Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Những người phụ nữ làm nghiêng ngả Phủ Đầu Rồng Kỳ 2: Bà Mai Anh đưa Tổng thống Thiệu vào mê cung mê tín dị đoan

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 1.43K Lượt đọc
  • 1 Trả lời

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của vivubibo
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 230 Bài viết

    • 204 Được cảm ơn

    #1
    http://laodong.com.vn/xa-hoi/ky-2-ba...oan-246281.bld

    Những người phụ nữ làm nghiêng ngả Phủ Đầu Rồng

    Kỳ 2: Bà Mai Anh đưa Tổng thống Thiệu vào mê cung mê tín dị đoan


    nui-mat-quy-o-Ninh-Hai_EKBB.jpg
    Núi Mặt Quỷ ở Ninh Hải.
    Là người phụ nữ lớn lên trong gia đình nặng về tín ngưỡng, bà Nguyễn Thị Mai Anh - phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rất mê tín dị đoan. Dù là người theo “Tây học”, nhưng do ảnh hưởng của vợ, tổng thống Thiệu rất coi trọng chiêm tinh, bói toán. Ông quan niệm “chân mạng đế vương” của mình do những thế lực “siêu hình” nào đó nâng đỡ, vì vậy mà ông hết lòng phụng sự những điều phù phiếm.

    “Tứ Tý” và “chân mạng đế vương” Bà Nguyễn Thị Mai Anh là con gái thứ 7 trong một gia đình lương y truyền thống ở Mỹ Tho (Tiền Giang). Là người theo đạo Công giáo toàn tòng nhưng bà Mai Anh chịu ảnh hưởng khá lớn về nề nếp, gia phong của một gia đình phong kiến, chịu ảnh hưởng của Khổng giáo. Lớn lên, cô Bảy Mai Anh được giới thiệu vào làm “trình dược viên” tại Viện bào chế Roussell Việt Nam ở Sài Gòn. Cậu ruột của bà Mai Anh là Đặng Văn Quang - là bạn học cùng khóa võ bị Đà Lạt với Nguyễn Văn Thiệu, qua cái gạch nối ấy mà nên cuộc hôn nhân giữa thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu với cô gái Mỹ Tho vào năm 1951.

    Người ta đồn rằng chính bà Mai Anh đã “đạo diễn” cho chồng câu chuyện “tứ Tý” khá bí hiểm và nặng dấu ấn tâm linh khi chồng ngấp nghé vào chính trường. Số là, khi bước chân vào chính trường, Thiệu (qua các chiếc loa của mình) cho biết ông sinh vào giờ Tý ngày 24.12.1924 (giờ Tý, ngày Tý, tháng Tý, năm Tý - tức “tứ Tý”). Mà người có “tứ Tý”, theo chiêm tinh, bói toán thì có hậu vận, thiên cơ, có “chân mạng đế vương”. Mãi đến khi Nguyễn Văn Thiệu qua đời ở tuổi 78 tại Pháp, trong cáo phó và văn bia mới khắc ghi: Sinh ngày 5.4.1923 âm lịch, tuổi Quý Hợi. Cuối cùng, người Sài Gòn một thời mới té ngửa ra mình đã bị lừa.

    Trở lại câu chuyện “tứ Tý”, tử vi chỉ rõ: Người có lá số “tứ tý” này "tuổi thơ nghèo khổ, ít học, nhưng khôn ngoan và ương ngạnh. Tuy háo sắc nhưng rất kín đáo để che giấu tình cảm. Là người có vóc dáng thanh tú, điềm đạm, thông minh, mưu trí và nhất là biết chụp thời cơ. Có khiếu về văn nghệ và ngoại ngữ, lấy vợ sớm và phải có người mai mối". Về tính cách, "đây là người ôn hòa, mềm mỏng, đa nghi, có nhiều mưu trí. Suốt cả cuộc đời đều được yên thân và hưởng giàu có sau 33 tuổi. Khuyết điểm của người tuổi này là: Chủ quan, liều lĩnh, thô bạo, nóng nảy...".

