Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (Kỳ 8): Tướng cướp – nhà văn Sơn Vương và án tù 79 năm

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 14.5K Lượt đọc
  • 24 Trả lời

  • Trang 2/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #21
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 9): Tướng cướp trốn trại, còng tay cảnh sát vô thành giường

    Tôi ở tù chung với Điền Khắc Kim tại chuồng cọp khu C trại 7, Côn Đảo, một thời gian ngắn khoảng đầu đầu năm 1974.

    giang-ho-sai-gon-6
    Buồng giam những tên tội phạm giang hồ trong khu 'chuồng cọp' (ảnh minh họa)


    “May hơn khôn” Tôi bị giam ở khu C đâu khoảng vài tháng thì Điền Khắc Kim mới từ đất liền ra đảo. Dĩ nhiên Kim lập tức được tống vào khu C.

    Tôi nhớ đi chung với Kim khi ấy có một số tay tù thường phạm sừng sỏ khác, mà nổi cộm hơn cả là Biện Thành Huệ và Năm Lương. Huệ được gọi “Huệ Râu” đầu gấu khu Chi Lăng (quanh sân bay Tân Sơn Nhất), nổi đình đám nhờ dám bắn chết quân cảnh Mỹ; còn Năm Lương thường gọi “Lương già” là một trong các quân sư của Đại Cathay. Số này đều được đặc cách, người một phòng, kể cả Điền Khắc Kim. Tình cờ, phòng giam bọn họ gần ngay phòng giam tôi nên mỗi khi tôi, “quay phim” tất cả đều nghe được và tỏ ra thích thú.

    Tất nhiên, chỉ giờ tắm nắng tôi mới gặp Kim. Thấy hầu hết tù hình sự thường phạm gọi tôi bằng anh; xưng em; hắn hỏi tuổi tôi, và khi biết tôi lớn hơn hắn đến 4 tuổi, Kim gọi anh xưng em. Tôi còn nhớ Kim dáng người tầm thước, chỉ ngang cỡ tôi (1,63m), ốm nhách, da ngăm đen tai tái, cặp lông mày rậm và hơi xếch.

    Kim có óc tưởng tượng khá phong phú. Tới nhớ có một lần, đổ thùng cầu, tắm giặt xong, hắn khoác tay tôi đi qua đi lại cho giãn gân cốt, nói đủ thứ chuyện. Bỗng hắn bảo: “Anh có biết lúc này em ước gì không?”. Tất nhiên tôi không biết, Kim tiếp: “Em ước gì trời tự nhiên thiệt lạnh, biển đóng thành nước đá, anh em mình cứ thế chạy riết một hơi về đất liền”. Có hôm, đang đi dạo, Kim dừng lại, bảo tôi: “Em chỉ cho anh coi cái này, thằng Thiệu (tổng thống miền Nam khi ấy) cũng chưa được coi bao giờ”,” vừa nói vừa kéo lưng quần chỉ cho tôi xem vết thẹo còn đỏ hỏn ngay phía dưới rún. Kim kể tôi nghe: “Đây là vết thẹo em bị bắn khi bị vây bắt bên Quận 4, trúng đạn bị thương khá nặng mà vẫn trốn thoát, không bị bắt”.

    Và theo lời hắn, nào có chỉ là huyền thoại, tài ba gì ghê gớm, chẳng qua nhờ ăn may: “Em núp ngay sau gốc cây, thấy bọn cảnh sát tìm kiếm ở đâu đâu mà tức cười. Chắc chúng tưởng em phải bỏ chạy và đã chạy xa rồi. Đúng ra em cũng phải làm vậy, nhưng ngặt vết thương nặng quá nên không thể bỏ chạy nổi, ai dè thành hên”. Kim còn nói thêm, lúc bị bắt trở lại, hắn khai thiệt núp ngay sau gốc cây, bọn cảnh sát không tin; vả lại, nếu đúng vậy, hóa ra cảnh sát biến thành một lũ ngốc, thế nào cũng bị cấp trên rủa cho te tua, nên buộc hắn phải “phịa” chuyện nhảy xuống kênh chạy trốn. Chứ theo Kim “Anh nghĩ thử xem, vết thương như vầy sao em dám nhảy xuống kênh quận 4, dơ hết cỡ, thế nào chẳng nhiễm trùng; và làm sao lội nước nổi, bơi nổi với mớ ruột lòi cả ra ngoài?”.

    Cũng vậy, Kim kể tôi nghe tiếp về vụ hắn trốn thoát khi bị bắt, lúc được đưa qua bệnh viện Sài Gòn để trị bệnh. Biết Kim là tên tù có biệt tài vượt ngục, cảnh sát phái một nhân viên theo canh giữ 24/24, mặc dù Kim đã bị còng một tay vào thành giường. Ấy thế mà ban đêm, Kim không những trốn thoát, mà còn còng tay tên cảnh sát vô thành giường thay cho mình. Chính qua vụ này, báo chí lúc ấy thổi phồng Kim quá đáng, coi như hắn có tài xuất quỉ nhập thần.

    Thật ra, chẳng phải quỉ thần gì, bởi theo lời Kim kể: “Bị còng tay vô thành giường, em buồn chán, cả ngày nằm ngủ. Ngủ suốt ngày khiến ban đêm không ngủ nổi nữa, hai mắt cứ thao láo. Ngược lại, gã cảnh sát canh chừng em đương nhiên phải thức cả ngày, nên khoảng nửa khuya hắn gục xuống ngủ say như chết. Thấy thời cơ đã đến, cái thứ còng răng ai đã bị qua rồi thì lạ gì: Chịu khó bóp hết răng còng - em ốm nhách, cỡ tay nhỏ nên ráng chịu đau chút xíu là xong - lấy bất cứ thứ gì, thường là cọng chiếu, cài ngang là kéo ra cái rột. Thoát còng, em đã định chuồn êm, nhưng thấy gã cảnh sát ngủ vùi chợt nảy ý nghĩ vui vui, lấy còng còng tay hắn vô thành giường trước khi chuồn...”.

    Có lần, cũng trong giờ tắm nắng, vui miệng tôi hỏi Kim trong những lần “làm án” có kỷ niệm nào “để đời” hay không. Kim không do dự: “Có đấy. Một lần nửa đêm về sáng, em “đột vòm”, lọt vô một căn nhà ở Cư xá Đô thành. Thông thường, việc làm đầu tiên của em khi vô nhà là mở sẵn cửa chính, khép hờ, đề phòng khi bị phát hiện vọt cho lẹ. Nhà có chiếc xe gắn máy mới tinh, thấy bắt thèm. Em lục túi quần áo của tay chủ nhà treo trên móc áo kiếm tiền. Ai dè trong túi ngoài tiền bạc, giấy tuỳ thân của chủ nhà lại còn có đầy đủ giấy tờ xe và luôn cả chìa khóa. Vậy là em chỉ việc mở cửa, dắt xe, ung dung lên xe dông tuốt, chưa khi nào ăn hàng ngon bằng bữa ấy!”.

    Tuy vậy, Điền Khắc Kim không được những tay giang hồ cộm cán mấy nể trọng. Những tay giang hồ này chê Kim không dám đâm chém, dưới trướng lại không có đệ tử, nên gọi hắn là “tướng cướp cô độc”.

    Trong thời gian ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi để ý thấy các đàn anh Huệ Râu, Lương già cũng chỉ đối xử với Kim như đàn em, và Kim đối với những tay này cũng không hé dám tỏ ra “trên cơ”, thậm chí ngang cơ bao giờ.

    Cả bọn trật tự coi khu, tuy phần nào nể Kim, nhưng rõ ràng chỉ coi hắn thuộc loại có số má, nhưng chưa phải đại ca gì ghê gớm lắm (như đối xử với cỡ Huệ Râu, và sau này là Lâm Chín ngón, Tuấn Đả, Khương đại). Tiếc rằng thời gian Kim ở Côn Đảo không bao lâu, vì chỉ khoảng trên dưới một tháng sau hắn lại được đưa về đất liền để điều tra về một vụ án khác. Về sau nghe nói ở Côn Đảo về, Kim bị nhốt ở Vị Thanh, và đã vượt ngục tại đây.
    giang-ho-sai-gon-61
    Tướng cướp Điền Khắc Kim
    Đêm 30/4/1975 tại khu C

    Những ngày cuối tháng 4/1975, nằm trong khu C, chúng tôi vẫn chưa hay biết một chút nào về tình hình chiến sự bên ngoài.

    Chúng tôi chỉ ghi nhận hai điều là: Thứ nhất là cả bọn trật tự khu, kể luôn Sang lai, cũng đều bị cấm ra khỏi khu C (trước giờ chúng thường được đặc cách cho ra khỏi khu, khỏi trại - trừ ban đêm - để dạo phố Côn Đảo, mua đồ ăn thức uống, thăm bạn bè...). Sau này tôi mới đoán chừng có lẽ bọn giám thị sợ số trật tự nắm được tình hình bất lợi cho bọn chúng sẽ nói lại với anh em tù chính trị. Thứ hai, tuy nằm trong trại biệt giam nhưng vẫn nghe tiếng máy bay gầm rú, hình như lên xuống liên tục tại sân bay Côn Đảo. Mãi đến sau ngày giải phóng, tôi mới nghe kể lại, vào ngày 28 hoặc 29/4 gì đó, trong số máy bay lên xuống có một trực thăng từ đất liền bay ra, thả xuống ngay giữa thị trấn Côn Đảo mảnh vải lớn có hàng chữ ghi nội dung vắn tắt Sài Gòn đã thất thủ, mạnh ai nên tự tìm đường nấy trốn.

    Khoảng tám giờ tối 30/4/1975, chúng tôi nghe văng vẳng hình như bên phía mấy khu khác của trại 7 có tiếng thông báo, nhưng tiếng được tiếng mất. Lúc ấy chân phải tôi bị liệt, đi lại rất khó khăn, nên người bạn bàn với tôi, tôi ráng đứng trụ để anh leo lên vai tôi, hóng tai ra ngoài nghe thử (như đã mô tả, phía sau mỗi chuồng cọp đều có khoảng trống nhỏ thông hơi với nhiều song sắt. Tù nhân thường đòng đòng nhau cố đưa miệng qua khoảng trống này để thông báo tình hình cho nhau). Tuy nhiên anh bạn dù dỏng tai cố nghe, vẫn tiếng được tiếng mất không rõ anh em nói những gì.

