiết niệu - bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ

    Nhiễm trùng tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng do vi trùng, thường xảy ra, nhất là trong lúc mang thai. Mặc dù thai kỳ không có khuynh hướng làm gia tăng các yếu tố động lực của vi trùng nhưng tình trạng giãn nở đường niệu, trào ngược bàng quang niệu quản, phối hợp với sự căng trướng bàng quang do chuyển dạ kéo dài, sau gây tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng, tình trạng kháng lợi niệu sau sanh khi ngưng dùng Oxytocin và đặt thông tiểu sẽ thúc đẩy thêm quá trình nhiễm trùng.

    Nhiễm trùng tiết niệu gặp ở nữ nhiều hơn nam (gấp 14 lần). Ngoài ra còn có yếu tố nguy cơ bị nhiễm trùng tiết niệu khác như bệnh hồng cầu hình liềm và tiểu đường.

    Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ có thai khoảng dưới 10%.

    Nhiễm trùng tiết niệu có liên quan đến sinh non, sự gia tăng tỷ lệ tử vong cho thai và chậm phát triển thời thơ ấu.

    Sinh bệnh học nhiễm trùng tiết niệu và thai kỳ

    - Những thay đổi về cơ thể và sinh lý trong lúc mang thai có thể giúp cho nhiễm trùng tiết niệu dễ dàng xảy ra:

    + Thận ứ nước sinh lý: hiện tượng này là do sự phối hợp các yếu tố cơ học và nội tiết. Hiện tượng ứ nước rõ hơn ở thận phải.

    Hai quả thận gia tăng thể tích: dài thêm khoảng 1 cm và nặng thêm khoảng 4,5 g. Đài thận và bể thận giãn.

    + Khi có thai, tử cung nghiêng về bên phải, đè vào niệu quản vùng chậu làm giãn nở phần trên và khi tử cung lớn lên có thể chèn ép niệu quản, bàng quang bị đẩy lên trên ra trước, niệu quản bị kéo dài làm cho dòng nước tiểu không lưu thông dễ dàng, tiểu không hết. Đến cuối thai kỳ, đầu thai nhi lại đè vào bàng quang nên không thể làm rỗng bàng quang hoàn toàn mỗi khi tiểu, càng làm cho dòng nước tiểu khó lưu thông, ứ đọng, tạo thuận lợi cho vi trùng phát triển trước khi bị thải ra ngoài.

    Ngoài vấn đề niệu quản giãn nhẹ do sức ép của thai nhi, có thể có hiện tượng trào ngược bàng quang – niệu quản. Hiện tượng này sẽ kéo dài đến 3 tháng sau sanh.

    + Dưới tác dụng của Progesterone, nhu động niệu quản và ruột giảm gây dẫn lưu nước tiểu kém và táo bón.

    Vi trùng gây bệnh thường là trực trùng đường ruột nhất là E. coli, do táo bón xâm nhập qua máu tới thận rồi vì ứ đọng và dẫn lưu nước tiểu kém trở nên dễ gây bệnh nhiễm trùng tại chỗ.

    + Thay đổi sinh lý hóa học của nước tiểu: nước tiểu trở nên kiềm hơn do gia tăng thải bicarbonate. Đường niệu và đạm niệu là các yếu tố tạo thuận lợi thêm cho vi khuẩn phát triển.

    - Trong thời kỳ sau sanh, sự bí tiểu do phản xạ gây nên sau một thủ thuật sản khoa, do chấn thương sinh dục dưới, do dùng nhiều Oxytocin có tính chất chống lợi niệu trong lúc sanh, sau đó khi ngưng Oxytocin, nước tiểu thải ra nhanh… Tất cả những lý do này làm bàng quang căng to, gây ứ đọng nước tiểu và nhiễm trùng lại càng dễ xảy ra nếu có dùng thông tiểu để thoát nước tiểu.

    Vi sinh gây bệnh:

    - Vi trùng gây nhiễm trùng niệu thường là những chủng thường trú ở vùng tầng sinh môn, E.coli là tác nhân gây nhiễm trùng tiết niệu trong 80 – 90% trường hợp.

    ecoli-500
    Khuẩn E.coli, nguyên nhân của 80-90% các ca nhiễm trùng tiết niệu. Ảnh: Gettyimages.

    - Các vi trùng gram âm như Klebsiella, Proteus, Enterobacter và Pseudomonas.

    - Nhiễm trùng qua đường giao hợp như Chlamydia trachomatis (chú ý trong trường hợp này cấy nước tiểu âm tính), Neisseria Gonorrhae.