    Theo quẻ thì toàn bộ tính cách, biểu hiện trên là ứng 100% vào Thiệu về mọi phương diện. Dù nói công khai, lộ liễu hay nói úp mở đến đâu thì vào giữa thập niên 1960 mọi người vẫn ngầm hiểu vận mệnh quốc gia đang thuộc về người chèo lái Nguyễn Văn Thiệu có chân mạng đế vương.

    Bịp bợm hơn, năm Nhâm Tý 1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn cho phép ba thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn -“những quỉ cốc cao nhân” trong nghề chiêm tinh, tử vi và bói toán nổi tiếng miền Nam mà ông ta rất tin tưởng - lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Lá tử vi quý số "tứ Tý" của Nguyễn Văn Thiệu được ba thầy tranh nhau nhắc đến, gắn "chân mạng đế vương" của người đứng đầu thể chế với "một nền hòa bình và vĩnh cửu, cho dân chúng miền Nam, đang đến rất gần".

    Dùng “rùa lớn” yểm đuôi rồng quẫy

    Nhớ hồi khởi đầu sự nghiệp của Thiệu, bà Mai Anh đã cho mời Quỷ cốc tiên sinh Huỳnh Liên đến gặp Thiệu. Thầy đã phán chắc nịch: "Ông đây cầm tinh Giáp Tý, năm Quý Mão (1963) tất gặp chông gai. Ông phải đích thân đứng ra đẩy bật tảng đá chắn đường mình đi, nếu không thì mạng vận của ông sẽ bị tảng đá này đè nát". Vợ chồng Thiệu tin sái cổ. Quỷ cốc tiên sinh còn phán thêm: "Số phần đã vạch, ông chớ có nhị tâm mà rước họa vào thân, chết không toàn mạng".

    Nguyễn Văn Thiệu líu ríu nghe theo và thề độc sẽ theo phe đảo chính, chính thức ký tên vào danh sách những kẻ sẽ nhúng tay tắm máu anh em Ngô Đình Diệm vào ngày 1.11.1963. Lúc ấy Thiệu đang là tư lệnh Sư đoàn 5 cơ động đóng quân tại Biên Hòa, liền trở mặt với Diệm - Nhu kéo về bao vây, tấn công Dinh Gia Long. Về sau, ai hỏi đến, Thiệu lấp liếm cho rằng, chỉ nổ súng khi biết chắc Diệm và ông Nhu đã thoát ra ngoài.

    Quẻ bói của Quỷ cốc tiên sinh giúp Thiệu lập công, “đẩy bật tảng đá chắn đường mình đi” đã linh nghiệm, tạo đà cho Thiệu gác việc binh đạo trở thành một chính trị gia. Từ đại tá bay vù lên thiếu tướng nhờ lập công lớn, tham gia đảo chánh, chính thức giúp Thiệu đặt những bước chân đầu tiên lên nấc thang quyền lực trong bộ máy chính quyền Sài Gòn đang cảnh rối ren, hỗn loạn “quần ngư tranh thực”.

    Mê tín đến mức cuồng tín, nhưng vốn bản tính đa nghi bẩm sinh, nên vợ chồng Thiệu luôn trong tâm trạng bất an, chưa hết lo. Năm 1967, vợ chồng Thiệu cho mời một thầy địa lý người Hoa từ Hồng Kông vào dinh Độc Lập yểm bùa. Thầy địa lý phán: "Dinh được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1km, rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ. Cần phải dùng một con rùa lớn yểm đuôi rồng lại, sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững".

    Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu tin theo, cho xây hồ nước tại công trường thành hình bát giác, từ trên cao nhìn xuống giống hệt những ô bát giác trên mai rùa. Vị trí của hồ được đặt ngay chính vị trí cửa Khảm Khuyết của thành Gia Định xưa (còn gọi là thành Bát Quái hay thành Qui). Giữa trung tâm hồ nước là một đài tưởng niệm, trên có đúc một con rùa lớn bằng kim loại đội bia ở trên lưng và một cột cao có hình cánh hoa xòe ở phía trên, xem như một chiếc đinh đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại. Năm 1972, Công trường Chiến sĩ được đổi tên thành Công trường Quốc tế, dân Sài Gòn vẫn quen gọi đó là hồ Con Rùa.