    Bọn tù thường phạm bị những tiếng nói vang vang kia quấy phá, cộng thêm nỗi bực tức vì bị nhốt cả tuần nay khiến chúng lớn tiếng chửi thề và hăm dọa. Tôi không tiện ghi hết những lời thô tục của bọn chúng, chỉ xin nói đại khái: “Câm họng cho ông ngủ”, “Ngày mai ông sẽ cho biết tay”, “Bộ chúng mày hết muốn sống rồi hay sao”... Những tiếng chửi thề và lời lẽ hung hăng của chúng chứng tỏ quả thật chúng không hay biết gì về những diễn biến của thời cuộc bên ngoài. Tất cả những sự ồn ào, nhộn nhạo này khiến chúng tôi không thể nào nhắm mắt nổi. Anh bạn và tôi suy đoán đủ thứ, nhưng không hề nghĩ rằng miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng vào lúc ấy.

    Đến khoảng quá nửa đêm, những tiếng ồn ào ngày càng vang lên từ xa xa, mơ hồ hình như có tiếng la “Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!”. Anh bạn và tôi còn đang bán tín bán nghi thì tiếng ồn ào càng lúc càng lại gần, càng rõ hơn. Rồi, chúng tôi không dám tin ở tai mình, và ngay cả mắt mình nữa: Tiếng loảng xoảng mở cửa khu C, rất nhiều người ùa vào. Có tiếng ai đó hỏi: “Anh em tù chính trị ở phòng nào?”. Chúng tôi vừa lên tiếng đã thấy khóa phòng mở toang...

    Từ đó cho đến tận mấy ngày sau, tôi như sống trong giấc mơ. Mọi diễn biến quá nhanh khiến tôi không kịp suy nghĩ, trí óc cứ bồng bềnh, phiêu lãng tận đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ lập tức tôi được dìu ra bệnh xá, thuốc men, ăn uống chăm sóc tối đa. Trong khi những anh em tù chính trị mới được thả ra tung tăng đi lại khắp Côn Đảo, dự mít tinh, giữ trật tự, bắt bọn giám thị tống vô trại giam... thì tôi nằm bẹp một chỗ, những anh em quen biết tới thăm hỏi, quà cáp liên tục.

    Tôi còn nhớ rõ, vừa khi ấy Côn Đảo hình như bắt được một tàu đánh cá hay sao đó, đem lên không biết bao nhiêu cá ngừ và cá thu mang nướng, rồi bắt được vích (rùa biển) nấu cà-ri, giết heo, mổ bò, thức ăn dồi dào không cách nào ăn hết, ăn cho bõ những ngày chỉ toàn cá khô mục đắng nghét hoặc mắm kho lõng bõng nước. Đã thế, số anh em nằm bệnh xá còn được chăm sóc đặc biệt bằng cách làm thịt một chú cẩu gọi là để “bồi dưỡng”.
    Nằm chữa và dưỡng bệnh, tôi nghe kể vô số chuyện thú vị về Côn Đảo những ngày đầu giải phóng. Nào giám thị trưởng Nguyễn Văn Thà tức Ba Thà bắn súng vào đầu tự sát ngay tại nhà riêng. Nào Chín Khương, trưởng ban chuyên môn tại Côn Đảo (ban giám thị chuyên theo dõi, đàn áp và đánh đập tù chính trị), dùng thuyền nhỏ chạy tuốt ra hòn Bãi Cạnh nhưng bị anh em đuổi theo bắt được, nhốt vô chuồng cọp (đúng là ác giả ác báo)... Rồi chuyện bọn địch có chỉ thị ném vô mỗi chuồng cọp một trái lựu đạn để tiêu diệt hết anh em, nhưng nhờcha xứ nhà thờ Côn Đảo, một đại úy địa phương quân quân đội Sài Gòn, và một giám thị tốt bụng nên âm mưu độc ác này đã không thể thực hiện...

    Riêng số tù hình sự ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi bẵng đi quên không hỏi đến và cũng không nghe ai nói đến. Thực ra, vào thời điểm lịch sử như vậy, nào ai để ý tới chuyện lặt vặt của mấy anh chàng du đãng đang bị nhốt?

    Bản thân tôi, như đã nói, như sống trong giấc mơ cho đến ngày có hai chiếc tàu của hải quân cập bến Côn Đảo để chở tù chính trị về đất liền. Sức chứa mỗi tàu chỉ khoảng 150 người, mà tù chính trị tại Côn Đảo lên tới hơn 5.000 người thì làm sao chở hết. Cho nên, trên hai chuyến tàu đầu tiên rời đảo chỉ ưu tiên cho những anh chị em bệnh tật, già yếu, trong đó có tôi.

    Tàu thả neo tại Vũng Tàu, ngay bên cảng Rạch Dừa, xe hơi đón anh chị em về Sài Gòn. Nhưng khi mới giải phóng, cầu Cỏ May bị đánh sập chưa sửa kịp nên phải “tăng bo” qua khúc sông này. Vì vậy, số ít anh chị em do bệnh quá nặng hoặc đi lại khó khăn được đưa vô bệnh viện Vũng Tàu điều trị, chờ thuyên giảm mới về Sài Gòn sau. Số này chỉ đâu khoảng hơn 20 người, và do đó tôi tiếp tục vô nằm bệnh viện Vũng Tàu.

    Số phận của tù nhân du đãng trong chuồng cọp


    Mãi sau này, gặp lại Huế Râu, Hùng Be tại TP.HCM, tôi mới nghe kể lại tình hình của khu C ngay sau ngày giải phóng.

    Tù chính trị trong khu C được thả ra, còn số tù hình sự đươngnhiên vẫn bị nhốt trong chuồng cọp. Mọi sinh hoạt của số tù nhân này vẫn diễn ra bình thường, có điều ngay qua ngày hôm sau, anh em tù hình sự mà cầm đầu là các “đại ca” bắt Sang lai trả món nợ máu. Họ hoà một chén gồm phân và nước tiểu, bắt Sang lai quì xuống, ra điều kiện: Hoặc hắn phải uống hết chén nước rất mất vệ sinh đó, hoặc chịu bề hội đồng (nghĩa là xúm nhau đánh cho thừa sống thiếu chết). Sang lai hết khóc lóc lại lạy như tế sao van xin tha tội, nhưng cuối cùng không còn cách nào khác đánh ục một hơi hỗn hợp trong chén.

    Rồi có lẽ do anh em tù chính trị quá lo “đại sự”, chỉ đối phó với bọn giám thị trại giam và vô số công việc hành chánh khác mà quên phắt số tù hình sự này và mặc kệ bọn họ muốn làm gì thì làm. Vậy là bọn họ chia thành hai “trường phái”: Một cứ mặc kệ, sống tà tà chờ mọi chuyện tới đâu thì tới. Huế Râu, Lâm Chín ngón thuộc nhóm này. Một nhân cơ hội tranh tối tranh sáng rủ nhau phá kho tang vật, cướp bóc đồ đạc, lên núi tìm cách kết bè trốn về đất liền. Tuấn Đả, Khương Đại, Hải Méo cầm đầu nhóm này.

    Kết quả nhóm thứ hai phá được kho tang vật, lấy đi khá nhiều tiền bạc, đồng hồ, nữ trang... mà tù nhân buộc phải ký gởi tại kho một khi vừa bước chân lên Côn Đảo. Cướp được đồ, bọn chúng hí hửng trốn vào rừng núi Côn Đảo. Nhưng Côn Đảo vốn hẹp, chỗ đâu mà trốn? Lại nữa vô núi đào đâu ra thực phẩm, nước uống? Đóng thuyền kết bè nào phải ngày một ngày hai? Chẳng mấy lúc, bọn chúng lần lượt bị bắt sạch không còn một mống. Và theo chế độ quân quản khi ấy, tất cả bọn chúng đều bị mang ra xử bắn. Nhóm thứ nhất gần như sau đó đều được xét thả tự do.

    Mãi tới bây giờ, thỉnh thoảng trong những giấc mơ tôi vẫn thấy mình bồng bềnh nằm trong chuồng cọp khu C trại 7 Côn Đảo cùng sống chung với số tù hình sự, có lẽ do những hình ảnh này đã ăn sâu vào tiềm thức, chiếm một vị trí nhất định nào đó trong bộ nhớ của tôi, không có cách nào xóa sạch.

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #22
    Giang hồ sài gòn (Kỳ 10): Mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón

    Báo chí đã đăng nhiều bài nói về mối thù giữa hai tay giang hồ cộm cán này. Theo đó, Lâm Chín ngón luôn tỏ vẻ “khi dễ” Năm Cam...

    moi-thu-nam-cam-lam-chin-ngon-1
    Mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón


    Báo chí đã đăng nhiều bài nói về mối thù giữa hai tay giang hồ cộm cán này. Theo đó, Lâm Chín ngón luôn tỏ vẻ “khi dễ” Năm Cam vì tên này khi xưa là đàn em “dưới cơ” Lâm xa lắc, nay chẳng qua gặp thời thế phất lên mà lại được lắm kẻ a dua theo bợ đỡ; còn Năm Cam bực bởi Lâm dám cả gan không chịu phục tùng mình như bao dân chơi khác, lại ngông nghênh có những lời nói xúc phạm đến “ông trùm” xã hội đen; đã vậy đến cả vợ của Lâm cũng coi Năm Cam không ra gì thì thật là quá quắt.

    Rốt cuộc Năm Cam sai đệ tử trừng phạt Lâm Chín ngón bằng cách tạt a-xit vào ngay mắt đối thủ khiến Lâm gần như bị mù. Tất cả những thông tin trên đều không sai, tuy nhiên có một điều vẫn chưa được làm rõ: Mối thù này đã bắt đầu từ thời gian nào?

    Tôi quen Năm Cam


    Đúng hơn là Năm Cam làm quen với tôi, qua sự quen biết giữa con út của Năm Cam - Trương Hiền Vũ - và con trai tôi, cũng tên Vũ, Lê Vũ. Số là cả hai Vũ (để phân biệt, võ đường kêu con Năm Cam là Vũ lớn và con tôi là Vũ nhỏ do nhỏ tuổi hơn nhiều) đều cũng theo học một lớp tại võ đường Taekwondo quận 3 vào cuối những năm 1980, khi ấy do anh Trương Văn Hai (thường gọi thân mật là Hai Lùn), ngũ đẳng huyền đai dạy. Anh Hai Lùn từng làm đội trưởng đội bảo vệ cho tổng thống Thiệu.
    nam-cam-giang-ho-sai-gon
    Năm Cam
    Nhân một lần kỷ niệm sinh nhật con trai tôi, vào cuối những năm 1980, tôi cho phép cháu mời một số bạn quen lại nhà dự một bữa ăn thân mật nho nhỏ. Bạn bè cháu mời không tới 20 người, gồm hai lứa bạn: Học chung lớp văn hoá và học chung lớp Taekwondo. Do bữa ăn chỉ nhắm mời bạn của cháu, nên hễ cháu nào được người lớn chở tới nhà, tôi chỉ mời người nhà uống nước và hẹn hai giờ sau lại rước cháu; hơn nữa, nhà tôi khi ấy ở tại một căn hộ thuộc chung cư Nguyễn Kim vốn chật chội nên cũng không thể đủ chỗ đón khách.

