TIN TÀI TRỢ.

Kiến thức âm nhạc truyền thống VN & thế giới - GS Trần Văn Khê

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 1.44K Lượt đọc
  • 4 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 927 Bài viết

    • 166 Được cảm ơn

    #1
    Những bài viết này từ blog của GS TS Trần Văn Khê. Em không biết post ở đâu, để tạm ở đây, mong MOD đừng xóa

    Học mà chơi (Lớp thể nghiệm dạy Âm nhạc Dân tộc truyền thống Việt Nam cho Cấp Tiểu học với phương pháp Sư phạm mời của GSTS Trần Văn Khê)

    Tôi đã dạy Âm nhạc truyền thống Việt Nam cho học sinh Cấp Tiểu học, tại Trường Trần Hưng Đạo, đồng thời trao cho các Giáo viên nguyên tắc phương pháp sư phạm mới của tôi.
    Tôi đã viết tờ báo cáo rành rọt, đầy đủ chi tiết gửi cho Unesco bằng tiếng Pháp, có bản dịch ra tiếng Việt.
    Báo Tuổi trẻ có phỏng vấn tôi và viết lại bài “Tường thuật Chương trình dạy thể nghiệm của tôi”.
    Nhưng theo tôi, chưa có bài nào ngắn gọn, đầy đủ, văn phong giản dị, dí dỏm, đầy thi vị, vừa thuật lại những kỷ niệm dạy học trong ba tuần lễ, vừa tóm tắt nội dung phương pháp Sư phạm mới của tôi bằng bài viết sau đây của Nguyễn Thị Minh Châu :

    MC-Hai-Cha-con-2-Nha-BT


    - Dân gian là ai ?
    - Dạ thưa thầy, dân gian là mình.
    - Mình là ai vậy ?
    - Là thầy, là tụi con.

