TIN TÀI TRỢ.

Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (Kỳ 8): Tướng cướp – nhà văn Sơn Vương và án tù 79 năm

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 14.4K Lượt đọc
  • 24 Trả lời

  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #1
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (Kỳ 8): Tướng cướp – nhà văn Sơn Vương và án tù 79 năm

    Son-Vuong-2_SKAX.jpg
    Sơn Vương (thứ 2 bên trái qua) cùng gia đình.

    Đầu năm 1969, trên nhật báo Tin Sáng bất ngờ xuất hiện một thiên phóng sự dài với tựa đề “Sơn Vương - người tù thế kỷ”. Ngay sau đó có tờ báo khác cũng “ăn theo” với nhiều bài viết về tướng cướp – nhà văn Sơn Vương, người vừa được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phóng thích sau khi thụ 34 năm tù. Thế giới du đãng Sài Gòn chợt bàng hoàng về một ‘đại ca” mang án tổng cộng 79 năm tù…

    Có số mạng nhà văn – tướng cướp

    Sơn Vương tên thật Trương Văn Thoại, con thứ 5 trong một gia đình điền chủ giàu có tại làng Bình Nghị thuộc tỉnh Gò Công, nay là xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Giai thoại kể rằng, vào ngày thôi nôi, trước mặt cậu bé Thoại đặt không biết bao nhiêu thứ, từ đồ chơi đến sách vở, bút mực và cả vài loại binh khí tiêu biểu, nhưng cậu ấm chỉ nhìn lướt qua rồi vồ lấy hai món: Cây bút và thanh gươm.

    Đến tuổi đi học, Thoại tỏ ra rất thông minh và hiếu học. Thoại bao giờ cũng hơn hẳn các bạn học cùng lớp. Nhưng khi vừa hết lớp 5 - Chương trình Cours Superieur của thời đó, Thoại nghỉ học trường tây để đi học võ và chữ Hán. Đến năm 1925, khi mới 16 tuổi, Thoại bỏ nhà đi theo tiếng gọi của giang hồ, tìm thầy học đạo. Cậu gặp được một đại lão sư ẩn danh trên núi cao rất tài giỏi về võ thuật và được nhận làm đồ đệ rồi thầy trò mai danh ẩn tích.

    Năm 1931, sư phụ qua đời, Thoại “hạ sơn” trở về Sài Gòn làm nghề bán sách bên lề đường. Nơi Thoại bán sách (đường Hàm Nghi sau này) có các văn nhân, ký giả, chủ báo cũng đem sản phẩm của mình ra bày bán trên vỉa hè. Trong số những chủ báo đó có ông Nguyễn An Ninh - chủ bút của tờ báo La Cloche Fêlee (Tiếng chuông rè) kiêm thủ lĩnh Đảng Thanh niên Cao vọng. Vốn thần tượng Nguyễn An Ninh, Thoại đã chủ động làm quen và hai người đã mau chóng thân nhau. Nhờ sự giúp đỡ và dẫn dắt của Nguyễn An Ninh, cộng với tài năng sẵn có, Trương Văn Thoại nhanh chóng trở thành cây viết chủ lực của tờ báo với bút hiệu Sơn Vương. Cách viết của Sơn Vương rất đơn giản, bình dân và dễ hiểu nên đã làm cho bạn đọc ưa thích.

    Trong những năm 1932 - 1933, Sơn Vương nổi danh như cồn ở Sài Gòn, Chợ Lớn và cả lục tỉnh với hàng chục tiểu thuyết được đăng tải trên báo. Phần đông những sáng tác của Thoại là những tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình. Những nhân vật hư cấu được dựng lên là những hiệp sĩ, tướng cướp nghĩa hiệp, cướp của nhà giàu đem giúp kẻ nghèo. Mãi cho đến sau này, người ta mới hiểu rằng, chính Sơn Vương đã dùng tâm trạng con người thật của mình để diễn tả nhân vật trong truyện. Trong những năm 1931-1933, Sơn Vương đã đơn thương độc mã thực hiện hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa chỉ nhắm vào các phú hộ, địa chủ ở khắp vùng từ Đồng Nai lên đến Sài Gòn, Chợ Lớn rồi dần xuống Long An.

    Tướng cướp bị lưu đày


    Hàng chục vụ cướp táo bạo đã xảy ra ở Sài Gòn và vùng phụ cận, nhắm vào nhà giàu và các chủ đồn điền Tây. Thiên hạ đồn đãi khắp nơi, kẻ khen phục người chê bôi, đi đâu cũng nghe thiên hạ bàn tán. Lúc ấy có tên chủ đồn điền cao su tên Rene Gaillard vừa bị cướp - vốn là một tên giang hồ thứ thiệt, Rene ra tuyên bố: Thưởng năm ngàn đồng và 1/10 số tiền bị cướp cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm. Tên tài xế Năm Đường (người chở Sơn Vương đi cướp nhà băng) đã khai báo để nhận thưởng. Ngày 16.8.1933, Sơn Vương bị bắt, bị xử 5 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo.

    Ở Côn Đảo lúc bấy giờ đang giam giữ nhiều tù chính trị, đó là những người của Quốc dân Đảng, Hòa Hảo, Cao Đài và Việt Minh. Sơn Vương được đưa vào phòng số 2, là phòng thường phạm. Lúc này, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh cũng đang bị giam ở đây và hai người gặp lại. Tuy là một tù thường phạm nhưng tăm tiếng vụ cướp tiền của chủ đồn điền caosu người Pháp khiến hầu hết tù phạm ở đây kính nể Sơn Vương.

    Nhờ giỏi tiếng Pháp mà mỗi lần tù nhân cần gì với giám thị, Sơn Vương lại trở thành thông dịch viên bất đắc dĩ. Cuối năm 1933, nhà tù tổ chức một cuộc thi chữ đẹp để tìm người viết chữ tốt phụ giúp làm giấy tờ cho trại, Sơn Vương được chấm đầu và được nhận làm thư ký cho Ty Ngân khố của Côn Đảo. Từ đó, Sơn Vương không còn bị giam trong tù nữa mà được thả ra ngoài, hàng ngày làm việc cho Ty Ngân khố, tối về đến dạy học cho cô con gái nhỏ của chúa đảo là Nguyễn Thị Kim Hoa.

    Năm 1936, Sơn Vương được trả về đất liền và bị giam tại Hà Tiên. Một hôm, viên giám đốc người Pháp bị mất cắp 200 đồng, nghi cho một người Việt làm bồi bàn ăn cắp, tên giám đốc đã tra khảo dã man người giúp việc đến chết. Sơn Vương biết chuyện đã hô hào tù nhân nổi lên đập phá khám, phản đối viên giám đốc. Vậy là Sơn Vương lại bị bọn Pháp đày trở lại Côn Đảo. Trở lại Côn Đảo, Sơn Vương âm thầm thu nhập tài liệu và viết bài tố cáo chế độ nhà tù hà khắc gửi về Sài Gòn cho báo chí đăng tải, làm tên quận trưởng bị trả về Pháp và thay quận trưởng mới. Ngày 16.8.1938, Sơn Vương được trả tự do.

    Đúng một năm sau, cũng vào ngày 16.8.1939, Sơn Vương lại bị bắt trở lại vì bị ghép tội du đãng và bị đưa qua giam tại trại giam ở Pursat thuộc Campuchia. Chỉ vài tháng sau, Sơn Vương cưa cửa tù trốn thoát qua Thái Lan. Rồi ông lại bị bắt khi tìm cách trở về Sài Gòn. Với tội vượt ngục, Sơn Vương bị kết án 10 năm tù và bị giam ở phòng 17 thuộc Bót Catina cho đến đầu năm 1942 thì một lần nữa lại bị đày ra Côn Đảo.
    Son-Vuong-1_SPAF
    Sơn Vương lúc về già.
    Muốn làm chúa đảo?

    Ngày 9.3.1945, quân Nhật chiếm Côn Đảo và bắt giam viên Giám đốc Nhà tù Côn Đảo người Pháp tên Tissaire. Đến cuối năm 1945, Việt Minh giành quyền kiểm soát Côn Đảo. Việt Minh đã cho tổ chức bầu cử và Trương Văn Thoại được bầu làm Chủ tịch ủy ban hành chính Côn Đảo. Ở vị trí này, Sơn Vương tưởng như mình đã trở thành chúa đảo. Sơn Vương cưới cô bé học trò ngày xưa nay đã trở thành cô giáo Lệ Hoa xinh đẹp và dịu dàng. Một đám cưới lớn nhất Côn Đảo được diễn ra. Người ta đồn thổi rằng Sơn Vương còn muốn Côn Đảo chính thức trở thành một quốc gia trung lập, đồng thời tự xưng là quốc vương…!

    Khi quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chúng đem ba chiến hạm ra chiếm lại Côn Đảo vào tháng 4.1946, bắt giam lại tất cả tù nhân. Riêng Sơn Vương mới vào tù đã bị một người tên Đinh Công Thành tố cáo với bọn Pháp là thành phần nguy hiểm vì vậy mà bị giam riêng và bị đối xử khắc nghiệt hơn những người khác. Có một người tù tên Út vì thù hằn mà bịa chuyện chuyện Sơn Vương đang giữ tấm bản đồ của kho tàng châu báu của Vua Gia Long giấu lại trong thời gian chạy trốn Tây Sơn năm 1783, báo lên mật thám Pháp. Tưởng thật, bọn Pháp tra khảo Sơn Vương dã man, đến nỗi Sơn Vương chịu không nổi phải nhận đại là có và đã vẽ một bản đồ ma cho bọn Pháp. Rồi vì tội vẽ láo đó mà Sơn Vương lại bị đánh đập thê thảm hơn.
    Giữa năm 1947, Sơn Vương bị đưa về Sài Gòn ra tòa với hai tội danh là cưỡng hôn cô vợ Lệ Hoa và giết một người tù tên Quít, lãnh bản án chung thân. Ngày 8.8.1953, trong một buổi đi làm lao công, bất ngờ Sơn Vương chạm mặt với tên Út, người đã tố cáo Sơn Vương có bản đồ kho tàng. Quá căm tức, Sơn Vương đánh chết tên Út. Thêm một án chung thân nữa và Sơn Vương bị đưa trở lại Côn Đảo. Vào thời đó, bản án chung thân được tính là 32 năm. Như vậy, tổng cộng các bản án tù mà Sơn Vương bị phạt là 79 năm!

    Đến ngày 18.11.1968, tức sau 34 năm thụ án, Sơn Vương được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ân xá, trở về đời sống bình thường. Cuộc trở về của Sơn Vương là dịp để báo chí Sài Gòn thổi bùng cuộc đời của “người tù thế kỷ” như là huyền thoại. Nhưng lúc bấy giờ, Sơn Vương đã già yếu, trở về sống ẩn dật trong một căn nhà nhỏ nằm trong hẻm đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn và mưu sinh bằng nghề làm thầy thuốc nam gia truyền. Ông mất năm 1987 tại quê nhà Gò Công.

    Hồi ký “Máu hoà nước mắt”


    Năm 1980, trước khi về lại cố hương Gò Công, ông đã ký tặng chính quyền cách mạng một tập bản thảo đánh máy dày khoảng 600 trang. Tập bản thảo hồi ký này (có tên “Máu hoà nước mắt”, hiện đặt tại Bảo tàng Côn Đảo) chủ yếu nói về những năm tháng khắc nghiệt trong nhà tù Côn Đảo. Ngay trong phần mở đầu bản thảo hồi ký có tên "Máu hòa nước mắt", ông đã viết:“Tại sao tôi đi ăn cướp và tại sao tôi phạm tội giết người?”. Ông viết tiếp: “Ăn cướp để làm gì? Điều này tôi không cần nói rõ chi tiết vì đã có vong linh một số nhà cách mạng đàn anh quá cố và một số gia đình lao động ở Bàn Cờ và Xóm Trể bị cháy nhà từ ba mươi mấy năm về trước (hiện nay còn sống) chứng kiến cho tôi”(...)

    “Một điều tôi có thể hãnh diện và tự an ủi lấy tôi là hai lần bị bắt về tội cướp, người ta tra tấn tôi đủ thứ cực hình để sát hạch tôi: Ăn cướp lấy tiền để làm gì và trao cho những ai? Thì trước sau tôi vẫn một mực khai rằng: Chơi đĩ và thua cờ bạc mà hết; chớ không hề khai một lời nào có thể can danh phạm nghĩa đến các bậc đàn anh, vì hành động mạo hiểm đó đều do tôi tự động, chớ không ai xúi bảo; nghĩa là các nhà cách mạng đàn anh không hề hay biết những món tiền tôi đưa ra là tiền ăn cướp”.

    “Nhà chức trách Pháp hồi ấy không tin, họ khảo tôi là tôi cứ ráng chịu đòn. Vì tôi tự xét: các anh ấy mà được tự do hay còn sống là xã hội được nhờ. Trái lại tôi bất quá là một kẻ vô danh tiểu tốt, có chết đi cũng không liên quan gì đến việc đời hay việc nước.Vậy tôi đi ăn cướp lấy tiền là để chơi đĩ và thua cờ bạc; mặc dù tôi không bao giờ bước đến ngưỡng cửa lầu xanh, cũng như không cầm được bộ bài Cào hay bộ bài Tứ sắc mà chia cho các tay con để chung tiền hay hốt bạc”.

    http://laodong.com.vn/phap-luat/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-8-tuong-cuop-nha-van-son-vuong-va-an-tu-79-nam-219364.bld
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #2
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 1): Đại Cathay, “bố già” của Sài Gòn
    anh%203%20-%20Du%20dang%20SG_JODW.jpg
    Sài Gòn trước năm 1975
    Trước năm 1975, Sài Gòn có 4 trùm du đãng khét tiếng nhất, trong giới gọi là “tứ đại thiên vương”, đó là: Nhất Đại, nhì Tỳ, tam Cái, tứ Thế (tức Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Ba Thế). Đại Cathay được xếp đầu bảng, còn được giới du đãng Sài Gòn gọi là “vua của các đại ca giới giang hồ”.

    Dưới mái hiên rạp chiếu bóng Cathay

    Trước năm 1975, ở Sài Gòn, hình ảnh của Đại Cathay thường xuyên xuất hiện trên các báo, được nhiều nhà văn khai thác viết tiểu thuyết, được dựng thành phim, chiếu cả ở nước ngoài…

    Theo hồ sơ của cảnh sát Sài Gòn, Đại Cathay tên thật là Lê Văn Đại, sinh năm 1940, con của ông Lê Văn Cự (Hai Cự) và bà Sáu (không rõ họ). Cha của Đại cũng từng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối.

    Sau năm 1945, Hai Cự rời Sài Gòn đi vào chiến khu rừng Sác gia nhập quân đội Bình Xuyên, bị Pháp bắt đày Côn Đảo và chết ngoài hải đảo. Vì vậy mà ngay từ nhỏ Đại đã xa cha, sống với mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân (nay là đường Đoàn Văn Bơ, quận 4).

    Quận 4 là vùng đô thị mới ven Sài Gòn, là nơi tập hợp của người dân tứ xứ, vì vậy mà rất phức tạp, là nơi giới giang hồ Sài Gòn chọn làm “thánh địa”.
    Sống trong môi trường đó, lại thừa hưởng gien “anh chị” của người cha, Đại sớm bỏ học, được đám trẻ lêu lỏng trong xóm tôn là “đại ca”.

    Chưa tới 10 tuổi đầu, Đại đã có thể luồn lách vào các chợ, sạp hàng ở chợ Vân Đồn, chợ Tôn Thất Thuyết để ăn trộm dưa, chuối về chia cho những đứa trẻ đồng cảnh ngộ.

    Sau khi cha chết, mẹ của Đại lấy chồng khác. Người cha ghẻ nghiện ngập thường hành hạ vợ và đứa con ghẻ. Một lần, Đại không kiềm chế được đã đánh lại ông ta rồi bỏ nhà đi bụi, sống lang thang bằng nghề đánh giày, bán báo.

    Khu vực ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ (Q.1, Sài Gòn) có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay là nơi tụ tập của đám trẻ bụi đời, trong đó có Đại. Bọn trẻ bụi đời đánh nhau giành khách, đứa nào gan lỳ, có sức khỏe thì chiến thắng.

    Với bản tính liều lĩnh, Đại cứ lao vào đối thủ, buộc đối phương phải đánh “cận chiến”, nhờ vậy mà Đại phát huy được những cú đấm của mình, kết quả là Đại luôn thắng trong các cuộc “tỉ thí”. Đại nghiễm nhiên trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực với cái tên Đại Cathay.

    Đó là vào khoảng năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi, để rồi suốt gần 20 năm sau đó, cái tên Đại Cathay luôn làm cho giới du đãng Sài Gòn và cả những người dân lương thiện mỗi lần nghe tới phải sợ mất vía.

    Liều lĩnh và nghĩa hiệp

    Hàng chục trẻ bụi đời dưới trướng của Đại mỗi sáng nhận thùng đánh giày, nhận báo, túa đi làm nhiều nơi, chiều đem tiền về nộp cho “đại ca” Đại. Mới chút tuổi đầu mà Đại đã biết cách thu phục “nhân tâm” bằng cách rất hào phóng - không bao giờ giữ tiền làm của riêng cho mình, mà chia hết tiền cho đàn em.

    Nhiều đứa trẻ bụi đời trong nhóm chẳng may bị ế báo hoặc bị mưa ướt hết báo, Đại chẳng những không bắt đền tiền, cũng không chửi bới, đánh đập như những tay anh chị khác, mà còn lấy tiền lời chung để bù đắp, chia phần cho những đứa trẻ không may. Tiếng “lành” đồn xa, trẻ bụi đời các nơi rủ nhau về tề tựu dưới trướng của Đại ngày càng đông.

    Năm 1955, khu vực rạp hát Cathay được xây dựng chỉnh trang lại, Đại chuyển sang “hoạt động” tại khu vực Hãng phân bón Khánh Hội ở quận 4.
    Một lần nữa, sự liều lĩnh và lì đòn của Đại đã khuất phục được đám trẻ bụi đời ở khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, là khu vực nổi tiếng về giang hồ, dao búa. Lúc ấy, khu vực cầu Mống - Dân Sinh - cầu Ông Lãnh được dân giang hồ gọi là khu Da Heo, do một tay giang hồ nổi tiếng tên là Tám Lâu cai quản. Tất cả người buôn bán đều phải “đóng xâu” cho Tám Lâu để được yên ổn làm ăn.

    Một lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày từ đâu mới tới đánh đấm ra trò, Tám Lâu thấy có cảm tình, kêu Đại đi nhậu và kết nghĩa anh em. Lúc ấy Tám Lâu phải sợ một tay giang hồ uy thế hơn, tên là Bé Bún, được xem là trùm du đãng quận 4. Bé Bún cậy đông quân, thường kéo qua "thu thuế" bà con tiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu phải làm ngơ cho băng của Bé Bún cướp bóc ngay trên lãnh địa của mình.

    Một ngày cuối năm 1957, thấy đại ca Tám Lâu thở ngắn than dài chuyện băng đảng của Bé Bún ngày càng lộng hành, Đại Cathay nốc cạn ly rượu và nói: “Anh Tám để đó em lo”. Xong Đại dắt mấy du đãng nhí vác dao qua bến Vân Đồn khiêu khích băng Bé Bún.

    Bị xúc phạm, Bé Bún huy động toàn bộ lực lượng tấn công sang khu Da Heo để hỏi tội Tám Lâu, làm Tám Lâu và đám đàn em hoảng sợ bỏ chạy. Trong khi Đại Cathay đã âm thầm cùng các đàn em giăng bẫy, đợi cho băng Bé Bún lọt vào thế trận là đánh tới tấp.

    Băng du đãng “người lớn” bị bất ngờ, không kịp trở tay. Đám giang hồ tuổi 16 - 17 tả xung hữu đột, lăn xả vào chém quân Bé Bún, xong xộc thẳng sang cả bên kia cầu, tràn vào cả “thánh địa” của Bé Bún, “tặng” cho tay giang hồ lừng danh này mấy nhát dao. Sau khi ra viện, Bé Bún và đám đồ đệ không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.

    Từ đó “đàn anh” Tám Lâu đâm ớn tài nghệ và sự lì lợm của Đại Cathay. Để rồi chỉ cần thêm một vài “phi vụ” nữa, Tám Lâu phải tự giác “nhường ngôi” trùm du đãng khu Da Heo cho Đại Cathay, còn mình thì lui về làm “thái thượng hoàng”. Vậy là, chưa đầy 20 tuổi, Đại Cathay đã trở thành trùm du đãng của khu vực Da Heo, một trong những địa bàn phức tạp nhất Sài Gòn khi ấy.
    anh%201%20-%20Du%20dang%20SG_OXMK
    Đại Cathay

    Trở thành trùm du đãng Sài Gòn


    Cả quyền lực và tiền bạc đều đến với Đại Cathay dồn dập trong những năm đầu thập niên 1960. Đến năm 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng cả Sài Gòn. Hầu hết các nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2, quận 3 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều có phần hùn của Đại dù trên thực tế hắn chẳng cần bỏ ra một đồng nào.

    Dù vậy, nguồn lợi lớn hơn cả của Đại Cathay không phải là tiền bảo kê, mà chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn mới là những “nhà tài trợ” tình nguyện để Đại nuôi quân. Bù lại, họ nhờ Đại Cathay làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác, hoặc cần thiết phải đòi một món nợ khó đòi nào đó.

    Những “khách hàng” của Đại Cathay lúc đó có cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại.

    Tuy nhiên, lúc ấy ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã có 3 tên tuổi lớn khác trong giới giang hồ, đó đó là Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Ba Thế.

    Thấy Đại Cathay nhỏ mà chơi hỗn, nhiều lần xâm phạm lãnh địa của các đàn anh, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định phối hợp để dằn mặt “thằng nhỏ chưa sạch nước mũi” đã dám “vuốt râu hùm”. Hai tên giang hồ cộm cán này họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World).

    Được sự hậu thuẫn của một tay giang hồ gộc khác là Ba Thế - chủ vũ trường Aristo – Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái mời Đại đến vũ trường Aristo để "bàn công chuyện".

    Với tính tình lỳ lợm, Đại một mình đến “hang hùm”. Vừa bước vào vũ trường Aristo, Đại bất ngờ bị Ba Thế đá lộn cổ xuống cầu thang, xong 4 đàn em của Thế xông vào chém. Đại vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, mình mẩy đầy thương tích...

    Hơn 1 tháng sau, khi những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại Cathay đã âm thầm giắt dao đi “đòi nợ”. Cả Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Ba Thế đều lần lượt bị Đại chém trọng thương. Điều kinh khủng là sau khi chém Huỳnh Tỳ (cố ý chém trọng thương chứ không để chết), Đại “nhắn” với Ngô Văn Cái là tuần sau sẽ tới lượt hắn vì cái tội “chơi bẩn”.

    Đúng một tuần sau, Ngô Văn Cái phải ôm đầu máu đi bệnh viện vì những nhát chém rất nghề của Đại cùng với lời nhắn cho Ba Thế... Sau khi cả 3 “đại ca” trong giới giang hồ đều “trả nợ” bằng những nhát dao vừa đủ để thẹo cả đời, những “người lớn” đã biết khiếp sợ, gửi lời xin lỗi Đại Cathay.

    Từ đó, danh xưng "Tứ đại thiên vương ĐẠI -TỲ - CÁI -THẾ” trong giới du đãng Sài Gòn đã xuất hiện, chính thức xác nhận Đại Cathay đứng đầu trong giới du đãng Sài Gòn.

    Xã hội miền Nam khi ấy với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền, đã dung túng Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Thuở ấy Cò Ly, quận trưởng quận 1, đã công khai bảo kê cho Đại. Hàng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường, nhà hàng sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Thế giới giang hồ cả Sài Gòn – Chợ Lớn đã về thuần phục với trướng của Đại Cathay. Thằng nhỏ bụi đời thất học ngày nào giờ có thể làm thay đổi cả xã hội Sài Gòn nếu nó muốn.

    Mới chút tuổi đầu mà Đại đã biết cách thu phục “nhân tâm” bằng cách rất hào phóng - không bao giờ giữ tiền làm của riêng cho mình, mà chia hết tiền cho đàn em. Nhiều đứa trẻ bụi đời trong nhóm chẳng may bị ế báo hoặc bị mưa ướt hết báo, Đại chẳng những không bắt đền tiền, cũng không chửi bới, đánh đập như những tay anh chị khác, mà còn lấy tiền lời chung để bù đắp, chia phần cho những đứa trẻ không may.

    http://laodong.com.vn/lao-dong-doi-s...gon-207514.bld
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #3
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 2): Ngày tàn của Đại Cathay
    Sai%20Gon%20thap%20nien%201960_DMWU.jpg
    Sài Gòn thập niên 1960.

    Sau này, khi nhắc về trùm du đãng Đại Cathay, có ý kiến cho rằng, nếu Đại bớt một chút “giang hồ”, thêm một chút trí tuệ, có lẽ y đã trở thành một “bố già”, một dạng mafia theo kiểu Ý. Cứ ngỡ mình là nhất thiên hạ, xem thường mọi thứ trên đời, sống bạt mạng theo bản năng…, Đại Cathay trở thành cái gai trong mắt của một số người, họ buộc phải nhổ bỏ. Cái chết của Đại Cathay từng làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực ở Sài Gòn…

    Từ chuyện coi trời bằng vung

    “Thời ấy, nhiều tướng lĩnh quân đội, cảnh sát vì bất lực cũng có mà vì “đi đêm” với thế giới giang hồ cũng có, họ sẵn sàng dựa vào bọn du đãng để làm hậu thuẫn cho mình. Nhưng chuyện gì cũng có cái ngưỡng của nó.

    Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay và băng du đãng của hắn ngày càng làm cho những quan chức và cảnh sát ngụy mang tiếng, cảm thấy bối rối.

    Với cá tính “cao bồi” của mình, thay vì trị Đại về tội ngông nghênh coi thường pháp luật, tướng Nguyễn Cao Kỳ đã tìm cách chinh phục Đại.


    Một lần, tướng Nguyễn Cao Kỳ cho gọi Đại đến gặp và nói giọng bề trên: “Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn quân dịch mãi được. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được”.


    Tướng Kỳ vừa dứt lời, Đại Cathay đã trả lời ngay: “Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?”.


    Tướng Kỳ bị chạm tự ái nhưng vẫn kiềm chế, thuyết phục: “Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi”.

    Đại Cathay dứt khoát: “Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…”.

    Tướng Kỳ thất bại, đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan - Giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành thử thu phục Đại.


    Tướng Loan cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” và lập “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên du đãng nào nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát.

    Vừa giương oai, Nguyễn Ngọc Loan vừa muốn thu phục Đại, để qua Đại mà dẹp yên nạn du đãng trên đất Sài Gòn.


    Nguyễn Ngọc Loan cho mời Đại Cathay đến Nha Cảnh sát Đô thành và nói: “Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng”.

    Đại Cathay thẳng thừng từ chối: “Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

    Nguyễn Ngọc Loan tiếp tục dằn mặt: “Tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành. Tôi không thể để anh muốn làm gì thì làm!”.

    Đại Cathay trả lời: “Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được”.

    Cuộc gặp kết thúc. Nội dung các cuộc gặp nói trên đã nhanh chóng lan truyền trong giới du đãng và tiếng tăm Đại Cathay càng nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu hùm” Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Ngọc Loan.


    Đến cái chết của đại uý Trần Kim Chi

    Một buổi tối, Đại và đàn em đến vũ trường Olympic để “đập phá”. Như lệ thường, đám cave ùa tới vây lấy Đại và bọn du đãng, vì sợ cũng có mà vì Đại rất hào phóng cũng có.

    Một lúc sau, đám lính của tướng Nguyễn Ngọc Loan trong những bộ đồ rằn ri xộc vào, kéo ghế ngồi, nhưng không thấy cô cave nào đến phục vụ. Một tay thiếu úy tên Hải rời khỏi bàn, đến đứng đối diện với Đại Cathay, hất hàm nói: “Sang bớt cho tụi này mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”.

    Một cận thần của Đại là Hải “súng” hất mặt nói: “Đâu có được, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?”.

    Tay thiếu úy đưa tay vào bụng cố ý làm lộ khẩu súng và nói: “Đừng chơi quê tụi này chớ!”.


    “Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!”, Hải “súng” trả lời.

    Bị khiêu khích, tên thiếu úy Hải xấn tới chụp lấy tay cô cave kéo về phía mình, tuyên bố: “Không thích cũng bắt!”.

    Hải “súng” chụp chai Black and White trên bàn ném mạnh vào mặt đối thủ.

    Thiếu úy Hải buông cô cave, tránh đòn và móc súng. Đại Cathay hét lên: “Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây”.

    Một viên đạn trúng vào đầu gối làm Đại gục xuống. Hải “súng” xốc Đại lên bỏ chạy khỏi vũ trường, trong lúc một đàn em khác là Lâm “chín ngón” có giắt súng theo đã đọ súng cầm chân đám lính, hai bên bắn loạn xạ, nhưng vì đèn trong vũ trường vụt tắt, nên không gây thương vong gì thêm. Nhiều đàn em của Đại Cathay bị cảnh sát truy bắt, tống giam.


    Thoát chết trước họng súng của cảnh sát, nhiều “chiến hữu” lại bị cảnh sát bắt giam, Đại Cathay như biết điều hơn. Một buổi tối, Đại bao nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy cảnh sát Trần Kim Chi đến dự tiệc.


    Đại mở lời: “Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…”.


    Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng, từ chối thẳng thừng: “Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu!”.


    Bình thường thì có lẽ máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên, nhưng do đang yếu thế nên Đại vẫn nhỏ nhẹ: “Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi”.


    Sau buổi tiệc đó không lâu, đại úy Trần Kim Chi đã bị một chiếc xe chở gỗ bất ngờ đụng ngang qua chiếc xe hơi CV2 của ông ta khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ, làm ông ta chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất. Cả giới du đãng Sài Gòn và lực lượng cảnh sát ngụy đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại đại úy Trần Kim Chi.




    images%20%281%29_SQBD
    Ngày tàn của Đại Cathay

    Tháng 8.1966, Đại bị mời tới Tổng nha cảnh sát. Đại vẫn nghĩ rằng như bao lần khác, tướng Loan mời hắn đến để thuyết phục, cộng tác. Thế nhưng, tên trùm du đãng đã không thể lường trước tình huống xấu nhất, hắn bị bắt giam.

    Ngày 28.11.1966, Đại bị đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc. Cùng bị lưu đày hải đảo với Đại Cathay có một số giang hồ cộm cán như Bảy “si” (anh vợ Năm Cam sau này), Lâm “chín ngón”, Hải “súng”...


    Trên đảo Phú Quốc, Đại và băng nhóm bị nhốt trong “Trung tâm hướng nghiệp” do Nguyễn Ngọc Loan thành lập nhằm bài trừ du đãng.


    Gọi là “hướng nghiệp”, nhưng kỳ thực đám du đãng suốt ngày chỉ ngồi đánh mạt chược. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo: “Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, đặt lại tên cho nó đi!”.


    Bác sĩ Nghiệp, một du đãng có học đề xuất: “Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó”. Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.


    Vô tình, “Trại Cửu Sừng" trở thành nơi làm cho bọn du đãng kết tình “huynh đệ” sâu nặng hơn, để sau này khi được thả về đất liền, chúng tiếp tục trở thành những băng nhóm du đãng còn dữ dội hơn trước lúc ra đảo.


    “Trại Cửu Sừng” như một con dấu để xác nhận “đẳng cấp giang hồ”, tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này nghiễm nhiên trở thành đàn anh, được những tên du đãng trong đất liền nể phục, tôn làm đại ca.


    Từ khi trở thành trùm du đãng Sài Gòn với cuộc sống đế vương, Đại có nhiều mối tình, nhưng cuộc tình sâu nặng nhất của Đại là với cô gái tên Nhân - con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng ở Sài Gòn.


    Khi Đại và đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân treo số tiền 1,5 triệu đồng, là số tiền cực lớn lúc đó, cho ai có cách cứu Đại Cathay đem về đất liền.


    Món hời này đã được đại tá Long - một sĩ quan thuộc lực lượng Hải quân chỉ huy tàu tuần lưu - nhận giúp đỡ. Kế hoạch vượt ngục được triển khai, theo đó, đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn dưới bãi biển để đưa đám tù ra khơi, rồi có tàu hải quân rước Đại về đất liền.


    Theo đúng kế hoạch, Đại Cathay và khoảng một chục đàn em vượt ngục. Nửa đêm 7.1.1967, Đại Cathay dẫn cả bọn đàn em đào thoát ra ngoài. Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải “súng” chạy theo hướng bờ biển.


    Thế nhưng, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất bị bắt lại ngay. Đại Cathay và Hải “súng” vội đổi kế hoạch, không xuống bờ biển mà chạy vào khu núi Tượng.


    Cùng lúc, có tiếng của nhiều chiếc máy bay trực thăng trên đầu, cùng ánh sáng của hỏa châu. Nhiều loạt đạn từ máy bay bắn xuống, người ta còn nghe nhiều tiếng la hét vọng ra từ rừng sâu. Kể từ đó không ai còn gặp đại Cathay nữa.


    Lúc đó, dư luận ở Sài Gòn đặt ra nhiều khả năng về sự biến mất của Đại Cathay, như: Đại đã bỏ mạng vì những loạt đạn lúc nửa đêm trên núi Tượng, rồi rơi xuống vực sâu mất xác; Đại đã trốn thoát rồi vượt biển qua Campuchia, đi luôn ra nước ngoài lánh nạn. Cũng có tin đồn là Đại đã lần về được Sài Gòn và sống ẩn dật với cô vợ tên Nhân…

    Sau đó, cái chết của Đại Cathay cũng dần sáng tỏ: Biết không trị nổi Đại Cathay, nhất là sau cái chết của đại úy Trần Kim Chi, tướng Nguyễn Ngọc Loan tìm cách loại trừ Đại. Biết cô Nhân - vợ Đại đang tìm cách tổ chức cho chồng vượt ngục, Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo dàn dựng một cuộc vượt ngục như thật, qua đó hạ sát Đại.


    Một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra Phú Quốc thực thi nhiệm vụ. Diệt xong Đại, toán biệt kích dù đắp mộ chôn không để lại dấu vết.


    Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

    http://laodong.com.vn/lao-dong-doi-song/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-2-ngay-tan-cua-dai-cathay-207220.bld
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #4
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 3): Huỳnh Tỳ và những ân oán giang hồ với Năm Cam

    huynh_ty__UIIA.jpg
    Huỳnh Tỳ vào thập niên 1960.


    Trùm xã hội đen Năm Cam từng làm mưa làm gió ở Sài Gòn và kết thúc bằng vụ án “Năm Cam và đồng bọn” năm 2003. Năm Cam cũng xuất thân từ du đãng Sài Gòn trước năm 1975. Người “dìu dắt” Năm Cam vào thế giới tội ác chính là “nhị ca” Huỳnh Tỳ trong “Tứ đại thiên vương” thống lĩnh giang hồ Sài Gòn khi ấy là Đại - Tỳ - Cái - Thế (Đại Cathay - Huỳnh Tỳ - Ngô Văn Cái - Nguyễn Kế Thế).

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong khi nhiều “anh chị” đã chết, thân tàn ma dại vì ma túy và bệnh tật, thì Huỳnh Tỳ vẫn “gượng” lại được, trở thành “đồ đệ” của Nam Cam, mặc dù trước giải phóng là đàn anh của “ông trùm” này.

    Trùm du đãng có học thức

    Huỳnh Tỳ là trường hợp trùm du đãng hiếm hoi không xuất thân từ trẻ bụi đời, thất học. Huỳnh Tỳ tên thật là Nguyễn Thuận Lai, sinh năm 1944 tại quận 1, Sài Gòn, trong 1 gia đình yên ấm, được cha mẹ cho học hành đàng hoàng, đến hết lớp đệ tam (lớp 10).

    Cậu học sinh Thuận Lai hiền lành, chăm chỉ, học giỏi đều các môn, đặc biệt yêu thích thơ văn. Năm 1960, khi học hết đệ tam, để nhường sự học cho các em, Thuận Lai rời mái trường lao vào cuộc mưu sinh phụ giúp gia đình. Lúc ấy cha của Thuận Lai làm nghề lái xe đò đường dài tuyến Sài Gòn - Pleiku, Thuận Lai theo cha học nghề lơ xe.


    Nghề lơ xe tiếp xúc với đủ mọi thành phần trong xã hội, đã sớm làm cho cậu thư sinh hiền lành trở thành tay “anh chị” trên tuyến đường.

    Tiếp thu nhanh ngõ ngách nghề đi xe đường dài từ cha, cộng với trình độ học vấn khá, Thuận Lai dần trở thành tay lơ xe bản lĩnh.

    Đi xe đò đường dài, chuyện tranh giành khách giữa các xe, rồi “câu giờ” để rước thêm khách... xảy ra như cơm bữa. Các tài xế và lơ xe thường giải quyết nhau theo luật giang hồ, ai mạnh thì thắng, ai yếu phải chịu lép vế. Thuận Lai sẵn sàng tỉ thí với các lơ xe khác để giành khách.


    Do cha bị bệnh không tiếp tục lái xe đường dài, Thuận Lai cũng chấm dứt 2 năm rong ruổi trên đường, trở về quận 1 tìm kế mưu sinh.

    Thời ấy ở đường Lê Lai, quận 1 có một rạp hát nổi tiếng tên là Aristo. Năm 1955, gánh hát Kim Chung của ông bầu Long từ Hà Nội vào Sài Gòn đã lấy rạp Aristo làm “hậu cứ”.

    Ăn theo gánh hát, nhiều quán ăn, quán nước trên đường Lê Lai mọc lên như nấm. Khu vực này trở nên náo nhiệt, đồng thời cũng kéo theo không ít dân trộm cắp, móc túi, trẻ bán báo, đánh giày từ các nơi tìm đến làm ăn.


    Khu vực này lại nằm giữa một bên là chợ Bến Thành, một bên là ga xe lửa Sài Gòn, vì vậy mà sự náo nhiệt, phức tạp càng tăng lên theo đà sôi động của khu chợ và nhà ga. Nơi đây cũng ra đời các loại dịch vụ cho giới lưu manh trộm cắp như sòng bài, động chích, tiệm hút, đĩ điếm...


    Thuận Lai nhờ có 2 năm “chinh chiến” bằng nghề lơ xe, đã tỏ rõ sự hơn trội so với các băng “tép riu”. Thuận Lai cùng với 2 tay anh chị khác tên Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế đứng ra nhận bảo kê toàn bộ các dịch vụ nhám nhúa này.


    Lúc mới từ Hà Nội vào, bầu Long và gánh hát Kim Chung đã thu dụng một loạt các tay đao búa từng nổi tiếng một thời ngoài Hà Nội để làm chân bảo vệ.


    Thời ấy, gánh hát nào cũng có lực lượng bảo vệ “đầu gấu” để đối phó với nạn côn đồ. Đám bảo vệ đầu gấu của gánh hát Kim Chung không chỉ giữ yên cho gánh hát, mà còn hay tụ tập tại quán Kiều Chánh cạnh rạp Aristo để giương oai. Nhiều trận hỗn chiến tóe lửa giữa nhóm của Thuận Lai với đám bảo vệ này đã xảy ra, cuối cùng phần thắng đã thuộc về Thuận Lai.


    “Làm gỏi” được nhóm bảo vệ của bầu Long, Thuận Lai và đám chiến hữu kéo đến đập phá gánh hát Kim Chung. Để yên thân, bầu Long đã hạ mình đến gặp Thuận Lai xin lỗi về chuyện “thất lễ” đã qua, rồi mời băng của Thuận Lai làm bảo kê cho gánh hát Kim Chung.


    Cứ thế, băng du đãng “Tam đầu chế” Thuận Lai, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế nổi lên khắp khu vực trung tâm Sài Gòn, lan ra cả quận 1, chúng thường tụ tập nhậu tại rạp hát Aristo, nên được giang hồ gọi luôn là băng Aristo.


    Cách thức hoạt động của băng Aristo do Thuận Lai cầm đầu là cho đàn em đi quậy phá nhà hàng, quán ăn, doanh nghiệp nào đó trên địa bàn. Xong Thuận Lai tới đặt vấn đề bảo kê để không bị quấy phá. Cứ vậy, dần dần hầu hết giới làm ăn, buôn bán trong khu vực đều trở thành “tá điền”, hàng tuần phải “nộp tô” cho băng nhóm Thuận Lai.


    Lúc này, để trốn không đi lính, Thuận Lai phải làm giấy cho nhỏ tuổi, thay đổi họ tên, từ Nguyễn Thuận Lai thành Huỳnh Tỳ. Cái tên Huỳnh Tỳ bắt đầu xuất hiện khoảng năm 1963 và nhanh chóng trở thành nỗi khiếp sợ đối với những người làm ăn lương thiện ở quận 1.


    Bị Đại Cathay thu phục

    Khoảng năm 1964, băng du đãng Đại Cathay sau khi thống lĩnh cả giới giang hồ quận 4, bắt đầu chồm sang quận 1, khu vực của Thuận Lai. Lãnh địa của 2 băng du đãng khét tiếng ở Sài Gòn bắt đầu “chồng lấn” lên nhau, đã xảy ra một vài vụ đụng chạm giữa đàn em của Huỳnh Tỳ và Đại Cathay.

    Vừa bực tức vừa lo sợ, Huỳnh Tỳ bàn với hai phó tướng là Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế tìm cách loại Đại Cathay ra khỏi thế giới giang hồ Sài Gòn. Một buổi tối, Huỳnh Tỳ bày tiệc trên lầu rạp hát Aristo, mời Đại Cathay tới gặp gỡ để thông cảm cho những va chạm đã qua của bọn đàn em.


    Lúc ấy, giới giang hồ Sài Gòn vẫn đánh giá cao trình độ học vấn của Huỳnh Tỳ, so với Đại Cathay không viết nổi tên mình. Thế nhưng, từ sau cuộc đụng độ giữa Huỳnh Tỳ và Đại Cathay, cách nhìn của giới giang hồ đã thay đổi, khi mà kẻ có học lại cư xử khá “vô học”, còn kẻ thất học lại rất “quân tử”.


    Được Huỳnh Tỳ gửi thư mời tới dự tiệc giảng hòa, Đại Cathay không mảy may nghi ngờ, một mình từ quận 4 sang quận 1, vào rạp hát Aristo. Chỉ có sự may mắn và khả năng chịu đựng dao búa mới giúp cho Đại thoát chết. Chưa lên hết cầu thang, Đại cảm thấy chột dạ khi mà nụ cười đón khách của Huỳnh Tỳ có cái gì đó thâm hiểm chứ không đường hoàng, trong sáng của kẻ có học.


    Chưa kịp chào hỏi, Đại bất ngờ bị Nguyễn Kế Thế đá lộn cổ xuống thang lầu. Cùng lúc 4 tên đàn em của Huỳnh Tỳ xông ra chém Đại tới tấp. Vừa đỡ đòn, Đại vừa đánh trả để mở đường máu. Khi lao được ra ngoài đường, mình mẩy máu me đầm đìa, Đại được đàn em cõng chạy về phía chợ cầu Ông Lãnh...


    Khi những vết thương còn chưa kéo da non, Đại Cathay đã một mình lặng lẽ giắt dao đi sang quận 1 để giải quyết ân oán giang hồ. Đàn em đòi đi theo, Đại kiên quyết không cho, vì đây là chuyện cá nhân của Đại, để một mình Đại giải quyết.


    Chính cách cư xử đầy bản lĩnh và anh hùng của Đại Cathay, so với cách đánh lén hèn hạ của Huỳnh Tỳ trước đó, đã làm cho Đại Cathay nổi lên như cồn sau vụ đụng độ này. Không biết bằng cách nào, mà cả Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế đều lần lượt nhận đúng 1 nhát dao của Đại vừa đủ để thẹo suốt đời.


    Nhắm thế không thể đối đầu Đại Cathay, mà cũng thấy nhục trong giới giang hồ sau vụ đụng độ đầy tai tiếng này, Huỳnh Tỳ đành bắn tiếng cầu hòa, xin gia nhập vào băng của Đại Cathay. Để rồi sau đó, băng Aristo vĩnh viễn bị xóa sổ, quân tướng của Aristo về qui phục dưới quyền của một đại ca duy nhất là Đại Cathay.


    Cuộc hợp nhất giang hồ vào cuối năm 1964 đã xóa sổ cái tên Aristo, đẻ ra danh xưng “Tứ đại thiên vương” Đại-Tỳ-Cái-Thế, cùng với việc danh tiếng của Đại Cathay càng lừng danh gấp bội khắp Sài Gòn.


    Ân oán giang hồ với Năm Cam

    Huỳnh Tỳ lớn hơn Năm Cam 3 tuổi. Vào đầu thập niên 1960, khi đã nổi danh trong “Tứ đại thiên vương”, Huỳnh Tỳ có thu nhận 1 đàn em tên là Năm Cam, cho làm bảo vệ trong các vũ trường.

    Đàn em Năm Cam không giỏi về đánh đấm nhưng tỏ ra “mưu lược” nên được Huỳnh Tỳ tin dùng. Chính Huỳnh Tỳ đã cứu Năm Cam thoát nạn trong một vụ thanh toán bằng súng ngay trong vũ trường.


    Sau ngày giải phóng, cả Huỳnh Tỳ và Năm Cam đều không từ bỏ “nghề” du đãng, nhiều lần vào tù ra khám. Năm Cam dần dần củng cố thế lực, đến đầu thập niên 1990 trở thành ông trùm của xã hội đen ở TPHCM.


    Huỳnh Tỳ vốn nghiện nặng, thường xuyên đói thuốc, hoàn cảnh gia đình khó khăn khi vợ mất để lại cho 2 đứa con nhỏ dại. Không băng nhóm, không nghề nghiệp, Huỳnh Tỳ phải xoay sang mánh mung cò con như lắc bầu cua, chích dạo ma túy...


    Đầu năm 1992, Huỳnh Tỳ lén lút mở sòng bạc tại một con hẻm trên đường Lê Lai. Biết chuyện, Năm Cam ra lệnh dẹp, vì chỉ có Năm Cam mới có cái quyền mở sòng bạc ở Sài Gòn. Huỳnh Tỳ không nghe, ngay lập tức, sòng bạc này liên tục bị khám xét. Biết là Năm Cam ra tay, Huỳnh Tỳ phải đến mời Năm Cam hùn vốn danh nghĩa, sòng bạc tiếp tục hoạt động. Đến cuối 1992 thì chấm dứt, tên tuổi của Năm Cam bị đưa lên một tờ báo ở Sài Gòn vì những hoạt động bảo kê.


    Cho rằng Năm Cam sắp hết thời, Huỳnh Tỳ không chịu cống nộp tiếp. Đầu năm 1993, sòng bạc của Huỳnh Tỳ bị bắt quả tang, nhiều nhân viên của sòng phải tra tay vào còng. Huỳnh Tỳ may mắn thoát được, bị truy nã. Huỳnh Tỳ phải đến tạ tội với Năm Cam xin nghĩ tới ân tình cũ mà cứu giúp. Năm Cam dang tay đón nhận Huỳnh Tỳ, giao quản lý các sòng bạc khác ở quận 4, quận 8 và Biên Hòa.


    Tháng 9.1995, Năm Cam lại bị báo chí phanh phui. Lần này, Huỳnh Tỳ lại trở mặt không cung phụng cho Năm Cam. Không lâu sau đó, Năm Cam bị bắt đi cải tạo. Khi đi cải tạo về, Năm Cam rất giận Huỳnh Tỳ là người có học mà cư xử “vô học”. Từ đó giữa Năm Cam và Huỳnh Tỳ không còn ân nghĩa anh em gì nữa.


    Bị thất sủng, nhưng đó lại là điều may mắn cho Huỳnh Tỳ. Bởi nếu được Năm Cam tha thứ, thu nạp lại một lần nữa, chắc hẳn sau đó Huỳnh Tỳ không thoát khỏi là bị cáo trong chuyên án “Năm Cam và đồng bọn” gây xôn xao cả nước.

    http://laodong.com.vn/lao-dong-doi-song/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-3-huynh-ty-va-nhung-an-oan-giang-ho-voi-nam-cam-207572.bld


    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #5
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 4): Điền Khắc Kim – tên du đãng “sính ngoại”

    images664298DienKhacKimPhunutodayvnjpg1333956313_NGUH.jpg Điền Khắc Kim.
    Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, cái tên Điền Khắc Kim nổi trội hơn cả trong giới giang hồ Sài Gòn. Điền Khắc Kim là cái tên duy nhất trong thế giới tội phạm Sài Gòn chiếm được cảm tình của nhiều người dân thành phố này. Lý do: Điền Khắc Kim chỉ gieo tội ác nhắm vào người Mỹ. Một “phi vụ” của Điền Khắc Kim thường gồm 2 phần: Cướp số tiền lớn của một người Mỹ nào đó và hãm hiếp vợ của nạn nhân…

    Chỉ nhắm vào người Mỹ

    Vào giữa tháng 2.1968, báo chí Sài Gòn loan tin một vụ cướp khác lạ. Ở thành phố phức tạp hàng ngày diễn ra bao vụ cướp giật này, vụ cướp nói trên được dư luận chú ý bởi lẽ: Tên cướp đã đột nhập vào nhà một kỹ sư công chánh người Mỹ trên đường Trần Quang Khải. Sau khi khống chế bà vợ ông kỹ sư, cướp số tài sản trị giá khoảng 17 triệu đồng (lúc đó vàng 25.000đồng/lượng) tên cướp còn hãm hiếp nạn nhân (một phụ nữ Mỹ đã đứng tuổi), xong mới tẩu thoát.


    Mấy tháng sau, những gia đình người Mỹ ở Sài Gòn càng hoang mang cao độ khi liên tiếp 3 vụ cướp tương tự được lập lại, với cùng một kiểu cách. Đặc biệt, các vụ cướp xảy ra tại cùng một cư xá Mỹ trên đường Trần Cao Vân, quận 1. Tên cướp đã lần lượt dọn sạch những tài sản có giá trị trong 3 căn hộ, với tổng số tiền bị cướp khoảng 11 triệu đồng. Cả 3 bà vợ Mỹ chủ nhà đều lần lượt bị tên cướp khống chế cưỡng hiếp.



    Dư luận Sài Gòn như “sôi” lên khi xuất hiện nạn nhân thứ 5 là bà Calorine - vợ của Giám đốc Hãng băng đĩa Columbia nổi tiếng. Câu chuyện càng nhuốm màu huyền bí khi cảnh sát không lần ra chút manh mối nào về tên cướp. Bóng ma cướp của – hãm hiếp trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của các gia đình người Mỹ hoặc các bà mệnh phụ có chồng người Mỹ sống ở Sài Gòn. An ninh tại các cư xá Mỹ được tăng cường tối đa, cảnh sát thay nhau canh gác 24/24h ở những nơi có đông gia đình người Mỹ sinh sống.



    Dù vậy, tên cướp vẫn cứ ung dung hành động. Tháng 11.1969, hắn đột nhập nhà một gia đình chồng Mỹ vợ Việt ở cư xá Đô Thành. Sau khi khống chế cô chủ nhà xinh đẹp, lấy 6 triệu đồng, tên cướp bắt đầu giở trò, cởi áo nạn nhân... Thế nhưng, hắn không cưỡng hiếp nạn nhân như những lần trước, mà lạnh lùng xách túi tiền bỏ đi. Quá ngạc nhiên, cô gái nạn nhân buột miệng hỏi: “Anh tên gì?”. Tên cướp sững người một chút, rồi trả lời: “Điền Khắc Kim! Tôi chỉ trả thù người Mỹ chứ không hại cô”, xong lao ra ngoài đường.



    Ngày hôm sau, trên trang nhất tất cả các tờ báo ở Sài Gòn đều đăng tên Điền Khắc Kim thật to. Thế nhưng cái tên Điền Khắc Kim vẫn tiếp tục bí ẩn. Nhiều tờ báo đã nhảy vào làm loạt bài điều tra về tên cướp Điền Khắc Kim. Một cuốn sách “mì ăn liền” cũng kịp ra đời với bao thêu dệt kỳ bí, giật gân về 1 tên cướp “trả thù dân tộc” (!?)





    Bao%20chi%20Sai%20Gon%20viet%20ve%20Dien%20Khac%20Kim%20nam%201971.doc_ACLZ
    Báo chí ở Sài Gòn đều đăng tên Điền Khắc Kim rất lớn

    Sa lưới


    Lại những vụ cướp – hãm hiếp đầy bí ẩn nhắm vào những gia đình người Mỹ. Để rồi một chút sơ suất đã làm cho Điền Khắc Kim phải sa lưới.


    Tháng 5.1970, tên cướp đột nhập vào nhà Giám đốc Hội cha mẹ nuôi quốc tế trên đường Trần Quí Cáp (nay là Võ Văn Tần) lúc 2 vợ chồng người Mỹ đang ân ái. Tên cướp đã dùng súng khống chế, bắt trói người chồng, nhét giẻ vào miệng, đem nhốt vào nhà tắm, thu gom tiền bạc, rồi hiếp bà vợ. Trong phòng tắm, tay giám đốc cởi được dây trói, bí mật gọi cảnh sát… Điền Khắc Kim bị bắt, ra tòa lãnh án 20 năm tù.



    Trong trại giam Chí Hòa, Điền Khắc Kim được đám tù du đãng, trộm cướp xếp vào hàng “đại ca” bởi tiếng đồn “trả thù dân tộc”, chuyên nhắm vào người Mỹ. Chẳng bao lâu, Điền Khắc Kim vượt ngục, thông tin này lại làm cả Sài Gòn hồi hộp, nhất là trong các gia đình người Mỹ, họ tăng cường cảnh giác cao độ. Vì vậy mà khi Điền Khắc Kim lại liều lĩnh đột nhập vào nhà một thiếu tá Mỹ để cướp - hiếp, tay sĩ quan Mỹ đã móc súng chống trả, Điền Khắc Kim bị trúng đạn vào bụng, quỵ ngay tại chỗ.



    Tại Tổng Y viện Cộng hòa (nay là Quân y viện 175), cơ thể quấn đầy bông băng, ngay trước mũi của những cảnh sát đứng gác ngày đêm, Điền Khắc Kim cưa còng trốn thoát. Ngay sau đó, Điền Khắc Kim lại đột nhập vào một nhà doanh nhân người Mỹ ở số 190 đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), cướp được 5.000 USD và 20 triệu đồng.



    Cũng với trò cũ, sau khi gom tiền, hắn hãm hiếp nữ chủ nhà. Bất ngờ ông chồng về, một cuộc đọ súng nổ ra, cả 2 tay súng đều bị trúng đạn và nằm quỵ tại hiện trường. Điền Khắc Kim lại vào tù. Lần này, trại giam Chí Hoà dành sự “quan tâm” đặc biệt hơn, nên Điền Khắc Kim hết đường vượt ngục. Tới lúc này, động cơ “trả thù” nhắm vào người Mỹ của Điền Khắc Kim mới dần được hé lộ qua câu chuyện mà hắn tâm sự với bạn tù.



    Hận lính Mỹ…


    Điền Khắc Kim tên thật là Lê Văn Minh, con trai thứ hai trong một gia đình nghèo ở làng Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp. Khi bị cô gái mà hắn tha không hiếp hỏi tên (đã kể ở trên), Minh bị bất ngờ, không biết trả lời thế nào, nên nói đại cái tên Điền Khắc Kim mà hắn đọc thấy ở đâu đó trong truyện Tàu. Để rồi cái tên Điền Khắc Kim đi theo hắn suốt cả đời. Gia đình Minh có bốn chị em, cha mất sớm, toàn bộ gánh nặng gia đình đè lên đôi vai người mẹ ốm yếu. Minh phải hàng ngày dậy sớm phụ mẹ bán bánh mì. Tuổi thơ vất vả và thiếu thốn khiến Minh không lớn nổi, gầy gò, đen đúa, nên có biệt danh là Minh “con”.


    Gần nhà Minh có cô bé tên Diễm, nhỏ hơn Minh 1 tuổi. Nhà Diễm cũng nghèo, người cũng đen đúa, ốm đói như Minh “con”, nên có biệt danh Diễm “đèo”. Làng Hạnh Thông Tây có nghề làm pháo gia truyền, quanh năm suốt tháng đầy những tiếng đì đùng của pháo. Minh nhặt pháo rơi rớt trong làng, cất để dành, chờ cho Diễm đi ngang qua là đốt ném cho vui. Diễm sợ khóc thét lên, Minh lại xin lỗi, dỗ dành. Hai đứa trẻ nghèo cứ lớn dần theo thời gian, tình cảm khác lạ trong chúng cũng đâm chồi, nảy nở theo tuổi tác.



    Rồi lính Mỹ ồ ạt vào miền Nam. Khu vực Hạnh Thông Tây mọc đầy trại lính, sở Mỹ, cuộc sống sôi động và phức tạp hẳn lên. Cái xóm nghèo của Minh “con” bắt đầu mọc lên những quán rượu, nhà chứa, snack-bar để lính Mỹ giải sầu. Tuổi 16, Diễm “đèo” môi ửng hồng, ngực đã chớm nở... Một ngày nọ, Minh “con” bỗng thẫn thờ khi nhìn thấy Diễm lột xác thành một Hélen Diễm trong quán bar mới mở, mặc váy ngắn cũn cỡn, cặp tay lính Mỹ. Rồi Minh cũng bị cuốn vào cuộc sống xô bồ, phức tạp đó, trở thành một thằng ma cô chuyên dắt mối cho gái điếm.



    Làm ma cô phải làm luôn nhiệm vụ bảo kê cho gái điếm, Minh bắt đầu biết đánh đấm, thậm chí đâm chém, đối đầu với giang hồ từ nơi khác kéo tới... Cậu bé hiền lành ngày xưa đã trở thành thằng ma cô lầm lì với vết sẹo dài vắt qua má trái - hậu quả của một trận thư hùng. Rồi Minh bỏ nhà đi làm “giang hồ” ở khu chợ Dân Sinh, quận 1, định kiếm thật nhiều tiền sẽ quay về tìm Diễm.



    Chưa tới một tháng sau, Minh tình cờ đọc thấy mẩu tin trên báo: “Một cô gái điếm cỡ 18 tuổi bị một toán lính Mỹ thay nhau hãm hiếp rồi lột truồng vứt xác ngoài bãi rác ở Gò Vấp”. Nhìn khuôn mặt nạn nhân, Minh “con” biết ngay là Diễm “đèo”. Hắn như điên dại, chạy như bay về Hạnh Thông Tây, cũng là lúc cỗ quan tài của Hélen Diễm vừa hạ huyệt! Mối tình đầu câm lặng của Minh kết thúc quá bi thảm. Minh càng trở nên lầm lì, hắn tìm mua một khẩu Colt 45 với mấy băng đạn giắt vào bụng rồi lặng lẽ đi vào trong đêm tối. Sau đó là hàng loạt các vụ cướp của, hãm hiếp nhắm vào gia đình những người Mỹ sinh sống trên đất Sài Gòn.