    Chiều hôm ấy đích thân Năm Cam chở con tới nhà tôi, mang theo quà mừng sinh nhật (mà lâu quá tôi không còn nhớ). Tôi cũng lịch sự mời Năm Cam ngồi uống ly nước và Năm Cam ngồi chơi không lâu, nhưng từ đó có sự quen biết. Hỏi qua tuổi tác, thấy thua tôi ít tuổi, lại nữa qua câu chuyện, biết tôi từng ở tù Chí Hoà, Côn Đảo chung với nhiều dân chơi du đãng lừng danh hồi trước như Đại Cathay, Huệ Râu, Điền Khắc Kim, Tuấn Đả, Nam Lương, Lâm Chín ngón… Năm Cam gọi tôi bằng anh.

    Một thời gian ngắn sau, gặp nhau lại tại võ đường Taekwondo Hồ Xuân Hương, trong khi chờ đón con, Năm Cam nói với tôi có vẻ rất thân tình:

    - Em thấy anh ngày nào cũng chở cháu đi đi về về, vừa mất thời gian vừa cực. Em có mấy đứa đệ tử đưa rước thằng Vũ lớn con em, đằng nào cũng tốn công, hay để em nói tụi nó chở cháu Vũ con anh luôn cho tiện.

    Đúng là tôi chở con đi học võ cực thiệt, nhất là gặp khi mưa gió hoặc bận việc này nọ, nhưng cực vì con cũng có cái vui của nó, và lại nhờ ai chớ nhờ Năm Cam thì tôi chả dại, nên tôi cám ơn Năm Cam và dứt khoát không nhận lời.

    Mãi nhiều năm sau này, khi con tôi thi xong đai đen, Năm Cam không dưới một lần bảo tôi: “Cháu có việc gì làm chưa, nếu không, anh cứ để em kiếm việc cho cháu, cháu có thể vừa đi học vừa đi làm thêm, bảo đảm đủ sống”.

    Tuy lúc ấy không biết rành về các việc làm của Năm Cam, nhưng tôi cũng nghe loáng thoáng, nên lần nào Năm Cam ngỏ lời tôi cũng đều từ chối. Có lẽ thấy tôi tuy vẫn tiếp chuyện lịch sự nhưng không mặn mà gì với bất kỳ đề nghị giúp đỡ nào, nên Năm Cam đối với tôi không thân thêm, mà cũng không xa lánh thêm, cho mãi đến khi xảy ra một việc…

    Lâm Chín ngón “phá ngang” Năm Cam


    Một hôm, Lâm Chín ngón hỏi tôi:

    - Anh hay viết bài điều tra phải không?

    Thì đúng thể loại báo chí tôi ưa thích, nên tôi đáp:

    - Cũng thỉnh thoảng. Có gì không Lâm?

    - Có. Chuyện hay lắm.

    Đụng đến “máu nghề nghiệp”, tôi không nén nổi tò mò:

    - Chuyện gì mà ghê vậy, Lâm cứ nói.
    moi-thu-nam-cam-lam-chin-ngon-4
    Lâm “chín ngón” thời trẻ.
    Quả thực, hiếm khi một người “ruột để ngoài da”, có gì cứ huỵch toẹt mà lại cứ kể úp úp mở mở như lần ấy. Lâm Chín ngón rào đón:
    - Chuyện lớn lắm, về một sòng bạc, nói ra rất dễ đụng chạm, nhưng nếu anh không thể trực tiếp thì thôi, không thể giao cho bất cứ người nào khác.

    Tôi thật tình bảo:
    - Cũng tuỳ chuyện. Toà soạn đông anh chị em phóng viên viết điều tra lắm. Nếu bận việc, tôi để anh em khác đi điều tra là chuyện thường tình. Nhiều anh chị em giỏi hơn tôi nhiều.

    Lâm Chín ngón lắc đầu, kiên quyết:
    - Việc nào em không biết. Nhưng việc này dứt khoát chỉ hoặc là anh, hoặc bỏ qua. Chuyện em kể là hoàn toàn đúng sự thật một trăm phần trăm. Nhưng em biết anh cái gì cũng đòi mắt thấy tai nghe mới viết, nên nếu anh đồng ý, em sẽ dẫn anh đi vô tận sòng bạc, anh ngồi chơi ít ván cho biết và nắm tư liệu cụ thể.

    Tôi gật đầu, lựa:
    - Biết rồi, dù chưa biết là chuyện gì, tôi vẫn tin Lâm như từ hồi nào đến giờ. Nếu việc Lâm kể, vì bất cứ lý do gì khiến tôi không thể trực tiếp điều tra, thì coi như… huề. Rồi, giờ kể được chưa?

    Đến nước này mà Lâm Chín ngón còn đưa tay ra ngoéo tay tôi để làm bằng trước khi “vô đề”:
    Sòng bạc này nằm ở quận 4. Sòng bạc lớn lắm. Em bảo đảm với anh lớn nhất TP.HCM nếu không nói là lớn nhất Việt Nam. Quy mô hơn cả những sòng bạc em biết hồi trào trước giải phóng. Ăn thua mỗi ván lên đến bạc triệu. Đủ thứ bài bạc; xóc đĩa, xí ngầu. Đổi tiền; cầm đồ tại chỗ. Bảo vệ từ vòng ngoài đến vòng trong. Dân bảo vệ toàn thứ dữ. Khách vô chơi bắt buộc phải là dân quen và đã được tuyển nếu không có người quen giới thiệu. Có rất nhiều lối thoát hiểm an toàn khi bị báo động; nhưng việc này chưa bảo giờ xảy ra. Chắc chắn đây là một tư liệu hết sức độc đáo để anh viết báo.

    Tôi hỏi:
    - Như vậy làm sao tôi vô sòng bạc ấy được? Tiền đâu mà chơi bài?

    Lâm gật gù:
    - Vì vậy em mới dẫn anh đi. Anh không có tiền thì em đưa cho anh. Có em là khách quen sẽ không ai dám khó dễ gì anh cả; đồng thời em cũng bảo vệ cho anh luôn. Em cũng tính rồi, nếu anh đồng ý, em bố trí thêm vài thằng đệ tử thân tín nữa ngầm bảo vệ, ở sẵn trong sòng bài. Nếu rủi có chuyện gì anh cứ yên tâm…

    Ông tướng thứ 13


    Trước khi kể tiếp về sòng bạc ở quận 4, tôi xin quay ngược dòng thời gian chút đỉnh để nói qua mối quen biết giữa tôi với Lâm Chín ngón.
    Do tại Côn Đảo tôi bị nhốt chung với anh em dân giang hồ thứ dữ tại chuồng cọp khu C trại 7 suốt hai năm (từ khoảng giữa 1973 - 30/4/1975) nên quen biết, và hơn nữa, chơi khá thân với tất cả những anh em này.

    Lâm Chín ngón bị đày ra Côn Đảo khoảng đầu tháng 4/1975, tất nhiên được đưa ngay vào khu C trại 1, nhốt một mình một phòng. Thời gian này tôi mới ở bệnh xá về, chân phải vẫn còn bị liệt nên ngay cả giờ tắm nắng cũng ít đi lại, phải nói thực mới loáng thoáng biết có Lâm, chớ chưa thể gọi là quen Lâm.

    Tiếp đó là giải phóng 30/4, tôi khi đó đang bị liệt một chân nên được lên chuyển tàu đầu tiên về đất liền. Lâm Chín ngón do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha về. Tha về chưa được bao lâu Lâm Chín ngón đã hỏi thăm, tìm tới thăm tôi, kể cho tôi nghe suốt hơn mười năm qua anh ta đã sống ra sao.

    Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.

    Biết tôi quen Đại Cathay hồi ở tù năm 1966 tại khu ED, Chí Hoà; hỏi tuổi, Lâm thua tôi một tuổi nên gọi tôi là anh, xưng em - và kể từ đó, Lâm luôn giới thiệu với mọi người (từ dân chơi đến gia đình, người quen) tôi là “anh kết nghĩa” của Lâm.
    Trong câu chuyện kể, tôi nhớ nhất chi tiết Lâm Chín ngón bị đưa vô trại học tập cải tạo với 13 ông tướng chế độ Sài Gòn bị nhốt trong trại, đó là 12 người đeo quân hàm tướng thật sự, và ông tướng thứ 13 là tướng cướp, tức Lâm Chín ngón.

    Tôi cũng chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta nên cố sống đàng hoàng.

    Sòng bạc quận 4


    Giờ xin trở lại với sòng bạc tại quận 4. Nghe qua lời Lâm giới thiệu về sòng bạc, tôi bán tín bán nghi. Không lẽ một sòng bạc lớn tới cỡ đó mà không cơ quan chức năng nào hay biết, nhất là chính quyền cơ sở và công an phường, cảnh sát khu vực. Nhưng quả thực Lâm Chín ngón nói dóc với ai thì tôi không rõ, chứ chưa khi nào anh ta nói dóc với tôi. Tôi nói thật ý nghĩ vừa thoáng qua của mình:

    - Vậy chớ UBND và Công an phường, rồi Công an quận, chẳng lẽ không ai hay biết gì sao?

    Lâm lắc đầu:
    - Em không rõ, nhưng chắc là họ biết và có thể họ làm ngơ.

    Tôi suy nghĩ rất nhanh, đánh giá nguồn tin, cân nhắc qua mọi tình huống, đáp:
    - Ý tôi rất muốn đi cũng với Lâm. Nhưng chuyện này qua lớn, có thể vượt ngoài khả năng của tôi, nên Lâm cho tôi suy nghĩ dăm ba ngày, sẽ trả lời Lâm sau.

    Lâm Chín ngón gật đầu:
    - Em cũng nghĩ anh khó quyết đoán ngay được. Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, anh cũng đừng nói với ai rằng em đã báo nguồn tin này. Ít hôm nữa em sẽ tới gặp lại anh.

    Từ thâm tâm tôi qua thực rất muốn cùng Lâm Chín ngón mạo hiểm một chuyến, thâm nhập sòng bài để lấy tư liệu thực tế viết bài điều tra mà tôi tin rằng sẽ khá độc đáo. Nhưng tôi không thể tự mình mạo hiểm. Giả sử tôi có mặt tại sòng bài đúng lúc công an ập vô bắt quả tang, lại đúng khi tôi đang đặt tiền thì làm sao giải thích? Chưa kể tình huống xấu nhất, tôi bị những tay bảo vệ sòng bài phát hiện, tấn công; mà Lâm Chín ngón cũng như đám tay chân của anh ta không đủ sức chống cự giải vây cho tôi, thì liệu thân tôi sẽ ra sao?