    - Streptococcus nhóm B và Staphylococcus saprophyticus.

    Các vi trùng này từ vùng hậu môn, âm đạo xâm nhập vào bàng quang qua niệu đạo, nhiễm trùng khu trú ở đó gọi là nhiễm trùng niệu đạo. Tiếp theo, vi trùng di chuyển đến bàng quang gây viêm bàng quang và cuối cùng lan đến thận qua đường niệu quản gây viêm thận – bể thận.

    Các biểu hiện nhiễm trùng tiết niệu:

    Nhiễm trùng tiết niệu xuất hiện dưới nhiều dạng từ một nhiễm trùng niệu không triệu chứng đến một nhiễm trùng thật sự có triệu chứng liên quan tới từng phần của hệ tiết niệu như viêm bàng quang, viêm đài bể thận, viêm thận. Mỗi dạng đều có thể là ổ nhiễm trùng nguyên phát và có thể có sẵn trước khi mang thai hoặc xảy ra do thai kỳ.

    * Nhiễm trùng niệu không triệu chứng

    Nhiễm trùng niệu không triệu chứng (không có triệu chứng lâm sàng) chiếm tỷ lệ 4 – 7% trong thai kỳ. Tỷ lệ thay đổi theo số lần sanh và điều kiện kinh tế xã hội: sanh nhiều lần, nghèo hay gặp nhất.

    Phát hiện được nhiễm trùng niệu không triệu chứng nhờ xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu tầm soát cho các thai phụ; cấy nước tiểu giữa dòng khi có tiểu mủ, khuẩn niệu hoặc nitrite.

    Nhiễm trùng niệu không triệu chứng là khi cấy định lượng có sự hiện diện của trên 100.000 vi trùng/ml nước tiểu trong 2 mẫu liên tiếp nước tiểu được lấy sạch giữa dòng.

    (Lưu ý cách lấy nước tiểu giữa dòng: rửa sạch âm hộ, tiểu vào trong lọ chứa vô trùng sau khi bỏ đi vài ml đầu và cuối của nước tiểu.)

    Nhiễm trùng niệu không triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng đặc biệt quan trọng, nhất là trên cơ địa tiểu đường, tiền căn nhiễm trùng tiết niệu:

    - Đối với mẹ:

    + Nếu không điều trị, khoảng 25 – 40% các trường hợp sẽ tiến triển đến nhiễm trùng có triệu chứng cấp tính. Mặc dù không phải tất cả nhiễm trùng niệu không triệu chứng đều sẽ chuyển sang nhiễm trùng niệu có triệu chứng nhưng nếu có điều trị tình trạng này bớt xảy ra hơn.

    + 30 – 50% nhiễm trùng niệu không triệu chứng phát triển thành viêm đài bể thận trong thai kỳ, 15 – 20% sau khi sinh.

    - Đối với thai: sẩy thai, đẻ non (16%); suy dinh dưỡng (14%).

    Nên tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng bằng cách cấy nước tiểu ít nhất 2 lần trong thai kỳ: một lần ngay khi khám thai phụ lần đầu và một lần trong ba tháng cuối của thai kỳ.

    * Nhiễm trùng niệu có triệu chứng:

    - Viêm bàng quang niệu đạo.

    - Viêm đài bể thận cấp.

    - Viêm đài bể thận mãn.

    Nhiễm trùng niệu có triệu chứng chiếm tỷ lệ khoảng 2% trong thai kỳ. Có thể gây những nguy cơ:

    - Đối với mẹ:

    Biến chứng nhiễm trùng huyết, choáng nhiễm trùng, suy thận cấp, suy gan thận đưa đến phải lấy thai khẩn cấp.

    Sau khi sanh, biến chứng cần đề phòng là viêm đài bể thận mãn, nguyên nhân sau này của cao huyết áp và suy thận.

    - Đối với thai:

    Sinh non do nhiễm trùng niệu có tỷ lệ khoảng 20% mà nguyên nhân là sốt cao và lây nhiễm vi trùng qua đường nhau thai, dị tật bẩm sinh thai, thai chết.

    Tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng sẽ giảm được các biến chứng này.

    pt-tietnieu-330
    Khi mang thai, bạn nên thực hiện đầy đủ các xét nghiệm trong đó có tổng phân tích nước tiểu. Ảnh: Gettyimages.

    Xét nghiệm: có thể được bác sĩ đề nghị làm để hổ trợ chẩn đoán và theo dõi trong khi điều trị:
    • Tổng phân tích nước tiểu.
    • Công thức máu.
    • Điện giải trong máu.
    • Nồng độ creatinin.
    • Cấy nước tiểu.
    • Cấy máu.