    Kết cục bệ rạc…


    Đầu năm 1975, Điền Khắc Kim và một loạt tù trọng án tại quân lao Gia Định bị chính quyền Sài Gòn đày ra Côn Đảo. Khi Côn Đảo giải phóng, lợi dụng tình hình lúc giao thời, Điền Khắc Kim và nhiều tên tù hình sự khác đã chạy thoát ra ngoài rừng. Một thời gian sau, Điền Khắc Kim đã bị lực lượng quân quản của đảo bắt giữ, đưa về đất liền, giam giữ tại trại giam Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.


    Tại đây, vào tháng 5.1978, Điền Khắc Kim đã cạy vách nhà xí phòng giam trốn trại về Sài Gòn, ẩn náu tại nhà vợ bé của y ở đường Hưng Phú, quận 8. Điền Khắc Kim bị công an phát hiện và bắt giữ, đưa lên cải tạo tại trại Tống Lê Chân (Sông Bé). Ngồi trại đến tháng 7.1983, hắn lại trốn về Sài Gòn, gây ra hàng loạt vụ cướp mới.



    Đa số nạn nhân của tên cướp hết thời đều là đàn bà, con nít, những kẻ yếu ớt, cô đơn. Một lần, vừa cướp được một chiếc xe đạp trên đường Nguyễn Thị Minh Khai thì hắn bị công an tóm tại trận. Trở vào trại giam, Điền Khắc Kim vận công, gồng bụng làm bục vết thương Mỹ bắn ngày nào. Được công an đưa vào Bệnh viện Bình Dân cấp cứu. Ba giờ sáng, lợi dụng lúc anh công an gác cửa ngủ gục, hắn lại bẻ còng trốn thoát.




    Tiếng tăm lẫy lừng là thế nhưng đoạn cuối cuộc đời ngang dọc, Điền Khắc Kim đã tự biến mình thành một tên lưu manh mạt hạng. Cái còn lại của hắn chỉ là những vụ trộm cắp, cướp giật vặt vãnh của một tên hạ lưu bần tiện. Lần cuối cùng, hắn bị dân phòng phường 12, quận 8, TPHCM tóm cổ trong đêm khi đang tẩu tán một chiếc xe đạp và mớ quần áo cũ vừa trộm được. Khi người vợ nhỏ dẫn ba đứa con nhỏ vào trại giam thăm nuôi, Điền Khắc Kim đã ngượng ngùng cúi mặt. Những thương tích trong cuộc đời giang hồ bắt đầu hành hạ Điền Khắc Kim, để rồi hắn trút hơi thở sau cùng vào năm 1986 tại trại giam Chí Hòa.

    http://laodong.com.vn/lao-dong-doi-s...oai-204904.bld

    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #6
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 5): Lâm “chín ngón” nặng ân oán giang hồ với cả Đại Cathay và Năm Cam

    lam-chin-ngon-thoi-tre_YSAK.jpg
    Lâm “chín ngón” thời trẻ.



    Lâm “chín ngón” có “duyên nợ” cả với trùm du đãng trước năm 1975 là Đại Cathay và trùm xã hội đen sau này là Năm Cam. Nếu như Đại Cathay đưa Lâm “chín ngón” lên hàng “chiếu trên” của thế giới giang hồ Sài Gòn thì Năm Cam là người đặt dấu chấm hết cho cuộc đời du đãng của Lâm “chín ngón” với cú tạt axít kinh hoàng.


    Hai lần cứu Đại Cathay thoát chết Lâm “chín ngón” tên thật là Lê Ngọc Lâm, sinh năm 1945 tại Hà Tây, sau cùng gia đình di cư vào Nam lúc mới 9 tuổi. Năm 12 tuổi, Lâm thành trẻ bụi đời, được đưa vào làng cô nhi Thủ Đức. Tại đây, Lâm đã lần ra ngoài, nhập vào đám quân bụi đời, bán báo trước làng cô nhi... Năm 1963, Lê Ngọc Lâm bị bắt quân dịch, nhưng đã bỏ trốn về Sài Gòn sống lang thang, được Đại Cathay nhận vào băng du đãng mới nổi lên ở khu Da Heo quận 1. Có chút học thức, đánh đấm giỏi, lại lỳ đòn, Lâm nhanh chóng được Đại Cathay tin dùng. Không bao lâu, Lâm trở thành trợ thủ đắc lực của Đại.

    Một lần, Đại Cathay dắt quân tập kích vào khu vực rạp Hào Huê ở quận 5, là lãnh địa của băng du đãng Hắc Đạo người Hoa do Tín Mã Nàm làm thủ lĩnh. Băng Hắc Đạo không đương đầu nổi với băng của Đại Cathay, nên bỏ chạy. Say men chiến thắng, Đại bị băng Hắc Đạo dụ chạy sâu vào trong các con hẻm, sau đó hạ cửa sắt bít đường rút đầu các hẻm lại và phản công. Đại và các “chiến hữu” rơi vào cửa tử, bị đánh, chém tơi tả, chống cự trong vô vọng. Lâm đã liều chết mở đường máu, tả xung hữu đột giúp Đại Cathay tháo chạy thoát thân. Trong trận này, Lâm bị chém rớt ngón cái trên bàn tay phải và chính Đại Cathay đặt cho Lâm biệt danh “chín ngón” từ đó.

    Lần khác, vào năm 1966, tại nhà hàng Olympic, Đại Cathay và các “chiến hữu” bất ngờ bị đám vệ sĩ của tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan tấn công bằng vũ khí “nóng” (dùng súng). Đại Cathay bị bắn bể đầu gối, nằm quỵ xuống sàn, Lâm “chín ngón” đã lấy thân che đạn cho “chủ tướng”, vừa bắn chặn đối phương vừa dìu Đại Cathay thoát khỏi “chiến địa” nồng nặc mùi khói súng.


    Cuối năm 1966, Tổng giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành - tướng Nguyễn Ngọc Loan mở chiến dịch bài trừ du đãng. Hàng loạt du đãng cộm cán ở Sài Gòn bị bắt, trong đó có Đại Cathay và Lâm “chín ngón”. Cả bọn bị chở ra đảo Phú Quốc, ở trại Cửu Sừng. Đầu năm 1967, Đại Cathay cùng một nhóm tù du đãng tổ chức vượt ngục với kế hoạch khá mạo hiểm. Biết cuộc vượt ngục này “lành ít dữ nhiều”, Đại Cathay không muốn cho Lâm “chín ngón”, người ơn đã 2 lần cứu Đại thoát chết, tham gia.

    Theo ý của Đại, nếu lỡ “có bề nào” thì “sự nghiệp” của Đại cũng còn có người đáng tin cẩn là Lâm “chín ngón” nối nghiệp. Trước khi chia tay không biết là sinh ly hay tử biệt, Đại bắt Lâm thề phải bỏ ma túy, đồng thời tự tay Đại chích 1 liều ma túy cuối cùng cho Lâm “chín ngón”. Liều ma túy nặng gấp đôi bình thường ấy đã làm Lâm ngủ say như chết, đến ngày hôm sau khi tỉnh dậy thì Lâm nhận được hung tin: Đại Cathay và các “chiến hữu” sau khi ra khỏi trại đã bị phát hiện và truy sát, tất cả đều bị bắn chết.

    Hai lần giết người trong tù

    Cuối năm 1969, Lâm được thả trở về đất liền. Băng du đãng Đại Cathay đã tan rã, không còn chỗ cho Lâm “chín ngón” dựa. “Người kế thừa sự nghiệp Đại Cathay” không đủ sức xưng hùng, xưng bá để thu thuế, lấy xâu như trước nữa. Lâm “chín ngón” trở lại thế giới du đãng với nghề đi cướp đường bằng xe gắn máy. Chẳng bao lâu, đường phố Sài Gòn đã bị ám ảnh bởi một tên cướp chạy xe như bay, thách thức lực lượng cảnh sát. Lâm “chín ngón” thường ra tay cướp của ở trước cửa các ngân hàng, nạn nhân là những người vừa lĩnh tiền từ ngân hàng ra. Cuối năm 1970, Lâm “chín ngón” run rủi va chiếc xe honda 67 vào một chiếc xe xích lô khi hắn đang cố chạy thoát sau 1 vụ cướp, rồi bị bắt vào trại giam Chí Hòa.

    “Kinh nghiệm” ở tù ngoài Phú Quốc trước đó đã giúp Lâm “chín ngón” nhanh chóng trở thành “đại bàng” trong trại giam. Cảnh sống trong tù và ngoài đời đối với Lâm “chín ngón” không mấy khác nhau, tức cũng cướp bóc, ăn nhậu, bài bạc, hút sách... Bán thuốc phiện ngoài đời đã siêu lợi nhuận, bán “cái chết trắng” trong tù lại càng lời “khủng”. Mua đứt giám thị trại giam, Lâm “chín ngón” độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, sau đó mon men mở rộng lãnh địa ra toàn trại. Vì vậy mà đụng chạm với Cương “võ sĩ”, một võ sĩ quyền anh nổi danh khắp miền Nam, bị bắt vì tội buôn ma túy. Cương “võ sĩ” là em ruột của Sơn “đảo”, một trùm du đãng ở Sài Gòn thời bấy giờ ở bên ngoài. Ngay trong tù, một trận thư hùng đã xảy ra giữa Lâm “chín ngón” và Cương “võ sĩ”. Kết quả là Cương “võ sĩ” chết ngay lập tức vì nhát dao đâm trúng tim.

    Trùm du đãng Sơn “đảo” bên ngoài nhận được tin đứa em ruột bị giết chết trong trại giam Chí Hòa tức lồng lộn và thề: “Tao mà không giết được Lâm “chín ngón” thì sẽ từ bỏ thế giới giang hồ!”. Sơn “đảo” âm thầm lên kế hoạch giết Lâm “chín ngón”. Lúc đó, trong trại Chí Hoà có tên tù Hoàng “đầu lâu”, vì trên bả vai của y có xăm hình chiếc đầu lâu. Hoàng “đầu lâu” võ nghệ cao cường, mang đai đen tứ đẳng Taekwondo. Sơn “đảo” tiếp cận Hoàng “đầu lâu” bằng cách bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố đem tặng cho vợ con Hoàng đang sống chui rúc trong nhà trọ nơi hẻm sâu.


    Sau đó Sơn “đảo” lại sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai. Hoàng “đầu lâu” ở trong tù chấp nhận thực hiện yêu cầu của Sơn “đảo”. Lúc ấy, Hoàng “đầu lâu” đang mang án tù nhẹ, không chung khu giam giữ với tù trọng án, nên không thể tiếp cận được Lâm “chín ngón”. Sơn “đảo” đã đạo diễn cho Hoàng chém 1 giám thị trại để trở thành tù trọng án. Sau đó, Sơn “đảo” tiếp tục lo lót để cho Hoàng “đầu lâu” chuyển sang ở cùng một buồng giam với Lâm “chín ngón”.


    Từ sau khi giết Cương “võ sĩ”, Lâm “chín ngón” biết là Sơn “đảo” sẽ tìm cách trả thù. Vì vậy mà khi nghe câu chuyện Hoàng “đầu lâu” chém giám thị, rồi được đưa về giam chung buồng với mình, Lâm thừa biết Hoàng sắp giết ai. Ngày đầu Hoàng “đầu lâu” vào, Lâm nhờ người mua một chai rượu Remy Martin mời Hoàng nhậu. Không chút nghi ngờ, Hoàng “đầu lâu” nốc rượu thoải mái sau bao ngày nhịn thèm. Say rượu, Hoàng “đầu lâu” nằm lăn ra ngủ. Lâm “chín ngón” lẳng lặng nấu nồi nước “để tắm”. Khi nước vừa sôi, Lâm bê nguyên cả nồi đổ ụp xuống mặt Hoàng “đầu lâu”, xong rút dao tự chế đâm Hoàng tổng cộng 37 nhát, cho đến khi nạn nhân tắt thở.


    Nạn nhân của Năm Cam

    Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lâm “chín ngón” đang ở trong trại giam. Năm 1988, Lâm “chín ngón” được trả tự do sau 18 năm ở tù qua 2 thời kỳ. Trở về đời thường, Lâm tỏ ra chí thú làm lại cuộc đời. Năm 1993, Lâm cưới vợ và sinh con, mở một quán thịt chó bình dân trên đường 3-2. Tưởng như tên trùm du đãng ngày nào giờ đã lo chí thú làm ăn, làm lại cuộc đời, đoạn tuyệt hẳn với giới giang hồ. Nhưng, nghiệp chướng tiếp tục đeo bám, không để cho Lâm an phận với cuộc đời hoàn lương. Cuối năm 1994, có 3 tên “xã hội đen” là chỗ quen biết vào quán thịt chó của Lâm ăn nhậu. Rượu vào, lời ra, bọn chúng kể cho Lâm nghe chuyện bảo kê các cảng cá Vũng Tàu, Long Hải và Phước Tĩnh.

    Bọn chúng vừa “đập phá” ở thành phố biển, bị công an tạm giam và tịch thu xe. Bọn chúng nhờ “anh Lâm” xuống Vũng Tàu xin lại xe máy cho chúng. Nể tình, Lâm xuống Vũng Tàu. Dù đã “gác kiếm”, nhưng uy danh Lâm “chín ngón” vẫn chưa phai trong giới xã hội đen ở Vũng Tàu, nhờ vậy mà không khó nhờ “anh em” xin lại được mấy chiếc xe. Để trả ơn, mấy tên “đàn em” mời “anh Lâm” xuống Vũng Tàu hợp tác “làm ăn”. Thấy kiếm tiền quá dễ so với tiền lời quán thịt chó, Lâm “chín ngón” đồng ý. Ở Vũng Tàu, sự có mặt của Lâm “chín ngón” đã khiến các băng nhóm lưu manh khác khiếp vía, dạt ra hết. Lâm “chín ngón” chỉ việc chường mặt ra cảng cá nhưng không phải mó tay vào bất cứ việc gì, mọi chi phí ăn uống chơi bời đều được “bao cấp”, kèm số lương 5 triệu đồng/tháng. Thế nhưng, chỉ được một thời gian là Lâm “chín ngón” bị đánh bật khỏi Vũng Tàu, bởi một thế lực ngầm nào đó.


    Lúc ấy ở Sài Gòn, Năm Cam đã trở thành thế lực ngầm số một. Thế nhưng, Lâm “chín ngón” lại không xem Năm Cam ra gì, vì trước năm 1975, Năm Cam là đàn em “tép riu” của Lâm. Bị đánh bật khỏi các cảng cá ở Vũng Tàu, Lâm “chín ngón” nghi là có bàn tay của Năm Cam. Vì vậy mà đi đâu, Lâm cũng rêu rao thoá mạ, công khai chửi bới Năm Cam. Một lần, Lâm chủ động mời Năm Cam đến một nhà hàng trên đường Trần Hưng Đạo ăn nhậu. Khi Năm Cam bước vào, các tên đàn em đều nhất loạt đứng lên chào “anh Năm”. Lâm “chín ngón” gầm lên: “Thằng Năm Cam là cái gì mà tụi bay phải bợ đỡ. Tao coi nó là cái đinh. Đ.M, thằng nào qụy lụy Năm Cam thì đừng coi tao là đàn anh nữa!”. Bị Lâm “chín ngón” chửi bới, hạ nhục, nhưng Năm Cam vẫn tươi cười: “Anh Lâm say rồi! Tôi cũng hơi mệt, thôi anh em ngồi chơi, tôi về trước”.


    Tối 14.7.1999, Lâm chở vợ và đứa con trai 6 tuổi đi ăn ở quán Lồi (cư xá Bắc Hải, quận 10). Khi Lâm vừa dựng xe cho vợ con bước xuống, một kẻ lạ bất ngờ tạt thẳng vào mặt Lâm một ca đầy axít. Lâm đau đớn, ôm mặt ngã xuống mặt đường quằn quại. Trận đòn thù đã làm Lâm biến dạng toàn bộ khuôn mặt, hai tai rụng, mũi rụng, cằm chảy ra dính chặt vào ngực, hai mí mắt cũng chảy ra dính vào nhau, gần như mù lòa... Dù vậy, Lâm “chín ngón” không cho gia đình báo công an, dù Lâm thừa biết ai đã hại mình. Thậm chí, Lâm còn cho rằng kẻ hại mình đã chơi đúng luật giang hồ, chỉ xử Lâm chứ không đụng đến vợ con y. Cho đến tháng 12.2001, khi Năm Cam bị bắt, Lâm “chín ngón” lập tức tìm đến cơ quan công an để tố cáo chính Năm Cam là kẻ chủ mưu trong vụ tạt axít ám hại hắn.
    http://laodong.com.vn/xa-hoi/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-5-lam-chin-ngon-nang-an-oan-giang-ho-voi-ca-dai-cathay-va-nam-cam-212592.bld

    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #7
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (Kỳ 6): Sơn “đảo” - tên trùm du đãng chết vì “lỗ chân trâu”

    anh-Son-Dao_QVOP.jpg
    Trước vũ trường Crystal, nơi Sơn “đảo” bị giết.


    Trong những trùm du đãng Sài Gòn trước năm 1975 có một cái tên bị giới giang hồ thời đó rất coi khinh, do y dựa vào lính dù Sài Gòn để khuếch trương thanh thế, tranh giành lãnh địa. Tên du đãng đó có tên là Sơn “đảo”. Sau bao lần “vào sinh ra tử”, cuối cùng Sơn “đảo” lại chết vì “lỗ chân trâu” - bị một du đãng đàn em trả thù vì tranh giành gái.


    Nhờ… đi đày Côn Đảo

    Sơn “đảo” tên thật là Vũ Đình Khánh, sinh năm 1944 tại Hà Nội, năm 1955 cùng gia đình di cư vào vùng Hố Nai, Biên Hòa, rồi về quận Tân Bình, Sài Gòn. Khánh sớm bỏ học, đi bụi, rồi trở thành du đãng nhóc. Với chút vốn liếng chữ nghĩa, cộng với máu giang hồ có sẵn trong người, Khánh sớm trở thành thủ lĩnh của đám trẻ bụi đời ở quận Tân Bình, trở thành nỗi ám ảnh của người dân lương thiện nơi đây. Thực hiện chủ trương “vãn hồi trật tự” ở Sài Gòn của tướng Nguyễn Cao Kỳ, chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan lập ra đội quân đặc nhiềm bài trừ du đãng. Vũ Đình Khánh bị bắt trong một lần cướp giật, lãnh án 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo năm 1966 cùng hàng trăm du đãng cộm cán khác.


    Tại nhà tù Côn Đảo, Vũ Đình Khánh đã gặp và “thọ giáo” một tướng cướp – nhà văn lừng danh tên là Sơn Vương, người vào năm 1934 bị thực dân Pháp xử… 79 năm tù (khi gặp Vũ Đình Khánh vẫn còn thụ án). Khánh đổi tên thành Sơn “đảo” – chữ Sơn theo tên của ông thầy Sơn Vương, gắn thêm “đảo” để nhớ về cuộc gặp gỡ ở Côn Đảo.


    Sơn “đảo” được thả về đất liền vào năm 1971. Năm 1966, Vũ Đình Khánh chưa được biết nhiều trong giới giang hồ Sài Gòn, nhưng sau 5 năm ở tù Côn Đảo trở về với cái tên mới Sơn “đảo”, tay du đãng này trở nên có “số má”. Thời đó, tên du đãng nào chưa trải qua các nhà tù, không được giới giang hồ coi trọng. Với bản án 5 năm lưu đày Côn Đảo, khi trở về Sài Gòn, Sơn “đảo” nghiễm nhiên trở thành “đàn anh”, được các băng đảng khác kiêng nể. Sơn “đảo” hùng cứ một phương ở khu vực quận Tân Bình. Ban đầu Sơn “đảo” đứng ra bảo kê cho các sòng bạc. Ai chịu đóng “bảo kê” cho Sơn thì được làm ăn yên ổn, ai không chịu đóng thì trước sau cũng bị cảnh sát Tân Bình hốt gọn. Tiến thêm một bước, Sơn “đảo” mua lại một sòng bạc đang có nguy cơ phá sản, rồi bằng mối quan hệ “ngầm” của mình mà lôi kéo các con bạc về, nhanh chóng đưa sòng bạc phát triển với quy mô ngày càng lớn.


    Du đãng quý tộc

    Sơn “đảo” rất thích thể dục thể hình, y trang bị cho mình cả một phòng tập thể hình thuộc loại hiện đại nhất Sài Gòn thời ấy. Nhờ chịu khó luyện tập, Sơn “đảo” có một cơ thể thật đẹp, ngực nở phồng, hai cánh tay đồ sộ không thể khép sát vào nách. Với một chút năng khiếu văn chương, lại là một lực sĩ có thân hình rất đẹp, Sơn “đảo” được xem là du đãng “quý tộc”. Cũng chính vì được xem là du đãng quý tộc mà Sơn “đảo” giao du, kết thân với giới quân đội Sài Gòn, dựa vào họ mà nâng cao thanh thế. Đó là điều mà thế giới giang hồ Sài Gòn không thể chấp nhận, vì vậy Sơn “đảo” đã đứng đối lập với thế giới ngầm Sài Gòn.

    Người ta thấy Sơn “đảo” thường xuyên sử dụng xe phân khối lớn đi kè kè với tay trung tá Đường - sư đoàn trưởng sư đoàn dù và người em vợ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thường được gọi là “cậu Mười”. Cậu Mười xây dựng một tòa nhà 5 tầng trên đường Trương Minh Ký để cho các đại ca giang hồ thuê mở sòng bạc, vũ trường, trong đó có Sơn “đảo”. Vừa được sự đỡ đầu của cậu Mười, vừa chơi thân với sư đoàn trưởng sư đoàn dù, thanh thế của Sơn “đảo” càng vững.


    Thời ấy hầu hết các vũ trường đều có màn múa “thoát y” để thu hút khách. Vũ trường Barcarat thuộc loại nổi tiếng nhất nhờ màn vũ thoát y độc đáo. Một cô gái với thân mình bốc lửa từ từ bước lên sân khấu trong tiếng vỗ tay hoan hô của khách. Cô gái nhảy múa cuồng loạn theo điệu nhạc, rồi lần lượt từng mảnh xiêm y trên mình rơi dần ra, cuối cùng chỉ còn độc một chiếc quần lót thật “tiết kiệm vải” (gọi là “lá nho”). Đó là lúc chủ vũ trường “khuyến mãi” cho khách bằng trò “bốc thăm trúng thưởng”. Người “may mắn” trúng thưởng được lên sân khấu để cùng nhảy với cô gái. Sau đó, nếu người ấy dùng răng gỡ được chiếc quần lót của cô vũ nữ thì cô gái sẽ thuộc về người ấy cho tới sáng. Vũ trường Barcarat có cô vũ nữ tên Trang với thân hình bốc lửa, bước nhảy điêu luyện, đôi mắt như hớp hồn khách làng chơi. Trang “Barcarat” làm điên đảo bao khách làng chơi, trong đó có cả Sơn “đảo”.


    Chết vì gái

    Thời ấy, khu vực Bệnh viện Từ Dũ là điểm hút chích nổi tiếng ở Sài Gòn. Tại đây có một tay du đãng chuyên bán ma tuý, tên là Phạm Bá Y. Bá Y bị thọt chân, nên được giới du đãng gán cho biệt danh Y “càlết”. Lúc này ở quận Tân Bình, Sơn “đảo” cũng đã mở rộng lĩnh vực hoạt động sang buôn bán ma túy. Biết mình chỉ thuộc hàng đàn em của Sơn “đảo”, Y “càlết” phải từ bỏ món “hàng trắng” mà Sơn “đảo” đang nắm độc quyền, quay về bán thuốc phiện “cò con” cho các con nghiện. Dù vậy, Sơn “đảo” vẫn ghét Y “càlết”.

    Một hôm, Sơn “đảo” đến thăm Trang “Barcarat”, cũng là lúc Y “càlết” đang “trồng cây si” trong nhà người đẹp. Thấy Sơn “đảo” vào, Y “càlết” tỏ cử chỉ trân trọng gật đầu chào, rồi xin phép ra về. Sơn “đảo” nghĩ ra trò làm nhục đối thủ trước mặt người đẹp, nên hất hàm hỏi Y “càlết”: “Ai cho mầy tới đây?”. Y “càlết” lúng túng nói không nên lời, miệng lắp bắp: “Dạ... thì tôi đến... thăm Trang...”. Sơn “đảo” chưa chịu buông tha, bước tới tát mạnh Y và nói: “Tao cấm mày từ đây không được đến đây, nếu không đừng trách”.


    Đối với bọn du đãng, nỗi nhục lớn nhất của chúng là khi bị làm nhục trước mặt người đẹp. Y “càlết” cũng vậy, tên du đãng có thừa tiền nhưng bị tật bẩm sinh này rất say mê Trang “Barcarat”, nhưng chưa được người đẹp đoái hoài. Vậy mà bất ngờ Y “càlết” lại bị Sơn “đảo” đánh, làm nhục ngay trước mặt người đẹp. Mối hận này đối với một tên du đãng tật nguyền là rất lớn, không gì rửa cho sạch. Về nhà uống rượu suốt 3 ngày, mỗi lần uống rượu là mỗi lần Y “càlết” lấy rượu rửa thật kỹ bên mặt bị Sơn “đảo” đánh như để rửa sạch nỗi nhục. Một kế hoạch tàn khốc đã lóe lên trong đầu Y “càlết”.


    Sơn “đảo” có người em ruột rất giỏi võ tên là Vũ Đình Cương, có biệt danh là Cương “võ sĩ”. Cương cùng ông anh mở sòng bạc, buôn ma túy... Một lần khi đi lấy “hàng” (ma túy), Cương bị bắt, phải ngồi tù Chí Hòa. Trong khi Sơn “đảo” ở bên ngoài lo chạy cho đứa em ra khỏi tù, thì một chuyện kinh khủng đã xảy ra trong tù. Vì tranh giành làm “đại bàng” trong tù mà một tên du đãng cộm cán khác tên là Lâm “chín ngón” đã đâm chết Cương “võ sĩ” ngay trong nhà lao.


    Nhận được hung tin, Sơn “đảo” âm thầm lên kế hoạch giết Lâm “chín ngón” bằng cách bỏ ra mấy trăm cây vàng để thuê một tay giang hồ đang bị giam trong khám Chí Hòa tìm cách tiếp cận để giết Lâm “chín ngón”. Người lãnh sứ mạng đó là tên du đãng Hoàng “đầu lâu”. Thế nhưng, khi vừa mới được chuyển đến ở chung buồng giam với Lâm “chín ngón”, chưa kịp ra tay, thì Hoàng “đầu lâu” đã bị đối thủ phát hiện âm mưu, ra tay trước, đâm chết tại chỗ. Ở ngoài, Sơn “đảo” lại lồng lộn thề giết cho kỳ được Lâm “chín ngón”. Nhưng Sơn “đảo” chưa kịp thực hiện thì chính mình đã bị giết.


    Nửa đêm ngày 18.1.1975, Sơn “đảo” cùng trung tá Đường (sư đoàn dù) rời vũ trường Crystal. Đến bên chiếc môtô 125 phân khối, Sơn “đảo” phát hiện bánh sau của xe bị xẹp. Tên trùm du đãng không hề biết rằng, trong lúc hắn đang ôm cô vũ nữ trong vũ trường thì ở ngoài có một đứa bé đánh giày được Y “càlết” thuê tới xì bánh chiếc xe 125 phân khối. Sơn “đảo” dắt chiếc xe qua tiệm sửa xe bên kia đường nhờ sửa.


    Bất ngờ, một chiếc Honda 67 trờ tới kèm theo tiếng kêu: “Sơn “đảo”. Sơn “đảo” chưa kịp phản ứng thì một tiếng nổ vang lên, viên đạn găm vào vai làm Sơn ngã quỵ. Y “càlết” xuất hiện, lạnh lùng chĩa súng vào Sơn và nói: “Vì cái tát đó nên mày phải chết”. Nói dứt lời, Y “càlết” nã tiếp hai phát đạn vào bụng Sơn rồi lên xe máy cùng đàn em rú ga bỏ chạy. Thiếu tá Đường mặc dù có súng bên người vẫn không dám rút ra mà bỏ chạy theo hướng khác. Sơn “đảo” được đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng đã chết sau đó vài giờ.


    Đám tang của Sơn “đảo” thật rình rang, kinh dị, sặc mùi giang hồ. Hàng chục xe Jeep chở đầy lính dù với súng tuốt lê trần hộ tống xe chở quan tài chạy khắp khu trung tâm Sài Gòn, sang quận Tân Bình, chạy qua vũ trường Crystal... Khi đoàn xe tang chạy qua khu vực Xóm Đạo của băng nhóm Y “càlết”, đám lính dù trên xe chĩa súng lên trời bắn đến hết đạn, như thề với Sơn “đảo” sẽ trả thù. Nhưng đàn em của Sơn “đảo” chưa kịp tìm ra được tung tích Y “càlết”, thì miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Sau ngày giải phóng, Y “càlết” vẫn không bỏ con đường cũ, tiếp tục phạm tội giết người và bị kết án tử hình.

    http://laodong.com.vn/phap-luat/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-6-son-dao-ten-trum-du-dang-chet-vi-lo-chan-trau-216709.bld

    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #8
    Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (Kỳ 7): Chuyện về tướng cướp Bạch Hải Đường

    bach-hai-duong-trong-trai-giam_OCDK.jpg
    Bạch Hải Đường trong trại giam.