    TVK-HS-tieu-hoc-THD-2.tif2004.tifTHD
    Mình cũng làm ra được những câu ca dao giống như người xưa, vậy đúng dân gian cũng “là thầy, là tụi con” rồi ! Một phát hiện bất ngờ từ cái lý lẽ rất trẻ thơ làm ánh lên vẻ thích thú trong những cặp mắt thông minh trong sáng. Vẫn là những em nhỏ tuyển chọn ở độ 8 đến 10 tuổi, mặt mày hết sức trang nghiêm trong lễ khai mạc chương trình thể nghiệm đưa âm nhạc cổ truyền vào tiểu học[1] - không nghiêm trang sao được, vì đây không những là lần đầu tiên các em được tiếp xúc mà còn vinh dự được làm học trò của một nhân vật tầm cỡ quốc tế, giáo sư Trần Văn Khê ! Vẫn là những học sinh ngoan ngoãn, quen tuân thủ kỷ luật trong lớp tay khoanh trên bàn chăm chú nghe giảng, nhưng chỉ vài giờ sau, vài buổi sau các em như được thoát ra khỏi cái vỏ cứng nhắc thụ động để trở lại làm đứa trẻ hồn nhiên đối đáp và ganh đua, hào hứng bắt chước và kiếm tìm trong cuộc chơi bao nhiêu điều mới lạ.
    Thực ra lúc đầu bọn trẻ vẫn ngồi im re dù vị Giáo sư già nói ngay “Thầy đến đây không phải để dạy mà để chơi với các con”. Ông bày cho các em vỗ tay theo nhịp từ dễ đến khó, rồi tập cho hai nhóm cùng “hòa tấu” luân phiên nhóm này “cầm chịch” theo nhịp một, nhóm kia chẻ nhịp đôi. Các em vỗ tay lên mặt bàn, vừa ngó nhau nghe nhau vừa cười rạng rỡ. Âm thanh rộn rã của dàn nhạc gõ có một không hai này đã xóa hết cái vẻ rụt rè ban đầu và làm bừng lên một không khí vui chơi tập thể. Cứ thế, phòng học biến thành phòng chơi, nhạc cụ cổ truyền là những món đồ chơi, bài học về âm nhạc cổ truyền là trò chơi, thầy giáo là người cùng chơi. Người hướng dẫn trò chơi muốn đưa các em đến với tiết tấu trước khi tiếp xúc với giai điệu, theo đúng quy luật tự nhiên, con người ta có thể cảm nhận được mạch đập trái tim từ trong bào thai và muôn vàn tiết tấu cuộc sống ngay khi mới chào đời : nhịp thở ra hít vào, bàn tay mẹ vỗ về, cánh tay mẹ đong đưa, chân đi tới đi lui
    Trò chơi tiết tấu càng thêm rôm rả với chiếc trống trong tay, các em làm quen dần từ nhịp trường canh đến nhịp đôi nhịp tư và khó thêm chút nữa là nhịp ngoại nhịp chỏi. Tập phân biệt âm sắc cao thấp, sáng tối, trong đục tương ứng với dương và âm qua các lối gõ trên mặt trống, tang trống hay bìa trống ..., tập đánh trống bằng miệng “tong táng tịch” để luyện lỗ tai và trí nhớ trước khi có phản xạ của bàn tay, các em còn thi nhau đặt ra hàng loạt câu trống miệng để đố nhau gõ lại trên trống thật. Lớp học biến thành gánh hát Bội, các con đứa nào đứa nấy mặc sức sáng tạo theo cách của mình để cùng hợp lại thành dàn trống tưng bừng đệm cho thầy diễn vai thầy Rùa. Những pha “vui thiệt vui” đó đã làm cho hát Bội cũng như hát Chèo không còn là những khái niệm xa vời vợi với các em nữa.
    Từ tiết tấu chuyển dần tới cao độ, mỗi em có một thanh tre ứng với các bậc hò xang xê. Gõ một mình mãi một độ cao cũng chán, hai đứa cùng chơi “tàng tang” cũng mau nhàm, ba đứa hợp lại “tàng tang táng” loạn xạ một hồi nghe có xôm hơn mà vẫn chưa hay. Thầy kêu cả ba tới nghe thầy hát cho nhớ rồi gõ lại, vẫn chỉ ba bậc đó thôi mà ra bài ra bản đàng hoàng và rất vui. Các em lại tự đúc kết một chân lý thật giản dị như dân gian:
    Một thanh làm chẳng nên đàn
    Ba thanh chụm lại nên dàn nhạc tre.
    Không đặt câu ca dao có sẵn lên miệng trò, thầy luôn khơi gợi cho trò chẳng những tự tìm thấy câu ca dao xưa, mà còn biết “chế” ra câu mới theo cách xưa, rồi từ những câu ca dao đó mỗi đứa tùy hứng ngâm nga, tự nhiên thành câu hát. Những thanh tre, những món đồ chơi rất giản đơn giúp cho các em dễ dàng nhớ được các chữ nhạc cổ truyền, và như một trò chơi chữ nghĩa, các em đua nhau đặt lời mới bằng cách thay từ cùng dấu giọng với hò xự hò, xang xự xang trên giai điệu bài Long hổ hội.
    Vỗ tay gõ trống, làm thơ đặt vè, hát hò múa võ rất nhiều trò để vui chơi và thi thố. Bọn trẻ thả sức thể hiện mình, chủ động đối thoại với thầy, hồn nhiên bày tỏ cảm nghĩ của mình và rất tự tin khi được quyền quyết định nhiều chuyện. Các em tự chọn ra bức tranh đẹp nhất lớp trong cuộc thi vẽ cây đàn cổ truyền và người thắng cuộc được quyền chọn lấy phần thưởng, hoặc mười ngàn, hoặc gói kẹo. Thầy lặng người khi em từ chối cả kẹo lẫn tiền và xin :
    - Thầy cho con tấm ảnh thầy, đằng sau ghi thầy tặng con vì con đã vẽ cây đàn đẹp nhất để con mang về khoe ba mẹ.
    Giờ giải lao trò cũng không chịu rời thầy, đứa đòi tháo vòng cổ tặng thầy, đứa mang củ khoai lang “con ăn thấy ngon quá phần thầy một củ”, thầy bóc ăn mà thấy lòng ấm áp tình thương. Chúng thương thầy là chúng bắt đầu biết thương âm nhạc cổ truyền, chúng tự hào về bản thân cũng biết làm như dân gian là chúng bắt đầu biết tôn trọng và tự hào về vốn cổ. Riêng cái việc các em tự đặt tên gọi cho nhóm của mình là “Đồng quê” và “Dân ca” cũng đủ thấy tấm lòng dành cho thầy đã dẫn dắt tới ý thức về nguồn ở những con người nhỏ bé này :
    - Nếu không vì biết thầy tha thiết với nhạc cổ truyền, thì các con lấy tên gì ?
    - Coca cola !
    Ai nghe cũng bật cười, cười rồi lo trước cái nguy cơ trẻ thơ có thể từ bỏ đồng quê dân ca, đánh đổi cội nguồn bằng nền văn minh coca cola lúc nào không hay.
    20 tiết trong vòng 10 ngày được “chơi” cùng Giáo sư Trần Văn Khê, bọn trẻ biết nhiều hơn cả năm học ở trường. Các Cô giáo cũng vậy, dù không nhanh nhạy như con nít (nên các cô cứ năn nỉ “đừng dạy tụi con chung với lũ nhỏ, mắc cỡ lắm !”), nhưng ba tuần lễ được làm học trò của Thầy Khê và được học ở Thầy cách làm Thầy, các Cô hiểu biết về âm nhạc dân tộc Việt Nam nhiều hơn bốn năm đèn sách tại Trường Sư phạm. Điều quan trọng nữa là các Cô được tai nghe mắt thấy những nguyên tắc dạy học “rất Trần Văn Khê”: học mà chơi, chơi mà học, học từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, có sáng tạo chứ không vẹt, nhận biết qua tai và trí nhớ trước khi đọc bằng mắt
    Tình cờ gặp các Cô đến thăm Thầy, tôi thấy các Cô giáo quấn quýt bên Giáo sư chẳng khác gì con nít (thì chính bản thân các Cô cũng còn quá trẻ, tuổi đời cách Thầy trên dưới nửa thế kỷ). “Cho con ôm Thầy một cái !” - mỗi lần vòng tay ôm là một số đo, ba lần ôm đủ số đo ba vòng và hôm sau Thầy nhận được món quà là chiếc áo thổ cẩm vừa như in.
    Xem cuốn băng ghi lại toàn bộ chương trình thể nghiệm của Giáo sư Trần Văn Khê mới hiểu hết được tình cảm quyến luyến mà các em nhỏ và các Cô giáo trẻ dành cho ông. Tôi tiếc cho đứa con gái 8 tuổi của tôi chưa bao giờ được “chơi mà học” như vậy. Và tiếc cho bao nhiêu em bé, cho cả một thế hệ trẻ con của chúng ta chẳng biết đến bao giờ mới được “học mà chơi” ?
    13-01-2005
    Nguyễn Thị Minh Châu

    [1] Chương trình thí điểmcủa UNESCO do giáo sư Trần Văn Khê thực hiện với một lớp gồm 20 học sinh tiểu học và một lớp 20 giáo viên tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh hè năm 2004.