    Trấn “long mạch” núi Mặt Quỷ, hòn Đá Dao…

    Ở vùng Ninh Hải quê của Nguyễn Văn Thiệu có ngọn núi tên Đá Chồng. Trên núi có 3 tảng đá lớn chồng lên nhau có hình thù rất dữ tợn đặt tên là núi Mặt Quỷ. Cách núi Mặt Quỷ khoảng 1 cây số, ở chóp bắc núi Đá Chồng có một tảng đá lớn hình tam giác nhọn, màu đất sét, chiều ngang cỡ 6m, cao 3m nhìn giông giống như cái dao, nên được gọi tên là hòn Đá Dao. Các thầy chiêm tinh phán rằng hòn Đá Dao là “yểm mệnh” của Thiệu. Sở dĩ Thiệu thăng quan, tiến chức, phát quang lộ mặc dù nhà gần chân núi Mặt Quỷ, là nhờ hòn Đá Dao. Tin lời các quân sư “chiêm tinh gia” nên nhân chuyến hồi hương vinh quy bái tổ, vợ chồng Thiệu mang theo các sư phụ cao nhân về để trấn, yểm giữ long mạch núi Đá Chồng nhằm bảo vệ linh khí cho Thiệu về sau. Để "yểm" long mạch ngay phía trước mặt hai tảng Đá Dao và Mặt Quỷ, Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận điều một trung đội công binh gấp rút xây lại Văn Thánh miếu thành 3 ngôi nhà lớn tạo hình chữ Công, án chóp phía bắc núi Đá Chồng, sau đó làm gấp một con đường trải nhựa chạy thành hình vòng cung từ dưới tỉnh lộ lên đến Văn Thánh miếu. Công trình hoàn tất, một trung đội biệt động quân đã được điều về để ngày đêm bảo vệ.

    Âm dương bài bố đầy đủ, Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh yên tâm, ngủ ngon và tin tưởng đến mức gửi trọn tiền đồ quốc gia cho những lời phán truyền sấp ngửa. Vì vậy mà đầu xuân 1972, Thiệu lệnh cho 3 thầy chiêm tinh Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn lên Đài truyền hình Sài Gòn rêu rao cái gọi là “vận mạng quốc gia” và khéo léo đề cập đến đương kim tổng thống đang mang mệnh trời.

    Đầu năm 1975, Quân Giải phóng đánh chiếm tỉnh Phước Long. Trên mặt báo ở Sài Gòn vẫn còn nhan nhản lời những kẻ xu nịnh, a tòng ca tụng "quý số" và tài năng của ông Thiệu đại loại như: "Là người lãnh tụ phải biết trị quốc. Cụ Ngô Đình Diệm cầm quyền 9 năm bị 2 lần đảo chánh, vậy không biết trị quốc và quá tin người nên chết thảm. Đại tướng Dương Văn Minh cầm quyền 3 tháng bị 1 lần đảo chánh, vì không biết trị quốc nên thân bại danh liệt. Nguyễn Khánh cầm quyền 13 tháng, Phan Huy Quát 5 tháng, Nguyễn Cao Kỳ 2 năm, tất cả đều bị lật đổ, vậy không biết trị quốc nên sự nghiệp tiêu tùng. Riêng ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền 10 năm không một lần đảo chánh, vậy là người biết trị quốc - xứng danh là lãnh tụ". Ca tụng làm vậy, nhưng việc đến tất sẽ đến. Cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc thắng lợi vang dội từ các chiến trường.

    Trước ngày Phan Rang giải phóng (16.4), vào ngày 13.4.1975 trung đội lính bảo an bảo vệ khu vực mồ mả, chùa miếu ở núi Đá Chồng quê hương của Thiệu đã bắn chết người cai quản Văn Thánh miếu, rồi xô vào đập nát các bệ thờ, tượng Phật, cạy cả mái ngói để "tìm vàng ông Thiệu giấu". Ngày 21.4.1975, Nguyễn Văn Thiệu đã phải ngậm ngùi lên đài truyền hình đọc lời từ chức, thú nhận sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và chính bản thân ông ta, để rồi sau đó, tối 25.4.1975 vợ chồng ông cùng với Trần Thiện Khiêm chạy sang Đài Loan bỏ lại “phủ Đầu Rồng” mà vợ chồng ông đã nhờ bao chiêm tinh gia chống đỡ mà vẫn không đứng vững nổi!