    Đại Cathay, Điền Khắc Kim, Sơn “đảo”... là những cái tên lừng danh trong giới giang hồ Sài Gòn. Nhưng nếu hỏi tên giang hồ nào nổi danh nhất miền Nam trước năm 1975, nhiều người sẽ trả lời đó là Bạch Hải Đường. Bạch Hải Đường là tên giang hồ duy nhất ở miền Nam mà cuộc đời được viết thành sách, dựng thành phim và tái hiện trên sân khấu cải lương…


    Bản sao của Điền Khắc Kim

    Ở Sài Gòn có một Điền Khắc Kim chuyên cướp của (và hãm hiếp) nhắm vào những gia đình người Mỹ. Ảnh hưởng từ câu chuyện của Điền Khắc Kim, ở miền Tây Nam bộ cũng có một tên du đãng chuyên gây án nhắm vào những gia đình người Mỹ, người nước ngoài, nhưng với tần suất và trình độ cao hơn nhiều, đó là Bạch Hải Đường. Tên du đãng này tên thật là Nguyễn Ngọc Truyện, sinh năm 1950, là con lớn trong gia đình nghèo có 5 anh em ở TP.Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nhà nghèo, Truyện sớm bỏ học, gia nhập đám trẻ bụi đời sống bằng nghề lượm ve chai.
    Năm Truyện 15 tuổi, do cha bệnh nặng, nên cậu phải thay cha làm lơ xe cho những chuyến xe đò từ Long Xuyên đi Sài Gòn để kiếm tiền nuôi gia đình. Bôn ba trên những chuyến xe, bến phà, tiếp xúc với các “anh chị”, đại ca ở nhiều nơi, máu giang hồ trong Truyện càng có điều kiện phát triển. Năm 18 tuổi, Truyện được cha mẹ cưới vợ, sinh 2 đứa con trai. Truyện bỏ nghề lơ xe, vừa trốn quân dịch, vừa chạy xe lôi để nuôi vợ con.

    Rồi con bị bệnh nặng, không tiền chữa trị. Trong lúc túng quẫn, Truyện liều lấy trộm chiếc xe Honda, bán lấy tiền mua thuốc cho con, khởi đầu con đường trộm cướp. Bị ảnh hưởng bởi câu chuyện tướng cướp Điền Khắc Kim đăng trên báo, Truyện cũng trộm cướp nhắm vào người Mỹ. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1971, Truyện đã đột nhập vào các gia đình người Mỹ 8 lần, lấy 5 tivi, 5 máy hát, 4 thùng rượu, 2 thùng thuốc lá… Tháng 4 năm 1971, tần suất trộm cắp của Truyện càng dày đặc với 7 chiếc xe Honda trộm được. Qua tháng 5.1971, số chiến lợi phẩm của Truyện là 20 xe honda... Chỉ trong mấy tháng mà TP.Long Xuyên có cả trăm chiếc xe Honda bị mất, lực lượng cảnh sát ở đây phải đặt trong tình trạng báo động. Một chiến dịch truy quét quy mô được tiến hành, nhưng không tìm ra được thủ phạm.


    Truyện rất giỏi võ nhờ theo học một thầy giỏi võ nhất miền tây. Vụ cướp nổi tiếng làm cho Truyện được giới giang hồ đặt cho biệt danh là Bạch Hải Đường xảy ra cuối năm 1971. Sau khi đột nhập vào nhà đại úy Triệu - sếp phó lực lượng cảnh sát TP.Long Xuyên, lấy đi nhiều tiền vàng, Truyện “ẩn mình” ở nhà cô người yêu. Một cô “ghệ nhí” khác của Truyện tên Lệ vì quá ghen đã báo cho cảnh sát nơi ẩn náu của Truyện. Truyện bị bắt và bị đại úy Triệu đánh đập dã man, xong cho 2 viên quân cảnh lực lưỡng áp giải về trại giam. Bị còng tay, nhưng khi xe đang chạy, Truyện đánh gục hai quân cảnh và người lái xe rồi lao xuống đường tẩu thoát. Sau vụ đó, giới giang hồ Long Xuyên đặt cho Truyện biệt danh “tướng cướp Bạch Hải Đường”, vì nó giống với câu chuyện tên tướng cướp Bạch Hải Đường trong tiểu thuyết và bộ phim Đài Loan đang rất thịnh hành khi đó là “Phi tặc Hải Đường Hồng”.


    Thách thức mọi trại giam


    Đầu thập niên 1970, cái tên Bạch Hải Đường trở nên nổi bật nhất trong giới tội phạm miền Nam, lấn át hết những tên du đãng có “số má” ở Sài Gòn. Nhiều giai thoại được đồn thổi rất ly kỳ xung quanh cái tên Bạch Hải Đường, báo chí tha hồ thêu dệt Bạch Hải Đường như là tay giang hồ hào hiệp chuyên cướp của người giàu chia cho người nghèo, chuyên nhắm vào những cố vấn Mỹ và các sĩ quan cảnh sát, quân đội. Rồi nhiều cuốn sách, kịch bản điện ảnh, sân khấu cải lương đã xây dựng nhân vật từ những tình tiết hư cấu này, làm Bạch Hải Đường càng thêm nổi tiếng. Đặc biệt, có nhiều giai thoại về chuyện cảnh sát Sài Gòn bắt giam Bạch Hải Đường như là “bắt cóc bỏ đĩa”, vì y có biệt tài vượt ngục rất thần kỳ.


    Khi câu chuyện về Bạch Hải Đường đang hồi gay cấn thì miền Nam được giải phóng, lúc đó Bạch Hải Đường vừa bị bắt vào trại giam. Một ngày sau, lợi dụng tình hình “tranh tối tranh sáng”, Bạch Hải Đường trốn trại, để lại dòng chữ trên tường: “Bạch Hải Đường sinh ra không phải để ở tù”. Nhưng chỉ ít lâu sau, Bạch Hải Đường lại bị bắt vì tội trộm cướp. Tháng 8.1975, Bạch Hải Đường lại trốn trại, để lại một lá thư: “Xin Cách mạng thông cảm và tha lỗi cho tôi. Vì hoàn cảnh gia đình nên tôi mới trốn và tôi hứa là về sẽ tăng gia sản xuất để sống. Tôi không phạm tội nữa”. Nhưng Bạch Hải Đường không giữ đúng lời hứa, cướp 100 cây vàng ở vùng biên giới Châu Đốc và bị bắt sau khi 3 viên đạn bắn vào bắp chân. Tháng 5.1980, Bạch Hải Đường tự tháo còng, đục thủng tường trại giam và để lại dòng chữ: “Nơi đây không phải chốn dừng bước giang hồ của Bạch Hải Đường”.

    Một lần nữa, tên giang hồ khét tiếng lại đào thoát khỏi vòng vây pháp luật và một cuộc truy bắt nữa bắt đầu. Rồi Bạch Hải Đường cũng bị bắt sau khi trúng đạn. Do nhiều lần bị thương, không chịu chữa trị, xem thường tính mạng, nên bệnh tật của Bạch Hải Đường ngày càng nặng. Dù đã được cán bộ quản giáo tận tình chữa trị, lo thuốc men, nhưng Bạch Hải Đường không thoát khỏi số phận ở tuổi 33. Bạch Hải Đường bình thản nhắm mắt sau khi kể lại toàn bộ tội lỗi của mình trong 13 năm làm “tướng cướp” và chân thành cảm ơn các cán bộ quản giáo.
    dien-vien-Thuong-Tin_GSYN
    Diễn viên Thương Tín trong vai tướng cướp Bạch Hải Đường trong 1 bộ phim.

    Lời tự thú của Bạch Hải Đường

    Biết không qua khỏi vì bệnh tật, Bạch Hải Đường đã xin cán bộ trại giam giấy viết để tường thuật về những vụ trộm cướp đáng kể trong cuộc đời của mình. Trong bản tự khai, Bạch Hải Đường kể lại hơn 40 vụ đột nhập nhà của các dân biểu Sài Gòn, doanh nhân người Mỹ, cố vấn quân sự Mỹ, nhân viên ngoại giao, cảnh sát, quân cảnh của chế độ cũ... Hầu hết những căn nhà của họ đều rất kiên cố, có lính canh gác 24/24h, nhưng Bạch Hải Đường luôn ra vào trót lọt, chưa bao giờ bị phát hiện. "Trong thời gian đi lấy trộm đồ, tôi toàn vô nhà của người giàu có, nhà của người nước ngoài, nhất là người Mỹ", Bạch Hải Đường viết.

    Một lần, Bạch Hải Đường vào nhà ông chủ tên Chuẩn chuyên cho bác sĩ nước ngoài ở thuê. Do bên dưới có lính canh nên Bạch Hải Đường leo lên vách tường nhà chùa rồi leo qua nóc nhà của bác sĩ Chuẩn, "trổ" mái nhà chui xuống phòng của một bác sĩ người Úc đang ngủ. Trong căn phòng chật hẹp, y đã "dọn" quần áo, đồng hồ đeo tay, một cái rương lớn, quạt máy, máy “thâu băng”... ra khỏi phòng mà ông bác sĩ Úc vẫn ngon giấc. Mãi sáng hôm sau thức dậy, nhìn mái nhà có lỗ thủng, bác sĩ này chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Ông chủ nhà tên Chuẩn đã huy động lực lượng tăng cường công tác bảo vệ an toàn cho khu nhà, nhưng chỉ một tuần sau, Bạch Hải Đường lại "viếng thăm" khu nhà một lần nữa. Hắn vào phòng của một bác sĩ người Mỹ dọn sạch tất cả đồ đạc có giá trị, kể cả vàng và đôla, chỉ để lại cho gia chủ khẩu súng trong ngăn kéo. Nhân viên, bác sĩ làm việc trong tòa nhà này sau đó đã dọn đi vì không tin cảnh sát có thể đảm bảo cho tài sản của họ được an toàn. Có người còn nghi ngờ hai vụ mất trộm do nội bộ thực hiện, bởi lúc nào lính cũng gác rất chặt ở cửa.


    Một lần khác, Bạch Hải Đường kể, y đột nhập nhà ông Nguyễn Đắc Dần cho mấy kỹ sư người Mỹ thuê. Lọt vào nhà, y thấy hai người Mỹ đang ngủ say sưa. Bạch Hải Đường lấy hai cái rương lớn cho tất cả những thứ cần lấy vào. Chưa vội rời khỏi hiện trường, Bạch Hải Đường còn lân la xuống nhà bếp, mở tủ lạnh... Hắn lôi rượu thịt đem ra bàn, ngồi chén say sưa, đến gần hết chai rượu vang đỏ mới chịu vác 2 va ly đồ đu dây qua cửa sổ thoát xuống đất. Sáng hôm sau, khiếp vía trước hiện trường để lại, 2 kỹ sư Mỹ vội vã dọn đồ đi nơi khác. Cũng tại ngôi nhà này, vài tháng sau Bạch Hải Đường đột nhập vào phòng của hai người Nhật, lấy nhiều tài sản có giá trị. Sau đó vài tuần, Bạch Hải Đường đột nhập vào một căn cứ hải quân Mỹ ở gần kho xăng Quản Trung Hòa. Mấy ngày sau, y lại mò đến căn cứ Mỹ phía sau ngân hàng Tín Nghĩa, vào nhà một sĩ quan lấy được một tivi, quần áo, ba cái gương, nhiều tiền đôla Mỹ...


    Không chỉ vào nhà của những đại gia, sĩ quan ở TP.Long Xuyên, mà mỗi lần đi thăm "bạn bè" ở tỉnh nào đó, đêm đến, y thường "tranh thủ" làm vài vụ. Trong một lần qua nhà người bạn tên Phước Hùng ở Rạch Giá, Kiên Giang, Bạch Hải Đường cũng đã vào nhà người nước ngoài 2 lần. Tại Cần Thơ, y cắt kẽm gai chui vào khu nhà của một trung tá Mỹ lấy một bao đồ, máy chụp hình, tivi và một số tiền.


    “Tôi leo lên lầu nhà này thì thấy một chiếc trực thăng đậu trên đó. Tôi leo vào trực thăng kiếm đồ nhưng chỉ lấy được một nón phi công, một đôi bao tay, một bao đồ và một xấp giấy tờ. Tôi mang giấy tờ ra xem thì mới biết đó là nhà của trung tá không quân", Bạch Hải Đường kể. Khi thông tin vụ đột nhập này được tiết lộ ra ngoài, lực lượng quân cảnh, cảnh sát chế độ cũ lại được một phen... náo loạn. Sở dĩ Bạch Hải Đường dám “liều mạng” vào nhà của phi công này là vì có một lời thách thức từ nhóm giang hồ ở Cần Thơ: Nếu ai vào được nhà của phi công trên, vào được máy bay, mang được cả nón phi công ra thì sẽ được tất cả giới giang hồ ở Tây Đô tôn làm "đại ca", chính thức thống lĩnh toàn bộ thế giới giang hồ ở miền Tây.

    http://laodong.com.vn/phap-luat/the-gioi-du-dang-sai-gon-truoc-1975-ky-7-chuyen-ve-tuong-cuop-bach-hai-duong-218068.bld
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của jootun
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 9 năm
    • 577 Bài viết

    • 1,546 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #9
    Hay quá! còn nữa ko bạn?
    • 332 Bài viết

    • 428 Được cảm ơn

    #10
    Đại cathay với Bạch Hải Đường đẹp trai quá trời
    • 1,372 Bài viết

    • 2,915 Được cảm ơn

    #11
    bây giờ mọc ra nhiều tướng cướp lắm kìa , làm ơn dẹp hết dùm luôn đi hic
    Bò Sữa

    "Thế giới này trở nên bị tổn thương quá nhiều không phải bởi vì sự hung bạo của những kẻ xấu xa mà chính bởi vì sự im lặng của những người tử tế"
    -----------------------
    "The world suffers a lot not because of the violence of bad people but of the silence of good people"

    Napoleon Bonaparte ( dịch lấy trong Wegreen Vietnam - fb )
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #12
    Trích dẫn Nguyên văn bởi jootun Xem bài viết
    Hay quá! còn nữa ko bạn?
    Còn một kỳ nữa nhé bạn! Để mình post thêm 1 bộ khác nữa xem cho vui
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #13
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 1): 'Đại chiến' du đãng Sài Gòn Chợ Lớn

    Hơn 50 năm trước, quãng đầu thập niên 1960, Trương Văn Cam, tức Năm Cam, còn đứng gác cửa và lắc tài xỉu cho Bảy Xi tại một sòng bạc trên đường Lê Văn Linh..

    sai-gon-truoc-nam-1975
    Sài Gòn trước năm 1975


    Vũ Quang Hùng làm báo từ rất sớm, năm 1964, lúc mới 19 tuổi ở Sài Gòn. Ông tham gia cách mạng và từng bị chế độ cũ đày đi Côn Đảo từ năm 1973 đến tận ngày đất nước thống nhất. Sự tình cờ của số phận đã đưa ông vào chung nhà giam với các tù hình sự thời chế độ cũ ở khám Chí Hòa rồi nhà tù Côn Đảo. Từ đó ông đã quen khá nhiều giang hồ cộm cán thời chế độ cũ.

    Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin trích đăng “Giang hồ Sài Gòn”, bản tổng kết về cả một thời dọc ngang của dân du đãng Sài Gòn trước năm 1975, tư liệu đáng tin cậy của một nhá báo từng lăn lộn viết về một mảng tối của miền Nam trước 1975: cái gọi là “xã hội đen”, du đãng đâm chém, giựt dọc... bổ sung thêm một góc của bức tranh toàn cảnh xã hội đầy biến động ở miền Nam trước 1975.

    1. Hơn 50 năm trước, quãng đầu thập niên 1960, Trương Văn Cam, tức Năm Cam, còn đứng gác cửa và lắc tài xỉu cho Bảy Xi tại một sòng bạc trên đường Lê Văn Linh, quận 4. Bảy Xi là anh vợ Năm Cam và cũng là trùm các sòng bạc thuộc khu vực quận 4 và huyện Nhà Bè.

    Nếu tính trùm sòng bạc tại Sài Gòn thời đó, còn có thể kể thêm Đực Bà Tiều (Đực là con một người Triều Châu - hay gọi là người Tiều) cát cứ khu vực chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối; và Tám Lâu đứng đầu các casino quanh đường Nguyễn Công Trứ.

    Tất cả các “trùm” trên đều phải chia lợi tức cho Đại Cathay, ông vua du đãng nổi tiếng nhất. Nhưng Đại Cathay không chỉ sống nhờ lợi tức từ các sòng bạc. Một nguồn thu khác đều đặn và có phần lớn hơn nhiều của Đại Cathay là tiền bảo kê từ các nhà hàng; khách sạn, vũ trường... Ngoài ra còn có tiền của một số tay tài phiệt hoặc do phải đóng “thuế giang hồ” hoặc do “ngưỡng mộ” Đại Cathay nên tự nguyện chi trả (như trường hợp “vua kẽm gai” Hoàng Kim Qui chẳng hạn).

    Toàn bộ số tiền thu được; Đại Cathay đứng trả lương cho bọn đàn em, mua chuộc các quan chức (kể cả cảnh sát, trong số đó có Đại uý Trần Kim Chi, Trưởng ban Bài trừ Du đãng, cánh tay phải của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia khi ấy) và ăn chơi (nhất là nhảy đầm tại các vũ trường lớn, “boa” cho các cô ca - ve. Đại Cathay thường tự hào mình nhảy bê bốp và cha cha cha rất đẹp).

    Đám đàn em thân tín nhất của Đại Cathay khi ấy có thể kể: A Chó, Hải Súng, Lâm Khùng, Lương Chột, Hùng Đầu bò, Phong, Chương, Việt Parker...
    A Chó làm kinh tài cho Đại với vai trò cố vấn kinh tế. Hải Súng là kẻ trực tiếp nhận lệnh từ Đại rồi truyền xuống cho bọn đàn em thực hiện (vai trò của y tương tự Thảo “ma” trong tổ chức của Năm Cam sau này). Lâm coi như cận vệ của Đại, lúc này chưa mang tên Lâm Chín ngón (tại sao Lâm có biệt danh này sẽ được giải thích sau). Hùng Đầu bò và Lương Chột đóng vai trò “quân sư” cho Đại... Bọn còn lại hầu hết vừa là sát thủ của Đại, vừa “ăn bay”, tức cướp giật bằng xe gắn máy với tốc độ cao. Con mồi của chúng đa phần là những người vừa lãnh tiền ở ngân hàng ra, bị chúng theo dõi, chờ lúc thuận tiện liền ra tay cướp. Nếu bị rượt đuổi, chúng dùng súng bắn trả quyết liệt.

    Sự thực Đại Cathay chưa bao giờ ra lệnh cho thuộc hạ sát hại bất cứ một người nào, và có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất với trùm xã hội đen Năm Cam ba mươi năm sau (Năm Cam sẵn sàng giết người dù kẻ đó là bạn cũ, đối thủ làm ăn, hoặc kể cả nhân viên công lực dám ngáng đường hắn). Khi cần tấn công, bắt các băng nhóm khác qui phục để mở rộng địa bàn làm ăn, Đại và đàn em cũng không bao giờ dùng súng (mặc dù, như trên đã nói; rất nhiều tay em sát thủ của Đại có súng). Một phần vì chúng muốn tránh sự để ý của cảnh sát nhưng nguyên nhân chính vì chỉ dùng sức mạnh với “tay nghề” lão luyện khuất phục được đối thủ mới khiến bọn này thật sự “tâm phục, khẩu phục”.

    Nhìn bề ngoài, Đại Cathay dễ chinh phục cảm tình người đối diện: khá đẹp trai (cao 1,64m), lại có vẻ trí thức chớ không hề bặm trợn, ăn nói nhỏ nhẹ, nhã nhặn. (Năm 1966, khi bị giam tại Chí Hòa, Đại Cathay ở phòng 3E4; tôi, khi đó cùng một số anh em sinh viên học sinh bị biệt giam tại lầu 3D và được anh em bầu làm “trưởng phòng”, nhờ vậy có thể đi lại tương đối thong thả trong khu ED vào giờ mở cửa biệt giam nên có dịp qua lại thăm Đại Cathay nhiều lần và trò chuyện khá thân mật).

    2. Phần trên mới chỉ viết về các tay trùm vùng Sài Gòn, chưa hề nhắc tới khu Chợ Lớn. Khi đó đối với dân chơi, hai khu vực này tách biệt hẳn và toàn bộ khu Chợ Lớn do các băng nhóm xã hội đen người Hoa điều khiển. (Khi xưa Sài Gòn và Chợ Lớn có ranh giới là đường Cộng Hòa - bây giờ là Nguyễn Văn Cừ - tiếp đó chạy dài theo đường Lý Thái Tổ).

    Nổi bật nhất trong đám xã hội đen người Hoa phải kể đến Nàm Chảy tức Tín Mã Nàm. (Sau giải phóng, một phần cuộc đời của Nàm Chảy được dựng thành tuồng cải lương “Tướng cướp Mã Ngưu” do đoàn Trung Hiếu của Công an TP.HCM trình diễn, khá ăn khách). Tín Mã Nàm hùng cứ khu Đại Thế Giới, khi ấy là khu sòng bạc ăn chơi nổi tiếng nhất của cả miền Nam, nay đã bị phá bỏ, xây lại thành Trung tâm Văn hóa quận 5, nằm tại góc đường Trần Hưng Đạo – Trần Phú.

    Cầm đầu vùng An Bình là Hải Phòng Kin. Còn “lãnh chúa” khu Lido - Đồng Khánh (Nay thuộc một phần khu vực đường Trần Hưng Đạo) là Quảy Thầu Hao (tức Quỉ Mặt Đen); và còn phải kể thêm Sú Hùng “chuyên trị” các đoàn múa lân.

    Nhân đây xin giải thích thêm, nhiều người không rõ lắm về giới giang hồ cho rằng cầm đầu miệt Chợ Lớn là Mã Thầu Dầu. Thực ra Mã Thầu Dầu chỉ là danh từ chung chỉ đám dân chơi (Mã Thầu = mã đầu, tức đầu ngựa; ý nói đám đầu trâu mặt ngựa) mà không hề nhắc đến một cá nhân cụ thể nào.
    Tuy nhiên, xã hội đen Chợ Lớn khác Sài Gòn ở chỗ họ không chỉ bao thầu các sòng bài, bảo kê nhà hàng, vũ trường, khách sạn... mà còn ăn tiền cống nạp của nhiều cơ sở sản xuất hàng giả và kinh doanh trốn thuế. Nguồn thu từ hai đầu mối sau cùng này rất nhiều vì vào thời điểm ấy Chợ Lớn nhan nhản hàng giả, hàng nhái, làm lậu (chẳng thế từng có câu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”).

    Bọn họ còn giỏi về mua chuộc, hối lộ. Thiếu tá (sau lên trung tá) Trụ, Trưởng ty Cảnh sát quận 5, bị mua đứt, chẳng bao giờ ra lệnh điều tra các hoạt động mờ ám của đám xã hội đen (nếu có nhúng tay thì chỉ để bênh vực họ).

    Một số tay tài phiệt Chợ Lớn, để việc làm ăn được thuận lợi, hàng tháng đã gom tiền “cống nạp” cho họ một cách tự nguyện, cụ thể như Lý Long Thân, Mã Hỉ... nên cuộc sống của dân giang hồ Chợ Lớn tương đối thong thả, ung dung, ít phải “ăn bay” để kiếm thêm tiền tiêu xài và do đó cũng ít “sóng gió” hơn so với mạn Sài Gòn. Ít ra là đến khoảng đầu năm 1964...

    3. Vào khoảng thời gian này, thế lực của Đại Cathay có thể nói đã tới hồi cực thịnh dù Đại chưa đến 25 tuổi. Quân tướng dưới trướng Đại từ các nơi qui tụ về đông đúc đến hàng ngàn, riêng số sát thủ cũng kể tới số trăm. “Đông, vui nhưng hao”, càng nhiều binh tướng càng khó phân chia lời nhuận và một ngày đẹp trời nọ, cố vấn kinh tài A Chó hiến kế với Đại Cathay: “Vùng Sài Gòn chúng ta đã khai thác gần hết tiềm năng rồi. Nay muốn khấm khá chỉ còn cách duy nhất là lần qua địa bàn Chợ Lớn. Bên ấy kinh tế phát đạt, dân người Hoa lại dễ bắt nạt. Nếu chúng ta mở rộng được thế lực qua ngả Chợ Lớn thi khỏi lo gì tiền bạc, có thể tính kế làm ăn lâu dài.”

    Đại Cathay càng nghĩ càng thấm thía gợi ý của quân sư A Chó. Hơn nữa đây còn là dịp để Đại phô trương thanh thế, “thống nhất giang hồ thành một cõi”, nên dù biết đụng đến đất làm ăn của dân chơi người Hoa không phải dễ xơi, thậm chí máu đổ đầu rơi, cuối cùng Đại Cathay vẫn gật đầu đồng ý.
    Và, thế là vụ tranh giành “lãnh thổ” lớn nhất, cuộc chiến hao binh tổn tướng nhất và kéo dài nhất trong lịch sử giới Chợ Lớn từ xưa đến nay bắt đầu... Nhưng trước khi đi vào tình tiết cụ thể, xin vắn tắt nói thêm về bốn tay “đại cao thủ võ lâm” đã thành danh trên chốn giang hồ hơn 30 năm về trước: Đại, Tỳ, Cái, Thế.

    Đại Cathay vừa được đề cập khá kỹ và tay trùm du đãng này đã đi vào “Lịch sử dân chơi” với nhiều huyền thoại pha lẫn thực tế, kể cả cái chết bí ẩn của anh ta (có thể coi bài trong các số tiếp theo).

    Có điều ít người biết hồi nhỏ Đại Cathay từng bị bắt nhốt vào trường giáo dục thiếu niên. Tại đây, Đại đã nổi tiếng liều lĩnh, trong một lần cướp sòng bạc (chơi ban đêm, dưới ánh đèn dầu ngay trong trại), Đại tung mền úp đèn, quơ tiền, ai dè mền bắt đầu bốc cháy, quấn vào ngang người dưới của Đại khiến anh ta bị phỏng khá nặng nguyên phần từ bụng dưới trở xuống.

    Tỳ vốn là võ sư, tên thật Huỳnh Tỳ, trước hùng cứ tại rạp Olympic, đường Hồng Thập Tự (nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM, đường Nguyễn Thị Minh Khai) - nơi đoàn Kim Chung “Tiếng Chuông Vàng” dùng làm rạp hát (sau 1975, Tỳ đã vào chùa thấp nhang thề từ bỏ chốn giang hồ, về nhà làm nghề mua bán và sau đó vẫn giữ được lời thề).

    Cái họ Wòng vốn gốc là dân Nùng; còn Thế tên thật Lâm Thế, thường gọi Ba Thế. Khi ấy Cái và Thế cùng nhau coi khu vực từ Lê Lai dọc qua ngã tư Quốc tế đến khu Dân Sinh (Wòng Cái chết trong thùng xe bánh mì sau bệnh viện Sài Gòn vì bị ma túy hành hạ trong đêm Noel 1978. Còn Ba Thế tập hợp số đàn em còn rơi rớt lại tính “cướp cú chót” vào thời gian gần Tết Trung thu năm 1976, nhưng vụ cướp không thành và Ba Thế bị bắt, số phận sau ra sao không rõ).

    Vào thời điểm Đại Cathay tính “bành trướng lãnh thổ” sang khu Chợ Lớn, cả ba cao thủ Tỳ, Cái, Thế đều đã qui phục Đại, thêm vào đó là hai tay sừng sỏ khác: Của Gia Định, trùm du đảng khu Gia Định mênh mông với biệt danh “hùm xám Gia Định”; và Minh Casino, vốn cầm đầu rạp Casino và luôn cả khu vực quanh chợ Bến Thành.

    4. Xin nhắc lại, nghe theo lời quân sư A Chó, để mở rộng địa bàn, Đại Cathay dùng “tiên lễ hậu binh”. Trước hết, Đại Cathay lần lượt gặp các trùm dân chơi người Hoa, phân tích tình hình và nói chuyện phải quấy, hy vọng qui tụ toàn bộ giới – Chợ Lớn về một mối duy nhất.

    Đánh giá sơ bộ các đối thủ, theo phương châm “dễ trước, khó sau”, Đại Cathay lần lượt cử người gặp Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng.
    Phần vì đã nghe danh tiếng Đại Cathay, phần thông cảm với “đồng nghiệp”, phần nữa cũng ngại đụng chạm, cả Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng đều đồng ý cho Đại “góp phần hùn” (tượng trưng, thực tế chỉ bằng miệng) vô khu ăn chơi giải trí Chợ Lớn và chia tỉ lệ phần trăm cho dân chơi Sài Gòn.

    Bây giờ mới tới “khúc xương khó nhá” nhất: Tín Mã Nàm.