    Chỉ có cách tốt nhất là báo cáo lên lãnh đạo xin ý kiến, tuỳ trên quyết định, và tôi sẽ nghiêm chỉnh chấp hành quyết định ấy.

    Tôi thủ trưởng trực tiếp, nghe tôi kể qua câu chuyện sòng bạc quận 4, hỏi:
    - Nguy hiểm quá, nguy hiểm quá, mà ông tính xông vô đó thiệt hay sao?

    Tôi cười:
    - Có gì mà không thiệt. Sợ quái gì. Hồi trước bao nhiêu hiểm nguy còn chưa sợ, nay sợ gì một sòng bạc.

    Cấp trên “khất”:
    - Nhưng tình hình bây giờ khác. Tôi không dám can, mà cũng không muốn khuyến khích ông. Bây giờ như vậy, nói thiệt ông nghe tôi cũng không dám quyết chuyện này đâu. Ông ráng chờ ít hôm để tôi phải xin ý kiến cấp trên mới được. Anh em mình quyết với nhau, rủi ông có chuyện gì bắt trắc, làm sao tôi trả lời?

    Trong khi ấy Lâm Chín ngón tỏ ra rất nôn nóng. Mới hai ngày sau anh ta đã tới gặp tôi, thúc giục:
    - Sao, anh đã xin ý kiến xong chưa?

    Tôi nói thật với Lâm là tôi đã báo cáo cấp trên, và còn phải báo cáo lên cấp cao hơn nữa. Việc chờ dợi do đó có thể không phải ba ngày, mà phải lâu hơn.

    Bất ngờ từ Năm Cam
    Mấy ngày sau, cấp trên gọi tôi cho biết sòng bài đang được theo dõi, không nên viết bài đánh động.

    Khi nghe tôi báo tin tôi không thể theo anh ta đến sòng bạc quận 4 để viết bài, Lâm thở ra, bảo:
    - Em cũng đã đoán trước có thể anh mắc kẹt, nhưng vẫn có hy vọng. Ai dè Năm Cam quen biết lớn thật…

    Tôi cố giải thích:
    - Không hẳn vậy đâu, nhưng ở đời luôn có nhưng việc dù mình muốn mà không thể thực hiện, luôn có những việc mà mình không thể hiểu biết thấu đáo. Thôi Lâm ạ, cứ yên vui với cuộc sống của mình là được rồi, hơi đâu lo cho kẻ khác.

    Những Lâm vẫn tỏ vẻ bực dọc:
    - Anh nói vậy em nghe vậy. Những Năm Cam đâu có ra gì. Hồi nào nó tà lọt cho anh Đại, dưới cỡ em xa lắc, giờ chỉ nhờ khéo luồn lọt mà ngoi lên, bao nhiêu thằng theo nịnh. Phải chi nó có tài đã đành.

    Thì ra Lâm Chín ngón ganh ghét Năm Cam nên muốn qua báo chí “chơi” Năm Cam - tôi chợt hiểu ra cốt lõi của vấn đề. Đó là vào quãng giữa năm 1992. Như vậy mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón hẳn phải có từ trước đó nữa, đã lâu lắm rồi.

    Tôi bất giác lạnh xương sống khi nghĩ nếu ngày ấy tôi cao hứng lên, theo Lâm Chín ngón vô sòng bạc tại quận 4 của Năm Cam, về viết bài, đang lên báo, thì nào ai mà biết được hậu quả sẽ ra sao!

    Và, ai mà biết được, chuyện Lâm Chín ngón tâm sự với tôi về sòng bạc đã bằng cách nào đó lọt đến tại Năm Cam, chính vì vậy sau này Năm Cam tỏ ra lơ là với tôi và thêm lý do để hắn rắp tâm tạt axít Lâm nhằm trả thù, mối thù mà Năm Cam đã ấp ủ suốt hàng chục năm…
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #23
    Giang hồ sài gòn (Kỳ 11): Bữa nhậu hy hữu

    Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm: - “Chó lửa” của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các anh nói giỡn...

    lam-chin-ngon-thoi-trai-tre
    Lâm chín ngón - đại ca thứ thiệt 1 thời


    Tôi quen Lâm Chín ngón đã lâu, viết về nhân vật này đã khá nhiều, nhưng chưa bao giờ viết về những ngày cuối đời của Lâm, cũng như cái chết của anh ta. Nay, trước hương hồn người đã mất, xin viết lại chuyện chưa bao giờ viết này. Và để bạn đọc nắm được toàn bộ nội dung, xin lược qua lại những gì tôi biết về tay giang hồ cộm cán nổi tiếng từ thập niên 1960 này.

    Tôi quen biết Lâm Chín ngón

    Tôi biết Lâm Chín ngón khi ở tù tại khu C, trại 7, Côn Đảo - thường gọi Chuồng cọp. Thời gian ở tù ngoài Côn Đảo (tôi bị án tù chung thân năm 1972, ra đảo đầu năm 1973), tuy tôi là tù chính trị nhưng lại bị nhốt chung một khu với tù hình sự.

    Riêng Lâm ra đảo khoảng đầu tháng 4/1975, được đưa ngay vào khu C, một mình một phòng. Thời gian này tôi mới ở bệnh xá về, thêm bị liệt chân phải đi lại khó khăn nên chỉ loáng thoáng biết có Lâm, tiếp đó là giải phóng 30/4, nên chưa thể nói quen Lâm.

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày đầu giải phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại, phá kho tang vật, lấy cắp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng hồ, nữ trang, tiền mặt… và bị trừng trị hết sức nghiêm khắc. Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha.

    Tha về chưa được bảo lâu, qua số tù hình sự ở khu C trại 7 Côn Đảo trước đây, Lâm Chín ngón hỏi thăm, tìm tới tôi, kể cho tôi nghe suốt thời gian từ sau 30/4/1975 đến giờ anh ta đã sống ra sao. Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.
    Nói ngay, người em kết nghĩa này chưa khi nào nói dối, qua mắt tôi, luôn trước sau như một xưng hô cung kính anh em. Ngay cả đối với bà xã tôi, Lâm cũng luôn hễ gặp là vòng tay chào hỏi, nói chuyện thường chắp hai tay, gọi chị xưng em hết sức đàng hoàng. Nghe Lâm kể quãng thời gian ngồi tù, tôi chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta từ nay nên cố sống lương thiện.

    Còn có một câu chuyện bây giờ tôi mới kể khi Lâm ở trong trại đã lừa đánh cán bộ cải huấn…

    Theo lời Lâm, có một cán bộ trong trại cải tạo không hiểu sao luôn tìm đủ mọi cách gây khó dễ cho Lâm khiến Lâm rắp tâm trả thù, nhưng phải đợi thời cơ.

    Thời cơ đến khi một sáng sớm nọ, trước giờ vác cuốc lên đường trồng cây, cán bộ từ phía sau Lâm bước đến, mà ánh mặt trời in rõ bóng ông ta chiếu dài theo bước chân. Lâm đang vác cuốc thấy vậy liền sửa lại thế, hơi kéo cán cuốc đang vác trên vai về phía trước, theo dõi bóng đối thủ. Đợi “nạn nhân” đến đúng tầm, Lâm bất ngờ làm như sửa lại thế vác, xô mạnh nguyên lưỡi cuốc ra phía sau, đúng vào mặt người vừa bước đến, khiến ông ta ngã khuỵu, gãy một hơi mấy chiếc răng cửa.

    Tất nhiên Lâm chịu kỷ luật, nhưng đó Lâm khai “tôi đâu ngoảnh đầu lại mà biết cán bộ đang đi tới, chỉ vô tình sửa lại thế vác cuốc” và tại hiện trường quả đúng như vậy, nên kỷ luật tương đối nhẹ.

    Rồi Lâm Chín ngón kể tiếp từ ngày được tha, anh ta buôn bán thuốc tây ở khu đường 3 tháng 2, quận 10; cuộc sống chỉ tạm đủ vá víu qua ngày. Sau Lâm hùn với một tay đàn em cũ là Mười đen ra chợ Huỳnh Thúc Kháng buôn bán hàng điện tử (nghe đâu do Năm Cam giúp đỡ). Thấy Mười đen phò Năm Cam, và không muốn mang tiếng nhờ vả núp bóng đàn em, Lâm tách ra toan trở lại nghề bảo kê cho một số quầy bar quanh khu vực Tân Sơn Nhất. Có lẽ đây là quãng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều kỷ niệm đối với Lâm Chín ngón cũng như một số dân chơi khác. Nào mấy ai ngờ một “ông tướng” nay lại lại phải kiếm sống qua ngày. Nhưng thôi, cuộc đời ai chẳng có lúc lên voi xuống chó.

    Và Lâm kể cho tôi nghe một kỷ niệm “nhớ đời” của anh ta trong quãng thời gian ngắn ngủi này…
    giang-ho-sai-gon-lam-chin-ngon-1
    Đại ca thứ thiệt

    Một tối nọ, có bọn thanh niên lực lưỡng, mặt mày bặm trợn, chỉ cần liếc qua tướng tá, quần áo, cử chỉ cũng biết ngay là dân giang hồ không phải loại tầm thường vô quán đòi ngồi ở phòng riêng, kêu bọn em gái bia ôm hầu bàn. Ăn đã đời từ hơn 7h tối gần 11h đêm, uống hết hơn một thùng bia, bọn họ mới gọi tính tiền. Nhưng khi giấy tính tiền đưa tới bàn, họ thậm chí không thèm liếc nhìn qua tờ giấy, mà một vị khách thọc tay vô bụng rút luôn ra… khẩu súng ngắn, dằn mạnh lên mặt bàn, buông thõng một câu xanh rờn:

    - Không có tiền, trả bằng thứ này được không?

    Các “em gái” hoảng hồn la oai oái, tranh nhau chạy ra khỏi phòng. Chủ quán nghe mấy em cấp báo, lính quýnh vừa run vừa kêu Lâm Chín ngón đến giải quyết. Lâm mở cửa bước vô phòng, việc đầu tiên là nhào đến chụp ngay khẩu súng, tất nhiên khôn ngoan cầm phía bá súng. Gã thanh niên hớt tóc ngắn to con nhất trong bọn, có vẻ là tay cầm đầu, cũng nhanh như chớp vung tay chộp súng, kéo lại, miệng quát:

    - Ê, mày làm gì vậy?