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 927 Bài viết

    • 166 Được cảm ơn

    #2
    BIỂU DIỄN VÀ PHÂN TÍCH NHẠC VIỆT


    TẠI CÁC NHẠC VIỆN BẮC KINH

    Tại Bắc Kinh có hai Âm Nhạc Viện: Trung Quốc Âm Nhạc Viện là nơi chuyên dạy nhạc truyền thống Trung Quốc, nhạc dân tộc Mông Cổ, vài nước Châu Á và Trung Ương Bắc Kinh Âm Nhạc Viện chuyên dạy nhạc phương Tây, mà cũng có “Khoa dân tộc” dạy đàn “gu qin” (Cổ Cầm), “gu zheng” (Cổ Tranh), “pi pa” (Tỳ Bà), “di zi” (địch tử, ống địch, ống sáo). Mấy hôm trước, tôi đã được mời đến Trung Quốc Âm Nhạc Viện nghe “Ngũ Kim Hoa” diễn tấu nhạc truyền thống Trung Quốc. Hôm nay, Ban tổ chức mời tôi đến Trung Ương Âm Nhạc Viện để thuyết trình về “Nhạc truyền thống Chấu Á”.
    Buổi thuyết trình kéo dài trong ba tiếng đồng hồ, sẽ cử hành tại đại giảng đường của Âm Nhạc Viện. Sẽ có trên 60 Giáo sư và hơn hai trăm sinh viên đến nghe. Tôi sẽ nói bằng tiếng Pháp và bà Liu, thông dịch viên của tôi sẽ dịch ra tiếng Trung Quốc. Lần đi dự Hội nghị này, cùng đi có cậu Cheng Shui Cheng (Trịnh Thụy Trinh, con trai mà có tên nghe con gái quá!), môn đệ của tôi tại Đại học Sorbonne, đã bảo vệ Luận án Tiến sĩ về Âm nhạc học với đề tài “Kỹ thuật đàn Tỳ Bà”. Trong buổi nói chuyện hôm nay, cậu Cheng lo rọi dương bản (diapositive, hình rọi màu) và nếu cần, giúp bà Liu dịch những danh từ chuyên môn về âm nhạc.
    Trung Ương Âm Nhạc Viện đồ sộ hơn Trung Quốc Âm Nhạc Viện nhiều. Phòng họp, phòng hòa nhạc, giảng đường, thính đường rất rộng. Viện có năm, sáu từng lầu. Có cả Bảo tàng viện nhạc khí. Lúc đi vào giảng đường tôi tự nghĩ hoàn cảnh của mình khá đặc biệt. Là người Việt Nam, dân của một nước mà từ trước đến giờ bị coi là “đàn em”, nếu không phải là người đại diện cho Hội đồng quốc tế âm nhạc do Unesco đề cử tham dự Hội nghị, thì chưa chắc đã được mời tham luận, chớ có đâu được mời giảng tại Trung Ương Âm Nhạc Viện là nơi đào tạo nhạc sĩ cho Trung Quốc và nhiều nước Châu Á. Các bạn có lẽ cũng nhớ rằng, trong năm 1987, tiếng súng còn nổ tại biên giới Hoa Việt và liên hệ ngoại giao giữa hai nước chưa được tốt đẹp lắm. Mà nói đến nhạc Châu Á thì thế nào tôi cũng đề cập đến nhạc Việt Nam!
    Tám giờ sáng, thính giả đã đến chật giảng đường. Giữa chỗ ngồi của diễn giả và thính giả, Ban tổ chức có cho đặt một cây đàn Tranh Trung Quốc 21 dây. Tôi nghĩ chắc ông chủ toạ buổi họp hôm nay sẽ mời mình đàn Tranh, nên tôi đến nhún thử dây. Dây quá cứng, không thể nhấn sâu được. Chắc không dùng được cây đàn Ban tổ chức đã chuẩn bị. Mà tôi không có mang đàn của tôi. Một là vì lần này được mời dự Hội nghị chớ không có được mời biểu diễn; hai là bên Trung Quốc chắc là có bao nhiêu đàn Tranh đẹp. Nhiều nhạc sĩ còn đến Bắc Kinh tay không để lúc về xách một cây đàn mua tại đây về làm kỷ niệm. Đang suy nghĩ chưa biết tính lẽ nào thì ông Giám đốc Nhạc viện bắt đầu giới thiệu diễn giả: Giáo sư tại Sorbonne, Giáo sư chỉ đạo nghiên cứu trong Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco). Lẽ tất nhiên là không có nói rằng diễn giả là người Việt Nam. Đề tài thuyết trình “Những truyền thống âm nhạc Châu Á”. Nhưng ông Giám đốc biết tôi là Nhạc sĩ Việt Nam, nên có thêm câu: “Chúng tôi được biết là Giáo sư chẳng những làu thông về lý thuyết, mà lại còn là một danh cầm. Chúng tôi có đặt sẵn cây đàn ‘gu zheng’ và mong rằng Giáo sư để chút thì giờ cho chúng tôi thưởng thức tài nghệ”.
    Trước khi vào đề tài tôi rào trước mấy câu: “Xin trân trọng cám ơn ông Giám đốc giới thiệu nồng hậu. Và tôi cũng không dám phụ lòng của các bạn Nhạc sư, Nhạc sĩ Trung Quốc. Nhưng lúc mới vào giảng đường, tôi có thử qua cây đàn thường được gọi là ‘gu zheng’ (cổ Tranh). Thật ra đó là đàn ‘xin zheng’ (tân Tranh), đàn đã được đổi mới. Tiếng đàn vang to mà dây đàn căng rất cứng, khó mà nhấn nhá. Tôi sinh ra trong một gia đình 4 đời là Nhạc sĩ Việt Nam (lại xưng tên họ, cho biết luôn xứ sở nữa). Theo truyền thống Việt Nam, thì bàn tay mặt là bàn tay ‘sinh đẻ’ ra âm thanh. Bàn tay trái là bàn tay ‘nuôi dưỡng và làm đẹp’ âm thanh. Nếu sanh ra mà không nuôi dưỡng, thì không sanh ra làm gì. Vì vậy mà tôi không thể dùng cây đàn mà các bạn đã để sẵn trong phòng này. Hoạ chăng, với cây ‘gu zheng’ mà tôi thấy trong Bảo tàng viện, thì có thể tôi đàn vài bản cho các bạn nghe”.