    Khu vực Đại Thế Giới của Tín Mã Nàm vốn đã nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, đến lúc Bình Xuyên quản lý lại càng mở mang phát triển hơn. Chỉ duy nhất thời Ngô Đình Diệm ra lệnh dẹp “tứ đổ tường” (cờ bạc, trai gái; thuốc sái, rượu chè), Đại Thế Giới thoạt đầu co cụm lại. Nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm vừa đổ, Đại Thế Giới không những chỉ trở thành sòng bài lớn nhất miền Nam mà còn vang danh cả khu vực Đông Nam Á. Tiền bạc vô như nước, đương nhiên bọn đứng “mặt rô” phải đông. Dưới trướng Tín Mã Nàm là các “cao thủ” với cánh tay phải là Xú Bá Xứng chuyên coi về tài chánh, cờ bạc; về đâm thuê chém mướn phải kể đến Bắc Kỳ Chảy và Cọp Chảy đứng đầu bảng bảo kê. Nhất là Bắc Kỳ Chảy vốn là dân gốc người Nùng từ Móng Cái di cư vào đầu quân cho Tín Mã Nàm.

    Hầu hết băng bảo kê Đại Thế Giới xuất thân từ các võ sĩ ở đội múa lân, ai nấy đều tinh thông quyền cước, dao, kiếm, giáo, côn; cả nội công lẫn ngọai công không phải tầm thường.

    Ỷ vào binh hùng tướng mạnh, vả lại quyền lợi quá lớn mà lòng tham vô đáy, Tín Mã Nàm gạt phăng đề nghị của Đại Cathay:
    - Ở lây anh em lông lắm, chia phần lâu còn đủ ăn.

    Lần đầu tiên bị từ chối thẳng thừng, Đại Cathay lên giọng đe dọa:
    - Không chia phần tôi, e sẽ xảy ra chiến tranh và bất lợi cho Nàm Chảy đấy.

    Ai dè Tín Mã Nàm không những không lộ vẻ sợ hãi mà còn thách thức:
    - Muốn lánh thì lánh. Ngộ lâu có ngán!

    Kịch chiến mở màn Cả hai bên đều biết “chiến tranh” là điều xảy ra nội nhật nay mai, nên đều tích cực chuẩn bị cho trận sống mái. Phía Tín Mã Nàm đương nhiên thiên về thế thủ. Tất cả các sạp báo, quán ăn, tiệm cà phê quanh khu vực Đại Thế Giới đều biến thành chỗ cất giấu vũ khí. Không bao giờ đàn em dưới trướng Tín Mã Nàm đi hoặc ngồi quán một mình hoặc đôi ba người, mà luôn từ năm bảy người trở lên, sẵn sàng ứng cứu lẫn nhau.

    Còn Đại Cathay lập tức triệu tập binh tướng, lên kế hoạch tập kích. Ba Thế mới về đầu quân cho Đại Cathay chưa bao lâu, chưa lập được chiến công hiển hách nào, hăng hái:

    - Để thằng Bắc Kỳ Chảy cho tôi!

    Tuy là một trong “tứ đại cao thủ” nhưng Ba Thế trắng trẻo, đẹp trai, từng được hề Ba Hội đoàn Kim Chung đặt biệt danh “bạch diện thư sinh” nên Đại Cathay ngần ngại:

    - Thằng Nùng đó ghê lắm. Bọn Nùng toàn đi lính nhảy dù và thiết giáp... Thôi được, thằng Lâm phải theo sát hỗ trợ cho Thế!

    5. “Giờ” G” được xác định là khoảng 9h sáng, giờ băng Tín Mã Nàm thường tụ tập ăn điểm tâm tại các tiệm, quán phía trước Đại Thế Giới.
    Vậy là một buổi sáng đẹp trời nọ, trên 100 “giang hồ hảo hớn” rần rần rộ rộ kéo đến khu vực Đồng Khánh (nay là Trần Hưng Đạo) – Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú) – Nguyễn Tri Phương. Đạo quân do đích thân Đại Cathay dẫn đầu, có đủ mặt anh hào: Huỳnh Tỳ, Wòng Cái, Lâm Thế, Hải Súng, Lâm, Chương Khùng, Việt Parker, Của Gia Định, Minh Casino... Hai xe hơi du lịch và mấy chục xe gắn máy hiệu Gobel, Push, Brumi, Ishia (hồi ấy chưa có xe gắn máy Nhật, mà chỉ toàn xe máy hiệu Sach của Đức) chở đôi phóng như bay, bất ngờ đồng loạt thắng lại trước khu Đại Thế Giới. Các thanh niên trên xe nhào xuống, ai nấy kẻ rút đao, kiếm; người móc côn, lưỡi lê, ào vô các tiệm quán bên đường, cứ nhè các thanh niên đang ngồi uống cà phê hay ăn hủ tíu mà đâm, chém tới tấp bất kể đó có phải đám lâu la của Tín Mã Nàm hay không.

    Sau một thoáng ngỡ ngàng, nhóm thanh niên này lập tức trấn tĩnh lại, hò hét lấy khí thế, chạy vô phía trong quán, cũng lấy đao, kiếm, côn nhị khúc... cất giấu sẵn, múa may đánh trả không chút sợ hãi. Bà con bán quán vốn quen biết đám Đại Thế Giới, lại cũng gốc người Hoa, nên ủng hộ “bồ nhà” vỗ tay và la lối trợ oai vang dội cả mấy con đường. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu coi mòi đã căng thẳng, khó phân thắng bại.

    Trong lúc hai bên kịch liệt giáp chiến, Ba Thế đảo mắt tìm Bắc Kỳ Chảy. Kia rồi! Đối thủ của hắn đang cầm một thanh “mã” vung loang loáng, chỉ huy một nhóm năm tên tả xung hữu đột. Ba Thế cầm đao xộc thẳng tới trước mặt Bắc Kỳ Chảy, quát lần:
    - Mày ngon đấu tay đôi với tao!
    Bắc Kỳ Chảy không thèm trả lời, chỉ “hú” một tiếng, múa thanh mã xông lại đón đường đao của Ba Thế. Qua lại được vài hiệp, đám giang hồ do Lâm dẫn đầu ùa tới khiến Bắc Kỳ Chảy không dám nghênh chiến nữa, bỏ chạy.

    Đang hăng, Ba Thế rượt đối thủ bén gót. Hình như đã có chủ ý, Bắc Kỳ Chảy chạy tạt vào rạp hát Hào Huê (nay nằm trên đường Trần Phú, gần góc đường Trần Hưng Đạo). Đời nào để con mồi thoát thân, Ba Thế lao theo. Ai ngờ hắn vừa lọt vô rạp hát thì nghe đánh rầm ở phía sau: Hai tên đàn em Bắc Kỳ Chảy phục sẵn ngay tại phía trong cửa rạp hát đã kéo cửa sắt, khiến cả bọn lâu la của Ba Thế rớt lại phía ngoài cửa.
    Thấy đối thủ đã sa bẫy, Bắc Kỳ Chảy vung thanh mã tấu, cười gằn:

    - Phen nay nị chết nhen con!

    Hai tay đàn em của gã ngườl Nùng cũng kẻ rút côn nhị khúc, đứa cầm kiếm lăm lăm, sấn tới. Ba Thế hốt hoảng lượng định tình thế, áp sát lưng vô tường làm điểm tựa, xuống tấn, cầm ngang dao thủ thế, chân không ngừng di chuyển dần lại phía cửa sắt...

    Phía ngoài, Lâm đã đuổi tới rạp Hào Huê, nhưng cánh cửa sắt đã khép lại, hắn chỉ thấy phía trong Ba Thế một chống ba, tính mạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc. Lâm nhanh trí, lấy đầu nhọn con dao phở mà hắn dùng làm vũ khí lách vô dưới khẻ hở chốt cửa, khẽ nâng lên.

    “Tách” một tiếng, chốt đã nâng lên, Lâm vừa đưa tay trái kéo cửa sắt mở ra thì nghe sau gáy lạnh buốt: Một nhát kiếm đã chém trúng sau đầu hắn. Lại nghe tiếng quát phía sau, mũi con dao phở vẫn còn dính trong kẹt cửa khiến tay phải Lâm không thể nào quài dao lại đỡ, đành liều mình, buông tay trái đang vịn cửa lên che ót. Lưỡi kiếm bén ngót lần này tiện đứt lìa ngón tay cái của Lâm (và Lâm mang biệt danh Lâm Chín ngón kể từ đó).

    Bên trong rạp Hào Huê, Ba Thế không bỏ lỡ cơ hội, nhanh chóng thoát ra ngoài, vừa kịp lúc đám giang hồ Sài Gòn hàng chục người xông tới tiếp cứu khiến nhóm Chợ Lớn phải tháo lui, tẩu tán vào các hang cùng ngõ hẻm và các nhà, quán quen thuộc, trong phút chốc biến mất sạch.

    Hậu quả của trận thư hùng mở màn cho giới giang hồ hai phe Sài gòn – Chợ Lớn này là mỗi bên đều có khoảng trên dưới 20 người bị thương nặng nhẹ, tuy nhiên không ai tử thương.
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #14
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 2): Du đãng Sài Gòn đụng dân chơi Đà Lạt

    Như đã nói, hồi ấy có một số tay tài phiệt thường “tài trợ” cho dân du đãng, trong số đó đáng kể nhất là Hoàng Kim Qui, thường được gọi “vua kẽm gai”.

    dai-cathay
    Đại Cathay và vợ thời hoàng kim


    Đó là do Kim Qui làm giàu nhờ chiến tranh Việt Nam: Ông ta trúng thầu cung cấp toàn bộ dây kẽm gai để làm hàng rào ấp chiến lược, hàng rào phòng thủ cho đồn bốt, rào cản ngăn chặn sinh viên học sinh biểu tình tranh đấu... Về sau Kim Qui còn trúng thầu làm lưới sắt bảo vệ B40, nên lại càng giàu thêm.

    Hoàng Kim Qui có một quí tử là Hoàng Kim Lân, thuộc loại công tử bột ăn chơi có hạng. Lân thường kết bạn với số con nhà giàu khác và các “dân chơi” nổi tiếng, ngày ngày lui tới các vũ trường, nhà hàng, tiêu tiền như rác, lâu lâu nổi hứng “chơi trội” để “giựt le”.

    Có lần, buổi tối Lân vô một nhà hàng lớn nằm trên đường Lê Lợi, tuyên bố sẽ bao toàn bộ khách đang ăn trong nhà hàng, trả tiền cho hết thảy mọi người. Maitre d’hôtel lên thông báo trên micro, ai dè bữa đó có một toán biệt động quân từ chiến trường về Sài Gòn nghỉ phép vô quán nhậu từ xế chiều nay đã ngà ngà say. Bọn này nhao nhao phản đối: “Tụi tao có tiền, vô đây ăn uống. Lân là thằng nào mà dám trả tiền bao tụi tao?”. Lời qua tiếng lại, bọn lính rút lựu đạn ra. Lân đang cầm chiếc hộp quẹt máy châm thuốc lá hút nổi sùng lên, quăng bỏ luôn hộp quẹt máy, te te bỏ ra khỏi nhà hàng. Nhân viên cả nhà hàng vội nháo nhào đi tìm chiếc hộp quẹt vì hộp quẹt của Lân ai cũng biết làm bằng vàng 18.

    Lân rất khoái chơi với bọn Đại Cathay. Thường hắn ký sẵn séc tại các nơi Đại Cathay thường lui tới ăn chơi, lâu lâu kiểm tra lại, khi nào thấy Đại và bọn đàn em xài gần hết lại ký tiếp.

    Trong băng công tử bột của Lân có hai anh em người Hoa là Dách Bửu và Dì Bửu, là con của chủ nhà hàng Mékong. Khi ấy chủ Mékong không những có hai nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn và Chợ Lớn, mà còn mở cả nhà hàng tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, và tại thủ đô PhnomPenh, Campuchia. Đang lúc ăn nên làm ra, Mékong lập thêm một nhà hàng nữa ở Đà Lạt. Nhân dịp khai trương nhà hàng này, Dách Bửu và Dì Bửu mời Hoàng Kim Lân lên Đà Lạt dự lễ, nhờ Lân mời luôn Đại Cathay và một số tay em của hắn - mà hai anh em người Hoa này cũng đã biết sơ sơ qua giới thiệu của Lân và đôi lần gặp gỡ trên sàn nhảy.

    Gặp hồi đang phấn khởi vui vẻ trước lời hứa giúp đỡ của “ông chủ”, Đại kéo luôn một lô đàn em thân tín lên cao nguyên đổi gió. Đi cùng tay trùm du đãng này có đến hơn chục tên: Lâm Chín ngón, Hải Súng, Cu Quì, Sáng, Phong, Năm Công... chất lên hai xe du lịch Mustang và Traction không hết, phải đi nhờ cả xe của Hoàng Kim Lân.

    Dách Bửu, Dì Bửu đón tiếp giới du đãng rất long trọng, không thua gì so với các nhà chính trị sa-lông có máu mặt và khách nước ngoài đến dự lễ khai trương. Chúng được dành nguyên một tầng lầu riêng để tiện việc ăn ở, đi lại. Đúng thời gian ấy có đoàn cải lương từ Sài Gòn lên Đà Lạt lưu diễn tại nhà hát ngay khu chợ Hòa Bình thuộc trung tâm thành phố sương mù. Các kép chính trong đoàn vốn cũng không xa lạ gì với Đại Cathay vì Thành Được, Hữu Phước hay lui tới hút thuốc phiện (hồi đó thường gọi là “đoong thóc”) tại tiệm Khang Thành nằm gần góc đường Đồng Khánh và đã nhiều lần gặp Đại Cathay cùng đám nhà văn Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy... cũng thường đến đây đi mây về gió.

    Liên tiếp hai đêm, đoàn cải lương không ngớt kêu khổ vì đám du đãng Đà Lạt đến gây rối. Đám du đãng này đâu khoảng trên dưới 20 tên, do Xi Rỗ cầm đầu, câu kết với bọn lính địa phương quân. Băng nhóm Xi Rỗ không chỉ coi khu chợ Hòa Bình mà còn tung hoành khắp thị xã Đà Lạt, từ bến bãi xe đến nhà hàng, khách sạn, vũ trường... hễ ai dám không “nộp thuế” cho bọn chúng là gặp chuyện ngay.

    Gặp đoàn cải lương, đêm nào chúng cũng đòi “coi cọp” (không mua vé), không chỉ cho riêng chúng mà còn cho cả bọn lính địa phương và... luôn họ hàng, bạn bè thân thuộc của chúng, với số người “ăn theo” lên đến hàng trăm. Đã thế, chúng lại yêu cầu ngược: Đoàn cải lương phải trả “tiền bảo vệ” cho mỗi suất hát. Bầu cải lương tuy méo mặt vẫn ráng è cổ ra chịu mà trong lòng tức anh ách.

    “Tha hương ngộ cố tri”, bất ngờ đất lạ quê người gặp ngay Đại Cathay trùm du đãng - mà anh em văn nghệ sĩ khi ấy hay gọi là Zimbô - Hữu Phước và Thành Được đều vô cùng mừng rỡ (Đại có tên “Zimbô” vì vào khoảng thời gian 1965 ở Sài Gòn có chiếu một bộ phim Tarzan Ấn Độ với nhân vật chính là Zimbô rất ăn khách. Do Đại mang một phần tư máu Ấn - cha lai Ấn, mẹ Việt Nam - nên được mang tên này luôn). Cả hai tài tử cải lương đều xổ bầu tâm sự, than phiền không ngớt về dân chơi Đà Lạt chơi không đẹp và nhờ Đại ra tay giúp đỡ. Nghe qua lời kể, phần vì được nịnh phổng mũi, phần vì nghĩa khí giang hồ “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” (thấy việc nghĩa không làm là không phải kẻ dũng khí, gặp nguy chẳng cứu chẳng phải anh hùng), Đại Cathay ưỡn ngực hứa: “Để đấy tôi lo cho!”.

    Chưa hết. Nghe tin nhà hàng Mékong khai trương làm lễ rất lớn, Xi Rỗ viết thư gởi đến chủ nhà hàng, yêu cầu nội nhật chiều hôm ấy phải gởi cho hắn một con heo quay, hai chai rượu ngoại và năm két bia (hồi đó chỉ có bia La Rue con cọp) để bọn hắn nhậu, ghi chú rõ ràng ở cuối thư “nếu không, chủ nhà hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm” (?). Mời bọn Đại Cathay lên Đà Lạt dự lễ khai trương, đụng chuyện này mà nhờ vả đến thì thật là đắc sách, Dách Bửu và Dì Bửu đưa thư của Xi Rỗ cho Đại Cathay coi và “xin ý kiến chỉ đạo”. Vốn đã có sẵn chủ ý, Đại phẩy tay:

    - Cứ gởi rượu, bia, heo quay cho chúng. Tôi sẽ nói chuyện phải quấy với thằng Xi Rỗ sau.


    Khoảng 8h tối hôm ấy, Đại Cathay kéo nguyên băng ra bến xe gần chợ Hòa Bình tìm Xi Rỗ, thì Xi Rỗ đang ngồi nhậu với bầy lâu la ngay quán nhậu kế bến xe chớ đâu. Ngoài khoảng hơn chục tên du đãng xứ hoa anh đào còn có cả tiểu đội địa phương quân cũng túm tụm uống rượu, bia với mồi là con heo quay béo ngậy. Súng cạc-bin, ga-răng dựa ngay bên bàn nhậu. Riêng Xi Rỗ cởi trần trùng trục mặc dù trời tối Đà Lạt trời lạnh, có lẽ một phần hắn muốn khoe thân hình lực lưỡng cuồn cuộn cơ bắp, một phần do nhờ rượu tỏa năng lượng sưởi ấm cơ thể (?).

    Đại Cathay dẫn đầu băng du đãng Sài Gòn, tiến thẳng đến trước tiệc nhậu, lớn tiếng (tuy hắn dễ dàng nhận ngay ra Xi Rỗ với khuôn mặt rỗ đặc trưng):

    - Ai là Xi Rỗ đâu?


    Thấy có kẻ kêu đích danh mình, lại có vẻ hống hách, Xi Rỗ không thèm đứng dậy, hếch mặt, tay không buông ly rượu đang uống dở:

    - Tao đây! Có chuyện gì vậy?


    Đại Cathay gằn giọng:

    - Tao muốn nói chuyện với mày về vụ nhà hàng Mékong và đoàn cải lương. Mày có biết tao là ai không?


    Xi Rỗ hừ một tiếng, dằn mạnh ly rượu xuống bàn:

    - Biết chớ! Biết cả chuyện mày lên đây đã mấy ngày rồi mà không lại chào tao. Giờ mày muốn gì?


    Đại Cathay cố nén giận:

    - Nhà hàng Mékong và đoàn cải lương là chỗ bạn bè của tao, mày vuốt mặt phải nể mũi.


    Xi Rỗ vụt đứng dậy:

    - Mày là cái thá gì mà tao phải nể? Rừng nào cọp nấy. Sài Gòn của Đại Cathay. Đà Lạt này của Xi Rỗ, không được lôi thôi gì hết!


    Nãy giờ đã hầm hầm trong bụng, Sáng người nhái nghe đến đây tức khí móc luôn khẩu Colt 45 giấu bên hông ra, thẳng tay quật bá súng vô sau ót Xi Rỗ.

    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #15
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 3): Người đứng đầu trong 'tứ đại giang hồ'

    Có lẽ không mấy ai không biết tiếng Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất trước 1975, người đứng đầu trong “tứ đại giang hồ” (Đại, Tỳ, Cái, Thế).

    Đại Cathay tìm cách vượt ngục và được coi là mất tích luôn từ đó Đại Cathay tìm cách vượt ngục và được coi là mất tích luôn từ đó

    Sự thật Đại Cathay đã chết. Nhưng bao quanh cái chết của anh ta vẫn còn nhiều uẩn khúc và có lẽ mãi mãi bao trùm trong bí mật...

    Có thể nói, một cách nào đó, cái chết của Đại Cathay cũng là một “huyền thoại” giống như nhiều huyền thoại xoay quanh cuộc đời của anh ta.

    Từ sau khi Đại Cathay được coi là mất tích, đã có khá nhiều câu chuyện đồn đại. Loại trừ các câu chuyện hoàn toàn không có đủ cơ sở để tin cậy như Đại Cathay đã trốn thoát khỏi đảo Phú Quốc sang Thái Lan “gác kiếm giang hồ” sống cuộc đời bình dị... ít nhất cũng có ba câu chuyện khác nhau với “đầy đủ chứng cứ”:

    (l) Đại Cathay đã chết tại trường đua Phú Thọ trong dịp Tết Mậu Thân (1968), (2) Đại Cathay bị Trần Tử Thanh, thiếu úy biệt kích ngụy, và tổ biệt kích giết theo lệnh Nguyễn Cao Kỳ, và (3) bị quân du kích của Mặt trận Giải phóng miền Nam bắn chết tại khu vực núi Khu Tượng trên đảo Phú Quốc.

    Nhưng, trước khi đi sâu vào các chi tiết “có thể tin được” nhờ các nhân chứng người thật việc thật qua các lời đồn đại trên, xin mời cùng lược qua tiểu sử của Đại Cathay và một số câu chuyện liên quan đến tay trùm du đãng nổi tiếng này.

    Tại sao lại là “Đại Cathay”? Điều tưởng như đơn giản nhất là họ tên thật, ngày tháng năm sinh và tên cha mẹ của Đại Cathay cũng đã gặp rắc rối: Lê Văn Đại, tức Nguyễn Văn Đại, tự Đỗ Minh Đức, tự Dũng, tự Đại Cathay. Năm sinh lúc thì 1944, khi thì 1940, lại có lần ghi 1941 hoặc 1945.

    Cha Đại Cathay có ba tên: Nguyễn Văn Cự, Lê Văn Cự và Lê Văn Trự. Mẹ cũng có ba tên: Lê Thị Hưng, Lê Thị Hương và Lê Thị Duyên.

    Việc này đã được Đại Cathay thú thật trong một lần bị Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn thẩm vấn: “Riêng về năm sanh và tên cha mẹ, tôi tự ý khai để đánh lạc hướng trong cuộc xét hỏi của nhân viên công lực, mà hiện tôi không còn nhớ rõ” (trích lời khai trong lần bị bắt vào đêm 8/4/1964).

    Dẫu sao, cũng có thể khẳng định Đại Cathay lúc nhỏ ở với cha mẹ tại chân Cầu Mống (quận l), sau chuyển qua đường Đỗ Thành Nhân (Khánh Hội, quận 1), theo học văn hóa đến năm 1954 thì nghỉ học vì cha mất, phải ở nhà phụ giúp mẹ buôn bán và làm... du đãng.

    Cũng có người kể, vào khoảng năm 1950, vườn hoa bên cạnh Cầu Mống nối Sài Gòn với Khánh Hội khi đó có một vựa củi lớn đối diện với hội trường Diên Hồng (hiện là Sở Thương mại Thành phố). Bố mẹ của Đại Cathay làm nghề chẻ củi thuê cho vựa củi này. Đại lúc ấy còn “nhóc tì” là một thằng bé hiền lành, ít nói, dẫu có tướng “ngầu”. Suốt ngày, Đại thơ thẩn chơi đùa bên phía hội trường Diên Hồng, vòng ra con đường sau lưng hội trường là đường Nguyễn Công Trứ.

    Ngay góc con đường này có một rạp hát và chiếu bóng không lấy gì làm sang trọng lắm có tên rạp Cathay. Tại đây, chú bé Đại kết thân với nhiều trẻ em bụi đời khác làm đủ thứ nghề như đánh giày, bán báo, bán kem... Lũ lối này đánh lộn như cơm bữa, mà thông thường Đại luôn đánh thắng kể cả những đứa lớn tuổi và lớn con hơn nhờ Đại vốn liều lĩnh, lì lợm, thêm có “năng khiếu” đánh lộn. Gần rạp Cathay có khu Dân Sinh và bót cảnh sát quận 1. Bót này nổi tiếng dữ dằn với những ông đội xếp, mà thời ấy kêu là “mã tà” hoặc “phú lít” (police).

    Gần như ngày nào đám trẻ con bụi đời cũng bị mã tà túm cổ về các tội đánh lộn, ăn cắp vặt, móc túi... và bị đánh đập ra trò. Đại cũng nhiều lần bị túm, dù không gây án cũng bị đập để cảnh sát bắt khai ra đồng bọn. Lối lấy cung khủng khiếp nhất đối với bọn trẻ là bị bắt quì xuống, hả to họng để “mã tà” bỏ tọt một con gián còn sống nhăn vô. Con gián cuống cuồng tìm đường thoát, chui theo cuống họng xuống, dãy dụa, cào cổ họng, bao tử làm chú nhóc ói đến mật xanh mật vàng. Qua những lần bị xử phạt như vậy Đại vẫn nhất định không khai gì và được thả, lại lang thang ra rạp xi-nê Cathay đánh lộn tiếp. Đám bụi đời nhóc tì ngưỡng mộ và phục Đại tính lì lợm hơn người, đặt biệt danh “Đại Cathay”.

    Năm 1955, Ngô Đình Diệm thắng lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn và các giáo phái chống đối ông ta ở miền Tây. Sài Gòn khi ấy được chỉnh trang lại phần nào để mang bộ mặt mới. Vựa củi bên cạnh Cầu Mống bị dẹp để biến thành công viên. Bố mẹ Đại mất việc làm, dời nhà sang bên kia sông, ngụ tại con hẻm hãng phân Khánh Hội. Con nít, trẻ nhỏ ở bên đó thuộc khu bến tàu cũng chẳng vừa gì, vì ảnh hưởng của đời sống chính cha mẹ chúng và những người lớn ưa nhậu nhẹt thường xuyên gây lộn. Đại Cathay xông vô “trận địa mới” ngay và cũng thường xuyên thắng.

    Đã có chút “máu mặt”, Đại Cathay kéo rốc đám anh em bụi đời đó sang khu Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh, họp lại làm ăn. Chỉ sau một thời gian ngắn, gây vài vụ án, tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn, làm lu mờ dần những tay anh chị du đãng khét tiếng hồi đó.

    dai-cathay-211

    Cũng vì du đãng, tính đến khi mất tích, Đại Cathay bị bắt tổng cộng 10 lần (không tính những lần còn là chú nhóc), trong đó có ba lần bị đưa ra tòa xử. Nói chính xác hơn, trừ lần đầu, ngày 30/11/1959, Đại Cathay bị bắt giải Tòa sơ thẩm Sài Gòn xử hai tháng tù ở tội danh “oa trữ giấy cầm đồng hồ đeo tay”, cả 9 lần sau đó Đại Cathay đều bị bắt về các tội danh “du đãng”. Nên có thể nói, Đại Cathay đúng là du đãng, chớ không phải ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp như nhiều tội phạm hình sự khác.

    Có thêm một lần Đại Cathay bị bắt không hẳn vì tội danh du đãng: Lúc 9h đêm 13/6/1962, nhà hàng Vạn Lộc ở số 32 đường Trần Hưng Đạo bị ném lựu đạn. Cảnh sát Sài Gòn bắt 3 tên Thạch Linh, Thạch Minh và Đỗ Trí Dũng để điều tra. Những tên này khai và Đại Cathay bị bắt ngày 20/6/1962. Nhưng cuộc điều tra “không đem lại kết quả” và gần ba tháng sau, Đại Cathay được thả tự do.

    Xin trích lại một phúc trình của nhân viên Ban 4 phòng Hình cảnh gởi lên chủ sự phòng nói về Đại Cathay: “... Chúng tôi đã mật điều tra trong vùng Đô thành và ghi nhận những tin tức về Đại Cathay như sau: tên Đại Cathay đã sống không nghề nghiệp từ lúc 19 tuổi, y đã kết hợp một số thanh niên cùng tình trạng tổ chức những vụ đánh chém lộn khắp vùng Sài Gòn Chợ Lớn, y đã hai lần tổ chức chém người tại khu Dân Sinh (Q2) và tại Chợ Lớn. Ngoài ra y cũng đã bị chém một lần tại đường Lê Lai. Đặc biệt, số người bị đánh chém cũng như đã chém y đều thuộc thành phần lưu manh, du đãng...”.

    (Phúc trình ngày 15/1/1966 do Lý Văn Vàng, Võ Minh Nhựt ký tên, bên cạnh có Phó Cảnh sát trưởng Trần Văn Ơn xác nhận).

    Ngoài những điểm gan lì, “chịu chơi”, Đại Cathay còn chơi rất đẹp không chỉ với dân chơi mà còn với bạn bè, nên chẳng bao lâu đã nổi lên thành “nhân vật du đãng số một” thời chế độ Sài Gòn.

    Và Đại Cathay đã được cảnh sát ngụy đối xử rất đặc biệt. Xin dẫn chứng: Ngày 8/4/1964, lúc 22h15, Ban Bài trừ Du đãng thuộc Tổng nha Cảnh sát bắt Đại Cathay, giải giao đến Tổng nha ngày 10 /4/1964. Đến 11h ngày 25/5, ủy ban An ninh nội bộ Tổng nha Cảnh sát nhóm họp tại văn phòng Trung tá phụ trách khối cảnh sát đặc biệt để “cứu xét những can phạm mới khai thác xong để trình Trung tá Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia quyết định”. Chỉ riêng việc Đại Cathay được ủy ban An ninh Tổng nha Cảnh sát Quốc gia họp để cứu xét cũng đủ biết anh ta được chính quyền cũ “ưu ái” biết dường nào. Cuối cùng, sau khi nhận thấy không thể “cải tạo” nổi Đại Cathay, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia quyết định đưa anh ta ra “an trí” tại đảo Phú Quốc vào ngày 28/11/1966.
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #16
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 4): Viên sĩ quan quân đội Sài Gòn thủ tiêu Đại Cathay?