    Lâm bình tĩnh:
    - Các anh nói trả thứ này thay cho tiền nên tôi lấy!

    Nghe đối thủ trả lời cứng cựa, gã không thèm đáp mà ra sức giành lại vũ khí. Hai bên cùng nín thở thi triển 10 thành công lực, gồng hết cơ bắp, thử sức một phen cho rõ tài cao thấp. Kéo qua kéo lại, một lát sau Lâm Chín ngón dần dần thắng thế thấy rõ, có thể một phần do anh ta nắm ngay bá súng nên chiếm lợi thế nhờ có điểm tựa chắc chắn hơn. Dù sao, với dân chơi thứ thiệt, hễ thua thì nhận thua. Gã tóc ngắn đành buông súng ra, kêu:

    - Khá lắm, khá lắm. Mày làm gì ở đây mà dám can thiệp vào chuyện của bọn tao?

    - Đây là quán của người quen tôi, nhờ tôi coi giúp. Nuôi quân ba năm nhờ đến một giờ. Đây là nồi cơm của tôi nên tôi phải giựt. Nếu tôi tới quán mấy anh quấy, chắc chắn mấy anh cũng phải làm như tôi thôi.

    Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm: - “Chó lửa” của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các anh nói giỡn, vì đây là đồ làm ăn, vật bất ly thân của các anh đời nào các anh trả cho quán; và lại nếu tính trị giá, nó hơn hẳn tiền ăn nhậu từ tối đến giờ.

    Tên tóc ngắn dịu giọng:
    - Nói nghe có lý lắm. Nếu vậy cũng là anh em trong nhà cả, không lẽ chơi quỵt nhau. Được rồi. Không nhận súng thì lấy thứ này vậy!

    Nhanh hơn cả làm trò ảo thuật, hắn rút trong túi ra một trái lựu đạn đặt cái “cộp” lên mặt bàn.
    Nhiều tiếng la oai oái nổi lên phía ngoài cửa phòng và tiếng chân chạy rầm rập. Thì ra nãy giờ chủ quán và mấy “em gái” thập thò ngoài cửa theo dõi diễn biến tình hình, nay hoảng quá tranh nhau co giò manh ai nấy chuồn cho lẹ.

    Lâm vội quay người một vòng, đưa chân đá cánh cửa. “Sầm” một tiếng, cánh cửa khoá tự động đã đóng lại. Lâm Chín ngón cố giở giọng thản nhiên:
    - Lỡ chơi thì chơi luôn! Một đổi bốn còn lời chán! Và lại đời tôi sống cũng đủ lắm rồi. Cứ cho nổ!

    Tính dằn mặt đối thủ, ai dè gặp thứ thiệt, đám thực khách không còn cách nào khác hơn là chấp nhận xuống nước. “Trời không chịu đất thì đất đành phải chịu trời”. Tên có hàm râu quai nón trong bọn lên tiếng, đổi giọng:
    - Thấy anh nãy giờ tôi nghĩ không phải thứ mới vào nghề chưa có số má gì. Anh nói thật cho tụi tôi biết anh là ai?

    Lâm thở dài:
    - Từ lâu lắm tôi đã cố quên tên của mình. Nay các bạn hỏi tôi cũng xin nói thiệt. Cách nay hơn mười năm tôi cũng tạm gọi là có chút danh vọng. Anh em trong giới giang hồ khi ấy quen gọi tôi là Lâm Chín ngón.

    Cả bốn tên đều bất giác đứng bật dậy, gã tóc ngắn hỏi:
    - Anh là Lâm Chín ngón? Đâu, anh cho xem bàn tay trái thử coi.

    Lâm Chín ngón vốn là biệt danh của Lâm sau một trận đụng độ ác liệt giữa hai nhóm dân chơi của Đại Cathay và Tín Mã Nàm tại ngay trước khu Đại Thế Giới. Trong trận kịch chiến này, khi cố giải cứu Ba Thế, một trong “tứ đại ca” (Đại, Tỳ, Cái, Thế), Lâm bị một thanh mã tấu xớt mất ngón tay cái của bàn tay trái. Nãy giờ, khi thử sức Lâm dùng tay phải nên chưa ai thấy bàn tay trái của anh ta.

    Khi Lâm vừa xoè bàn tay trái với bốn ngón ra thì cả bọn đưa đưa cả hai tay ôm vai anh ta, đứa cấm tay lắc lấy lắc để, đứa chắp hai tay xá lia lịa:
    - Xin lỗi đại ca, xin lỗi. Nãy giờ tụi em không biết lỡ xúc phạm đến đại ca. Anh em trong nhà cả, đại ca không nói sớm. Đâu, chủ quán đâu?
    Thì nãy giờ chủ quán nấp ngay sau cánh cửa chớ đâu. Vừa nghe gọi lập tức chủ quán bước vô phòng…

    Tên hớt tóc ngắn bảo:
    - Đưa hoá đơn tính tiền coi!

    Chủ quán đã lấy lại bình tĩnh:
    - Đã đưa khi nãy đưa rồi mà.

    Tên râu quai nón cúi xuống gầm bàn lượm tờ giấy lên, đọc:
    - Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn. Tưởng nhiều, nhiêu đó nhằm gì!

    Gã móc túi lấy ra chiếc khăn, mở ra, bỗng gói vội lại, kêu “Lộn rồi!”. Nhưng Lâm đã kịp nhìn thấy một đống nhẫn, dây chuyền, đồng hồ… trong khăn, đoán chừng bọn này vừa “ăn hàng” về, vô quán ăn mừng. Gã móc túi bên kia, phen này thì đúng là một bọc tiền. Tên hớt tóc ngắn giọng xởi lởi:
    - Trả luôn một triệu năm trăm ngàn cho chẵn. Ủa, còn mấy em gái khi nãy đâu?

    Thấy tình hình đã lắng dịu, “phe mình” thắng thế, mấy em gái bia ôm thập thò ngoài cửa phòng, chỉ chờ cơ hội là ăn theo, nhanh nhen bước vô. Một tên khác bảo:
    - Bo mỗi em một trăm ngàn chịu không?

    Thì mấy em chịu quá đi chớ! Tiền bạc xong xuôi, tên hớt tóc ngắn thân mật bắt tay Lâm Chín ngón:
    - Tụi em khi nãy không biết, lỡ đắc tội, đại ca bỏ quá cho. Khi nào có dịp ra Hải Phòng, đến bến Sau Kho, đại ca cứ hỏi Thanh bếp là ai cũng biết, tụi em xin tiếp đón trọng thế.

    Kể xong câu chuyện, Lâm Chín ngón thở dài tâm sự: “Anh ạ, từ sau tối hôm ấy em nghĩ cái mạng mình sống chết bất cứ lúc nào nếu còn theo cái nghề bảo kê ấy mà chết lãng xẹt. Nên em quyết bỏ bằng được”.
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #24
    Giang hồ sài gòn (Kỳ 12): Lời cầu nguyện cho Lâm Chín Ngón

    Sau vụ bảo kê quán nhậu ở Tân Sơn Nhất, đụng độ với băng giang hồ Hải Phòng, Lâm lo tu tỉnh làm ăn thật, nhưng cũng không có gì khấm khá.

    cai-chet-cua-lam-chin-ngon
    Lâm Chín Ngón - ngày tàn của đại ca


    “Dẹp loạn” giang hồ Campuchia?

    Khoảng đầu năm 1994, khi ấy tôi đang làm Tổng Biên tập một tạp chí, sáng một bữa nọ Lâm tìm đến tôi ở toà soạn. Lâm bắt tay tôi, giọng hơi bất bình thường:
    - Anh ạ, bữa nay em tới tạm biệt anh, mà cũng có thể là vĩnh biệt!

    Tôi ngạc nhiên:
    - Sao Lâm nói kỳ vậy?

    - Nếu hơn một tháng nữa mà anh không gặp em, không nghe tin tức gì về em tức là em đã chết, bỏ xác ở Campuchia.

    Tôi còn tưởng mình nghe lộn:
    - Lâm làm gì mà qua tận Campuchia?

    - Em nói thiệt. Ở đây làm ăn thất bại quá. Bên Campuchia hồi này người Việt qua làm ăn đông lắm, giang hồ cũng kéo qua đó, chia băng chia phái kèn cựa nhau. Chúng nhờ em qua…

    - Sao Lâm hứa với tôi rút khỏi dân chơi rồi mà?

    - Không. Chúng nhờ em qua hoà giải, vậy thôi. Em chỉ tin có anh, nên anh là người duy nhất em nói về việc đi Campuchia và chào tạm biệt. Ở bên này mãi, tiền bạc không có…

    - Như vậy Lâm qua đó, lạ nước lạ cái, làm sao đi lại, làm sao sống?

    - Có người bảo đảm chi cho em ăn, ở, luôn cả lộ phí. Miễn sao em thu xếp cho anh em giang hồ người Việt bên đó đỡ kình chống nhau. Nhưng bọn xã hội đen bây giờ cũng tráo trở lắm, em qua cũng có thể bỏ xác quê người…

    Tôi nghe Lâm nói tự nhiên thấy bùi ngùi, móc ví sau túi quần, thấy trong ví còn hơn 300 ngàn đồng, liền đưa Lâm hết số tiền chẵn:
    - Lâm cầm đỡ ít tiền qua đó sinh sống.

    Lần đầu tiên tôi thấy Lâm rơm rớm nước mắt khi đưa tay nhận tiền:
    - Nếu còn sống, thế nào em cũng về gặp anh. Còn một điều nữa… Em có đứa con gái mới sinh…

    (Tôi không tiện viết thêm về cô con gái này cũng như người phụ nữ đã sinh con với Lâm, người này sau đã yên bề gia thất, không muốn ai biết nhiều về quan hệ trước đây của mình; và cô con gái riêng của Lâm, nếu nay còn sống, cũng đã gần 20 tuổi, hẳn cũng muốn sống cuộc đời êm thấm)

    Khoảng hơn một tháng sau, bữa nọ Lâm lại đến gặp tôi cũng tại toà soạn, gương mặt vui tươi:
    - Em vừa về tới, vội đến gặp anh ngay.

    Tôi tò mò:
    - Chuyện ra sao rồi?

    - Coi như xong. Tốt đẹp cả, vì bọn chúng đôi chút cũng nể mặt em. Nhưng ở bên ấy dễ bỏ mạng lắm, em chẳng thà về lại Việt Nam.

    Sự thật chuyện “tay không hạ gục hàng chục côn đồ Vũng Tàu”

    Bẵng đi một thời gian, Lâm từ biệt tôi, nói ra Vũng Tàu để làm ăn. Đang lúc bận rộn công việc, tôi không mấy để ý, cũng chẳng tò mò hỏi Lâm ra đó làm ăn cụ thể ra sao.