    Kỳ tiếp: Ngồi ở phủ Đầu Rồng điều hành các đường dây buôn lậu

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của vivubibo
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 230 Bài viết

    • 204 Được cảm ơn

    #2
    http://laodong.com.vn/xa-hoi/nhung-n...ong-243293.bld

    Những người phụ nữ làm nghiêng ngả Phủ Đầu Rồng


    thieu6_WOPR.jpg
    Bà Nguyễn Thị Mai Anh (phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) đứng ngoài cùng, bên trái.

    Người Sài Gòn thường ví Dinh Độc Lập là “Phủ Đầu Rồng” từ câu chuyện khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống đã đi coi thầy, thầy phán rằng đấy là đất “long mạch”, đầu rồng ở ngay Dinh Độc Lập, còn đuôi rồng ở hồ Con Rùa… Phủ Đầu Rồng là nơi uy nghiêm, chốn ra vào của những người đàn ông quyền lực nhất thời ấy, từ tổng thống đến các tướng lĩnh. Thế nhưng, Phủ Đầu Rồng cũng từng bị nghiêng ngả vì những bóng sắc giai nhân.


    Kỳ 1: Chuyện tình của tổng thống và người con gái lai

    Trước khi trở thành “quốc trưởng”, rồi “tổng thống VNCH”, Nguyễn Văn Thiệu từng có thời gian đóng quân tại bến sông Cầu (tỉnh Phú Yên) với quân hàm thiếu tá. Tại đây, ông đã dan díu với một cô gái lai xinh đẹp... Sau khi trở thành tổng thống , ông đã trở lại bến sông tìm người tình cũ. Nhưng thật trớ trêu, người con gái ngày nào giờ đã là vợ bé của thuộc hạ của vị tổng thống đa tình…

    Chuyện tình bên bến sông

    Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1924 tại huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận trong một gia đình vừa làm rẫy vừa đánh cá. Năm lên 9 tuổi, ông theo học trường nghề ở Phan Rang, sau đó học trường quân sự tại Huế, rồi trường Võ bị ở Đà Lạt. Năm 1949, học xong khóa Võ bị Đà Lạt, Nguyễn Văn Thiệu tham gia quân đội Liên hiệp Pháp, rồi đi học sĩ quan Bộ binh tại Pháp. Năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu cưới bà Nguyễn Thị Mai Anh, con gái một gia đình nghề y nổi tiếng ở Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Tham gia cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm năm 1963, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu sau đó được đề cử làm lãnh đạo Ủy ban quốc gia (Quốc trưởng) của nền Đệ nhị Cộng hòa. Sau đó, ông trở thành Tổng thống .

    Đầu năm 1954, khi đang là thiếu tá, Nguyễn Văn Thiệu là tiểu đoàn trưởng đóng quân tại huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Ngay bến sông Cầu, có một góa phụ (chồng Pháp đã mất) sống cùng cô con gái lai Pháp tên Oanh rất đẹp. Trong một lần tình cờ gặp mặt tại bến sông, thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu đã đem lòng yêu thương người con gái lai tên Oanh. Xa vợ, xa nhà, lại là chỉ huy một đội quân chiến trận, viên thiếu tá trẻ không khó để chinh phục cô gái lai tuổi vừa 17. Khi cuộc tình đã mặn nồng, cũng là lúc viên thiếu tá phải chia tay người yêu, chuyển quân đi nơi khác.

    Nàng Oanh ngày nào cũng ra bến sông Cầu chờ đợi bóng dáng anh thiếu tá người Phan Rang, nói tiếng Pháp, tiếng Anh như gió, rất có duyên và đẹp trai. Nàng Oanh đâu biết, tay thiếu tá hào hoa kia đang say sưa với công danh, sự nghiệp, với gia đình và bao bóng sắc giai nhân mới, đâu còn thời gian để nhớ về mối tình bên bến sông vắng.

    thieu1_AJJA
    Gia đình “tổng thống VNCH”, Nguyễn Văn Thiệu.