    Số can phạm mới chuyển từ đất liền tới trại, buồn tình không biết làm gì, cả ngày dài cổ giải trí bằng bộ bài mạt chược. Đánh bài mãi cũng đâm chán, đến một lúc nào đó...


    giang-ho-sai-gon-ky-4
    Trùm giang hồ miền Nam mất tích sau cuộc trốn trại côn đảo bí ẩn (Ảnh minh họa)


    Khác với đảo Côn Lôn (sau được đổi thành Côn Sơn và hiện nay là Côn Đảo), thời Pháp thuộc, đảo Phú Quốc chưa hề có trại giam. Thời Ngô Đình Diệm cũng vậy. Mãi đến “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu, Phú Quốc mới hình thành hai trại giam, một dành cho tù binh (tức là số bộ đội miền Bắc vô chiến đấu và bị bắt tại miền Nam), một dành cho “dân chơi” và số tù chính trị quốc gia (chỉ số chống đối chế độ Sài Gòn khi ấy nhưng không liên quan gì với Mặt trận Giải phóng miền Nam - hầu hết là số người can dự vào cuộc chống đối Thiệu ở miền Trung).

    “Dân chơi” được đưa ra Phú Quốc lúc đó chỉ khoảng vài chục người, toàn thuộc loại du đãng, đánh lộn có nhiều “thành tích có vằn có vện” (không phải cướp của giết người, cũng không được đưa ra tòa xét xử) như Hải Phòng Kin, Sú Hùng, Lâm Chín ngón, Bảy Xi, Hải Súng, Quảy Thầu Hao, Hắc Quảy Chảy, Đực Bà Tiểu, Thanh Tưa, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hòa Áo thun... Và đương nhiên, trong số đó có Đại Cathay.

    Trại giam thứ hai này được xây cất vội vàng theo kiểu dã chiến, gần ngay sân bay thuộc thị trấn Dương Đông, và do đó cũng không mấy xa bãi biển (không phải trại giam tù binh do Mỹ xây dựng, nằm trên đường đi từ Dương Đông đến An Thới, cách thị trấn Dương Đông đến hơn 20km). Vội vàng đến nỗi trại giam chưa kịp đặt tên ngoài một danh từ khá hoa mỹ sử dụng trên giấy tờ: “Trại hướng nghiệp Phú Quốc”.

    Số can phạm mới chuyển từ đất liền tới trại, buồn tình không biết làm gì, cả ngày dài cổ giải trí bằng bộ bài mạt chược. Đánh bài mãi cũng đâm chán, đến một lúc nào đó, bác sĩ Mẫn cao hứng tuyên bố:

    - Tụi nó không đặt tên cho trại này thì chúng ta phải đặt tên mới được!

    Cả bọn nhao nhao đồng ý. Sau một hồi bàn tán, ai nấy nhất trí sẽ xáo bộ bài và để một người làm “đại diện” rút một cây bài. Tên cây bài này sẽ là tên trại. Đại Cathay được hân hạnh đề cử làm người rút cây bài ấy. Và Đại Cathay đã rút trúng con bài cửu sừng.

    Trại Cửu Sừng từ đó thay cho tên “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” (thật ra trại đâu có dạy cho ai nghề gì - chẳng có người dạy, cũng chẳng có xưởng trại, máy móc... chi ráo lấy gì mà “hướng nghiệp” ?).

    Theo lời kể của một trung úy cảnh sát dã chiến có nhiệm vụ canh gác trại Cửu Sừng thì:

    “Trong một chuyến thăm nuôi, tôi thấy trong đám thân nhân những người tù có thân nhân của Đại Cathay. Đó là vợ ba của Đại, khá xinh đẹp, nghe đâu thuộc gia đình tử tế và bản thân chị ta là người học thức. Trong những món đồ thăm nuôi hậu hĩnh, có một chiếc áo blouson. Chiếc áo màu đen, sau lưng thêu bản đồ Việt Nam chia đôi. Nửa trên phía Bắc thêu chỉ đỏ, phía miền Nam thêu chỉ vàng và hai chữ Việt Nam thêu to tướng trên vai lưng áo. Loại áo này bán rất nhiều ở đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn khi đó, dành cho lính Mỹ mang về nước làm kỷ niệm. Thật ra chiếc áo này chẳng ấm áp gì, những đường may lại vụng về, xấu xí. Khi khám xét đồ thăm nuôi, tôi nhấc chiếc áo đó lên xem xét. Chiếc áo nặng trịch, ngoài sức tưởng tượng! Lần vào lưng áo, tôi biết có những thỏi gì đó như những thỏi kim loại nhưng mềm. Tôi toan lên tiếng thì một vị sếp của tôi lừ mắt ra hiệu tôi trả lại áo cho Đại Cathay. Tôi không còn cách nào khác là đưa chiếc áo cho Đại Cathay ôm trở về trại
    ”.

    Điều bất ngờ nhất là chỉ một ngày sau, vào buổi tối, Đại Cathay đã trốn thoát khỏi trại cùng với một đàn em thân tín. Theo lời kể lại của lính gác thì Đại Cathay khi trốn đi đã mặc quần áo hải quân cùng với một số binh sĩ vừa lính vừa sĩ quan. Họ được hộ tống ra bãi biển dung ca-nô chạy ra một chiếc tàu hải quân đậu sẵn ngoài khơi”.

    Phẩn cuối lời kể của viên trung úy cảnh sát dã chiến gần đúng với nội dung công điện hỏa tốc được gởi từ “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” về Tổng nha Cảnh sát Quốc gia...

    Tuy nhiên, lời kể của viên trung úy cảnh sát dã chiến cũng như nội dung công điện hỏa tốc trên đều chỉ đúng ở phần đầu.

    Chúng tôi đã trực tiếp gặp một số đàn em của Đại Cathay liên quan mật thiết đến chuyện vượt ngục này, và qua phối kiểm các nguồn tin thu được, xin dựng lại câu chuyện như sau:

    Sau khi nhận được “chiếc áo lạnh dát vàng”, Đại Cathay tỏ ra rất phấn khởi, bàn bạc với số đàn em thân tín, tính chuyện vượt ngục. Đại Cathay cho biết, anh ta đã mua chuộc được một số người trong Ban Quản đốc “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” (gồm Đại úy Nghĩa, Trung úy Long, Trung úy Tảo), đồng thời liên hệ được với một tàu hải quân. Tất cả đều sẵn sàng để Đại Cathay vượt ngục cùng với một vài tay đàn em thân tín và giúp họ trốn qua Thái Lan. Gần một chục tay đàn em xin đi theo Đại Cathay gồm Hải Súng, Lâm Chín ngón, Xì kíp, Hùng Mỏ chuột, Lắm Mổ bụng... Nhưng Hải Súng tham mưu:

    - Thằng Lâm (Chín ngón) lóc chóc, để nó đi theo là bể chuyện.

    Kẹt nỗi Lâm Chín ngón lại là cánh tay đắc lực thân cận của Đại Cathay và rất được Đại Cathay thương yêu. Suy nghĩ mãi đến gần nửa đêm, Đại Cathay bảo Lâm Chín ngón:

    - Tao nghe nói mày còn chơi xì ke phải không? Bỏ đi. Chơi thứ đó hại người lắm. Mày phải nghe lời tao!

    - Dạ... Nhưng bỏ gay quá.

    - Tao cho mày chích lần này là lần chót!

    Vừa nói, Đại Cathay vừa kêu đàn em chích vào mạch máu ở cánh tay Lâm Chín ngón một liều ma túy gấp đôi liều bình
    thường. Liều thuốc này do chính Hải Súng pha chế, lại thêm cả một số “chất xúc tác” để tăng ép-phê. Kết quả Lâm Chín ngón “phê”, ngủ say như chết.

    Giờ “G” vượt ngục đã đến. Đại Cathay và 5 tên đàn em lặng lẽ chui qua hàng rào trại giam. Đêm hôm ấy trời tạnh ráo, nhưng ánh sáng lập lòe của những vì sao không đủ soi tỏ cảnh vật. Bỗng có tiếng quát lớn:

    - Ai đấy?

    Tiếp theo là tiếng súng bắn báo động liên hồi và hỏa châu vụt tỏa sáng trên bầu trời. Thì ra do giờ giấc hợp đồng không chặt chẽ, Đại Cathay và bọn đàn em bò ra hàng rào trại giam không đúng ca trực của tốp lính gác đã bị mua chuộc.

    Cũng có nguồn tin cho rằng không phải nhiều dân chơi xin vượt ngục theo Đại Cathay, mà thực ra Đại Cathay phân công nhiều người cùng đi theo, để phòng khi gặp chuyện sẽ “tung hỏa mù” giúp Đại Cathay dễ bề trốn thoát. Dù hiểu theo cách nào, đạn vẫn tiếp tục nổ, hỏa châu tiếp tục nối đuôi nhau soi sáng khu trại giam như ban ngày, nhưng không còn cách nào khác vì đã lỡ “phóng lao”, bọn vượt ngục cứ thế liều chết phóng chạy. Xì kíp, Hùng Mỏ chuột... bị bắt. Chỉ còn Đại Cathay và Hải Súng chạy thoát. Tuy nhiên họ không dám chạy về phía bãi biển để ra tàu hải quân như kế hoạch vạch sẵn, mà lao bừa theo hướng ngược lại: chui vô rừng, lần lên phía Bắc đảo...

    Đến đây, trước khi viết tiếp về chuyện vượt ngục của Đại Cathay, chúng tôi thấy nên nhắc lại một số “huyền thoại” của nhân vật này để bạn đọc tiện theo dõi...

    Đại Cathay đang trong lứa tuổi phải đi quân dịch, nhưng anh ta vẫn “phây phây” khoác đồ xi-vin ngông nghênh trên đường phố giữa Sài Gòn. Một viên tướng, vốn có cảm tình với Đại Cathay - và có lẽ phần nào cũng muốn “chơi trội” - nhắn gặp Đại Cathay, thân mật khuyên:

    - Để khỏi phải động viên, anh chịu phiền làm gạc-đờ-co (cận vệ) cho tôi là xong chuyện!

    Đại Cathay cười cười đáp lại rất thiệt tình:

    - Tôi đi đâu cũng có hàng chục “gạc-đờ-co” nay lại làm “gạc-đờ-co” cho ngài, không lẽ bỏ mấy thằng “gạc-đờ-co” của tôi thất nghiệp?

    Nghe kể, có một lần giới “dân chơi” xôn xao vì tin Nguyễn Ngọc Loan thừa lệnh Nguyễn Cao Kỳ chính thức mời Đại Cathay “đàm phán” để giải quyết nhằm triệt tận gốc rễ nạn du đãng tại Sài Gòn - Gia Định.

    Để gây ấn tượng cho buổi đàm phán này, Đại Cathay đến điểm họp với tiền hô hậu ủng chưa từng có trong lịch sử giang hồ miền Nam: Bữa ấy Đại Cathay chễm chệ trên chiếc Chevrolet gắn máy lạnh do Tư Gáo cầm lái - nên nhớ xe hơi có gắn máy lạnh khoảng giữa thập niên 1960 của cả Sài Gòn có thể đếm trên đầu ngón tay (xe này Đại Cathay mua lại của bà Bút Trà). Cặp theo Chevrolet là hơn chục chiếc Honda 67 đen bóng, xoáy nòng chở đôi theo bảo vệ cho “đại ca”.

    Cuộc đàm phán diễn ra trong vòng bí mật, tuy nhiên sau đó nội dung vẫn bị rò rỉ, đồn đại ra giới giang hồ. Theo đó, Nguyễn Ngọc Loan, có Mã Sâm Nhơn phụ tá, yêu cầu Đại Cathay từ giã cuộc đời du đãng, tuyên bố giải tán các băng, đảng dưới trướng. Tất cả anh em hoàn lương bảo đảm không ai bị làm khó dễ, còn được tạo điều kiện làm ăn. Ngược lại, kẻ nào trái lệnh, tiếp tục gây ân oán, Đại Cathay có nhiệm vụ “triệt”. Bù lại, Đại Cathay được đặc cách làm thư ký cho Nguyễn Ngọc Loan, với cấp bậc tương đương thẩm sát viên.

    Cũng theo tin đồn, Đại Cathay ra giá “mặc cả” chỉ đồng ý đề nghị trên với hai điều kiện: Một là, phải để lại Cảng Sài Gòn cho giới giang hồ có đất làm ăn, hai là anh em dân chơi được quyền “bảo kê” các sòng bài. Cuộc “đàm phán” giằng co mãi, nhiều tỉ lệ ăn chia được đặt ra, nhưng không đi đến thống nhất.

    Lại có tin Đại Cathay được đề nghị giữ chức Trưởng ty Cảnh sát quận 9 (tức vùng Thủ Thiêm). Đổi lại, Đại Cathay phải lập công bằng cách bắt gọn bọn đàn em. Việc này Đại Cathay từ chối thẳng thừng: “Tôi vốn là thằng du đãng, không thể nào bán đứng bạn bè, cũng là du đãng như tôi!” Dù thế nào, rốt cuộc “đàm phán” cũng không thành. Trung tâm Bài trừ Du đãng được thành lập.

    Đại Cathay, vốn đã nổi danh lại càng lừng lẫy sau vụ “đàm phán” được thổi phồng lên rằng anh ta đã cương quyết không bán đứng giới giang hồ để mua chiếc lon thiếu tá cảnh sát, còn dám công khai bảo vệ dân chơi trước mặt viên tướng chỉ huy trưởng Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Nghĩa khí này quả là đáng nể phục, xứng đáng làm đại ca của những đại ca. Tham vọng của Đại Cathay bắt đầu nổi lên. Anh ta tuyên bố với bọn đàn em rằng muốn trở thành một nhân vật như Bảy Viễn thời thực dân Pháp còn tạm chiếm, thành một ông “vua” trong kinh doanh bất cứ thứ gì ngoài vòng pháp luật. Nhưng phàm ở đời, những kẻ không biết tự lượng sức mình, không biết đâu là điểm dừng rất dễ bị diệt vong - hoặc theo nghĩa bóng, hoặc theo nghĩa đen.

    Đến đây, chúng tôi xin trở lại lý giải từng câu chuyện đồn thổi về đoạn kết của Đại Cathay.

    Khá nhiều nhật báo xuất bản tại Sài Gòn vào thời điểm ấy đã loan tin “giật gân sốt dẻo” trên sau đợt tổng tấn công của Mặt trận Giải phóng miền Nam năm 1968. Tin cho rằng Đại Cathay đã “chỉ huy một cánh quân tấn công vào hướng tây bắc Sài Gòn và bị bắn hạ trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, gần Ngã tư Bảy Hiền”. Có báo còn thêm tình tiết để bạn đọc có thể tin được như “người ta tìm thấy trong xác chết một hộp quẹt Zippo có khắc tên Trần Đại ở nắp, một cuốn nhật ký viết về tiểu sử đời một tay du đãng, tự nhận mình là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết viết về xã hội đen của một tác giả nổi tiếng xuất bản ở Sài Gòn...”.

    Nguyễn Thụy Long (tác giả tiểu thuyết Loan mắt nhung, được cho là viết về Đại Cathay) khi đó đang là phóng viên một tờ nhật báo ở Sài Gòn, vừa nghe tin trên vội xách máy ảnh chạy thẳng lên ngã tư Bảy Hiền hỏi thăm bà con tại chỗ, tìm khắp khu vực quanh trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám song chẳng tìm thấy bất cứ chi tiết nào xác nhận nguồn tin ban đầu trên. Xác Đại Cathay không có, hộp quẹt Zippo cũng không, quyển nhật ký cũng không nốt.

    Thụy Long dò hỏi thêm nhiều nhà báo, phóng viên, nhiếp ảnh... ở Sài Gòn hồi đó, nhưng không một ai ghi nhận thêm tình tiết nào khác, cũng không ai chụp được một pô ảnh nào khả dĩ chứng thực nguồn tin trên.

    Nhằm chứng minh cho việc Đại Cathay đi theo Mặt trận Giải phóng miền Nam, có thêm tin đồn một trung tướng trong chính quyền Thiệu, do rất có cảm tình với Đại Cathay, đã đứng ra tổ chức chuyện vượt ngục cho Đại Cathay. Đại Cathay đã trốn thoát khỏi đảo, trở về đất liền. Nhưng khi tàu chở Đại Cathay vừa tới Cà Mau thì gặp quân du kích. Rốt cuộc lính tráng trên tàu lớp tử thương, lớp đầu hàng tình nguyện đi theo quân giải phóng - trong số này có Đại Cathay.

    Tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ, vì như chúng tôi đã tường thuật rõ ở phần trước: Đại Cathay vượt ngục nhưng chưa hề trốn thoát khỏi đảo Phú Quốc.

    Vì vậy, nguồn tin Đại Cathay chỉ huy một cánh quân Mặt trận Giải phóng miền Nam tấn công vào hướng Tây Sài Gòn và bị bắn hạ trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, chỉ là một tin vịt.

    Vậy phải chăng một viên sĩ quan quân đội Sài Gòn tên là Trần Tử Thanh đã giết Đại Cathay?
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #17
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 5): Tướng Nguyễn Ngọc Loan điều biệt kích ra đảo thủ tiêu trùm giang hồ?

    Chúng tôi không có điều kiện gặp trực tiếp Trần Tử Thanh để hỏi thêm anh ta đã bắn Đại Cathay mấy phát đạn, đạn trúng vô đâu? Đại Cathay có phản ứng gì không?

    tuong-nguyen-ngoc-loan-va-giang-ho-sai-gon
    Tướng Nguyễn Ngọc Loan điều biệt kích ra đảo thủ tiêu trùm giang hồ?


    Trần Tử Thanh lúc ấy đeo lon thiếu úy biệt kích dù, tính khá bốc phét, nhất là khi khoe thành tích của mình, kể cả những thành tích mà nếu có đúng 100% cũng không ai khoe. Thí dụ Thanh khoe chính hắn đã “chơi” Chu Tử tức Chu Văn Bình (khi đó là chủ bút báo Sóng thần), và cũng chính hắn đã “mần” Thượng tọa Thích Thiện Minh.

    Đặc biệt, khi đã có chút hơi men, Thanh ba hoa đủ thứ chuyện, khó mà tin được trong lời kể của hắn sự thực chiếm bao nhiêu phần trăm. Có điều, câu chuyện kể về Đại Cathay của Trần Tử Thanh được coi là “có đầu có đũa”. Hơn nữa, theo lời kể, hắn là nhân vật chính, là “người hùng” trong câu chuyện. Xin nhường lời cho tay thiếu úy biệt kích dù này:

    Bữa ấy moa đang ngồi ở một quán cà phê quen nằm trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng). Bỗng một tay cảnh sát chìm quen mặt đến gần nói nhỏ với moa: “Thưa Thiếu úy, có lệnh của ông Tướng gọi gấp”. Ông Tướng theo tụi moa hiểu ngầm với nhau là Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan tức Sáu Lèo, giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Biết có chuyện tối quan trọng, moa rời quán cà phê ngay. Tại Tổng nha, moa gặp đủ mấy đứa trong nhóm của moa. Tụi moa được lệnh lên đường ngay để thi hành một nhiệm vụ đặc biệt.

    Nghề biệt kích là vậy. Đã quen với những nhiệm vụ loại này nên bọn moa chẳng đứa nào thắc mắc. Tất nhiên không thể có thời gian trở về nhà nói lời từ biệt với người thân, bọn moa được đưa thẳng ra phi trường. Trực thăng đã chờ sẵn bốc bọn moa lên ngay. Khi trực thăng đã lơ lửng giữa bầu trời, bọn moa mới được phát mỗi thằng một bọc đồ. Với kinh nghiệm sẵn có, bọn moa vội mở ra, trong đó thế nào cũng có một gói nhỏ đựng tiền. Nhìn tiền là mình biết ngay sẽ được thả xuống đâu.

    Nếu là tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chắc ăn là sẽ nhảy dù xuống miền Bắc. Nếu là tiền ria ắt phải xuống đất Campuchia. Còn nếu tiền Việt Nam Cộng hòa thì yên trí chỉ lòng vòng ở miền Nam. Nhưng lần này, vừa mở gói đồ, moa biết ngay mình khỏi phải đi đâu xa: Trong đó là một bộ bà ba đen, đôi dép râu và chiếc nón tai bèo. Như vậy chắc như bắp là bọn moa phải hóa trang làm “vc”, có điều chưa biết nơi mình đáp xuống.

    Thế rồi trực thăng lướt trên mặt biển mênh mông. Tay sĩ quan trên trực thăng lúc này mới lên tiếng dặn dò:

    - Các anh được lệnh giả làm vc. Súng AK đây. Nhiệm vụ lần này không lấy gì làm nguy hiểm, nhưng phải thực hiện thành công và khôn khéo. Theo báo cáo chính thức của cảnh sát Phú Quốc, Đại Cathay và đồng bọn mới vượt ngục tối qua. Ta bắt lại gần hết, chỉ hai đứa trong đó có Đại Cathay trốn thoát, chúng đã chạy vô rừng mất dạng. Trực thăng sẽ đổ các anh xuống bìa rừng, để các anh vô rừng truy lùng hai tên này bắn chết chúng. Nhớ phải giữ bí mật, làm sao cho mọi người không ai biết ông tướng hạ lệnh thủ tiêu Đại Cathay, không ai biết chúng ta giết tay trùm du đãng này nghe!


    Biết những chuyện công tác kiểu này có hỏi thêm cũng vô ích, bọn moa lặng lẽ thay đồ biệt kích bằng quần áo bà ba đen, dép râu. Tay sĩ quan dặn thêm:

    - Làm sao cho mọi người đều hiểu Việt Cộng giết Đại Cathay là tốt nhứt nên các anh mới phải hóa trang. Nếu lộ thì phiền phức lắm đó!


    “Phiền” nghĩa là gì, moa thừa biết. Sau mấy ngày luồn rừng lội suối, bọn moa phát hiện Đại Cathay cùng tên đồng bọn của hắn tại chân núi Khu Tượng. Chẳng lôi thôi gì, moa “phơ” luôn.


    Hà hà... nào ai ngờ Đại Cathay danh tiếng lừng lẫy một thời lại dễ dàng gục ngã trước mũi súng của moa!”
    .

    Câu chuyện do Trần Tử Thanh vừa kể, theo như nhận định của chúng tôi ngay từ ban đầu, khó có thể tin vì thiếu rất nhiều tình tiết cụ thể. Rất tiếc, chúng tôi không có điều kiện gặp trực tiếp Trần Tử Thanh để hỏi thêm anh ta đã bắn Đại Cathay mấy phát đạn, đạn trúng vô đâu? Đại Cathay có phản ứng gì không? Làm cách nào anh ta nhận diện, biết chắc đó là Đại Cathay? Giết xong Đại Cathay anh ta lấy gì làm bằng chứng để báo cáo lại với thượng cấp? Ai đã chôn cất, dựng bia mộ cho Đại Cathay? Cùng tổ biệt kích với Trần Tử Thanh còn có những ai, mấy người, tên gì? Bắn chết Đại Cathay xong, làm cách nào anh ta trở lại Sài Gòn? Nguyễn Ngọc Loan có ý kiến gì khi được báo cáo lại tình hình?...

    Và, nếu đúng vậy, tại sao Tổng nha Cảnh sát Quốc gia lại ra “báo cáo tầm nã” (giống lệnh truy nã hiện nay) đối với Đại Cathay và Hải Súng?

    Dẫu sao, không thể phủ nhận nỗi bực bội, nếu không nói là căm ghét, của Nguyễn Ngọc Loan và một số tướng tá khác trong chính quyền Sài Gòn đối với Đại Cathay.

    Hòa Áo thun là dân chơi thuộc loại đàn em của Đại Cathay bị đưa ra trại Cửu Sừng cùng lúc với “đại ca”. Anh ta tên thật là Hòa, mang biệt danh trên vì trên người có xâm hình một chiếc áo thun ba lỗ màu chàm đậm, khiến thoạt nhìn tưởng như lúc nào anh ta cũng khoác áo thun trên người, dù thực ra đang ở trần cùi cụi.

    Sau khi Đại Cathay và Hải Súng vượt ngục Cửu Sừng được một thời gian, Hòa áo thun cũng trốn trại nhân khi ra ngoài làm khổ sai. Nhưng ít tuần sau, khi quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân lên mạn Bắc Đảo, Hòa Áo thun lớ ngớ bị bắt trở lại.

    Và sau đấy là lời kể của Hòa Áo thun: “Tại Bắc Đảo có lực lượng khá đông anh em du kích của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Lúc tôi đi lạc vô căn cứ, anh em hỏi thăm, biết tôi là tù hình sự đào thoát, đối đãi rất tử tế. Anh em cho tôi một bịch gạo, một cần câu để câu cá, tự kiếm lấy thức ăn. Lúc quân đội Sài Gòn hành quân, lực lượng du kích quen thuộc đường đi nước bước, lần đi đâu hết trơn. Còn mình tôi chẳng biết trốn vô ngóc ngách nào, đành để bị bắt”.

    Riêng tin liên quan Đại Cathay, Hòa Áo thun cho biết: “Khoảng giữa đường từ thị trấn Dương Đông lên Bắc Đảo có một ngọn núi có tên núi Khu Tượng. Ngay tại đây có hai ngôi mộ mới đắp đất có bia mộ mang tên Lê Văn Đại và Võ Văn Hải. Bà con ở khu vực này đồn rằng Đại Cathay và Hải Súng đã bị anh em du kích bắn chết vì chống lại cách mạng. Họ còn đồn đại về chuyện Đại Cathay đánh lộn với “vc” hồi anh ta bị giam ở khám lớn Chí Hòa”.

    Vụ ẩu đã diễn ra liên tục hai ngày hai đêm giữa tù chính trị và tù thường phạm tại khám Chí Hòa với hàng ngàn người tham gia vào giữa năm 1966 có thể nói đã đi vào “lịch sử trại giam”. Khi tôi được chuyển từ Tổng nha Cảnh sát Quốc gia sang Chí Hòa (tháng 6-1966), vụ việc đã chấm dứt hơn một tháng, nhưng dư âm vẫn còn sôi động. Kế đó, tôi lại bị đưa từ khu FG (khu giam tù chính trị) sang khu ED, thoạt đầu ở phòng 1E3, sau chuyển sang 3D (nơi trước dùng giam tù tử hình, sau dùng nhốt một số tù chính trị).

    Lầu 3D cũng chính là nơi ở của số anh em tù chính trị vừa mới xung đột với tù thường phạm. Vào thời gian tôi ở khu ED, Đại Cathay bị nhốt ở phòng 3E4, cũng có đôi lần gặp tôi nói chuyện tào lao. Về sau, tôi còn hỏi thêm chi tiết về vụ ẩu đả trên và được nhiều anh em cả tù chính trị lẫn tù thường phạm từng trực tiếp tham gia kể lại. Xin phục dựng lại vụ xung đột có thể nói khá chính xác qua lời kể của những người trong cuộc thuộc cả đôi bên.
    Hôm ấy, vào khoảng 5h chiều, đã hết giờ hành chính nên hầu hết giám thị về nghỉ, chỉ còn một vài tên trực nhưng thường bọn chúng giao cho số trật tự (luôn do tù hình sự án nhẹ, được bọn chúng tin tưởng) điều hành sau khi khóa trái cửa khu.

    Dưới sân dãy E thuộc khu ED khám Chí Hòa có bể chứa nước lớn, dành cho can phạm ở các phòng thuộc toàn khu ED (sân dãy D không có bể nước) luân phiên nhau tắm giặt và hứng nước mang lên phòng nấu ăn. Vào giờ đó các phòng thuộc tầng trệt và ba tầng lầu bên dãy E đều đã khóa cửa, các can phạm thường án (tù hình sự) đã hết giờ ra tắm nắng, giặt giũ. Theo thông lệ, đến lượt anh em tù chính trị trên lầu 3D sử dụng hồ nước.

    Tuy nhiên, vẫn còn ba can phạm thường án dưới sân chơi: Của Gia Định biệt danh “Hùm xám Gia Định” (trùm du đãng miệt Gia Định), do vai vế, muốn giải lao tới chừng nào vô phòng giam cũng được, Ngọc “heo” là trật tự giữ chìa khóa các phòng giam, có nhiệm vụ đóng mở cửa toàn khu ED, và Đại Cathay, hôm ấy đi tòa án để khai cung mới về. Cũng do mới về, nên mặc dù không phải tới lượt mình, Đại Cathay cũng chen lấn vô nhóm anh em tù chính trị, xát xà bông tắm rửa. Rất tự nhiên, anh ta đưa nguyên cả chiếc đầu dính xà bông tùm lum vô vòi nước.

    Một bác tù nhân đã lớn tuổi, râu tóc bạc như cước, cản lại:

    - Chú à, tụi tui đang hứng nước nấu ăn, sao chú lại đưa đầu toàn xà bông vô?

    Đại Cathay cãi:

    - Mắt tôi đầy xà bông, có thấy chi đâu. Bác hứng nước hồi nào?


    - Giờ này là giờ của tụi tôi, sao chú chen ngang?


    Hai bên còn đang lời qua tiếng lại, có lẽ lần đầu tiên trong tù mới có kẻ dám cự cãi không chịu phục tùng Đại Cathay, thì bất ngờ Của Gia Định nhảy tới, vung chân đá vào ngực bác lớn tuổi, nhằm bênh vực cho đại ca của mình. Thử tưởng tượng, một gã cao khoảng 1,75m, to con, lực lưỡng, tung đòn taekwondo vô ngực một ông già trên 60 tuổi. Ông già tức thì “hự” lên một tiếng, máu rỉ qua khóe mép, gục xuống. Mấy chục anh em tù chính trị không nén nổi tức giận, nhào tới, kẻ tay không, người cầm thùng, xô, kẻ lượm gạch, đá nhất tề tấn công Của Gia Định. Đại Cathay và Ngọc heo cũng bốc lên, xông vô vòng chiến đấu bênh Của.