    Tôi ao ước được như thế. Không ngờ, trong lúc tôi thuyết trình về nhạc Châu Á, định vị trí của mỗi truyền thống trong những khu vực văn hoá, nêu lên những tính đặc thù của âm nhạc trong mỗi khu vực, về nhạc cụ, thang âm và phong cách biểu diễn, Ban tổ chức đã cho đi mượn cây đàn ‘gu zheng’ trong Bảo tàng viện, cho lau bụi bặm và lên dây xong xuôi, đặt ngay giữa giảng đường chờ tôi thuyết trình xong đến phần minh hoạ.
    Hôm nay, tôi bắt đầu bằng tiếng Pháp. Nhưng có một Giáo sư Trung Quốc xin tôi nói bằng tiếng Anh, vì trong số Giáo sư, chỉ đôi ba người hiểu tiếng Pháp, mà đến hơn 20 Giáo sư thông thạo tiếng Anh. Do đó, cậu Cheng, môn đệ của tôi phải đứng ra làm thông dịch.
    Hết phần lý thuyết, tôi bước qua thực hành. Sau khi thử qua dây đàn tôi giới thiệu nhạc Việt Nam:
    “Tôi xuất thân từ một gia đình 4 đời Nhạc sĩ. Truyền thống gia đình tôi là truyền thống Miền Nam. Đàn Tranh Việt Nam, giống như đàn ‘gu zheng’ của Miền Nam Trung Quốc, tức là có 16 dây sắt, trong khi ‘gu zheng’ của Trung Quốc Miền Bắc thì có 13 dây. Mà thường dùng dây tơ. Hôm nay tôi phải dùng đàn ‘gu zheng’ của Trung Quốc, mà các bạn đã cho lên dây theo ‘Zheng gong diao’ (chánh cung điệu). Đàn Việt Nam lên dây như vậy gọi là lên dây Bắc. Hai cách lên dây đều cùng theo thang âm ngũ cung. Và các chữ đàn cũng được gọi tên như nhau. Chúng tôi gọi là Hò, xự, xang, xê, cống. Người Trung Quốc gọi là He, shi, shang, zhi, gong. Nhưng khi đàn bản theo điệu Bắc thì chúng tôi phải rung hai chữ xự và cống, trong khi đàn theo người Quảng Đông, thì đến chữ xự và cống phải mổ”. Nói xong tôi cho thí dụ và đàn thử hai câu, một câu theo phong cách Việt Nam, một câu theo phong cách Trung Quốc. “Các bạn đã biết bài “Yu da ba xiao” (Vũ đả ba tiêu: Mưa rơi trên lá chuối). Nếu tôi đàn đến chữ xự, chữ cống mà tôi mổ dây đàn, thì các bạn nghe giống nhạc Quảng Đông. Nếu tôi rung hai chữ đó thì các bạn nghe giống nhạc Việt”. Nói xong tôi đàn theo hai cách. Đến khi rung chữ xự, chữ cống, thính giả cười ầm lên mà nói: Yuenan! Yuenan! (Việt Nam! Việt Nam!). Dầu tôi đàn bản Vũ đả ba tiêu, là nhạc Trung Quốc, nhạc Quảng Đông, hễ rung chữ xự, chữ cống thì nghe giống nhạc Việt Nam.
    Một nhạc khí, một cách lên dây, một bản nhạc chưa có đủ điều kiện để định rõ dân tộc tính. Phải có người nhạc sĩ cạnh cây đàn mới có khả năng thể hiện được dân tộc tính. Cây đàn này là ‘gu zheng’ của Trung Quốc. Lại lên dây theo ‘Zheng gong diao’ (Chánh cung điệu) của Trung Quốc. Nhưng xin phép các bạn cho tôi bắt cây đàn Trung Quốc nói tiếng nhạc Việt cho các bạn nghe.”
    Đàn lên dây Bắc, nhưng tôi đàn hơi nhạc lễ trong bài ‘Ngũ đối hạ”, rồi tôi chuyển sang dây Nam, dùng luyến láy đặc thù của hơi Xuân, đàn hai lớp rưỡi Nam Xuân. Cuối cùng, tôi chuyển sang qua hơi Sa mạc để ngâm thơ.
    Sinh viên Trung Quốc rất thích thú và nói rằng chưa bao giờ nghe ai giảng về sự quan trọng của luyến láy và cách rung mổ trong khi đàn như vậy.
    Hôm sau, Ban tổ chức mời tôi thuyết trình về phương pháp phân tích một bài dân ca tại Viện Nghiên cứu âm nhạc. Tôi lại chọn một bài hát quan họ “Mời giầu” để phân tích dưới ba phương diện: dân tộc học, âm nhạc học và ngôn ngữ học. Bài hát quan họ mà tôi đã ký âm được chụp thành 150 bản (photocopy) để cho 60 Giáo sư, chuyên viên nghiên cứu âm nhạc và non 100 sinh viên theo dõi cách phân tích của tôi. Tôi lại có dịp nói qua về 49 làng quan họ trong tỉnh Bắc Ninh, nói về phong tục “kết bạn”, về những canh hát quan họ bắt đầu bằng những bài hát chào mừng, rồi hát lề lối, sau đó đến hát vặt, những tình ca, đi lần đến lúc chia tay, hát những bài giã bạn, chia tay phải cả giờ mới xong vì “đêm ngắn, tình dài”.
    Ban Giám đốc rất thích, không ngờ rằng một bài hát chỉ 01’45’’ mà phải phân tích trong hơn 3 tiếng đồng hồ và ngỏ ý muốn mời tôi năm 1989 sang giảng trong 1 hoặc 2 tháng!
    Vì nhiều lý do, tôi không trở lại Trung Quốc năm 1989, nhưng trong chuyến đi năm 1987, tôi rất vui vì đã cho các Giáo sư và sinh viên Trung Quốc thấy những nét đặc thù trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