    Điều trị:

    - Nhiễm trùng niệu không triệu chứng có thể được bác sĩ cho điều trị kháng sinh bằng một liều duy nhất có hiệu quả tương đương với điều trị 7 – 10 ngày trong phần lớn các trường hợp.

    - Nhiễm trùng niệu có triệu chứng:

    Viêm bàng quang niệu đạo được điều trị kháng sinh 7 – 10 ngày.

    Viêm đài bể thận phải nhập viện, bác sĩ thường chỉ định dùng kháng sinh tĩnh mạch và truyền dịch cho đến khi có cải thiện triệu chứng lâm sàng. Tiếp sau đó người bệnh được cho dùng kháng sinh uống cho đủ 10 – 14 ngày. Người bệnh cũng được cho các thuốc chống co thắt và giảm đau.

    Các biến chứng ở mẹ bao gồm choáng nhiễm trùng, suy hô hấp và rối loạn chức năng thận thoáng qua.

    Khi được điều trị kháng sinh phối hợp, các triệu chứng lâm sàng thường thuyên giảm trong vòng 24 giờ. Nếu sau 72 giờ mà cải thiện lâm sàng không rõ, bác sĩ thường sẽ đánh giá xem có tắc nghẽn đường niệu không hay do nguyên nhân sản khoa khác.

    Thử nghiệm độ nhạy của vi trùng được làm thường quy vì trên 50% vi trùng gây bệnh đường niệu có kháng thuốc.

    Liều lượng được cho phù hợp với tình trạng bệnh và được theo dõi nồng độ trong huyết thanh để tranh khả năng nhiễm độc.

    Sau khi điều trị cần cấy lại nước tiểu để chắc chắn là đã khỏi bệnh.

    Nhiễm trùng tiết niệu chiếm một tỷ lệ cao và ảnh hưởng nhiều đến thai kỳ, ngay cả trong những trường hợp khuẩn niệu, lượng vi trùng khoảng 20.000 – 50.000 vi trùng/ml cũng có thể gây ra biến chứng. Vì vậy, những trường hợp này cũng nên điều trị. Trong nhiễm trùng tiết niệu đồng thời với điều trị kháng sinh nên uống nhiều nước, acid hoá nước tiểu, điều trị táo bón, dự phòng viêm âm hộ – âm đạo và việc tiểu cho hết nước tiểu trong bàng quang ở mỗi lần đi tiểu là cần thiết.

    Dự phòng nhiễm trùng tiết niệu:

    Ở người phụ nữ, do có những đặc điểm giải phẫu học của hệ tiết niệu nên thường dễ bị nhiễm trùng. Thai kỳ với những yếu tố thay đổi về nội tiết và cơ học đã làm cho hiện tượng nhiễm trùng niệu càng dễ xảy ra hơn. Vì vậy, thai phụ cần phòng tránh bệnh bằng cách uống nhiều nước (ít nhất 1,5 lít mỗi ngày). Không nên nhịn đi tiểu và cố gắng tiểu hết nước tiểu mỗi khi tiểu. Rửa vùng hậu môn và sinh dục bằng xà phòng sau mỗi lần đi vệ sinh và quan hệ tình dục, từ trước ra sau. Không dùng thuốc xịt hay xà phòng mạnh ở vùng sinh dục. Dùng đồ lót làm bằng cotton cho dễ thấm nước và thoáng.

    Khi có thai, cần được theo dõi thai với chất lượng tốt. Tầm soát nhiễm trùng tiết niệu bằng xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu. Tránh hết sức những tình huống có thể dẫn đến nhiễm trùng tiết niệu như sang chấn sản khoa, thông tiểu khi không cần thiết… Nếu có triệu chứng nhiễm trùng tiết niệu (như tiểu ít, tiểu rát, tiểu buốt,…) cần được khám, chẩn đoán và điều trị sớm. Đặc biệt nhiễm trùng tiết niệu trong thai kỳ cần phải được điều trị tích cực để tránh những diễn biến xấu và những biến chứng nặng nề lên cả mẹ và thai.

    Dự phòng nhiễm trùng tiết niệu trong tất cả các trường hợp có biến chứng niệu khoa như ghép thận, tái tạo niệu quản và trong những trường hợp nhiễm trùng niệu tái phát. Nếu nhiễm trùng tái phát và kéo dài cần phải được khảo sát chức năng thận, siêu âm thận và thậm chí chụp đường niệu qua đường tĩnh mạch.
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,132 Được cảm ơn

    #2
    Phụ nữ mang thai và những nguy cơ khi bị viêm thận - bể thận

    Viêm thận – bể thận là một trong những bệnh thận thường hay gặp nhất. Đây là bệnh của ống thận gây tổn thương các ống thận, mô kẽ và bể thận.