    Thời gian mới ra Vũng Tàu và sau đó khoảng nửa năm, Lâm làm ăn có vẻ khấm khá, mỗi lần về lại TP. HCM gặp tôi thường gởi tiền, quà cho con gái. Mãi sau này nhân một lần vui miệng, Lâm mới kể tôi nghe anh ta ra Vũng Tàu nổi đình đám ra sao. Theo lời Lâm thì “em ra Vũng Tàu; cầm đầu bảo vệ cho một nhà máy thu mua cá, mực, tôm; ốc… nói chúng là hải sản, vựa rất lớn. Nhà máy ngày càng ăn nên làm ra khiến một nơi cạnh tranh bực mình, muốn giành mối. Chiều nọ, một tốp có đến cả chục tên đầu trâu mặt ngựa, đứa nào cũng mang theo vũ khí; đứa dao, đứa kiếm, đứa thanh sắt, đứa côn nhị khúc… xông vào cổng nhà máy của em.

    Em bước ra, chặn chúng lại, hỏi:
    - Các anh muốn gì?

    Một tên mặt mày bặm trợn, ra vẻ đầu sỏ, quát:
    - Đây là địa bàn làm ăn của bọn tôi; anh muốn sống thì cút đi chỗ khác!

    - Nói vậy đâu được, chúng tôi ở nhà máy bên này, đâu đụng chạm gì tới mấy anh?

    - Vậy là thằng này muốn chết!

    Và bọn chúng hò hét, vung vẩy dao, kiếm như muốn ăn tươi nuốt sống em.

    Em ngó lui: Mấy đứa bảo vệ chung với em nháo nhác lo chuồn ngay khi em bước ra nói chuyện với bọn này.

    Với anh là người đầu tiên em mới nói thật, lúc này em muốn chuồn thì cũng đã quá muộn vì mười mấy đứa hình như có bàn tính trước, đã vây quanh em. Em tính quơ đại thứ gì làm vũ khí cũng không thể kịp; vả lại, dù có vũ khí cũng không cách nào một mình chống đỡ nổi số địch thủ đông như vậy. Karate không bằng karabu, tức bu lại mà đánh. Vô kế khả thi, đằng nào cũng chết, em xuống tấn thủ thế, đánh nước liều:
    - Chưa chắc thằng nào chết!

    Vừa lúc em tính mình từ chết đến bị thương thì bỗng phía bên trong có nhiều tiếng la hét, hàng mấy chục công nhân tay cầm cây khiêng cần xé thủy sản, hoặc dao làm cá bén ngọt xông ra. Thì ra mấy đứa bảo vệ chung với em chạy vô báo lại tình hình, công nhân thấy động đến miếng cơm manh áo thiệt thân với họ, họ hè nhau nhất tề ra đánh đuổi bọn du đãng. Lúc này tình thế đã đảo ngược, nhân số phe ta đông hơn hẳn, áp đảo phe địch, hơn nữa ai cũng có vũ khí. Bọn đầu trâu mặt ngựa vội bỏ chạy có cờ…

    Mới biết hay không bằng hên. Mọi người đâu ai biết em nhát gan chỉ được nước liều mạng, khen em hết cỡ, nào là “một mình dám chống lại cả hơn chục đứa”, nào là “tay không đánh với kiếm, dao, tuýp sắt,” nào là “đứng giữa đám đông côn đồ vây quanh vẫn tỉnh bơ,”… Rồi họ còn thêm mắm dặm muối”. Dù sao, sau vụ đó em trở nên có “uy” nhưng cũng bị không ít kẻ ganh ghét”.

    Sau một thời gian, Lâm lại dạt về Sài Gòn. Năm 1994, Lâm gá nghĩa với một phụ nữ chí thú làm ăn, đã qua một đời chồng - chị Liên, người mà Lâm gắn bó đến tận cuối đời, người chăm sóc, lo lắng cho Lâm những khi Lâm gặp hoàn cảnh khó khăn nhất. Mà lạ, ngay cả những người con riêng của chị Liên cũng thương yêu Lâm, chăm chút ông dượng.

    Những ngày Lâm ra toà (với tư cách nhân chứng và người bị hại) trong vụ xử án Năm Cam và đồng bọn, chị Liên luôn dìu dắt Lâm, đứng cạnh Lâm. Khi ấy, thần kinh Lâm đã bị khủng hoảng (từ sau vụ bị tạt axit), thậm chí chị còn hỏi trước Lâm sẽ khai những gì để khuyên nhủ Lâm khai sao cho có lợi.
    Đến tận bây giờ, mỗi khi gặp chị Liên, nhắc lại những kỷ niệm về Lâm, chị vẫn bùi ngùi. Ngay khi viết bài báo này, thoạt đầu chị cũng ngại ngần muốn mọi việc chìm vào dĩ vãng, chuyện đã qua cho qua. Tôi thuyết phục mãi, cuối cùng chị đồng ý, lại còn cung cấp hình ảnh và một số tư liệu về Lâm.

    Giang hồ giúp cảnh sát phá án


    Có lần Lâm giúp tôi. Đúng ra không phải giúp tôi, mà là giúp một người bạn của tôi, bác sĩ Bê công tác tại bệnh viện Nguyễn Trãi, có nhà riêng ở huyện Bình Chánh.

    Chuyện liên quan đến giới giang hồ nên phải nhờ Lâm giúp.

    Số là, bác sĩ Bê mở quán ăn tại nhà riêng, thường bị bọn côn đồ địa phương đến quấy phá, như đòi tiền bảo kê, ăn uống thiếu nợ, đòi thu “thuế”. Bác sĩ Bê biết tôi quen một số tay “anh chị”, nhờ xem có cách nào giúp. Tôi tìm Lâm, kể lại mọi việc, giới thiệu Lâm với bác sĩ Bê. Lâm nói “bạn của anh cũng như anh của em,” và bắt tay vào việc.

    Hơn một tuần sau, bác sĩ Bê vui ra mặt, nói với tôi mọi việc đã ổn thoả đâu vào đấy, nhờ tôi gởi lời cảm ơn Lâm, nhưng tình tiết cụ thể Lâm làm cách nào thì anh ta không rõ.

    Gặp lại Lâm, tôi nhắn lời cám ơn của bác sĩ Bê, vui miệng hỏi Lâm giải quyết cách nào mà ổn thoả nhanh và hiệu quả vậy. Lâm cười cười:
    - Đối với em việc dễ như trở bàn tay.

    Và theo lời Lâm, anh ta xuống ngay địa bàn nơi bác sĩ Bê có quán ăn, hỏi thăm những kẻ có “số má” cầm đầu tại đây. Xong, Lâm trực tiếp gặp những tên sừng sỏ, côn đồ miệt vườn này. Vừa nghe tên tuổi Lâm chín ngón, bọn chúng đều muốn diện kiến đại ca. Lâm nhắn nhủ với cả bọn: “Đây là bạn đại ca của tao, tụi mày vuốt mặt phải nể mũi, không được léng phéng ở quán của bác sĩ Bê, nghe chưa?”. Đơn giản vậy thôi.

    Cũng nhân vụ giải quyết “tép riu” này, Lâm kể tôi nghe một việc Lâm giúp mấy anh công an giải quyết một vụ việc lớn hơn, phức tạp hơn nhiều, xảy ra vào khoảng giữa thập niên 1990, vụ một nhân vật quan trong bị giật chiếc ca táp có đựng tài liệu quan trọng ngay trước cổng trụ sở cơ quan công an tại TP.HCM.

    Chuyện đại loại như sau, chiếc xe hơi sang trọng đỗ trước văn phòng cơ quan công an tại đường Nguyễn Trãi). Người đàn ông xách cặp táp ngồi trên băng sau vừa mở cửa xe bước xuống; bỗng một xe gắn máy chạy ngang, tên ngồi phía sau giật phăng cặp táp, ngọt sớt, và xe gắn máy tăng tốc mất hút. Gay go là trong cặp có nhiều tài liệu mật. Chuyên án lập tức được mở. Các trinh sát giỏi nhất được tung vào cuộc. Một ngày… hai ngày… rồi một tuần vẫn chưa lần được manh mối nào. Lâm Chín ngón được mời tới giúp. Sau đây là lời Lâm kể với tôi: “Em kêu ngay bọn ba binh ba tướng thường giật dọc quanh khu vực Cộng Hoà, Đồng Tiến, Mả Lạng, nhắn: “Tụi bay muốn sống phải đưa ngay chiếc cặp giật được lúc… ngày… Tụi bay đụng vào hang cọp rồi đó”. Thì ra bọn chúng ngỡ trong cặp có tiền, đô-la, về giở ra coi mới hay toàn thứ tụi chúng không biết dùng vô làm việc gì, chỉ có nước bán… giấy vụn. Nay bọn chúng muốn trả lại cũng chẳng biết đường đâu mà trả, thêm nỗi sợ tù tội. Nghe em nói tụi chúng đưa ra chiếc cặp táp còn nguyên vẹn. Sau đó anh em công an mở bữa tiệc nho nhỏ ăn mừng, kêu cả em tới”. Không biết lời Lâm kể có thể tin được bao nhiêu phần trăm, nhưng chắc chắn Lâm không thể dựng đứng hoàn toàn câu chuyện.
    lam-chin-ngon-thoi-trai-tre

    Ngày tàn của một “đại ca”


    Không ít lần Lâm tâm sự với tôi: “Anh biết không, thằng Năm Cam thời anh Đại (Đại Cathay) chỉ là tà lọt ngồi gác sòng bài bên quận 4, học hành chẳng ra sao, không có số má gì, thế mà bây giờ chỉ nhờ khéo nịnh, giỏi hối lộ mà thành trùm”. (Lâm từng theo học chương trình Pháp tại trường Trung học Taberd, Sài Gòn cũ - góc Hai Bà Trưng - Ly Tự Trọng, nay một phần thành trường Trần Đại Nghĩa). Lần nào tôi cũng đáp: “Thôi thì gặp thời thế mà. Chuyện người khác mặc họ, miễn là mình đàng hoàng…”.

    Nói vậy chứ tôi biết Lâm không những nói xấu Năm Cam với tôi mà còn tỏ vẻ khinh bỉ, ghét Năm Cam ra mặt với khá nhiều dân chơi cũ cũng như mới. Và thế nào tin này chẳng đến tai Năm Cam.

    Cũng có lẽ vì vậy Năm Cam sai đàn em “khử” Lâm chín ngón. Nhưng bọn chúng biết, nếu chơi theo kiểu đấu tay đôi với Lâm khó đứa nào chơi lại (Lâm cao 1,7m, chắc nịch nhờ thường xuyên tập tạ, nổi tiếng sát thủ với các ngón võ giang hồ). Và thế là chúng nghĩ ra chiêu độc: Tạt axit.