    Trần Văn Khê
    • 927 Bài viết

    • 166 Được cảm ơn

    #3
    Tản mạn về tiếng Hát ru



    mecon




    Tôi còn nhớ thuở nhỏ, tôi rất thích đi từ nhà tôi đến chợ cá làng Vĩnh Kim, dọc theo con sông Sầm chảy từ Chợ Giữa dến Rạch Gầm, vì trong nhiều nhà vọng ra tiếng bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em. Tôi thường đến nhà chị Thìn mua cốm, không phải cốt để có miếng cốm bắp nhai dòn trong miệng, mà thật ra đề nghe giọng ru cháu của chị, ngọt ngào, êm ái, rót vào tai đứa bé, nhưng cũng lọt vào tai thấm vào tim tôi, một đứa bé mồ côi cha mẹ từ thuở lên mười, và thèm nghe tiếng ru em như thèm bàn tay ấm vuốt ve của Mẹ.


    Vậy mà từ khi trở lại làng xưa, tìm con đường cũ, đi vào cả xóm vắng, cũng không nghe được câu hát ru em nào cả.



    Phải chăng tiếng hát ru đã tắt trên môi các bà mẹ? Cuộc sống ngày nay, tiếng ru em thường phải nhường chỗ cho giọng ca tân nhạc, tiếng đàn organ tấu nhạc nước ngoài làm náo động không gian yên tĩnh của mỗi gia đình. Tiếc thay!



    Trong thế hệ của chúng tôi, nét nhạc đầu tiên đến với con người từ lúc mở mắt chào đời là qua tiếng hát ru. Cùng một lúc với dòng sữa ấm của mẹ truyền sang cơ thể của em bé, những câu thơ dân gian, một điệu nhạc dân tộc được rót vào tiềm thức của em bé. Bài «giáo dục âm nhạc» đầu tiên đó được ghi vào «bộ nhớ» của đứa trẻ để khi khôn lớn nên người, tình thương mẹ sẽ gắn liền với tình yêu thi ca âm nhạc dân gian.

    060423-Me


    Ngoài việc tạo nên tình cảm đối với đất nước, văn hoá truyền thống, tiếng hát ru còn trang bị cho lớp trẻ một cơ sở nghệ thuật để sáng tạo những bài ca dân tộc. Thanh niên, thiếu nữ trong nông thôn không hề học nhạc trong một trường nhạc hay Nhạc viện nào, vậy mà khi lớn lên, gặp gỡ nhau trong lúc đi cày đi cấy, cất lên những câu hò tình tứ đưa duyên, đó chính là nhờ vốn liếng thi ca nét nhạc tiếp thu từ những bài hát ru nghe thuở nằm nôi.



    Đâu phải sự tình cờ mà câu hò Tiền Giang, hay cả Hò Đồng Tháp, bài Lý con sáo Bến Tre cùng chung một cấu trúc âm thanh với những điệu hát ru Ầu ơ, Ví dầu của miền Nam, bài Hát thai cùng chung một thang âm có hai quãng tư chồng chất như điệu ru em miền Trung, và đoạn đầu trong bài quan họ «Mời giầu» kể cả nét nhạc cơ bản trong ca trù «Tính tinh tang tình tính tinh tang» cùng một cấu trúc âm thanh với điệu hát ru tại lưu vực sông Hồng.



    Cuộc sống ngày nay có bận rộn hơn xưa, người mẹ thường phải đi làm, gởi con nhà trẻ, có bao nhiêu bài ca bản nhạc từ Đài phát ra không phải thay tiếng hát ru để đưa em bé vào giấc ngủ êm đềm, mà gieo tiết tấu kích động vào tiềm thức non nớt của trẻ thơ.



    Nếu nói rằng người mẹ ngày nay ở Việt Nam phải bị quay cuồng theo nhịp sống, thì ở Việt Nam so với các nước Âu Mỹ còn nhàn nhã hơn nhiều. Vậy mà tôi còn bắt gặp được tiếng mẹ ru con tại Honolulu (Hawai, Hoa Kỳ) và Toronto (Canada). Khi tôi đến Hà Lan để giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam cho các bạn Việt kiều bên ấy, tôi đã gặp được một gia đình Việt Nam, hai vợ chồng còn trẻ đều đi làm, vậy mà người vợ vẫn còn thì giờ dỗ con ngủ bằng những câu hát ru Việt Nam. Đứa bé vừa chập chững đi đã bập bẹ đôi ba câu tiếng Việt. Khi được cha hỏi: «Mẹ con ru con thế nào?». Bé bắt chước mẹ ngâm nga: «Ví dầu con cá nấu canh…». Tôi vô cùng xúc động.

    241mautu2


    Việc giữ gìn tiếng hát ru trong đời sống hằng ngày, tuy có phần khó khăn trong nếp sống hiện nay, nhưng không phải không làm được.

    Khi tôi phụ trách dạy môn âm nhạc dân tộc tại Trường Đại học dân lập Hùng Vương, có mấy em viết thư cho tôi hứa rằng: «Sau nầy con sẽ tự mình ru con của con ngủ để nó không chịu thiệt thòi vì mất bài giáo dục âm nhạc đầu tiên như thầy đã dạy».



    Nhiều nhà văn, nhà thơ đã sưu tầm nhiều lời ru cũ, đặt lời ru mới như nhà thơ Lê giang tại Việt Nam, Lệ Vân, Ngọc Sương tại Canada.


    Gần đây có những băng ca-xết (cassette) và băng video về Hát ru được phát hành, chứng tỏ rằng trong xã hội Việt Nam ngày nay, cũng còn một số người yêu chuộng tiếng hát ru.



    Ngoài ra cũng có những cuộc Liên hoan Hát ru được tổ chức.