    Khoảng 2 – 3% phụ nữ mang thai bị viêm tiết niệu, trong đó có 40 – 50% bị viêm thận – bể thận, một bệnh lý đem lại nguy cơ cao cho cả mẹ lẫn con, nhưng nếu được chăm sóc, điều trị kịp thời thì tỷ lệ trên chỉ còn 5 – 10%.

    Có hai thể viêm thận – bể thận: viêm thận – bể thận cấp và viêm thận – bể thận mạn, cả hai thể đều do nhiễm khuẩn gây nên.

    viemtietnieu-330
    Ảnh: Gettyimages.

    * Viêm thận – bể thận cấp:

    Viêm thận – bể thận cấp là tình trạng viêm mủ cấp tính ở thận do nhiễm khuẩn, thường do nhiễm khuẩn đường niệu dưới đi lên.

    Viêm thận – bể thận cấp là biến chứng thường gặp nhất của bệnh thận trong thai kỳ, chiếm khoảng 1 – 3% các thai kỳ với tỷ lệ tái phát 10 – 18% và là biến chứng nghiêm trọng nhất thường xảy ra vào nửa sau của thai kỳ.

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân gây viêm thận – bể thận cấp là do vi khuẩn trong đó nguyên nhân chính là do trực khuẩn gram (-) như Secheria Coli, trực khuẩn mủ xanh (pseudomonas Aerugnosa). Cũng có trường hợp do nhiễm tụ cầu vàng gây bệnh (S. Aureus).

    Hầu hết các trường hợp nhiễm khuẩn theo đường ngược dòng: các vi khuẩn này thường từ bộ phận sinh dục ngoài theo niệu đạo lên bàng quang, niệu quản đến xâm nhập vào đài, bể thận gây viêm ở đài bể thận rồi vào tổ chức kẽ của thận. Tuy nhiên, các vi khuẩn cũng có thể theo đường máu hoặc bạch huyết xâm nhập vào thận. Đường máu ít gặp, chỉ xảy ra trong trường hợp của nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

    Các yếu tố thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây ra tình trạng viêm nhiễm cấp tính này là:

    + Tắc nghẽn đường niệu dưới: do sỏi, khối u...

    + Do rối loạn chức năng bàng quang.

    + Không bảo đảm vệ sinh khi giao hợp.

    + Dùng dụng cụ thông tiểu, soi bàng quang.

    + Ở phụ nữ: do niệu đạo ngắn, lúc có thai…

    Triệu chứng:

    - Triệu chứng lâm sàng:

    Các triệu chứng xuất hiện rầm rộ, đột ngột sốt cao, rét run, thể trạng suy sụp nhanh chóng, môi khô, lưỡi bẩn... Sốt có thể lên đến 400C, nếu sử dụng thuốc hạ sốt thì giảm đi trong một khoảng thời gian ngắn (một vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát trở lại.

    daulung-330
    Ảnh: Gettyimages.

    Đau vùng hông hoặc đau thắt lưng, có thể đau tức một bên hoặc cả hai bên, thường là đau âm ỉ nhưng cũng có khi có những cơn đau dữ dội như dao đâm, cơn đau lan xuống vùng bàng quang, thậm chí lan ra cả bộ phận sinh dục ngoài.

    Thường có kèm theo tiểu buốt, cảm giác nóng rát, tiểu rắt (mót tiểu, phải rặn liên tục khi tiểu), tiểu đục cũng có khi tiểu ra máu.

    Ngoài ra, còn có thể có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn ói, bụng chướng.

    - Cận lâm sàng:

    + Máu: bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, CRP tăng, có thể có nhiễm khuẩn huyết (15% các trường hợp có nhiễm khuẩn huyết).

    Khi urê, creatinin máu tăng cao là có suy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn.

    + Nước tiểu cho thấy cặn lắng nước tiểu chứa nhiều cụm bạch cầu, nhiều vi trùng. Cấy có thể là E. coli 80%, Klebsiella, Pneumonia, Enterobacter, Proteus.

    + Chụp thận (thường chụp thận tĩnh mạch: UIV), siêu âm thận có thể phát hiện sỏi thận, dị dạng, khối u, lao thận, viêm bể thận mạn hoặc chụp bàng quang có thể phát hiện hiện tượng trào ngược nước tiểu.

    Điều trị:

    - Viêm thận – bể thận cấp thường được điều trị bằng nội khoa.