    Cuộc chiến không cân sức nhanh chóng kết thúc với kết quả dăm anh em tù chính trị bị thương nhẹ, còn cả ba tù hình sự đều bất tỉnh nhân sự, nằm thẳng cẳng với nhiều vết thương khắp đầu, mình, chân, tay. Trong khi ấy, thấy “đại ca” bị tấn công, bị số đông “bề hội đồng” (như trên đã nói, dãy E khu ED trông thẳng xuống sân E gồm ba tầng lầu một tầng trệt, các phòng đều giam tù thường án), số tù hình sự trong 16 phòng giam la hét vang dội, yêu cầu mở khóa cửa phòng để ra hỗ trợ cho đồng bọn. Nhưng chìa khóa các phòng đều do Ngọc heo mang trong người, không ai mở khóa nên họ tìm cách phá cửa phòng.

    Cuối cùng, nhiều phòng lần lượt bị phá cửa. Tù hình sự ùa theo cầu thang, tràn xuống sân mỗi lúc một đông, mang theo nào chổi, nào gậy, nào cây sắt... Bây giờ tính quân số đôi bên đảo ngược. Phía tù chính trị trở thành thiểu số. Anh em vội kéo nhau rút lên lầu 3D cố thủ. Cuộc hỗn chiến được khu FG kế bên nhìn thấy rõ. Tổng cộng 32 phòng giam bên khu này nhốt toàn chính trị phạm và anh em hô khẩu hiệu vang dội, hỗ trợ đồng đội. Bọn giám thị nhà tù Chí Hòa lúc này mới có mặt, nhưng không thể làm gì để ngăn cản nổi tình trạng hỗn loạn mỗi lúc một dâng cao.

    Dù một số bị thương, với nỗ lực phi thường mà chủ yếu là đoàn kết thành một khối, anh em tù chính trị đã rút được hết lên lầu 3D, dùng chai, lọ, mảnh lu nước bể... bất cứ thứ gì trong tầm tay, ném ra ngăn cản địch thủ.

    Cùng thời gian này, Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo được đưa đến bệnh xá, sau chuyển ra bệnh viện bên ngoài cấp cứu. Khoảng 9h tối hôm đó, có tin nhắn từ bệnh viện về rằng cả ba đều đã chết. Số tù thường phạm nổi giận đùng đùng, hấp tấp đốt đèn cầy sáng rực khu ED, tổ chức tang lễ cho các đại ca, đòi “nợ máu phải trả bằng máu”. Họ vừa khóc lóc, vừa kéo rốc lên tiếp tục tấn công lầu 3D.

    Mãi đến bây giờ tôi vẫn không biết chính xác nguồn tin Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo bị chính trị phạm đánh chết do ai tung ra, chỉ có thể suy đoán do số giám thị gác trại giam Chí Hòa, vì tù nhân không thể trực tiếp đến bệnh viện để lấy tin. Rất có thể, bọn giám thị muốn tạo mâu thuẫn giữa tù chính trị và tù hình sự theo kiểu “chia để trị” và “dĩ tù trị tù”. (Viết thêm: năm 1967, khi bị đày ra Côn Đảo, tôi gặp Của Gia Định làm “chuyên môn” tại đây. “Chuyên môn” là danh từ ngoài đảo khi ấy gọi số tù hình sự được trao nhiệm vụ theo dõi, kiểm soát công việc khổ sai, đi lại, ăn ở của tù chính trị, đặc biệt là điều tra, đánh đập tù chính trị khi họ “vi phạm nội qui nhà tù”. Của Gia Định khét tiếng là một hung thần trong ban chuyên môn đối với chính trị phạm ở Côn Đảo trong thời gian này).

    Và cứ như vậy, cuộc chiến kéo dài suốt hai ngày hai đêm tại khu ED khám Chí Hòa. Trực tiếp tham gia là số tù hình sự giam tại dãy E (16 phòng, mỗi phòng bình quân có từ 40 - 50 người, vậy tổng số khoảng 800 người) và trên dưới 100 tù chính trị ở lầu 3D.

    Sau khi đánh bất tỉnh Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo, phía chính trị phạm chỉ lo cố thủ. Nhờ địa thế lầu 3D có cấu trúc đặc biệt dùng giam tù tử hình (tôi từng bị nhốt tại đây hơn nửa năm nên biết rất rành: hành lang ở giữa, hai bên là những phòng nhỏ, cửa sắt đây không có chấn song mà chỉ có lỗ thông gió, đầu hành lang là cửa chắn song sắt, nhất là nhờ đoàn kết nhất trí và lòng dũng cảm), anh em tù chính trị đã giữ vững “trận địa”, đẩy lùi vô số đợt tấn công của đối phương. Gián tiếp tham gia như hò hét trợ oai, đập thùng thiếc, thau nhôm, xô... để tăng khí thế, la khẩu hiệu yêu cầu bọn quản đốc và giám thị Chí Hòa giải quyết, đốt đèn cầy sáng rực vào ban đêm... là cả khu FG với khoảng gần 2.000 chính trị phạm.

    Kết quả, ngoài ba tù thường phạm bất tỉnh lúc ban đầu, không ai bị trọng thương hoặc tử vong. Số bị thương nhẹ thì rất nhiều nhưng không thống kê được. Tất cả đều được chăm sóc, băng bó tại chỗ, không ai phải đưa ra bệnh viện ngoài điều trị.

    Mọi việc trở lại bình thường sau khi Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo đều trở lại khu ED mạnh khỏe.

    Sự việc là như vậy, bắt nguồn từ một nguyên nhân khá vu vơ, tuy khởi đầu là Đại Cathay, nhưng thực tế do Của Gia Định trực tiếp gây ra, và, một cách nào đó, được số giám thị trại giam Chí Hòa tiếp tục châm dầu. Đến khi hàng trăm chính trị phạm và thường phạm tham chiến thì đúng là không một ai có thể cản nổi.

    Như vậy, mặc dù chưa tìm đủ chứng cứ để kết luận Đại Cathay đã bị ai giết, giết như thế nào, bằng thứ vũ khí gì, tôi có thể mạnh dạn khẳng định: Đại Cathay đã chết, mộ hiện nằm tại núi Khu Tượng.

    Khoảng đầu những năm 1990, trong lần gặp một cán bộ công tác lâu năm ở đảo Phú Quốc, tôi có hỏi về hai ngôi mộ ở núi Khu Tượng, anh xác nhận:

    - Đúng là ở đó có hai ngôi mộ, một mang tên Đại, tôi không nhớ rõ họ, và ngôi mộ kia tôi không nhớ tên...


    Dân giang hồ còn sót lại mà tôi có dịp gặp mặt sau này như Lâm Chín ngón, Bảy Xi, Lắm Mổ bụng... cũng đều ngậm ngùi:


    - Đúng là anh Đại đã chết rồi. Nấm mộ của anh hiện nằm ngoài Phú Quốc.


    Cái chết của Đại Cathay không khỏi làm nhiều người suy nghĩ. Người ta ai cũng phải chết, đã đành là vậy. Nhưng một người như Đại Cathay, khi sống khét tiếng giang hồ, “thần tượng” của giới dân chơi, mà đến với cái chết lại rất giản đơn, lặng lẽ. Phải chăng đó cũng là “quả kiếp nhân duyên”, luật bù trừ của tạo hóa?

    Cái chết của Đại Cathay còn được coi như dấu chấm hết và là sự cáo chung của “dân chơi” hồi thập niên 1960, với các đặc tính: Chơi trội và chơi “có hậu” theo luật giang hồ.
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #18
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 6): Thời nhiễu nhương 'đại bàng' lập 'chợ'

    Sài Gòn, những năm cuối thập niên 1960, đầu 1970. Lúc này, trong trại giam Chí Hoà nhốt một dọc những tay giang hồ nổi tiếng vào thời gian ấy.

    giang-ho-sai-gon
    Thời nhiễu nhương 'đại bàng' lập 'chợ' ma túy trong khám Chí Hòa


    Có thể kể Cương Võ sĩ, Lâm Chín ngón, Tuấn đả, Y Cà-lết (do dáng đi hơi khập khiễng), Chương khùng, Viet Parker...

    Muốn gì có nấy
    Vào thời đó, bộ máy cảnh sát cũng như giám thị nhà tù của chế độ Sài Gòn gần như bó tay trước nạn lộng hành của đám lưu manh du đãng hung hãn, nhất là khi bọn chúng được ma túy hỗ trợ. Tuy bị giam tại Chí Hòa, giữa tòa nhà bát giác, nhưng cuộc sống của những tay giang hồ sừng sỏ nhất cũng chẳng mấy khác cuộc sống hồi còn ở ngoài đời, ngoài chuyện không thể muốn đi đâu tuỳ ý.

    Muốn ăn ngon, chúng cứ việc xin phép giám thị (dễ ợt) đến căng-tin nằm ngay tại hồ nước, giữa sân Chí Hòa - miễn là có tiền. Không ít tên còn chơi ngông, đặt tiền trước cho nhà hàng: Bảo đảm qua hôm sau, nhà hàng mua sẵn mang vào phục vụ cho chúng đầy đủ “sơn hào hải vị” thức ăn ngon nhất, đặc sản của bất cứ nhà hàng, tiệm ăn nào nổi tiếng nhất Sài Gòn - Chợ Lớn, tất cả đều còn nóng hổi.

    Ngay cả muốn ngủ với gái mãi dâm cũng không khó, có điều thường phải chờ đến tối thứ Bảy hoặc Chủ nhật... Trong sân trại giam Chí Hòa (phía trước), kề bên khu thăm nuôi, có một chiếc xe tải hư hỏng bỏ không. Đám tù hình sự che chắn lại, biến xe thành nơi “hành lạc” có đủ nệm, quạt máy... Chỉ việc dúi vào tay cai tù một xấp tiền kèm theo ám hiệu là bọn này liên hệ với các động mãi dâm quen thuộc. “Đến hẹn lại lên”, tối thứ Bảy, Chủ nhật gì đó, vài ba cô gái môi son má phấn sẽ được giám thị dắt vào, phục sẵn trong xe tải chờ tiếp các “đại ca”.

    Những đại ca giang hồ nào không mang án quá nặng còn có thể “đi phép”, miễn là chung chi hơi nặng tay. Cái giá phải trả khi ấy cho giấy phép một ngày là 120 ngàn đồng, cả ngày lẫn đêm gấp đôi: 240 ngàn đồng (vàng vào thời gian ấy chỉ có giá khoảng 20 ngàn đồng/lượng, tức giấy phép giá từ 6-12 lượng vàng).

    Có nhiều cách để số tù nhân này đi phép, mà thông thường nhất là chúng sẽ nhận được giấy mời ra tòa để bổ sung hồ sơ thẩm vấn hoặc làm nhân chứng chẳng hạn. Xe cai tù chở chúng ra khỏi nhà tù đàng hoàng, nhưng không chở đến tòa án (làm gì có chuyện tòa hỏi cung hay xử), mà dừng ở một điểm nào đó theo thỏa thuận, thả chúng xuống; để đến giờ hẹn sẽ lại rước, đưa trở lại về Chí Hòa. Cũng có thể đó là giấy tù nhân mang bệnh nặng, phải đưa ra bệnh viện ngoài Chí Hòa để khám; tất nhiên cũng do xe của nhà tù Chí Hòa đưa đi chở về...

    Có tên còn liên lạc trước với bọn đàn em bên ngoài để bọn này chuẩn bị sẵn xe cộ, phương tiện, sau đó mới mua một giấy phép 12 tiếng. Lọt ra ngoài, chúng lập tức tiến hành một vụ ăn hàng trót lọt. Xong, lại vào tù nghỉ ngơi dưỡng sức, hưởng chiến lợi phẩm. Những vụ án này, bọn cảnh sát điều tra bên ngoài dù có tài thánh như Sherlock Holmes sống lại cũng không cách nào tìm ra thủ phạm - ai mà tưởng tượng ra nổi một tên tù đang bị nhốt trong tù lại có thể gây án bao giờ.

    “Chiến tranh” ma túy trong khám Chí Hòa

    Tuy nhiên, việc mua “giấy phép” để đi cướp chỉ là chuyện cho vui nhằm đỡ ngứa nghề, còn kỳ thực nguồn lợi chính của các “đại ca” trong khám Chí Hòa lúc ấy lại là buôn bán ma túy.

    Vào lúc cao điểm, nhà giam Chí Hòa có khoảng 2.000 tù hình sự thì cũng gần như có chừng ấy con nghiện. Vì vậy, bán ma túy, thuốc phiện trong tù đem lại cho các “ông trùm” nguồn lợi cực lớn, có khi lên đến 400 - 500 ngàn đồng/ngày. Nguồn lợi quá khổng lồ khiến chúng không ngần ngại vây bè kết cánh để giữ độc quyền bán ma túy ở các buồng giam và tranh giành lãnh địa, hạ bệ nhau nhằm ngoi lên làm ông “trùm”, tha hồ thu lợi.

    Cũng vì vậy, “chiến tranh” trong khám Chí Hòa vẫn nổ ra thường xuyên. Tuy hành lang các dãy buồng giam luôn mở ra trong giờ hành chính, nhưng những tên “âm binh mắt ma” (chỉ bọn giang hồ chưa có số má gì) ở khu AB có bao giờ dám xuống khu BC nằm ngay kề bên; bọn ở khu ED cũng đừng dại mò qua khu FG coi chừng mang hoạ.

    Ngay cả những đàn anh hạng gộc như Cương Võ sĩ (ở khu ED) hay Lâm chín ngón (ở khu FG) có thể tha hồ đi lại bên trong trại giam hình bát giác này, ung dung tự tại trong khu do chúng cầm đầu; nhưng hễ ra khỏi khu của mình đều luôn phải có ít nhất vài ba đàn em thân tín đi cùng làm vệ sĩ. Nếu không, coi chừng ăn dao lúc nào không biết.

    Mỗi khi lâm trận, những tên du đãng có số má này hầu hết đều hai tay nắm chắc 2 con dao. Thêm con dao thứ ba giắt ngang lưng, phòng khi con dao trên tay bị đối phương đoạt mất hoặc đánh rơi. Cũng vì vậy, hỗn danh thời “hai tay ba dao” bắt nguồn từ đó.

    Thêm nữa, rất nhiều tay du đãng ở trong khám Chí Hòa hồi đầu những năm 1970 còn tự trang bị một thứ vũ khí khác: Quyển Kinh Thánh đạo Công giáo. Sách thánh dĩ nhiên không thể dùng để đâm chém, nhưng có thể dùng phòng thân - chẳng phải để cầu Chúa che chở bảo vệ (nếu quả có Chúa, chắc người cũng không dễ gì bảo vệ cho những đại ca xã hội đen), mà do cuốn Kinh Thánh có kích cỡ vừa vặn với túi áo trên, được linh mục ở tiểu giáo đường nằm trong khuôn viên khám Chí Hòa sẵn sàng phát không cho bất cứ ai muốn xin. Sách khá dầy, nhất là bìa sách cứng, có khả năng ngăn chặn mũi dao nhọn đâm ngay tim. Và, có lẽ linh mục không khỏi vui mừng vì có nhiều “con chiên” (nhiều kẻ chưa hề là tín đồ đạo Thiên chúa) nay tự nhiên muốn nghiên cứu sách Thánh.

    Phân chia lãnh địa

    Để tránh những xung đột không cần thiết, dần dần những đại ca trong khám cũng tự phân chia lãnh địa, “rừng nào cọp nấy”: Lâm chín ngón độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Cương Võ sĩ khu BC, Việt Parker khu ED, Y Cà-lết khu AH, Chương khùng được một minh khai thác “hàng trắng” toàn khám...

    Xin lướt qua những nhân vật chính liên quan bài viết này để bạn đọc biết tại sao bọn họ lại được “ăn trên ngồi trốc” như vậy.

    Lâm chín ngón vốn là “sát thủ”, cánh tay phải của Đại Cathay từng ngồi trại Cửu Sừng ở tận Phú Quốc (thành tích không dễ mấy ai đạt); thời gian chuyển qua nhà lao Gia Định dám thay mặt giới giang hồ kẹp cổ, rút cây viết đang giắt trong túi áo “tướng cướp cô độc” Điền Khắc Kim đâm vào trán hắn, sau lại từng cầm đầu đám tù hình sự” vượt ngục (nhưng không thành). Nhờ vậy, không chỉ độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Lâm còn kiêm độc quyền cung cấp “hàng đen” cho toàn trại giam Chí Hòa.

    Chương khùng là tên giang hồ có số mã đã lâu, nhưng nổi tiếng nhất là khi cầm đầu hàng chục tên thuộc giới xã hội đen đang bị giam trong Chí Hòa xông vào cướp thùng đựng tiền của đám tù nhân gốc người Hoa đang bị giam trong khu AB. Thùng tiền được 4 võ sĩ cao thủ cũng người Hoa, nghe đâu thuê từ tận Hồng Kông qua chia nhau đứng ở 4 góc thùng để bảo vệ. Trong cuộc hỗn chiến này, Chương khùng bị chém trọng thương, tuy vụ cướp không thành những cũng đủ giúp hắn thành danh.

    Cương võ sĩ tên thật Vũ Đình Cương, vốn là một võ sĩ quyền Anh có đẳng cấp, từng nhiều lần thượng đài khắp miền Trung, miền Nam và cả Campuchia. Hơn nữa, Cương lại là em ruột Sơn Đảo, một trong những trùm ma túy của miền Nam lúc ấy. Anh em Sơn, Cương vốn là dân gốc Bắc di cư, nhà ở khu Ngã ba Ông Tạ, chuyên làm giò chả. Cả hai anh em từ hồi nhỏ lúc nào cũng hai tay hai chày giã giò nên cơ bắp săn chắc, cứng rắn như cua gạch.

    Năm 1970, Cương bị bắt vì tội danh buôn bán ma túy. Xộ khám Chí Hòa, nhờ danh tiếng cá nhân và nhất là danh tiếng từ anh ruột, Cương được đám giang hồ tại đây phong làm “đại ca của các đại ca” toàn quyền cắt đất, sai phái lâu la dưới trướng. Khi các băng nhóm trong trại bất hoà, xích mích, chi cần Cương đứng ra dàn xếp, nói vài câu là tất cả đều răm rắp tuân phúc, đố ai dám cãi.

    Thanh toán giang hồ

    Khoảng giữa năm 1972, không hiểu sao đám con nghiện ở trong khám Chí Hòa bỗng đâm ra khoái thuốc phiện hơn thích ma túy.

    Nhờ vậy Lâm chín ngón ngày càng ăn nên làm ra. Cứ “đến hẹn lại lên”, thuốc phiện từ bên ngoài được đàn em đóng thành từng bánh dẹt lớn, nhét vào thùng gỗ hai đáy chứa đồ thăm nuôi, gửi vào cho Lâm. Cai tù thừa biết nhưng làm ngơ để được chia phần (tỉ lệ 30% lợi nhuận). Với tù nhân khác, đồ thăm nuôi gửi vào hộp kem đánh răng cũng phải xé đôi, kẹo bóc từng viên; bánh tét phải cắt làm tư... Riêng với nghi can nghiện ma túy thậm chí phải lột hết quần áo, chổng mông để khám xem có nhét thuốc giấu trong hậu môn hay không.

    Mang thùng đồ thăm nuôi vào, Lâm bửa ngăn đáy lấy thuốc phiện ra, cắt thành miếng nhỏ phân phối cho các buồng giam thu lời. Theo lời Lâm chín ngón kể, vào thời kỳ “hoàng kim”, mỗi tuần riêng cá nhân mình có thể lãi cỡ 25 - 30 lượng vàng như không. Vậy là bỗng dưng hàng trắng “ế độ”. Thu nhập của Chương khùng rớt thảm hại.

    Giờ đây không tiền tự nhiên quân binh rơi rụng dần, đàn em cũng chẳng mấy đứa ngó ngàng tới. Chương khùng tức tối lớn tiếng chửi bới om sòm, doạ “cho biết tay” những đứa nào dám bỏ hắn qua phò Lâm chín ngón.

    Nghe Chương khùng chửi bới, một tay ngang cơ khác là Năm Lượng (trước thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” khét tiếng miền Tây Nam Bộ, sau về làm quân sư cho Đại Cathay) ngứa lỗ tai, đổ thêm dầu vào lửa, thách: “Mày chỉ được cái đánh võ mồm”. Bị khích tướng, Chương khùng nổi cơn... khùng, lấy bộ đồ võ màu đen mặc vô cho oai, uống một hồi 3 viên Renoval để thêm “khí thế”, hầm hầm tuyên bố “Tao đi tìm thằng Lâm nói chuyện phải quấy”, te te qua khu FG...

    Đang đánh bóng chuyền ở sân khu FG, nghe đàn em cấp báo, Lâm chín ngón ngưng ngay ván đang đấu dở, đợi sẵn đối thủ. Vừa thấy mặt Chương khùng, Lâm chặn đầu hỏi trước: “Chương! Nghe nói mày đòi dẹp không cho tao bán thuốc trong khu FG nữa, có đúng vậy không?”. Đang hăng máu, vả lại trưóc mắt nhiều đàn em, Chương khùng ưỡn ngực: “Đúng! Tao bảo dẹp! Mày bảnh thì chơi lại tao coi!”.

    Đang sẵn ly nước cầm trong tay uống mới được phân nửa, Lâm chín ngón không thèm lên tiếng đáp trả mà quăng luôn cả ly lẫn nước vào mặt Chương khùng, đồng thời vung tay nhào tới. Quá bất ngờ trước phản ứng mạnh của Lâm chín ngón, nhưng Chương khùng cũng kịp nghiêng đầu né ly nước. Chiếc ly thuỷ tinh đập vô tường mé sau đánh “chát”, miểng văng tung tóe. Nói ngay tình, nếu đấu tay đôi có lẽ Chương khùng khó đánh lại Lâm chín ngón. Tuy chiều cao tương đương (đều cùng khoảng 1,70m), nhưng Lâm chín ngón nặng cân hơn, thân hình chắc nịch; thêm đàn em Lâm Chín ngón kéo tới khá đông (khu FG là “địa bàn” của Lâm) nên Chương khùng tỉnh người hẳn, nghĩ đến... “tam thập lục vi kế tẩu nhi thượng sách” (36 kế, chạy là tốt nhất).

    Vậy là khí thế tự nhiên biến đâu mất sạch, cả 3 viên Renoval cũng không thấy ép phê, Chương khùng vội vàng bỏ chạy. Tuy nhiên cơn giận vẫn chưa nguôi, hắn tức đến chảy nước mắt. Thoát ra khỏi khu FG, Chương khùng tìm đến đàn anh cầu cứu.

    Lúc này một số đàn anh đang tụ tập trong khu BC tán dóc. Thấy Chương khùng vừa chạy qua vừa khóc, Cương ngăn lại hỏi chuyện. Không lẽ thú thật mình không dám chơi tay đôi với Lâm chín ngón, cũng không dám nói mọi chuyện do mình gây sự trước, Chương khùng miệng mếu máo bịa chuyện: “Thằng Lâm ỷ đông kéo đàn em đòi xử tôi, cấm không cho tôi bán ma túy nữa!”.

    Lâu nay ranh giới đã chia, địa bàn đã rõ, rừng nào cọp nấy mà nay Lâm chín ngón toan “phá lệ” qua mặt mình, Cương nổi máu yêng hùng, không hỏi thêm, dẫn một tốp có đến nửa tá đàn anh chị kéo sang khu FG để “hỏi tội thằng Lâm”. Chương khùng cũng tháp tùng...

    Phần Lâm chín ngón, dù đã đuổi được Chương khùng nhưng cơn giận bừng bừng vẫn chưa nguôi. Không đâm được đối thủ, hắn đang nện nắm đấm thình thình vô tường buồng giam 3 F4, dọa “luộc thằng Chương” thì một tên đàn em chạy vào thở hổn hển, cấp báo: “Anh Lâm coi chừng! Anh Cương đang dẫn một toán người qua tìm anh đó. Có cả Chương khùng trong nhóm”.

    Hai ba tên rút dao lá lúa (trong khám Chí Hòa tuyệt đối cấm mang dao vào, nên “dao” thường là mảnh tôn hay thép thùng phuy mài bén ngọt, đầu sắc nhọn) dúi vào tay Lâm: “Anh cầm theo phòng thân!”. Lâm đón lưỡi dao gần nhất của một đàn em là Hùng Be, giắt vào lưng quần, bảo “Một dao đủ rồi” và lập tức chạy ra ngoài phòng nghênh tiếp.

    Khi hai bên đã đứng đối diện, Cương đứng lại, không thèm hỏi đầu đuôi câu chuyện mà lên giọng đại ca, lớn tiếng hạch hỏi: “Lâm, ở đây mày với tao ai là đàn anh?”. Rồi, không kịp chờ Lâm trả lời, Cương đã tung ngay một cú đấm thôi sơn vào mặt đối thủ.

    Nhờ cảnh giác đề phòng trước, Lâm nghiêng đầu kịp né tránh cú đấm thẳng của tay võ sĩ quyền Anh nhà nghề, tuy nhiên nắm tay của Cương phớt qua tóc Lâm chỉ trong đường tơ kẽ tóc. Đòn ra quá mạnh nhưng không trúng đích khiến Cương mất đà, thân hình nhào về phía trước, đầu hơi chúi xuống.
    Trong giới giang hồ hồi ấy có câu “bị một cái tát, coi như không ngoi đầu lên nổi” huống hồ ăn nguyên cú đấm. Máu nóng bốc lên, lại giận Cương không thèm hỏi chuyện mình mà vội hạch sách lên giọng, nhân lúc Cương đang mất đà, Lâm tay trái nắm cổ áo địch thủ nhấc lên, cùng lúc tay phải quay lại rút dao sau lưng, nhằm ngay ngực đối thủ đâm mạnh...

    Tất cả mọi việc diễn biến chỉ trong chớp mắt, không ai kịp can ngăn, cũng không ai kịp nhận ra sự việc. Chỉ nghe Cương “hự” lên một tiếng rồi ôm ngực nằm vật ra sân khi Lâm vừa buông tay trái, trong lúc Lâm vẫn vung cánh tay phải định đâm tiếp.

    Có tiếng ai đó kêu lên: “Anh Lâm đừng đâm nữa!” Lâm chín ngón mới như sực tỉnh, vội buông dao rớt đánh “cạch” xuống nền xi măng. Nhát dao duy nhất đã đâm trúng ngay tim Cương, khiến tay võ sĩ quyền Anh tắt thở tại chỗ.

    Mặt tái mét, Lâm chín ngón cũng bất ngờ trước sự việc xảy ra, nhắn lại cả bọn đàn em đừng ngơ ngác trước khi bị dẫn xuống khu biệt giam Điện Ảnh trong khám Chí Hòa - tên gọi chính thức là khu ĐA (chuyên giam giữ tù nhân trong khám vi phạm kỷ luật, hoặc mới từ các trại giam khác chuyển qua, để dằn mặt và hành hạ, từ chữ ĐA, phạm nhân “chế” thành Điện Ảnh) coi như vừa thanh minh, vừa xin lỗi kẻ quá cố: “Tôi không cố ý, tại anh Cương... Thôi, anh em thắp cho anh mấy nén nhang giúp tôi...”.

    Sơn Đảo báo thù

    Giống em ruột, Vũ Đình Sơn tức Sơn Đảo cũng xuất thân từ một võ sĩ có hạng thuộc võ đường Hổ Bạch An, Tân Bình.

    Lớn lên, Sơn rủ rê mấy đứa em ruột là Cương, Hoàng Bệu, Tiềm… lao vào con đường buôn bán ma túy; nhờ vậy anh em nhà Sơn Đảo đều giàu lên khá nhanh. Có tiền, Sơn bỏ ra bảo trợ cho lò võ mà mình đã theo học, xây dựng nguyên một phòng tập cho đám chiến hữu ngay trong trại lính dù Hoàng Hoa Thám cũng không mấy xa Ngã ba Ông Tạ, địa bàn hoạt động chính của y.

    Cử chỉ hào phóng này đã được đám sĩ quan, binh lính thuộc binh chủng nhảy dù, một trong những lực lượng con cưng của chế độ Sài Gòn đáp lại bằng cách sẵn sàng đỡ lưng cho Vũ Đình Sơn trong các vụ làm ăn trong bóng tối. Trong số những kẻ “đỡ lưng” cho Sơn có thể kể đôi tên có máu mặt: Trung tá Lê Quang Lương, Trung tá Be (Ban 2 Dù), Thiếu tá Dương (Lữ đoàn 3 Dù), Trung uý Nguyên (tuy cấp hàm nhỏ nhưng là con đỡ đầu của Tướng Cao Văn Viên)...

    Được hậu thuẫn mạnh, chẳng bao lâu Sơn đã trở thành kẻ cung cấp ma túy cho cả một khu vực rộng lớn dọc hai trục đường chính là Trương Minh Ký, Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ dọc xuống Trần Quốc Thảo) và Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng 8). Ngoài ra, trên hai trục đường này còn có hàng chục tiệm hút, sòng bài thuộc quyền quản lý của gia đình Sơn.