    Tôi có may mắn được dự Liên hoan Hát ru đầu tiên do Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa (Viện trưởng lúc ấy là Cố Giáo sư Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước), cùng với Sở Văn hoá Thông tin, Đài Truyền Hình Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Thành Phố vào đầu năm 1989. Lần đó có 44 người tham dự gồm 9 nam và 35 nữ, trẻ nhứt 17 tuổi, cao niên nhứt 74 tuổi. Một đại biểu Quận 5 giới thiệu bài «Gà trống nuôi con» bằng tiếng Quảng Đông rất dí dỏm. Cố Nhạc sĩ Xuân Hồng giới thiệu nhiều câu «Hát ru đối đáp» rất độc đáo. Đài Truyền hình ghi âm, ghi hình được cà ngàn câu hát ru 3 miền đất nước Việt Nam.Và nhiều câu Hát ru vùng Tây Nguyên. Tư liệu đó nay được tàng trữ nơi đâu?



    Trong những năm sau nhiều Liên hoan Hát ru được tổ chức liên tiếp, bổ sung thêm những điệu Hò. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe nhiều bạn trẻ hát ru rất đúng hơi đúng giọng, hay cất tiếng hò ngọt ngào theo giọng Bến Tre, Cần Thơ, Bạc Liêu và Đồng Tháp.



    Hôm các em trúng giải biểu diễn trong chương trình Đài truyền hình, tôi có được mời phát biểu. Tôi đã bày tỏ niềm vui khi thấy nhiều em trẻ tuổi ru hay hò giỏi. Nhưng theo tôi, đây chỉ là bước khởi đầu. Các bạn học hỏi, luyện tập công phu nhằm «tham dự» liên hoan, để có cơ hội biểu diễn trên Đài truyền hình. Tôi ước ao sao tiếng Hát ru được bà ,mẹ, chị sử dụng trong cuộc sống hằng ngày, để đưa em bé vào giấc ngủ êm đềm. Chừng đó chúng ta mới có thể vui mừng rằng Hát ru đã được hồi sinh. Mong rằng ngày ấy sẽ không xa.



    Chúng tôi rất hoan nghinh công trình của Lê Giang-Lư Nhất Vũ, đã lặn lội đi khắp các vùng đồng quê miền Nam, ghi lại rất nhiều bài hát ru từ lâu đã bị chìm trong quên lãng. Nhà thơ Lê Giang, chẳng những sưu tầm, giữ gìn vốn cổ, còn làm giàu cho di sản cha ông để lại bằng cách đặt những lời ru, câu hò điệu lý mới.

    MeRuCon

    Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài «Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa» đã nhắc đến việc hát ru góp phần đào tạo ra bản sắc của người Việt Nam:



    Mẹ ru cái lẽ ở đời
    Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn.


    Và lo rằng mai sau chẳng biết hát ru có còn được giới trẻ nhớ không?

    Bà ru mẹ…mẹ ru con
    Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?


    Cố thi sĩ Nguyễn Hải Phương như tiếp lời nhà thơ Nguyễn Duy

    Lời ru từ mẹ sang con
    Từ con sang cháu mãi còn À ơi!


    Và tin tưởng rằng Lời ru mãi còn, không thể tắt.



    Khi lời ru lắng trong tôi
    Trèo non, non thấp, ra khơi khơi gần.


    Và quyển sách của Lê Giang sẽ góp phần làm cho Lời ru sống mãi trong tim của mọi người.

    Trần Văn Khê
    Một chiều Hè 16/7/2004
    Tại Vùng ngoại ô Paris.Vitry/Seine
    • 927 Bài viết

    • 166 Được cảm ơn

    #4
    ÂM NHẠC PHẬT GIÁO VÀ ÂM NHẠC DÂN TỘC



    GSTS Trần Văn Khê



    32_TieuDocKinh


    Chúng ta đang sống trong những ngày rộn ràng của đại lễ Phật Đản, một lễ hội văn hoá tâm linh mang tầm thế giới. Nhân dịp này, tôi xin lược ghi một số nhận xét về sự liên quan giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc, xem như góp một bông hoa nhỏ kính mừng ngày lễ hội tôn giáo trọng đại mà cả nước đang nô nức đón mừng.

    Nét đặc thù của âm nhạc Phật giáo

    Trước hết, điểm độc đáo của âm nhạc Phật giáo là không hề có khuôn mẫu cố định.Xuất phát tại Ấn Độ với cách tán tụng theo truyền thống Veda, nhưng nhạc Phật giáo ở từng quốc gia đều được bản địa hóa theo tính cách đặc thù của mỗi nước và thường được thể hiện theo âm nhạc truyền thống của nơi đó. Cùng một bài kinh mà nét nhạc thay đổi tuỳ quốc gia, tùy trường phái, thậm chí tùy từng vùng. Chẳng hạn cùng niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà hai miền Nam, Bắc ở nước ta niệm khác nhau, theo thang âm điệu thức câu hát ru của mỗi miền; còn tại Hongkong hay Singapore thì tăng ni niệm theo thang âm nhạc Quảng Đông.

    img_6offerings_400
    monks%20small
    sarasvati

    Ngoài ra, nhạc Phật giáo luôn luôn liên quan đến các nghi thức hành lễ, như nghi tiết tại chùa (ba thời kinh sáng, trưa, chiều), nghi tiết trong tang ma, trong lễ hội tôn giáo lớn như Phật đản, Vu Lan ....

    Nhạc Phật giáo lại đặt trọng tâm vào thanh nhạc hơn khí nhạc. Ngoài phong cách tụngtán quen thuộc trong các cuộc lễ tế, còn có trì, niệm, bạch, xướng, thỉnh, đọc,, tùy theo loại kinh hay trình tự của một thời kinh.