    Bệnh nhân cần nghỉ ngơi, được cho truyền dịch để chắc chắn có lượng nước tiểu ra tốt.

    Đây là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh là biện pháp quan trọng được sử dụng trong điều trị, đặc biệt là các kháng sinh có tác dụng tốt đối với vi khuẩn gram (-). Trong điều trị viêm thận – bể thận thường dùng phối hợp kháng sinh. Đối với những phụ nữ có thai mắc bệnh này việc điều trị càng thận trọng vì nhiều loại thuốc kháng sinh không có lợi cho thai nhi.

    Tuỳ theo từng trường hợp bệnh nhân được dùng thêm thuốc để điều trị triệu chứng: nếu sốt cao, đau phải dùng thuốc hạ sốt, thuốc giảm đau, thuốc chống co thắt.

    Ngoài ra, cần phải tìm nguyên nhân gây bệnh như sỏi thận, sỏi tiết niệu, các bệnh viêm nhiễm ở bàng quang, âm đạo... để điều trị triệt để.

    Bệnh nhân được theo dõi sát để khám phá sớm có kích xúc nhiễm trùng thông qua lượng nước tiểu, huyết áp, mạch, nhiệt độ. Nếu:

    + Trong 2 ngày đầu các triệu chứng lâm sàng biến mất, bệnh nhân được tiếp tục điều trị cho đủ 10 – 14 ngày.

    + Không khả quan thì sẽ được đổi kháng sinh theo kháng sinh đồ.

    - Trong trường hợp tình trạng ngày càng nặng hơn thì có khả năng có sỏi tiết niệu hoặc áp-xe quanh thận cần điều trị phẫu thuật.

    Diễn tiến:

    Bệnh thường, bệnh tiến triển tốt và hồi phục hoàn toàn nếu được điều trị sớm, sử dụng kháng sinh đúng và đủ liều các triệu chứng lâm sàng thường khỏi nhanh, sau vài ngày sẽ cắt được cơn sốt, tiểu tiện nhanh trở lại bình thường, bạch cầu niệu giảm, bạch cầu máu cũng giảm, nước tiểu trong trở lại sau 1 – 2 tuần.

    Tuy nhiên, nếu không tuân thủ đầy đủ chỉ định của bác sĩ hoặc điều trị muộn, không đúng thì có thể làm bệnh ngày một nặng hơn, dễ tái phát, chuyển thành mãn tính hoặc dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm như suy thận, hoại tử núm thận, ứ mủ thận, nhiễm khuẩn huyết, tăng huyết áp... Bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm khuẩn huyết, shock nhiễm khuẩn hoặc hội chứng urea máu cao.

    Ở phụ nữ có thai, viêm thận – bể thận cấp là nguyên nhân hàng đầu đưa đến shock nhiễm khuẩn trong thai kỳ, sanh non.

    * Viêm thận – bể thận mãn:

    Viêm thận – bể thận mãn là một bệnh viêm thận ống thận – mô kẽ mãn tính có đặc điểm: viêm ống thận, mô kẽ mãn tính xơ hóa kết hợp với tổn thương ở đài và bể thận.

    Viêm thận – bể thận mãn có thể do hậu quả của quá trình xơ hóa sau viêm thận – bể thận cấp tính hoặc do nhiễm khuẩn dai dẳng và tái diễn. Tổn thương có thể ở một hoặc hai thận, bề mặt thận có một hoặc nhiều sẹo rải rác có kích thước từ 0,5 - 2cm, đài thận tương ứng giãn và biến dạng.

    Nguyên nhân:

    - Cũng như các bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu khác, viêm thận – bể thận mãn thường chỉ do một chủng vi khuẩn:

    + Trực khuẩn gram âm: Escherichia Coli (E. coli), Proteus, Klebsiella, Pseudomonas, Enterobacter… là nguyên nhân gây bệnh trong phần lớn các trường hợp.

    + Cầu khuẩn gram dương: Streptococcus faccalis, Staphylococcus...

    + Trực khuẩn lao di chuyển theo đường máu từ phổi đến thận ở bệnh nhân có lao phổi.

    - Virus, nấm cũng có thể gây viêm thận – bể thận mãn nhưng hiếm gặp.

    - Các yếu tố thuận lợi gây viêm thận – bể thận mãn là:

    + Hiện tượng trào ngược bàng quang – niệu quản: do cơ chế đóng mở van ở lỗ nối niệu quản – bàng quang bị suy yếu bẩm sinh hoặc mắc phải nên khi rặn tiểu hoặc khi bàng quang căng quá van này sẽ đóng không kín, nước tiểu từ bàng quang phụt ngược lên bể thận rồi vào thận mang theo cả vi khuẩn gây bệnh.