    Tôi nghĩ không gì trung thực bằng lời kể của chị Liên, nên xin ghi lại nguyên văn: “Tối hôm 14/1/1999, lúc 7g30’, vừa mới bán hết hàng, cu Bi con trai em đòi ăn phở nên anh Lâm chở hai mẹ con đi ăn tại tiệm phở Lợi ở cư xá Bắc Hải. Đến nơi, hai mẹ con xuống trước, em dắt con em đi vào quán còn anh Lâm dựng xe trước cửa quán. Lúc sau em nghe tiếng anh Lâm hét lên; quay lại em thấy đồ anh mặc lủng nhiều chỗ, mặt mũi bị cháy xém, em kêu lên anh bị tạt axit rồi anh ơi. Lúc đó trong quán rất đông người nhưng hỗn loạn em không thể biết ai đã tạt axít vào anh. Lúc đó anh còn hỏi: “Em và con có bị sao không?”. Em nhìn anh lòng đau đớn sợ hãi, em vội kêu taxi chở anh đến bệnh viện”.

    May Lâm đeo kính nên hai mắt không bị hỏng hoàn toàn, nhưng thị lực giảm có đến hơn 90%. Lâm phải nằm nhiều bệnh viện để điều trị, mà thời gian lâu nhất là ở Bệnh viện chấn thương chỉnh hình, qua nhiều lần phẫu thuật, tốn cả mấy trăm triệu.

    Thời gian này Lâm sinh ra chán đời, không muốn gặp bất cứ ai. Vợ Lâm, chị Liên, mua cho Lâm căn hộ chung cư ở Tân Bình, giấu tất cả bạn bè thân thuộc, để Lâm tĩnh dưỡng.

    Tâm trạng Lâm trong thời gian ấy khá hoảng loạn, thậm chí hoang tưởng, lúc nào cũng nghĩ có ai đó muốn hại mình, nên đôi khi nghi ngờ cả tôi cũng muốn hại anh ta (sau nay chị Liên mới kể tôi nghe, đến cả chị cũng không ít phen bị Lâm nghi).

    Tuy nhiên, lâu lâu, không gặp tôi, Lâm lại nhờ chị Liên nhắn tôi lên gặp gỡ, tâm sự. Thoạt đầu, Lâm không chút nghi ngờ kẻ hại mình lại là Năm Cam, mà nhất định đổ riệt cho băng giang hồ ngoài Vũng Tàu, hận Lâm vì phá đất làm ăn của chúng nên rắp tâm trả thù (trước cảnh sát điều tra, mới đầu Lâm cũng khai như vậy. Khi họ cho Lâm biết thủ phạm là đàn em Năm Cam và kẻ chủ mưu chính là Năm Cam, Lâm vẫn kể với tôi cũng chưa chắc đã đúng; tôi phải nói “chớ Lâm không tin nhân viên điều tra, không tin lời khai của Năm Cam hay sao? Ngu gì Năm Cam tự vơ thêm tội vào mình?” Lâm mới chịu từ bỏ ý nghĩ ban đầu đã trở thành định kiến).

    Từ khi trở thành người không còn lành lặn như xưa, Lâm đổi tính, không còn vui vẻ, cởi mở với mọi người; mà trở nên lầm lì, ít nói.
    (Tôi cũng xin mở ngoặc thêm chuyện đi tu của Lâm: Lúc này Lâm và chị Liên đã có một bé trai kháu khỉnh, cu Bi, đang học tiểu học).

    Để phần nào giúp Lâm vừa tránh gặp mặt mọi người, vừa có việc làm nhẹ nhàng giết thời gian hầu lãng quên quãng đời lắm gian truân trước đây, chị Liên mua một mảnh đất tuốt bên huyện Nhà Bè, sát mé sông. Tại đây, chị xây nhà, làm chuồng heo, đào ao nuôi cá, cất rượu lấy hèm cho heo ăn, đưa Lâm về bên đó sống biệt lập, xa lánh tất cả…

    Ba lần tự vẫn mới “giải thoát” được cuộc đời

    Những vết sẹo trên mặt do bị tạt axít tuy đã lành vẫn thỉnh thoảng khiến Lâm vô cùng đau đớn, cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, nhất là những khi trái gió trở trời. Không ít lần Lâm nói với tôi “Em nghĩ thà chết cho bớt đau”.

    Và quả Lâm nói sao làm vậy.

    Phải nói ngay, không mấy người có cái gan như Lâm Chín ngón, kể cả gan tìm đến với cái chết.

    Lần đầu Lâm tự tử bằng cách uống thuốc ngủ, dễ có tới hàng trăm viên. Chị Liên vội chở Lâm vào bệnh viện kịp thời súc ruột cứu sống Lâm. Theo chị Liên, một phần nhờ thời gian gần đây Lâm thường xuyên mất ngủ nên hầu như tối nào cũng phải dùng loại thuốc này do đó lờn thuốc.
    Trước khi uống thuốc ngủ, Lâm để lại lá thư tuyệt mạng cho vợ:

    “Liên yêu quý,
    Anh rất mãn nguyện vì yêu em.
    Anh vĩnh biệt em vì muốn bảo vệ danh dự gia đình em và xã hội.
    Con anh sẽ không buồn tủi vì có một người cha có quá khứ xấu xa.
    Em yêu thương con như đã yêu anh…”

    Lần thứ hai, Lâm nhảy từ trên nóc nhà bên Nhà Bè xuống đất. Lần này Lâm bị chấn thương cột sống khá nặng, phải nằm điều trị gần 3 tháng ở Trung tâm chấn thương chỉnh hình, nhưng rốt cuộc cũng thoát chết.

    Lần cuối cùng. Lâm nhảy vào thùng kháp rượu đang sôi sùng sục, và lần này, Lâm ra đi vĩnh viễn. Chuyện xảy ra vào quãng 12h trưa ngày 30/8/2006.
    Đâu khoảng 1h trưa hôm ấy, chị Liên hốt hoảng gọi điện thoại cho tôi, báo tin. Chị cũng kêu tôi sang ngay Nhà Bè để nhờ lo liệu mối thủ tục.

    Tôi còn nhớ như in, khi tôi tới nơi, hiện trường còn nguyên vẹn, nhưng tôi không thể nào diễn đạt. Đến tận bây giờ, những hình ảnh phút cuối đời của Lâm Chín ngón vẫn còn như in trong óc tôi, nhất là mỗi lần nghĩ đến người em kết nghĩa năm nào.

    Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người quá cố được sống an lành bên kia bờ thế giới. Nếu có sống lại kiếp sau, xin đừng trở lại cuộc đời giang hồ đầy bất trắc.

    Lâm đã không ít lần tâm sự với tôi muốn trở lại cuộc đời lương thiện, làm ăn đàng hoàng, tử tế. Và, từ trong thâm tâm, tôi biết Lâm cũng rất muốn vậy. Nhưng nhiều khi cây muốn lặng mà gió chẳng muốn dừng, có thể một phần lỗi do Lâm tư tưởng không mấy vững vàng, thêm tác động của bè bạn, xã hội đưa đẩy.

    Khi đến một tờ báo đưa tin buồn về Lâm, tôi cũng nhớ lời chị Liên dặn, yêu cầu đừng nói gì thêm, thậm chí không viết rõ Lê Ngọc Lâm là tên thật của Lâm chín ngón.

    Mới đó thấm thoắt đã gần 8 năm kể từ ngày Lâm mất…
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #25
    Giang hồ Sài Gòn (kỳ cuối): Giang hồ Sài Gòn xưa khác nay

    Trong số tám khu biệt giam chuồng cọp thuộc trại 7, riêng khu C đúng nhốt tội phạm hình sự “thứ dữ” và bọn du đãng “có vằn có vện”.

    giang-ho-sai-gon-xua-va-nay
    Giang hồ Sài Gòn xưa khác nay


    Tác giả viết bài này từng bị giam tại chuồng cọp trại 7, khu C, Côn Đảo gần hai năm (từ giữa năm 1973 đến 30/4/1975). Trong số tám khu biệt giam chuồng cọp thuộc trại 7, riêng khu C đúng nhốt tội phạm hình sự “thứ dữ” và bọn du đãng “có vằn có vện”.

    Cứ hai người một phòng giam, luân phiên một vài tháng lại đổi người, nên tôi có dịp làm quen, tìm hiểu khá kỹ về giới giang hồ năm xưa. Khi bị giam ở Chí Hoà, tôi còn gặp cả bọn Chương Khùng, Việt Parker - và trước nữa, trong lần ở tù 1965 - 1970 là Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất hồi đó, nên có thể nói phần nào tôi có điều kiện “thâm nhập” giới này.

    Sau ngày miền Nam giải phóng, khoảng giữa những năm 1980, con trai tôi học Taekwondo tại võ đường Hồ Xuân Hương, quận 3, TP.HCM, chung với con trai của Năm Cam. Và nhân một lần tổ chức sinh nhật cho con trai tôi tại nhà riêng (tôi cho phép con mời một số bạn học việc và bạn học võ chung lớp), Năm Cam chở con trai y tới nhà tôi làm quen. Thế là thông qua Năm Cam và đàn em của y, tôi cũng biết thêm khá nhiều về giới giang hồ tại TP.HCM sau này.

    Do đó, căn cứ vào hiểu biết cá nhân, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nhận xét của mình về những điểm khác biệt của giới giang hồ xưa và nay. Tất nhiên những nhận xét của tôi hoàn toàn do chủ quan, rất có thể phiến diện, còn nhiều sai sót và không được nhiều người đồng tình. Tôi xin sẵn sàng tiếp thu những ý kiến khác, kể cả trao đổi bổ sung, thậm chí đối lập với ý kiến của tôi.

    Tôi không kể những điểm giống nhau trong giới giang hồ, vì thời nào chẳng vậy, họ là thủ phạm gây nên nhiều vụ án hình sự nghiêm trọng từ cướp của tới giết người, từ đâm thuê chém mướn tới đánh lộn đánh lạo, từ tổ chức sòng bạc, buôn bán ma tuý tới cho vay nặng lãi, bảo kê các vũ trường, quán bar, gầy động mãi dâm…

    Mặt khác họ tìm cách hối lộ, mua chuộc các quan chức trong bộ máy nhà nước, nhất là quan chức trong các lực lượng liên quan đến pháp luật như công an, toà án, kiểm sát.