    Bẽ bàng ngày trở lại sông Cầu

    Rời khỏi sông Cầu, Thiệu gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa của chế độ Ngô Đình Diệm, được thăng quân hàm và trở thành chỉ huy Trường Võ bị Đà Lạt. Năm 1962, Nguyễn Văn Thiệu được thăng đại tá và được điều về làm sư đoàn trưởng sư đoàn 5 Bộ binh. Năm 1963, ông về Sài Gòn tham gia cuộc chính biến lật đổ gia đình Ngô Đình Diệm và được phong hàm tướng, chính thức gia nhập chính trường, bước chân vào bộ máy quyền lực cao nhất miền Nam. Hình bóng cô nhân tình lai Tây ở bến Sông Cầu đã mờ dần, chỉ còn trong ký ức.

    Tỉnh trưởng Phú Yên thời kỳ 1965 -1967 là trung tá Trần Văn Hai (Hai Trề), quê ở Cần Thơ, nổi tiếng là một sĩ quan nghiêm túc, ngay thẳng. Nhưng vì dám “giỡn mặt” với tướng vùng 2 Vĩnh Lộc (trong 1 chuyện tình ái nào đó của Vĩnh Lộc), nên trung tá Trần Văn Hai bị thay ghế, chuyển đi chỗ khác, người thay thế là Trần Văn Bá. Bá là con của bác sĩ Trần Văn Chẩn - thời Pháp là giám đốc Bệnh viện Mỹ Tho, là người quen bên phía gia đình bà Mai Anh - vợ Nguyễn Văn Thiệu. Lúc Nguyễn Văn Thiệu là thiếu tá tiểu đoàn trưởng đóng quân ở Sông Cầu - Phú Yên, cặp bồ với nàng Oanh, thì Bá là tiểu đội trưởng, cấp dưới rất xa của Thiệu. Nhưng vì Bá là đồng hương của phu nhân Mai Anh, Bá cũng lại biết chuyện tình của Thiệu với cô gái lai bên bến sông Cầu, nên rất được Thiệu cất nhắc, ưu ái. Nhân lúc tướng Vĩnh Lộc căm tức tỉnh trưởng Trần Văn Hai, Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu gợi ý Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Minh chuẩn y hàm cấp trung tá và bổ nhiệm Trần Văn Bá làm tỉnh trưởng biệt khu Phú Yên.

    Năm 1971, sau khi đắc cử Tổng thống trong cuộc bầu cử mà dư luận cho là có gian lận, chuyến du hành đầu tiên mang tính công vụ của Nguyễn Văn Thiệu là đến Phú Yên. Tỉnh trưởng Phú Yên Trần Văn Bá, vừa là chỗ thân tình vừa chịu ơn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đã cho quân lính giong trống, treo cờ đón tổng thống từ sân bay về đến dinh tỉnh trưởng rất trang trọng. Tại bữa tiệc chiêu đãi tổng thống chiều hôm đó, trong lúc đã có chút hơi men, Nguyễn Văn Thiệu cụng ly Trần Văn Bá, rồi như vô tình hỏi:

    - Bá à, cái bà gì hồi xưa lấy Tây ở Sông Cầu, có cô con gái lai, bây giờ có còn ở chỗ cũ không?

    Tỉnh trưởng Trần Văn Bá nghe xong như muốn rụng rời tay chân và mặt tái xanh không còn hột máu, ấp úng trả lời không thành câu. Những quan khách có mặt trong bữa tiệc không ai hiểu chuyện gì, chỉ có một mình Trần Văn Bá là hiểu Tổng thống Thiệu muốn hỏi cô Oanh lai Tây ở bến sông Cầu. Sở dĩ tỉnh trưởng Trần Văn Bá ấp úng trả lời không thành câu vì có một sự thật bẽ bàng, mà nếu ông Thiệu biết, số phận của Bá coi như tiêu… Số là, sau ngày thiếu tá Thiệu bỏ nàng Oanh ra đi biền biệt, nàng chờ đợi mãi đến không còn chút hy vọng gì nên lấy một lính địa phương tên Hoanh làm chồng. Chồng cô Oanh tử trận, nàng trở thành góa phụ.