    Quá trình phát triển âm nhạc Phật giáo Việt Nam

    cd260082

    Đạo Phật du nhập vào nước ta từ rất sớm, nhưng phát triển rực rỡ nhất là vào thế kỷ X với triều Lý. Trên những phiến đá của chân cột chùa Phật Tích (Bắc Ninh) – một trong những di tích Phật giáo tiêu biểu của thời Lý – có chạm khắc hoa sen cùng hình dàn nhạc công đang tấu nhạc dân tộc, với ý nghĩa hướng dẫn chúng sinh vào con đường của đạo pháp. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, thời kỳ đó các vua thường cất chùa trước khi xây dựng cung điện, và dàn nhạc tôn giáo cũng có thể đồng thời dùng cho dàn nhạc cung đình. Điều này cho thấy, từ thời nhà Lý âm nhạc Phật giáo đã có liên quan mật thiết với âm nhạc dân tộc.

    Đến đời nhà Trần, Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo và tiếp tục thời kỳ phồn thịnh. Theo sử sách, khi Thượng Hoàng Trần Nhân Tôn băng hà ở núi Yên Tử vào năm 1308, hỏa cốt của ngài được mang về kinh sư, sau đó triều đình rước về chôn ở Phủ Long Hưng (Thái Bình). Bá tánh nghe tin ấy đã cùng nhau tụ tập đầy nghẹt chung quanh cung điện để tiễn đưa linh cửu vị vua anh minh. Thấy khó lòng xua dân dãn ra, một vị quan là Trịnh Trọng Tử nghĩ ra cách tập hợp quân sĩ và cho hát bài “Long ngâm” tại sân Thiên Trì để thu hút thiên hạ lại nghe, nhờ đó mới có thể di quan. “Long ngâm” là bài nhạc dùng trong chùa vào những ngày lễ lớn, cho thấy trong cung đình lúc bấy giờ rất thường sử dụng nhạc Phật giáo.

    Đến đời nhà Lê, năm 1437 vua Lê Thái Tôn giao cho Nguyễn Trãi và Lương Đăng định lễ nhạc, nhưng do quan điểm về Nhã nhạc bất đồng nên Nguyễn Trãi dâng sớ thoái thác. Vì thế, Nhã nhạc nhà Lê đều do một tay hoạn quan Lương Đăng phỏng theo quy chế nhạc cung đình nhà Minh mà thực hiện. Âm nhạc Phật giáo cũng vì thế mà lắng xuống.

    Qua đời nhà Nguyễn, cũng không nghe nhắc đến nhạc Phật giáo trong các quyển Lê Triều Hội điển, Lịch triều hiến chương loại chí Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

    Tuy không được coi trọng ở các đời vua sau, nhưng nhạc Phật giáo vẫn được sử dụng nghiêm túc trong nhà chùa. Các cách tán tụng vẫn bảo tồn theo âm hưởng từ thời xa xưa và được phát triển ngày càng phong phú.

    Sang thời kỳ cận đại, có vài sự thay đổi trong tinh thần giản dị hoá nghi thức Phật giáo, mà đáng lưu ý là những thay đổi trong những dàn nhạc lễ miền Nam với việc sử dụng hai nhạc khí nước ngoài là ghita phím lõm và organ để phụ họa theo những bài tán trong các lễ hội. Đàn ghita phím lõm, vốn thông dụng trong những dàn nhạc tài tử cải lương, tuy đã được Việt Nam hóa nhưng âm sắc sôi động của nó không mang lại không khí trang nghiêm cần thiết trong lễ hội tôn giáo. Riêng đàn organ còn làm cho bản sắc dân tộc bị lu mờ hơn nữa. Chúng ta đừng quên âm nhạc Phật giáo rất gần gũi với văn hoá dân tộc. Trong thời kỳ hội nhập, người nước ngoài có dịp dự một lễ hội Phật giáo, khi nhìn thấy cây đàn ghita Tây Ban Nha, đâu có biết rằng đó cây ghita phím lỏm,và nhứt là lại thấy đàn organ thì sẽ nghĩ rằng âm Nhạc Phật giáo đã bị Âu hóa, và đã thành “Nhạc ngoại lai” chớ không còn là Nhạc Phật giáo Việt Nam nữa.

    Liên quan mật thiết giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc

    DearThay

    Âm nhạc Phật giáo dân tộc có khá nhiều điểm tương đồng với âm nhạc truyền thống, từ nét nhạc, thang âm, điệu thức, tiết tấu đến nhịp phách; chỉ khác nhau về mục đích. Âm nhạc truyền thống giúp người nghe thưởng thức nghệ thuật, còn âm nhạc Phật giáo nhằm mang lại cho người nghe (hay người đọc) một trạng thái tâm hồn an tịnh, thanh thản hầu thấu cảm giáo lý nhà Phật. Nhạc Phật giáo hướng nội, trong khi nhạc nghệ thuật hướng ngoại. Nhưng không phải vì thế mà âm nhạc Phật giáo không mang tính chất nghệ thuật. Nét nhạc và cách tán các bài như Dương chi tịnh thủy (Nhành dương liễu rải nước cam lồ xuống trần), Tào khê(Nước trong suối) rất phong phú và tinh vi.

    Trai-dan

    Nét nhạc đi song song với sự lên bổng, xuống trầm của thanh giọng, của ngôn ngữ như trong dân ca hay các bài ca trong nhạc thính phòng.

    Thang âm cũng thuộc loại ngũ cung, 5 âm chính, 2 âm phụ.

    Điệu thức cũng có hơi Thiền, hơi Ai, như hai điệu thức Khách và Ai của ca nhạc Huế, điệu Bắc hơi Nhạc, hơi Hạ, và hơi Ai trong ca nhạc tài tử miền Nam. Nhưng điệu Thiền, ngoài việc diễn tả không khí trang nghiêm, có thêm tâm hồn thanh thản, nét nhạc uyển chuyển lên cao, tiết tấu từ bình điệu đến hoãn điệu... Thang âm điệu thức hầu như giống nhau hoàn toàn, ngoại trừ tiết tấu trong các bài tán theo truyền thống miền Trung có những nhịp đặc biệt cho các điệu tán rơi, tán sắp, tán trạo với cách nhịp tang, mõ khác nhau. Chuông Trống thì phải đánh theo các câu kệ

    Bát Nhã hội (3 lần, 3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Thỉnh Phật thượng đường(4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Đại chúng đồng văn(4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Bát Nhã âm(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Phổ nguyện pháp giới(4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Đẳng hữu tình(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Nhập Bát Nhã(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
    Ba La Mật môn(4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)

    Về nhạc khí, ngoài một số dụng cụ đặc thù như mõ gia trì, chuông gia trì, đẩu, mộc bảng thì trong Phật giáo cũng sử dụng các nhạc khí truyền thống dân tộc như đàn nhị, đàn nguyệt, kèn, trống, phách, trong những lúc Khai trường, nhập lễ hay phụ họa theo các bài tán.