    Tuy nhiên, trong giới giang hồ trước đây luôn có một số điều luật bất thành văn mà giới giang hồ sau này không tôn trọng.
    Trước hết, giang hồ cũ không bao giờ “đụng” với quan chức thực thi pháp luật. Đại Cathay lẫy lừng là vậy mà sau lần lỡ tay giựt cùi chỏ đánh Cò Ly (Trưởng ty Cảnh sát quận 1) tại vũ trường Tự Do đã phải trốn chui trốn nhủi, nhờ người đứng ra dàn xếp, xin lỗi. Kết cuộc, Đại Cathay phải chịu hình phạt của Cò Ly: Cấm không được lui tới những vũ trường, nhà hàng mà Cò Ly đã có mặt trước. Cò Ly cho rằng Đại Cathay đã phạm tội “khi quân”.
    Cũng vì dám động đến đám lính không quân (dù chưa làm ai bị thương chớ đừng nói đến chết) mà nguyên đám giang hồ của Đại Cathay bị xoá sổ vào năm 1966.

    Giang hồ sau này khác hẳn; đụng quan chức, kể cả công an cũng “chơi” luôn: Dám dùng dao đâm chết cảnh sát Phan Lê Sơn ngay tại một quán nhậu ở trung tâm thành phố.

    Thứ nhì, tuy dân giang hồ thời trước cũng có đủ loại vũ khí, từ dao lê, mã tấu, côn nhị khúc… đến súng, lựu đạn; nhưng “hàng nóng” (tức súng, lựu đạn) chỉ dùng để ăn cướp mà không bao giờ dùng đến khi thanh toán nội bộ hoặc đấu đá, thu phục lẫn nhau.

    Thí dụ, khi Đại Cathay muốn thâu tóm băng của Tín Mã Nàm ở khu vực Đại Thế Giới, Chợ Lớn, Đại chỉ huy đám binh hùng tướng mạnh mang theo dao búa gậy gộc tấn công đối thủ. Phe Tín Mã Nàm cũng vậy, chỉ dùng “tay nghề” tức võ thuật và tài sử dụng dao búa để kháng cự, dù cả hai phe súng ống đầy rẫy. Nhiều lần đụng độ bất phân thắng bại, có khi mỗi bên xuất quân tới mấy chục, nhưng chưa khi nào nghe tiếng súng nổ, cũng do đó bình thường đôi bên chỉ bị thương chớ không ai bỏ mạng bao giờ.

    Giang hồ khi xưa quan niệm, khi chỉ dùng “tay nghề” thi đấu, bên nào thua mới tâm phục khẩu phục. Cho nên, những “đại ca” thời trước đều phải vừa gan lì, vừa phải thường xuyên thao dợt võ nghệ, tập luyện thân thể, kể cả trong tù. Võ của họ hầu hết không theo một trường phái cụ thể nào, không nhằm múa cho nhuyễn, “đi bài” cho đẹp, nhưng là những đòn thế giang hồ theo kiểu tổng hợp “thập cẩm” chủ yếu là làm bất cứ cách nào hạ được đối thủ, sát thương đối thủ như chơi.

    Trong khi giới giang hồ bây giờ hở một chút là “chơi hàng nóng”. Cụ thể như Bình Kiểm, mau chóng có số má chỉ nhờ vào mấy khẩu súng. Hoặc Châu Phát Lai Em, nổi lên bước đầu nhờ khích một tay đàn anh đấu võ tay không, riêng Lai Em lén giấu dao trong áo, khi thấy nguy cơ thua liền rút dao đâm diệt đối thủ…

    Thứ ba, giang hồ ngày trước, dù đã lên đến hạng “đại ca” vẫn sẵn sàng trực tiếp thi thố tài năng khi cần thiết. Đại Cathay khi cùng một lô tay em lên Đà Lạt, gặp trùm du đãng xứ sương mù là Xi Rỗ, Đại Cathay chơi “pạc co (par corps tức đấu tay đôi) liền, không chút sợ hãi (nếu là Năm Cam hay Hiệp Phò mã, dám chắc cả hai bỏ chạy có cờ).
    cai-chet-cua-lam-chin-ngon
    Giang hồ Sài Gòn 1 thời
    Thứ tư, ngày trước đã mang danh dân giang hồ là phải “chơi đẹp”. Tất nhiên không phải hiểu “chơi đẹp” theo nghĩa thông thường là chi tiêu hào phóng, rộng rãi; mà là đối với bạn bè - dù bất cứ thành phần đối tượng nào đã kết thân coi như bạn - phải đàng hoàng, không nói dóc, hứa cuội, mà giữ gìn chữ tín, nể trọng lẫn nhau.

    Mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận một chuyện: Khoảng đầu 1977 tôi gặp lại Huệ Râu, trước bị giam chúng với tôi tại chuồng cọp khu C, trại 7. Anh em mừng mừng tủi tủi, ôn lại đủ thứ chuyện hồi bị giam chung tại khu C trại 7 ngoài Côn Đảo. Thấy anh gầy và xanh, tôi sực nhớ có nghe một cựu tù nhân kể anh chơi xì ke, tôi hỏi nhưng anh chối. Tôi nói dứt khoát: “Nếu anh không chơi thứ đó thì tốt. Nhưng nếu còn dính đến xì ke thì đừng gặp tôi nữa”. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại anh, sau này nghe tin anh chết mà vẫn không bỏ được thứ ma tuý ấy. Phải chi lúc ấy tôi đừng quá “căng” hoặc Huệ Râu cứ nói dối tôi có thể sự việc đã đổi khác. Tôi kết thân với anh em giang hồ cũ chính là nhờ điểm này. Đến tận lúc chết, Lâm Chín ngón vẫn tự coi là “đàn em” của tôi một cách rất thật tình.

    Giang hồ
    thời nay không thiếu gì kẻ lừa thầy phản bạn, bán đứng anh em, từ “chơi đẹp” gần như đã chìm hẳn vào quá khứ.
    Cũng chính một phần nhờ “chơi đẹp” mà giang hồ năm xưa mới nổi đình đám, được cảm tình của một số người, trong đó các doanh nhân, văn nghệ sĩ, và cả một số lính, cảnh sát của chế độ cũ (như Lành là cảnh sát Tổng nha theo làm tài xế cho Đại Cathay; Sáng và Cu Quì là người nhái làm đàn em của Đại…).

    Thêm một câu hỏi: Tại sao giang hồ Sài Gòn lại rộ lên, với khá nhiều đồn đại (đôi khi không có thực) vào quãng 1962 - 1967, để rồi tàn lụi? Những thế lực giang hồ về sau này không thể có một vài phong cách hành xử “đẹp” như như Đại Cathay và đàn em trong một số trường hợp, tại sao? Có thể đưa ra hai lý do để tạm giải thích.

    Thứ nhất, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, các tướng lãnh chế độ Sài Gòn cũng như các chính trị gia khi ấy chỉ lo đấu đá, hết đảo chính lại “chỉnh lý” rồi bầu cử (dỏm) để tranh chức tranh quyền, không mấy chú ý đến trật tự an toàn xã hội. Tổng nha Cảnh sát chủ yếu lo đối phó với Mặt trận Giải phóng miền Nam và đàn áp sinh viên học sinh xuống đường, biểu tình chống chiến tranh, chống Mỹ, mà lơ là số du đãng quấy phá. Mãi đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống, thế chính trị đã tạm ổn, mới quay ra lập ra “Uỷ ban bài trừ du đãng trung ương” thì giang hồ đã đủ lông đủ cánh, thành một “thế lực” có tiếng tăm khá vang dội.

    Thứ nữa, khoảng giữa những năm 1960 là lúc triết học hiện sinh của Jean Paul Sartre ảnh hưởng khá nhiều đến miền Nam Việt Nam nói chung, giới thanh niên nói riêng. Rất tiếc, quan niệm “dấn thân” (s›engager) của nhà triết học nổi tiếng người Pháp này lại bị hiểu theo một nghĩa khác là “sống hết mình”, kể cả ăn chơi, trác táng cũng hết mình. Không ít thanh niên - nhất là số có nền văn hoá từ trung bình trở xuống - đã thể hiện quan niệm sai lệch này. Đồng thời đây phải chăng cũng là biểu hiện của không ít thanh niên khi ấy bế tắc trước cuộc sống: Tương lai mình không biết đi về đâu trước tình hình khi ấy, trong khi không dễ gì tự mình tìm đến với cách mạng, và cũng không dễ gì có gan đi theo cách mạng.

    Suy cho cùng, giới giang hồ cũng chỉ là một sản phẩm của xã hội. Chính xã hội bát nháo khi đó, với “thượng tầng kiến trúc” là các “chính khứa” xôi thịt đấu đá nhau, tranh giành quyền lực đã tạo ra lớp Tôi còn nhớ đoạn được đoạn mất của một bài thơ sặc mùi “hiện sinh” mà Đại Cathay và Lâm Chín ngón rất mê, học được khi “đoong thóc” (tức nằm hút thuốc phiện) tại tiệm Khang Sinh (nằm gần khu Đại Thế Giới - vốn là nơi nhiều văn nghệ sĩ và dân giang hồ thời trước thường lui tới), từng đọc cho tôi nghe:

    Hắn mái tóc nâu vương niềm đau thế kỷ
    Quần blue jeans chung thuỷ bạc thời gian
    Bastos xanh gắn chặt ngón tay vàng…
    Theo thời gian hắn vươn mình cuồng loạn
    Lớp trẻ đôi mươi hôm nay cởi mở lòng
    Và trọn vẹn cho hắn sống
    Dù mất hồn như François Sagan, David Victor,
    Tương lai đâu?…
    Hai giờ đêm có kẻ mất hồn
    Hè đại lộ, bar, show, dồn dập on night
    Lê gót giầy nghiến từng lưng phố sá
    Crazy love, kêu em về mộng mị đắm say…

    Tuy nhiên, cũng chính nhờ hiểu lõm bõm về Sartre, Albert Camus, Andre Gide mà du đãng khi ấy còn ghi được một vài nét được gọi là “đẹp” của giới giang hồ như trên đã viết: Họ muốn tự coi mình vốn là người đàng hoàng, chẳng qua thời thế đưa đẩy mới trở thành giang hồ, và dù là giang hồ vẫn có những hiểu biết nhất định về cách đối nhân xử thế.

    Tiếc thay, vài nét được gọi là “đẹp” của giới giang hồ khi ấy cũng mai một dần, biến tướng dần, trong khi những đặc trưng khác của xã hội đen như cướp giật, thủ đoạn, tranh giành địa vị, thanh toán lẫn nhau, kết bè kết phái, mua chuộc hối lộ… hầu như trở thành bản chất của các băng nhóm tội phạm sau đó.

    VŨ QUANG HÙNG

  • Trang 2/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2