Dưỡng thai là nuôi dưỡng dưỡng dục, còn gọi là “hộ thai”. Hai chữ “dưỡng thai” xuất hiện lần
đầu tiên trong sách kim quỹ yếu lược của danh y Trương Trọng Cảnh đời Đông Hán(Trung Quốc) với các đoạn văn như “thai phụ dùng bạch truật tán để dưỡng thai là chính” hoặc “nếu thai bị tổn thương thì bụng căng to,từ eo lưng trở xuống thì nặng như hai túi nước.thai 7 tháng phải chú ý dưỡng thai. Trong từ hải, một cuốn từ điển cổ của Trung Quốc, khái niệm “thai giáo” được giải thích như sau: “thai nhi trong bụng mẹ chịu tác động của mẹ qua lời nói và cử chỉ,cho nên phụ nữ cần phải tuân thủ lể nghĩa để gây ảnh hưởng tốt đẹp đến thai nhi,như thế gọi là thai giáo”.
Cũng có người cho rằng thai giáo có 2 nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng, thai giáo là chỉ việc thai phụ cần thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khỏe cho mình và cho thai nhi trên các phương diện tinh thần, ăn uống và nghỉ ngơi nhằm thúc đẩy sự phát triển về trí lực và thể lực cho thai nhi, bảo đảm sức khỏe cho cả mẹ và con.
Theo nghĩa hẹp, chủ yếu là chỉ người mẹ trong toàn bộ quá trình thụ thai, mang thai và sinh nở phải tăng cường tu dưỡng các phẩm chất tinh thần để thúc đẩy sự phát triển trí lực cho thai nhi theo lối ” ngoại thương và nội cảm”.
Như vậy dưỡng thai và thai giáo, gọi chung là giáo dưỡng thai nhi, thực chất là việc sử dụng các biện pháp bảo vệ và làm lành mạnh hóa tinh thần, củng cố và tăng cường sức khỏe cho người mẹ, qua đó tác động một cách tích cực và tế nhị tới thai nhi.