    Về bài bản thì nhạc lễ dùng trong Phật giáo giống như nhạc lễ dùng trong cung đình và ngoài dân gian, ở miền Trung, mở đầu dàn nhạc tấu theo phong cách Đại Nhạc giản dị hóa, tấu các bản Đăng đàn đơn hay Đăng đàn kép, rồi theo phong cách Tiểu Nhạc tấu bản Ngũ đối thượng, Long Ngâm. Trong truyền thống miền Nam dàn nhạc tấu Ngũ đối Hạ lúc Khai trường Nhập lễ chỉ theo phong cách dàn nhạc Ngũ âm miền Nam có Phe Văn, Phe Võ.

    Ảnh hưởng qua lại giữa âm nhạc Phật giáo và nhạc truyền thống

    traidanchante-05-24

    Nhạc Phật giáo chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống rõ nhứt là trong cách niệm và tụng kinh mang âm hưởng của tiếng hát ru từng miền.

    Thông thường trong các lễ hội lớn của Phật giáo luôn sử dụng dàn nhạc lễ trong dân gian, đặc biệt theo truyền thống miền Trung là hai dàn đại nhạc và tiểu nhạc trong cung đình thâu nhỏ lại. Một vài truyền thống Phật giáo ở Tiền Giang có những cách tán dùng hơi và nhịp của lối hát Khách của hát Bội, chỉ khác nhau trong cách dùng mẫu âm ở những chỗ phải luyến láy.

    Một số thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống được các nhà sư sử dụng để đặt những bài tán.Hơi thiền trong Phật giáo có cấu trúc âm thanh như hơi nhạc, hơi hạ của miền Nam, nhưng tiết tấu chậm hơn. Hơi ai của nhạc Phật giáo hơi giống như những điệu ai dùng trong nhạc lễ hay cải lương tài tử, nhưng đơn giản hơn.

    Cách vận hành giai điệu trong âm nhạc truyền thống cũng được các nhà sư áp dụng để làm cho phong cách tán tụng được phong phú hơn.
    • 927 Bài viết

    • 166 Được cảm ơn

    #5
    Ngược lại, âm nhạc Phật giáo cũng giúp ích và làm giàu thêm cho âm nhạc dân tộc. Nhạc Phật giáo có phong cách “thài” (cách điệu hóa ngôn ngữ theo những chữ nhạc trong thang âm ngũ cung mà không chú trọng đến sự lên xuống đa dạng của nét nhạc) mà các ca công trong cung đình đã vận dụng vào trong các ca chương, như nhận định của cụ Lữ Thi, một nhạc công dàn nhạc cung đình ngày xưa.

    Hơi thiền với tiết tấu khoan thai, nghiêm trang trong nhạc Phật giáo có thể dùng để ngâm những bài thơ, bài kệ có thiền vị, đem lại tâm bình an cho người nghe.

    Về mặt tiết tấu, nhạc dân tộc chỉ có nhịp hai, nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu mà không có nhịp đánh theo chu kỳ như trong các bài tán của Phật giáo. Truyền thống Phật giáo miền Trung có những tiết tấu đặc thù rất tinh vi với nhịp tán rơi, nhịp tán sắp, tán trạo. Đây là đóng góp của nhạc Phật giáo làm giàu thêm tiết tấu cho âm nhạc dân tộc.

    Ngoài ra điệu múa cung đình Lục cúng hoa đăng (múa đèn) chính là phỏng theo điệu múa lục cúng trong Phật giáo khi dâng hương, đăng, hoa, trà, quả, thực. Hoặc điệu múa Đấu chiến thắng Phật trong cung đình cũng từ một điệu múa trong chùa mà ra.


    1007To07L
    Điệu múa Lục cúng hoa đăng

    Lịch sử Phật giáo lại là đề tài cho âm nhạc kịch nghệ dân tộc, chẳng hạn sự tích Phật Bà Quan Âm làm đề tài cho vở chèo Quan âm Thị Kính, hoặc cuộc đời Đức Phật Thích Ca từng là đề tài cho nhiều vở cải lương và phim ảnh.

    Tóm lại, âm nhạc, văn hoá cũng như ngôn ngữ Phật giáo giúp cho âm nhạc, kịch nghệ truyền thống dân tộc có thêm nhiều yếu tố để làm giàu và phát triển.


    * * *


    Trong lịch sử hàng ngàn năm đồng hành với âm nhạc dân tộc, dẫu trải qua nhiều thịnh suy nhưng âm nhạc Phật giáo vẫn giữ gìn những giá trị tinh thần truyền thống. Đằng sau các nghi thức tôn giáo là tâm linh dân tộc, do đó chúng ta đừng vì sự tiện lợi trong tổ chức hay biểu diễn mà làm mất đi cái hồn của bản sắc văn hoá.

    Bình Thạnh mùa Phật Đản
    11.05.2008

    GSTS Trần Văn Khê

    -----------------------------------------------------------------------------

    Một vài hình ảnh Đại trai đàn bình đẳng chẩn tế 2007 tại chùa Vĩnh Nghiêm

    100_9962
    100_9970
    100_9975
    100_9978
    100_9979
    100_9980
    100_9984
    Photos by Khánh Vân