    Năm 1965, Sơn bị bắt, lãnh án 5 năm tù, bị đầy ra Côn Đảo. Cũng có một số tù nhân hình sự khác bị đầy ra Côn Đảo, nhưng riêng Sơn có biệt danh Sơn Đảo, có lẽ nhờ nguyên bộ tạ hắn mang từ Côn Đảo về, tặng lại cho khám Chí Hòa để bất cứ tù nhân nào muốn tập thể lực tùy nghi sử dụng. Và cũng nhờ vậy, uy tín và thế lực của Sơn Đảo ngày càng mạnh lên trong giới giang hồ Sài Gòn.

    Nghe tin em ruột bị Lâm chín ngón đâm chết trong khám Chí Hòa, Sơn Đảo lồng lộn tuyên bố: “Sẽ lấy mạng thằng Lâm bằng bất cứ giá nào!”. Đối tượng đầu tiên được Sơn Đảo nhắm đến nhờ “báo thù” là Tuấn Đả, quê xã Hồ Hải, quận Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Nổi tiếng trong giới giang hồ Nam Trung phần, khi bị bắt giam tại quân lao Nha Trang, Tuấn Đả từng đâm lòi ruột Sơn trắng, “sếp sòng” quân lao này để tiếm quyền. Thời gian này có thuận lợi là Tuấn Đả còn bị nhốt ở khu Điện Ảnh cũng với Lâm.

    Máu liều Tuấn Đả có thừa, nhưng chơi tay đôi khó nắm phần thắng Lâm chín ngón. Sơn Đảo nghĩ cách tuồn “chó lửa” (súng) từ bên ngoài vào cho Tuấn Đả. Nhưng hai lần súng đã được nguỵ trang rất tinh vi (và cả mua chuộc đám giám thị trại giam) để gửi vào, cả hai lần Tuấn Đả đều trả lại không nhận.

    Lý do, khi từ quân lao Nha Trang chuyển vào Chí Hòa, Tuấn Đả bị đám đàn anh tại đây cô lập, suýt đánh hội đồng bởi e ngại “truyền thống” lật đổ của hắn. Khi đó Lâm chín ngón đã chủ động đứng ra bảo lãnh khiến Tuấn Đả cảm kích (về sau, đến năm 1974 Tuấn Đả cũng bị đưa ra Côn Đảo, biệt giam trong chuồng Cọp 7, khu C, mãi đến sau ngày giải phóng).
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #19
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 7): Sát thủ bị 'con mồi' hạ sát vì ham hố một chai rượu Cognac

    Mối thù vẫn nung nấu, nhưng phải mất đến gần một năm trời, Sơn Đảo mới tìm được kẻ thay cho Tuấn Đả: Gã tên Nguyễn Văn Hoàng, biệt danh Hoàng Đầu lâu.


    giang-ho-sai-gon-2
    Gã sát thủ Sài Gòn đã bị chính 'con mồi' hạ sát bằng một chai rượu (ảnh minh họa)


    “Con bài” Hoàng đầu lâu

    Nói về võ nghệ, cả trại giam Chí Hoà để không ai sánh kịp Hoàng Đầu lâu. Với tứ đẳng huyền đai taekwondo, khi còn ở ngoài đời, Hoàng đã từng hạ gục hàng chục cao thủ cả người Việt lẫn người Campuchia trên sân đấu.

    Biết vợ con Hoàng đang sống khó khăn từ khi chồng, cha bị bắt, Sơn Đảo bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố nhỏ đem tặng, tiếp đó sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai. Đồng tiền đi trước luôn là đồng tiền khôn, Hoàng Đầu lâu nghe vợ nói lại được Sơn Đảo giúp đỡ, Hoàng gật đầu hứa giúp Sơn Đảo trả thù...

    Khốn nỗi, trong giới giang hồ, Hoàng Đầu lâu chỉ thuộc hạng chiếu dưới, án tù lại nhẹ nên khó thể ngồi cùng mâm với Lâm chín ngón (vẫn đang ở biệt giam) để có cơ hội tiếp cận và hạ sát đối thủ.

    Để tạo cơ hội cho Hoàng, Sơn Đảo tốn công vạch nguyên một kế hoach chi tiết nhằm giúp Hoàng Đầu lâu tăng án, “được” vào biệt giam, đồng thời nâng uy tín trong giới giang hồ chớ không vì thế mà gây xích mích với bất cứ dân chơi nào khác.

    Số là, khi ấy trong đám cai ngục Chí Hoà có tay trung sĩ Cách, cháu ruột gọi phó giám thị trại bằng cậu. Ỷ thế có chỗ dựa lưng, trung sĩ Cách luôn tìm cách ăn chặn, phá phách đồ thăm nuôi của tù nhân khiến tất cả tù nhân đều căm ghét, tuy nhiên không ai đám ra tay vì đụng tới nhân viên công lực ắt án sẽ không hề nhẹ chút nào. Mãi tới một hôm, sau khi nghe đám đàn anh ta thán, Hoàng Đầu lâu xung phong: “Để em mần thịt nó!”.

    Vậy là trong kỳ thăm nuôi tới, khi Trung sĩ Cách đang săm soi hũ thịt rim, bẻ đôi từng cái bánh để khám xét thì một tên tù trật tự (thường là bọn tù hình sự án nhẹ, giúp việc cho đám giám thị) đến gần, nói nhỏ vào tai hắn: “Thưa Trung sĩ, có người muốn gập riêng Trung sĩ!”. Cách chưa kịp quát như kiểu thường ngày: “Thằng nào muốn gặp tao thì tới đây mà gặp!” tên cò mồi đã dặn thêm: “Nghe nói có chuyện làm ăn lớn; muốn gặp riêng Trung sĩ”.
    Tưởng đâu sáp vô được món bở, hối lộ chi đây, Trung sĩ Cách bỏ ngang việc khám xét, rời khu thăm nuôi, theo tên cò mồi đi vào phía trong.

    Cánh cửa phòng thăm nuôi vừa khép lại, Hoàng Đầu lâu bước ra ngay. Hôm đó, hắn mặc chiếc áo phông rộng thùng thình che kín thanh mã tấu giắt sau lưng, mặt đằng đằng sát khí. Vừa thấy bản mặt hung dữ của Hoàng; linh tính Trung sĩ Cách mách báo điềm chẳng lành, hoảng quá quay ngoắt người định vội vàng tháo lui nhưng không kịp...

    Nhanh như chớp, Hoàng Đầu lâu đứng chặn ngang cửa ra vào, rút thanh mã bén ngọt, chẳng nói chẳng rằng nhắm ngay mặt đối thủ vót ngược lên. Trung sĩ Cách vội lớn tiếng kêu cứu, ngả người hất đầu ra phía sau, thì nguyên lỗ mũi của hắn bị lưỡi dao cắt bay mất, máu tuôn xối xả.

    Nghe tiếng kêu cứu, bọn giám thị vội tông cửa chạy vào, một mặt khống chế Hoàng Đầu lâu, một mặt đưa Trung sĩ Cách và chiếc mũi đã bị đứt kia vào bệnh viện cấp cứu, phải mất mười mấy mũi kim khâu dính lỗ mũi trở lại vị trí cũ.

    Với “chiến tích” này, Hoàng Đầu lâu nghiễm nhiên một bước trở thành “dân chơi thứ thiệt” được giới giang hồ trong khám Chí Hoà trọng nể. Tội nặng thêm, Hoàng Đầu lâu bị tống xuống khu biệt giam. Ở ngoài, Sơn Đảo lo lót tiền cho bọn giám thị, cai tù.
    Kết quả là hai tháng sau, Hoàng Đầu lâu ôm giỏ đồ của mình chuyển sang ở chung một buồng biệt giam với Lâm chín ngón.
    giang-ho-sai-gon-21
    Khám Chí Hòa nhìn từ xa.
    “Sát thủ” bị hạ thủ
    Lúc này Lâm đã được chuyển từ khu “Điện ảnh” lên phòng biệt giam ở OG thuộc khu FG. Dãy OG đặc biệt tối hù, do các phòng không quay ra phía sân chung như tất cả những phòng O (tức nằm ở tầng trệt) khác, mà quay ngược lại. Dù bị biệt giam, những các “đại ca” vẫn có quyền hơn bọn “âm binh mắt ma” tầm thường: Lâm chín ngón được phép mang theo một đệ tử để sai vặt, đó là “Lí Lắc” đâu chưa đến tuổi thành niên.

    Chuyển qua ở chung phòng với Lâm chín ngón, Hoàng Đầu lâu trước hết đánh đòn “khủng bố tinh thần”: Cởi trần trùng trục phô chiếc đầu lâu nhe nanh, cả ngày hắn hết gồng mình lại xuống tấn đấm bình bịch vào tường, tiếp đó tung cước đá loạn xà ngầu đủ các kiểu, các thế vào cột nhà bằng bê tông. Thế mà tay chân hắn vẫn cứ trơ trơ chẳng hề trầy xước, hề hấn gì! Quả là cao thủ Taekwondo có khác!

    Kinh nghiệm sống và những lời thì thào to nhỏ trong giới giang hồ đã giúp Lâm thừa biết Hoàng Đầu lâu định làm gì tiếp. Khốn nỗi cùng nằm chung trong một phòng biệt giam, muốn trốn tránh cũng chẳng có ngóc ngách nào để trốn tránh.
    Lâm thở dài, toan tính âm mưu và âm thầm chuẩn bị...

    Bắn tin ra ngoài, Lâm nhờ đàn em kiếm một chiếc quai đeo ba lô hình chữ X bằng inox, bẻ ra, nhận vào trái bí đỏ chuyển vào khám Chí Hoà cho Lâm. Chờ lúc Hoàng Đầu lâu ra khỏi phòng, Lâm đập bể trái bí, lấy thanh inox ra, mài xuống sàn xi măng, biến thành một lưỡi dao mỏng dính và nhọn hoắt, bén ngọt không khác gì dao cạo.

    Lại có tin Hoàng Đầu lâu mới nhận được một tờ giấy do Sơn Đảo gửi vào, nhắn tin cần tiến hành gấp công việc mà hắn đã nhận lời khiến Lâm chín ngón càng nóng lòng như lửa đốt.

    Lâm nhờ một tù nhân có vai vế nhất tại khám Chí Hòa khi ấy là Tướng Lam Sơn, nguyên là giám đốc Trung tâm huấn luyện sĩ quan Thủ Đức, giúp cho một việc. Tướng Lam Sơn phải xộ khám vì tội bắn chết quản gia, tuy ở tù nhưng được đối xử rất đặc biệt: Ở khu AH (khu dành cho số tù nhân mặc quần áo màu trắng, được gọi “công vụ” như trông coi thư viện của khám, làm công tác hướng nghiệp...) nhưng ông ta cả ngày muốn làm gì thì làm, được cả quản đốc, giám thị lẫn số tù hình sự vị nể, muốn mua gì cũng có thể gửi giám thị mua giúp.

    Lâm nhờ Tướng Lam Sơn mua cho mình một chai rượu cognac hiệu Remy Martin. Xong, Lâm kêu Lí Lắc chuẩn bị mồi, tối khuya mời Hoàng Đầu lâu đối ẩm. Trong tù, được đàn anh chiếu cố, lại có rượu tây nhâm nhi, cognac đàng hoàng, thì còn gì thú bằng.

    Thế là Hoàng Đầu lâu cứ thế nốc rượu tì tì mà không hề nghĩ đến hậu quả, trong khi Lâm chỉ nhấm nháp, đưa hơi chờ đợi...

    Đến nửa đêm, chai rượu vừa cạn cũng là lúc Hoàng Đầu lâu say mèm hết biết trời đất, nằm lăn ra ngáy khò khò. Lúc này Lâm mới lôi con dao inox bén ngọt ra, cứ thế nhằm đối thủ mà đâm không biết bao nhiêu nhát cho đến khi Hoàng Đầu lâu tắt thở, máu chảy lênh láng. Lí Lắc thì quá sợ, chỉ biết trố mắt ngó đàn anh hành động, chân tay run bần bật như thằn lằn đứt đuôi.

    Thấy đối thủ đã chết hẳn, Lâm chín ngón mới ra đứng ở cửa phòng lớn tiếng gọi giám thị. Đêm khuya vắng lặng, tiếng Lâm như vang to hơn hẳn: “Giám thị, tôi đâm chết Hoàng Đầu lâu rồi”.

    Ngay cả giám thị trại giam lúc mới nghe cũng chưa hẳn tin lời Lâm nói là sự thật...

    Lâm chín ngón lại bị tống vào khu “Điện ảnh”.

    Bên ngoài, Sơn Đảo thêm một phen lồng lộn bực tức. Bao nhiêu công lao nuôi dưỡng Hoàng Đầu lâu, việc gần đến đích bỗng biến thành nước lã đổ ra sông hết sạch. Hắn tiếp tục nghĩ kế quyết trả thù, bằng bất cứ giá nào cũng phải giết bằng được Lâm chín ngón.

    Tuy nhiên Sơn Đảo chưa kịp nghĩ ra kế trả thù thì Lâm chín ngón đã bị chuyển ra biệt giam ngoài Côn Đảo vào đầu tháng 4/1975; còn chính hắn bị một đàn em là Y Cà-lết, tên thật Phạm Bá Y, giết chết do tranh giành em út...
    • Avatar của karenlee
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 467 Bài viết

    • 506 Được cảm ơn

    #20
    Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 8): Giang hồ 'luyện chưởng' trong 'chuồng cọp'

    Chuồng cọp trại 7 Côn Đảo thuộc dạng “chuồng cọp kiểu Mỹ”, mới xây sau năm Mậu Thân quãng cuối những năm 1960 bằng bê tông cốt thép, lợp mái tôn...


    chuong-cop-4
    'Chuồng cọp' ở Côn Đảo


    Thời gian ấy, Mỹ xây hai trại giam ở Côn Đảo: trại 6 dành cho tù nhân nữ, và trại 7 dành cho tù nhân nam.

    Trại 7 gồm có tám khu, được đặt tên theo các chữ cái A-B, C-D, E-F và G-H. Cứ hai khu nằm kề nhau, có tường bao quanh, cửa qua lại thường xuyên bị khóa. Tất cả các khu tuy nằm chung trong một khuôn viên lớn, thực ra mỗi khu đều biệt lập: Có giám thị riêng, ban trật tự riêng, sân tắm nắng riêng, giếng nước riêng...

    Mỗi khu gồm khoảng 40 phòng, mỗi phòng diện tích đều bằng nhau, dài rộng cỡ 2,5 x 2m, bình thường nhốt hai người, nhưng cüng có lúc nhồi nhét 3 - 4, thậm chí năm người.

    Trại 7 dùng để nhốt số can phạm chính trị, chống chào cờ, chống kỷ luật. Riêng khu C chủ yếu dùng nhốt tội phạm hình sự từng có nhiều thành tích.

    Khu kỷ luật của chuồng cọp


    Tại khu này trên 90% là tù thường phạm du đãng nổi tiếng đâm thuê chém mướn từng thành danh trong xã hội đen và khi vô tù lại tiếp tục đánh lộn, gây rối, thậm chí giết người, mà theo “dân chơi” là toán “thứ dữ” và “có vằn có vện”. Thêm vào đó là số ít tù thường phạm được làm an ninh, trật tự... tại đảo nếu vi phạm nội qui, kỷ luật cũng bị nhốt vào khu C, thường chỉ trong một thời gian ngắn, gọi là để trừng trị.

    Ngoài ra, còn có nhiều tù chính trị mới từ đất liền ra đảo chống chào cờ bị đưa vào khu C coi như một hình thức “dằn mặt” cho sợ. Ai chịu nổi sẽ được chuyển qua các khu khác, ai chịu không nổi sẽ phân phối về các trại khổ sai - thường anh em tù chính trị bị tạm nhốt tại khu C chỉ trong thời gian trên dưới một tháng sẽ được phân loại để rời khỏi nơi đây.

    Riêng tôi và anh bạn cùng bị bắt chung một vụ, anh Lê Văn Châu, được “chiếu cố” nhốt luôn tại khu C từ khi mới bước chân ra Côn Đảo từ giữa năm 1973 cho đến ngày được giải phóng (Có lẽ vì anh Châu khi trước là sĩ quan quân đội Sài Gòn đóng tại Côn Đảo sau lại theo cách mạng, còn tôi do lần ở tù trước bị giam tại đảo, khi được thả về viết nhiều bài đăng trên báo Tin Sáng lên án chuyện nhà tù Côn Đảo; hơn nữa vụ án của chúng tôi cũng khá đặc biệt).

    Cần nói thêm, mãi về sau, đâu khoảng đầu năm 1975, có thêm hai người tù chính trị nữa cũng “thường trú” luôn tại khu C. Người thứ nhất là ông Trịnh Văn Cẩn tức Tư Cẩn (sau 30/4/1975 làm Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Cửu Long), khi ở tù lấy bí danh Tám Lô. Khi đó ông làm Bí thư của số tù nhân ngoài Côn Đảo, được anh em lén lắp ráp cho một radio để nắm tình hình, chẳng may bị lộ, bọn giám thị tống ông vô khu C.

    Người thứ nhì là anh Võ Văn Giáo. Anh làm y tá chăm sóc tù nhân tại các khu chuồng cọp. Thực ra anh được phân công làm nhiệm vụ này để nắm tình hình, trao đổi liên lạc giữa anh em tù nhân. Nhưng anh bị bọn cai tù phát hiện, và cũng bị đưa luôn vào khu C trại 7.

    Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rành những tù hình sự vốn nổi tiếng bị nhốt tại khu C cùng với tôi.

    Trước hết phải kể đến Biện Thành Huệ tức Huệ Râu, vốn là trung sĩ quân cảnh Sài Gòn, bảo kê cho các bar và vũ trường quanh khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, đã bắn chết một lính Mỹ say rượu. Huệ lớn tuổi nhất trong đám, lại nhờ “thành tích” bắn chết Mỹ nên được cả đám nể vì. Rồi Tuấn Đả, tay anh chị nổi đình đám nhất tại các tỉnh Nam Trung Phần (từ Qui Nhơn đến Phan Thiết) dám đâm lòi ruột Sơn trắng ở quân lao Nha Trang để giành chức “đại ca”; Lâm Chín ngón với hai án tù chung thân (do giết hai “đại ca” trong tù là võ sĩ quyền anh Vũ Đình Cường và Hoàng Đầu lâu), Khương Đại, Hải Méo, Hùng Be... Cư ngụ ngắn ngày tại khu C có “tướng cướp cô độc” Điền Khắc Kim, và Nam Lương vốn thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” miền Tây Nam Bộ, sau làm “quân sư” cho Đại Cathay (Điền Khắc Kim trở về đất liền để ra toà xử án, còn Nam Lương hình như được thả).

    Có điều lạ là trong khi những tù hình sự “thường thường bậc trung” hay gây sự tù chính trị thì số “đại ca” lại có phần vị nể chúng tôi, giao hảo khá thân mật, đối xử rất phải đạo, tư cách đàng hoàng.

    Coi khu đặc biệt này tất nhiên cũng phải là những nhân vật đặc biệt. Ngoài giám thị (thường chỉ loáng thoáng có mặt trong giờ hành chính), người trực tiếp chỉ huy khu C từ việc nhỏ tới việc lớn (như mở cửa đóng cửa các phòng để tù nhân luân phiên ra tắm nắng và đổ thùng cầu, chửi mắng và đánh đập tù nhân, đi tuần trên các song sắt vốn là trần của chuồng cọp...) là một tù hình sự quân phạm (quân đội Sài Gòn phạm tội hình sự) tên Kim Sang. Ai cũng gọi hắn là Sang lai, bởi hắn lai Campuchia, da như đồng hun, cao lớn, vạm vỡ. Đặc biệt Sang lai có đôi mắt vàng ệch, mà hắn thường khoe nhờ ăn nhiều… gan người mắt mới ngả màu như vậy. Sang lai hễ mở miệng là chửi bới văng tục, kể cả với tù hình sự. Riêng đối với các “đại ca” cỡ Huế Râu, Lâm Chín ngón, Tuấn Đả… hắn tuy có đôi chút nể nang nhưng khi nổi nóng lên cũng chửi thề tuốt luốt.

    Các phòng trong khu chuồng cọp được bố trí thành hai dãy đối diện nhau, cửa bằng sắt, chỉ có lỗ thông gió nhỏ bỏ vừa chiếc dĩa để đưa cơm và thức ăn ra vào mỗi bữa. Phía sau phòng, trên cao, có một khoảng trống song sắt hết sức kiên cố để phòng bớt ngột ngạt. Trên phòng không xây kín mà là song sắt chạy dài, có lối đi: Khi nào cần đàn áp, giám thị và an ninh trật tự chỉ việc từ phía trên rải vôi bột xuống, đố tù nhân tránh thoát. Cách lớp song sắt phía trên này khoảng 1,5 - 2m là mái tôn.

    Tù nhân ở trong phòng bị đóng cửa suốt ngày đêm, chỉ được mở khóa ra sân mỗi ngày khoảng một giờ để “tắm nắng” theo từng nhóm phòng.
    Điều cần tranh thủ làm chính trong khoảng thời gian “tắm nắng” này là rửa thùng cầu - mỗi phòng đều có một thùng cầu đóng bằng gỗ, trét nhựa đường; tù nhân đi cầu, đi tiêu trong đó để giờ tắm nắng mang ra đổ, rửa, úp phơi khô - và tắm, giặt. Với các “đại ca”, có khi được bọn trật tự khu cho ưu tiên, tắm nắng khoảng 90 - 120 phút, đi qua đi lại, vung tay vung chân cho dãn gân cốt.

    Cũng như những khu khác trong trại 7, mỗi “chuồng cọp” tại đây gồm một bể xi măng chiếm phân nửa diện tích. Mỗi phòng thường nhốt hai người, một nam trên bể, một nằm dưới sàn. Các phòng thường xuyên bị xáo trộn, đổi người qua lại (có lẽ để tránh bàn chuyện vượt ngục), cho nên trong suốt khoảng hai năm nằm tại khu C, tôi gần như ở chung với tất cả số tội phạm hình sự. Cũng nhờ đó, tôi nắm được khá nhiều tư liệu về anh em giang hồ hồi trước 1975 để sau này có nhiều dịp thể hiện trên mặt báo.
    chuong-cop-41
    Một mô hình được dựng lại ở 'chuồng cọp' Côn Đảo

    Phạm nhân “giải trí” như thế nào trong phòng giam?


    Với khoảng 40 phòng, khu C thường giam giữ trên dưới 80 tù nhân. Như trên đã nói, trần các phòng, ngay phía dưới mái tôn là hàng song sắt để bọn trật tự coi khu có thể đi lại trên đó. Cũng vì vậy, người ở trong phòng nếu nói lớn tiếng, các phòng chung quanh và đối diện (tổng cộng khoảng 12 - 15 phòng) đều có thể nghe được.

    Không rõ tại các chuồng cọp khác, anh em tù học và dạy học những gì, riêng tại khu C, thời gian tôi ở chung với anh Giáo, anh dạy tôi chữ Hán (anh vốn làm nghề thấy thuốc Bắc, viết chữ Hán rất đẹp, biết cả kiểu chữ thảo) và châm cứu. Còn tôi dạy anh tiếng Pháp và toán trung học đệ nhị cấp. Tôi tự học tiếng Anh và tiếng Pháp, thời gian này học từ vựng trong tự điển là chính. Chúng tôi cũng dạy nhau những bài thơ, bài hát về cách mạng hoặc những bài thơ hay mà mới chỉ một trong hai người thuộc.

    Còn khi bị nhốt chung phòng với anh em tù thường phạm, anh em dạy tôi... đánh lộn. Đúng là đánh lộn chớ không phải võ, vì hầu hết anh em không phải võ sư hay võ sĩ gì cả, mà chỉ chuyên đánh lộn với các thế võ “sát thủ” theo kiểu học mót, miễn sao thắng được đối thủ. Thôi thì đủ cả: Bẻ tay, bẻ chân, khóa cổ, giật cùi chỏ, lên đầu gối, móc mắt, vặn tóc... Và lại muốn học bài bản củng không thể vì không gian chuồng cọp quá hẹp không thể đi quyền hoặc tung những đòn cước liên hoàn. Thực ra tôi học đánh lộn cho qua thời gian, vận động thân thể là chính.

    Phần tôi, tôi củng dạy anh em học văn hóa: tiếng Pháp, tiếng Anh tuỳ người muốn học; nếu không, tôi đọc truyện Kiều, kể chuyện võ hiệp, qua đó phân tích cho anh em nghe cái hay cái đẹp của văn chương; những hành động trọng nghĩa khinh tài, đối xử phải đạo của giới võ lâm. Được cái trí nhớ tôi cũng khá tốt, tôi kể tương đối hấp dẫn nên anh em rất thích nghe. Vả lại trong tù vốn chẳng có gì để giải trí nên kể chuyện dài nhiều tập được coi là một thú tiêu khiển “giết thời gian” mà ai nấy đều thích và gọi là “quay phim”.

    Tôi còn nhớ những bộ truyện dài như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, nhất là các tập võ hiệp của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, Lộc đỉnh ký... tôi đều phải kể trên dưới một tháng mới xong. Mà thời gian kể mỗi ngày hầu như cố định: Sau khi đóng cửa phòng biệt giam buổi tối túc 6h, đến khi giới nghiêm lúc 9h.

    Cứ sau khi ăn cơm chiều xong được một lát, các phòng biệt giam bị khóa hết, tôi nằm ngửa, vận “nội công” vào ngực, bắt đầu “quay phim” - nếu không, các phòng gần đó thế nào cüng nhắc nhở, thúc giục cho bằng được.

    Thực ra, không cần nhớ nguyên văn 100% câu chuyện, chỉ cần trên 50% là được rồi. Tả tình, tả cảnh, tả người tôi tha hồ thêm thắt, thêm mắm dậm muối, thậm chí... bịa đại. Các thế võ cũng vậy: Đố ai phân biệt được Võ Tòng đã “Ngọc hoàn bộ uyên ương cước”, “liên hoàn tam cước” hay “kim kê độc lập cước” khi nghe kể: “Võ Tòng nhảy vọt lên, vung hai chân liên tục vun vút tung đòn chân nọ chưa kịp thu về, chân kia đã đá ra, chỉ nghe tiếng gió rít lên cũng đủ biết công lực mạnh biết chừng nào, tốc độ đã nhanh biết chừng nào và trước khi Võ Tòng hạ thân mình xuống đất trở lại, đã đá tổng cộng chân phải 7 cước, còn chân trái 6 cước”. Và họa có trời mới kiểm chứng nổi có đúng là Trương Vô Kỵ sử dụng thế võ phi thân đẹp mặt chân truyền của phái Võ Đang “thế vân tung” hay đã biến thành “vân long tam hiện” khi nghe lời kể: “Vô Kỵ lập tức dậm chân, thân hình bay bổng, lộn ba vòng trên không trông không khác nào con rồng bay trong đám mây ẩn ẩn hiện hiện, thân pháp linh ảo khiến ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi khâm phục, đến nỗi có người lè lưỡi quá dài, hai ngày sau mới rụt vô lại được”.

    Có khi nghe bịa đại vậy rồi tưởng tượng ra còn sướng hơn cả đọc sách, nhất là khi ngồi một mình giữa bốn bức tường trong biệt giam chuồng cọp.
    Giữa giờ, tôi tự cho mình được quyền “nghỉ giải lao” tuỳ ý, khi nào cảm thấy mệt, thường là lúc câu chuyện đang hấp dẫn. Thế là anh em tù nhân nào có quà do người nhà gởi thăm nuôi đều nhờ số tù trật tự (không bị giam vô biệt giam mà tự do đi lại phía bên trong trại) mang qua “bồi dưỡng” cho tôi. Số tù trật tự này cũng rất khoái nghe tôi kể chuyện.

    Tôi còn nhớ, sau khi kể xong Lộc đỉnh ký, tôi bỏ ra nguyên một buổi tối phân tích nhân vật chính Vi Tiểu Bảo. Vì thính giả hầu hết là dân chơi, tôi nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa khí giang hồ của gã họ Vi: Làm gì thì làm, lừa đảo ai thì lừa đảo, nhưng một khi đã kết nghĩa anh em (chớ chưa nói đến đã nhận làm sư phụ như Trần Cận Nam; Cửu Nạn sư thái hay vua Khang Hy) thì không bao giờ tráo trở; lại hết lòng cứu giúp chẳng hạn đối với Tang Kết (dù chỉ là kết nghĩa bất đắc dĩ) hay Dương Dật Chi; và hễ đã hứa là lấy chữ tín làm đầu, không hề lật lọng bao giờ. Thêm làm gì thì làm, gã họ Vi luôn “chơi đẹp” với bất cứ ai.

    Chính nhờ kể chuyện, học và tự học, anh em giang hồ trở nên thân quen, có cảm tình với tôi. Tôi nhớ khi tôi chẳng may bị liệt chân, một tay du đãng tại khu C là Hùng Be chuyên cõng tôi ra tắm nắng.

    Cũng chính nhờ vậy, thời gian dường như trôi qua nhanh hơn đối với anh em tù nói chung, với anh em bị nhốt trong chuồng cọp nói riêng.

    Do khu C chủ yếu nhốt tù hình sự, nên mọi tin tức về tình hình chính trị bên ngoài, nếu anh em tù chính trị ở các khu khác có nắm được, cũng ít khi thông báo tới đây. Và lại, đường dây liên lạc của anh em tù chính trị cũng rất khó thâm nhập khu C. Vì vậy, đêm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, toàn bộ phạm nhân ở Côn Đảo có một cuộc sống khác, cũng là một đêm đáng nhớ…
  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2