    + Tắc nghẽn đường tiểu: thường do sỏi niệu quản, khối u bàng quang... gây ứ nước rồi gây viêm thận – bể thận mãn có nhiễm khuẩn kèm theo, gây ứ mủ ở thận.

    Triệu chứng:

    * Triệu chứng lâm sàng:

    Thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt nên bệnh nhân thường đến bệnh viện muộn. Khi bệnh nhân đến khám có thể biểu hiện các triệu chứng như sốt cao, rét run, đau vùng thắt lưng hoặc đau lan vùng hố chậu, xuyên xuống dưới xương mu, lan ra tận bộ phận sinh dục ngoài; đau tức, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu khó, nước tiểu đục, có khi tiểu ra mủ. Có trường hợp kèm theo tăng huyết áp.

    khotieu-330
    Ảnh: Gettyimages.

    Bệnh nhân có thể có hoặc không có tiền căn viêm bàng quang hoặc viêm đài bể thận cấp.
    Viêm thận – bể thận mãn diễn tiến dần dần đến lúc nặng thì biểu lộ dưới dạng suy thận chức năng. Nếu thận đã bị suy thì bệnh nhân thường mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, thiếu máu...

    * Cận lâm sàng:

    - Xét nghiệm máu cho thấy hồng cầu giảm, bạch cầu tăng cao ở giai đoạn viêm, ứ mủ, có rối loạn về chức năng thận như urê máu cao, creatinin máu cao. Có thể dùng phương pháp thăm dò chức năng thận bằng đo mức lọc cầu thận qua hệ số thanh thải creatinin nội sinh để đánh giá chính xác mức độ suy thận.

    - Chụp X quang có thể phát hiện hình ảnh viêm thận – bể thận như bờ thận không đều, thận nhỏ hơn bình thường. Nếu thấy thận to thì do ứ nước, ứ mủ. Chụp thận có bơm thuốc cản quang tĩnh mạch để đánh giá chính xác mức độ thương tổn, nguyên nhân. Các biện pháp thăm dò chuyên sâu như chụp động mạch thận, thận đồ phóng xạ, siêu âm thận, chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang... giúp cho chẩn đoán và tìm nguyên nhân.

    - Các test hóa học, test enzym, phương pháp định lượng glucose niệu cũng giúp cho chẩn đoán viêm thận – bể thận mãn.

    Điều trị và tiên lượng:

    Viêm thận – bể thận mãn là hậu quả của nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát nhiều lần và nhiều tác nhân kết hợp như bệnh lý trào ngược bàng quang – niệu quản hoặc tắc nghẽn đường tiểu vì vậy cần sử dụng kháng sinh sớm theo chỉ định của bác sĩ và cần loại bỏ các yếu tố thuận lợi như tạo hình sửa van niệu quản – bàng quang, lấy sỏi, cắt bỏ khối u.

    Nếu không được phát hiện và xử trí điều trị kịp thời viêm thận – bể thận mãn có thể dẫn đến suy thận mãn và tử vong.

    Tiên lượng cho mẹ và con tuỳ thuộc vào mức độ tổn thương ở thận (sự lan rộng của tổ chức thận bị phá huỷ), viêm thận – bể thận mãn có thể có những triệu chứng cấp tính cùng lúc mang thai làm tiên lượng xấu thêm. Tuy nhiên, nếu chức năng thận còn tốt và không có cao huyết áp thì thai kỳ có thể tiếp tục không trở ngại.
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]
    • Avatar của Pippa
    • Thành viên
      Offline
    • 7 năm
    • 1,005 Bài viết

    • 3,132 Được cảm ơn

    #3
    Viêm bàng quang ảnh hưởng như thế nào lên thai kỳ?

    Bàng quang là cơ quan quan trọng trong hệ tiết niệu của con người. Bàng quang nằm ở phần bụng dưới, trong vùng xương chậu, ngay sau xương mu. Bàng quang là một túi cơ có thể giãn rộng chứa được khoảng nửa lít nước tiểu (đã lọc qua thận). Khi bàng quang căng đầy sẽ co bóp để tống nước tiểu xuống theo niệu đạo ra ngoài.

    Viêm bàng quang là sự nhiễm khuẩn bàng quang, một hội chứng bao gồm nhiều bệnh lý khác nhau do nhiều nguyên nhân khác nhau. Viêm bàng quang có thể gặp trong cộng đồng nhưng hay gặp hơn trong nhiễm khuẩn bệnh viện.

    bangquang-500
    Ảnh: Gettyimages.