    Khi về Phú Yên làm tỉnh trưởng, Trần Văn Bá đã cho lính đến Sông Cầu rước nàng Oanh về dinh tỉnh trưởng làm nhân viên trực điện thoại, như là cách trả ơn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Lửa gần rơm, cô Oanh lại quá xinh đẹp, đầy đặn sức sống của một phụ nữ xuân thì nên Bá “cầm lòng không đậu”. Hơn nữa, Bá nghĩ rằng: Tổng thống không thể nhớ chuyện tình cũ, mà giả sử có nhớ cũng không dám tòm tem gì cả vì sợ ảnh hưởng đến danh dự và uy tín. Lửa tình của thiếu phụ tuổi 35 hừng hực hòa điệu với bản tánh háo sắc của viên trung tá tỉnh trưởng, chẳng bao lâu nàng Oanh lai Tây ở bến sông Cầu trở thành “vợ bé” của viên tỉnh trưởng và hạ sinh một đứa con. Bá lo sợ vụ việc vỡ lở đến tai Tổng thống và bà vợ hung dữ của mình nên tìm đủ mọi cách để “trám miệng” cô vợ bé xinh đẹp.

    Nhưng người phụ nữ lai Tây từng bị nhân tình ruồng bỏ, bây giờ đã có kinh nghiệm trên tình trường, không để dại dột thêm một lần nữa. Tỉnh trưởng Trần Văn Bá càng muốn im lặng, cô nàng càng tìm đủ mọi cách khoe khoang, huyên thuyên rùm beng về chuyện làm vợ bé Tỉnh trưởng đã có con riêng như một chiến tích lẫy lừng, đầy tự hào để đe dọa và tống tiền Trần Văn Bá - một kẻ vừa tham sắc lẫn tham danh. Tỉnh trưởng Bá sợ cuống cuồng, lo đáp ứng mọi nhu cầu của vợ bé đưa ra. Làm giấy khai sinh mang họ của Bá, mua một căn nhà to đùng cho hai mẹ con ở với đầy đủ tiện nghi sang trọng.

    Trở lại với câu chuyện bất ngờ trong buổi tiệc chiêu đãi tổng thống. Thật ra, trước khi đến Phú Yên, tổng thống Thiệu đã dò hỏi và biết được chuyện đàn em Trần Văn Bá dám “chơi hỗn” - rinh đĩa “mứt gừng” của tổng thống. Nhìn khuôn mặt méo mó đến tội nghiệp, thảm hại của tỉnh trưởng “đàn em” Trần Văn Bá, tổng thống Thiệu càng tin tưởng những điều mình nghe nói trước đó là đúng sự thật. Bị hỏi chạm nọc, Bá tìm đủ mọi cách xuề xòa cho qua chuyện. Trần Văn Bá nuốt hận cay đắng vào lòng và nguyền rủa số phận không may của mình rằng: Tại sao ông ấy là Tổng thống…

    Câu chuyện cô vợ bé của tỉnh trưởng Trần Văn Bá kết thúc ngay sau đó với kết cục khá thảm. Nguyễn Văn Thiệu đã khá nặng tay với đàn em trong vụ tình ái bên bến sông Cầu: Trần Văn Bá bị cách chức tỉnh trưởng Phú Yên, thân bại danh liệt, công danh sự nghiệp, kể cả con đường binh nghiệp cũng tiêu vong. Khi quyền lực bị Thiệu tước hết, bạc tiền cũng vơi đáy, nàng Oanh tìm cách tránh né và hờ hững với Bá như một quy luật nhân quả xưa nay trong cõi nhân gian. Sau này, nàng Oanh đã lấy một ông dân biểu tên N.H.T cũng ở Phú Yên. Khoảng năm 1990, bà xuất cảnh sang Mỹ theo diện H.O.