    Khoảng 20% phụ nữ thường xuyên bị viêm bàng quang. Sở dĩ phụ nữ dễ mắc bệnh viêm bàng quang là vì trong số nhiều yếu tố gây lây nhiễm qua đường tiểu thì chủ yếu là do cấu tạo của cơ quan sinh dục nữ: niệu đạo ngắn nên mầm bệnh ở vùng hậu môn thường di chuyển dễ dàng đến bàng quang.

    Viêm bàng quang xảy ra dưới 2% các phụ nữ mang thai, nhiều nhất là vào tam cá nguyệt thứ hai.

    Nguyên nhân:

    - Sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang.

    - Không đảm bảo tuyệt đối vô khuẩn khi thăm khám hoặc khi thực hiện các thủ thuật bằng dụng cụ...

    Vi khuẩn là tác nhân gây bệnh chủ yếu trong viêm bàng quang. Có nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, có loại đi ngược dòng nước tiểu, có loại từ máu đi qua thận rồi xuống bàng quang (như trong nhiễm khuẩn huyết).

    Hầu hết các loại vi khuẩn gây viêm bàng quang là vi khuẩn đường ruột. Đứng hàng đầu trong các vi khuẩn đường ruột gây viêm bàng quang là E.coli sau đó là Proteus mirabilis, Kelbsiela pneumoniae, Enterobacter, Citrobacter, Serrater... Các vi khuẩn này thường từ vùng hậu môn, âm đạo qua niệu đạo xâm nhập vào bàng quang gây viêm bàng quang.

    Nguy cơ mắc bệnh viêm bàng quang tăng lên vào mùa hè, nhất là ở các nước xứ nóng, khi ra mồ hôi nhiều và tiểu ít đi.

    Mặc quần áo quá chật có thể làm tăng nhiệt độ cơ thể, gây ẩm vùng kín, tạo điều kiện cho các vi khuẩn cư trú và phát triển.

    Vệ sinh kém khiến các vi khuẩn sản sinh nhanh nhưng nếu sử dụng quá nhiều các chất diệt khuẩn hoặc không biết cách sử dụng phù hợp các sản phẩm vệ sinh cũng không tốt.

    Tiểu đường, chứng bại liệt, các bệnh thần kinh… làm tăng nguy cơ viêm nhiễm do đọng nước tiểu ở bàng quang. Táo bón làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.

    Một số loại viêm bàng quang cũng phụ thuộc vào đời sống tình dục và sự thay đổi hormon.

    Phụ nữ mang thai có nguy cơ bị viêm bàng quang nhiều hơn vì đây là giai đoạn thay đổi hormon mạnh mẽ nhất. Trong thời gian mang thai đường tiểu của người phụ nữ trở nên mềm hơn và giãn nở hơn, làm tăng nguy cơ bị vi khuẩn xâm nhập do đó dễ mắc chứng viêm bàng quang hơn.

    Triệu chứng:

    Có hai loại: viêm bàng quang cấp tính và viêm bàng quang mãn tính.

    * Viêm bàng quang cấp tính:

    Đây là loại hay gặp nhất trong các loại viêm đường tiết niệu dưới (niệu quản, bàng quang, niệu đạo). Thương tổn chủ yếu xảy ra tại niêm mạc bàng quang với các hình thái phù nề, sung huyết.

    - Các triệu chứng thường xảy ra đột ngột như tiểu buốt kèm theo đau dọc từ niệu đạo lên bàng quang. Đau buốt kéo dài trong suốt thời gian đi tiểu nhất là buốt lúc cuối dòng và còn kéo dài sau khi tiểu hết nước tiểu trong nhiều phút. Do niêm mạc bàng quang bị viêm, dễ bị kích thích làm bệnh nhân lúc nào cũng có cảm giác buồn đi tiểu nên số lần đi tiểu tăng lên và tiểu gấp. Tuy nhiên, vì mỗi lần đi tiểu đều bị đau buốt nên bệnh nhân phải tạm dừng, không tiểu hết nước tiểu. Nước tiểu thường đục ở đầu bãi hoặc toàn bãi, đôi khi nước tiểu có máu (đại thể hoặc vi thể).

    Bệnh nhân thường có cảm giác tức ở vùng dưới rốn (vùng tương xứng với vị trí của bàng quang).

    Mặc dù bệnh nhân có nhiễm khuẩn thực sự nhưng không sốt và cũng thường không có các triệu chứng toàn thân khác đi kèm.

    - Cặn lắng nước tiểu chứa tế bào mủ, vi khuẩn, hồng cầu có khi rất nhiều.

    * Viêm bàng quang mãn tính:

    Nếu viêm bàng quang cấp tính mà không chẩn đoán và điều trị đúng thì rất dễ trở thành viêm bàng quang mãn tính. Do viêm nhiễm bàng quang lâu ngày nên thành bàng quang dày lên, xơ hóa làm cho tính đàn hồi của bàng quang bị suy giảm mỗi lần co bóp để tống nước tiểu ra ngoài nên sẽ có hiện tượng tiểu són.

    Xử trí:

    Viêm bàng quang thường không biến chứng, dễ xử trí. Tuy nhiên, vi trùng có thể lan lên đường niệu trên nên nếu viêm bàng quang không được phát hiện sớm và đã gây biến chứng có thể rất khó điều trị.

    Bệnh nhân không nên tự ý dùng thuốc mà nên đi khám bệnh càng sớm càng tốt để được chẩn đoán xác định. Khi bị viêm bàng quang, cần tuân theo chỉ định điều trị của bác sĩ và các tư vấn kèm theo. Viêm bàng quang được điều trị kháng sinh 7 – 10 ngày. Sử dụng kháng sinh có thể làm giảm nhẹ các triệu chứng trong vài ngày nhưng cần phải điều trị đủ thời gian và liều lượng để diệt hết vi khuẩn ở đường niệu, không nên chỉ uống thuốc một vài ngày thấy hết triệu chứng thì ngừng thuốc vì như vậy sẽ làm tăng thêm tính kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh, nếu bị bệnh trở lại thì việc điều trị rất phức tạp. Nếu điều trị đúng, có thể khỏi bệnh nếu tình trạng nhiễm khuẩn chỉ giới hạn ở bàng quang và niệu đạo.

    Đối với phụ nữ bị viêm bàng quang khi có thai hoặc có test dương tính với vi khuẩn đường niệu ngay lần khám thai đầu tiên thì cũng cần điều trị bằng kháng sinh 7 – 10 ngày (những loại kháng sinh có thể dùng khi có thai). Sau khi điều trị thì làm xét nghiệm nước tiểu lại để xem đã hết vi khuẩn đường niệu ( test âm tính) hay chưa. Nếu vẫn còn vi khuẩn đường niệu thì cần tiếp tục điều trị để phòng ngừa tái phát cho tới khi sinh và nên cấy nước tiểu định kỳ tìm vi khuẩn trong suốt thời gian mang thai để đảm bảo an toàn vì có khoảng 40% phụ nữ bị tái nhiễm. Viêm bàng quang cần phải điều trị dứt bệnh trước khi sinh.

    Phòng bệnh:
    uongnuoc-500
    Ảnh: Gettyimages.

    - Uống đủ nước (mỗi ngày nên uống từ 1,5 - 2 lít nước). Uống đủ nước sẽ giúp cơ thể bài tiết tốt tránh nước tiểu ứ đọng ở bàng quang, có thể hạn chế được viêm nhiễm.

    - Cố gắng đi tiểu đều đặn, tiểu hết nước tiểu trong mỗi lần đi và không được nhịn tiểu lâu vì không tiểu hết nước tiểu hoặc nhịn tiểu cũng gây ra hiện tượng ứ đọng nước tiểu ở bàng quang.

    - Vệ sinh vùng hậu môn và sinh dục sạch sẽ sau khi đại tiểu tiện và sau khi quan hệ tình dục giúp loại bỏ những vi khuẩn có hại đang trú ngụ ở ngay niệu đạo. Phụ nữ có thai càng phải đặc biệt chú ý giữ vệ sinh hơn vì khi có thai có sự thay đổi ở môi trường âm đạo nên rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm.

    - Tránh gây ẩm ướt hay làm tăng nhiệt độ cơ thể. Tránh mặc quần áo quá chật vì sẽ kích thích tiết mồ hôi.

    - Phụ nữ có thai cần được quản lý thai với chất lượng tốt. Tầm soát nhiễm khuẩn niệu bằng xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu.

    - Nếu mắc bệnh viêm sinh dục, niệu đạo không được tự điều trị mà cần đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa Tiết niệu và phải sử dụng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, cần điều trị dứt điểm vì nếu không vi khuẩn sẽ kháng thuốc và bệnh sẽ tái phát, không để bệnh trở thành mãn tính hoặc mầm bệnh lây lan đến bàng quang và đường niệu trên.
    [FONT=comic sans ms][I][B] Đủ bình dị để sống giữa nhân gian, đủ quái dị để không là ai khác [/B][/I][/FONT]