TIN TÀI TRỢ.

Người đàn ông nuôi 12 đứa trẻ mồ côi trên đỉnh núi

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 1.59K Lượt đọc
  • 4 Trả lời

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 937 Bài viết

    • 69 Được cảm ơn

    #1
    Người đàn ông nuôi 12 đứa trẻ mồ côi trên đỉnh núi
    chacon

    Ở ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, trên chót vót núi cao (Thất Sơn, An Giang), một người đàn ông trên 40 tuổi và một mẹ già 70 tuổi, đang nuôi dưỡng 12 đứa trẻ mồ côi ngay giữa vùng rừng núi hoang vu hiểm trở.

    Ngôi nhà của anh Út Bông nằm ở đỉnh Núi Cấm, từ lòng hồ nước ngọt Thuỷ Liêm (ở độ cao trên 600 mét so với mặt nước biển) theo đường mòn núi chừng 3 cây số nữa mới tới.

    Vừa bước vào nhà anh, ùa ra một đàn con nít. Đứa lớn nhất cỡ 5-6 tuổi, đứa nhỏ nhất còn nằm ngửa. Thấy có người lạ đến nhà, một bé trai chừng 6 tuổi liền bước ra khoanh tay, thưa: “Con chào chú!”. Lúc đó, từ ngoài vườn nhà cặp sườn núi, một người đàn ông trên 40 tuổi với thân hình gầy gò, trên tay bưng một mớ rau rừng, buồng chuối, bước vào nhà.


    Không đi rẫy núi là Anh Út Bông vui đùa cùng đàn con. Ảnh: Thế Giới Mới.

    Anh Út Bông năm nay 42 tuổi, chưa lập gia đình nhưng nuôi tới 12 “đứa con”. Anh phải làm lụng vất vả để kiếm tiền nuôi những đứa trẻ đang trong độ tuổi thay tã - uống sữa. Anh Bông cho biết: “Má tui đang bị bệnh nằm ở bệnh viện dưới Cần Thơ. Cho nên, một mình tui ở nhà chăm nom trên chục đứa muốn bở hơi luôn”. Anh bảo, má anh - bà Võ Thị Ba - đã 70 tuổi rồi nhưng cưng con nít lắm. “Má ẵm mấy đứa này về săn sóc, còn tui thì lo chuyện mưu sinh ngoài rẫy, kiếm tiền mua sữa mua đồ ăn nuôi tụi nó”.

    Câu chuyện bắt đầu từ 5, 6 năm trước. Một lần nọ, anh Bông và bà Ba đi nuôi một người thân đến sinh con ở Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ. Anh chứng kiến một hoàn cảnh thật đau lòng: Một phụ nữ trẻ tuổi sắp sinh con, tay ôm bụng kêu đau trên ghế, nhưng không người thân, không một đồng xu trong túi. Anh và bà Ba thấy thương mới tìm hiểu và cuối cùng hai má con lo luôn miếng ăn nơi nghỉ, chuẩn bị thuốc thang, khăn gói, viện phí cho sản phụ này. Đứa trẻ ra đời, người mẹ trẻ van xin: “Bà và anh nhận nuôi nó giúp con, con đội ơn bà, con không chồng, không nhà cửa... khổ lắm bà ơi!”. Thế là anh Bông và bà Ba nhận đứa trẻ này về nuôi.

    “Ban đầu má tui nuôi một đứa thôi. Thỉnh thoảng vài tháng, tui đi rẫy về thấy bà ẵm thêm một đứa, rồi ít lâu sau bà mang về thêm một đứa và một đứa nữa... Hiện tại đã 12 đứa rồi (11 trai, 1 gái) “- anh Bông nói.

    Tình thương ở giữa núi rừng

    Anh Bông chỉ ra từng “đứa con”: thằng Ngọc, thằng Thanh, thằng Hải, thằng Hương... và cho biết mỗi đứa chào đời trong hoàn cảnh khác nhau; mẹ chúng bị gạt tình, hoặc cha mẹ nghèo đói bỏ con... Má con anh đã đem những đứa trẻ bất hạnh này về nuôi nấng, dạy bảo như chính con cháu ruột của mình.

    Có lẽ chính tình thương yêu cao cả ấy mà tất cả mấy đứa trẻ đều gọi anh Bông bằng cha, gọi bà Ba bằng bà nội. Anh đặt tên cho tụi nhỏ có chữ lót đều mang chữ “Sơn” (nghĩa là núi) và đều mang họ của anh là họ Nguyễn. Anh Bông cho biết: “Mấy đứa trẻ này đều bị cha mẹ bỏ rơi từ lúc lọt lòng và èo ọt lắm. Có đứa tưởng đâu chết rồi...”. Nhưng nhờ anh Bông bà Ba săn sóc bằng cả tấm lòng nên đứa nào đứa nấy đều kháu khỉnh.

    Khó khăn nhất là lúc trái gió trở trời. Do cùng trang lứa tuổi mầm, tuổi lá nên một đứa bệnh là cả đám bệnh theo, từ khò khè, khịt mũi cho đến nóng sốt ho hen... Mỗi lần như vậy, anh Út Bông phải nghỉ đi rẫy, xuống Trạm Y tế xã An Hảo ở dưới chân núi, xin toa thuốc và đạp xe ra chợ thị trấn Tri Tôn (huyện Tri Tôn) cách đó mười mấy cây số để mua về cả bọc thuốc cho bọn nhỏ uống. Cứ vài ba ngày là anh xuống núi mua sữa hộp, thức ăn và tã dán cho bọn trẻ. Gia đình anh Bông cũng như hơn 500 hộ dân trên Núi Cấm chủ yếu sống nhờ rẫy; trên 80% có hoàn cảnh khó khăn. Tới mùa trái cây là bán mít, xoài hay bán rau kiếm vài đồng nuôi thân, nói gì đến là nuôi nhiều miệng ăn. Vậy mà, má con anh Út Bông vẫn dành dụm tất cả tiền bạc để nuôi mười mấy đứa trẻ mồ côi.

    Ban ngày, bé nào biết đi thì đùa giỡn vòng vòng nhà. Bé mới biết bò thì ngồi trong nôi (do anh Bông đóng). Đứa biết chạy, biết nói rành thì anh Bông cho tập vẽ, tập đồ chữ trong mấy quyển tập vẽ lớp một mà anh mua ở nhà sách mang về. Anh bảo, “dù khó khăn cỡ nào chúng tôi cũng ráng cho tụi nhỏ đi học đàng hoàng. Chờ cho đường núi làm đến đây xong là tui sẽ đưa tụi nó đi học mẫu giáo”. Tối đến, 12 đứa nhỏ yên giấc trong cái mùng lớn dài khoảng 5 mét. Bà Ba và anh Bông cứ thay phiên thăm chừng, coi có đứa nào lọt ra ngoài mùng bị muỗi cắn, đứa nào ho, nóng sốt hay không...

    Ngày nắng cũng như mưa, trước sân nhà anh là bầy trẻ đang độ tuổi mẫu giáo, tranh nhau gọi ba về nghe lảnh lót, ngân vọng vách núi làm khung cảnh ấm áp lên, xua đi nỗi lạnh lẽo của núi rừng.

    (Theo Thế Giới Mới

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 937 Bài viết

    • 69 Được cảm ơn

    #2
    Cuộc mưu sinh của 7 anh em mồ côi


    muu1

    Để nuôi em, Tiến dậy từ sớm chở hàng ở chợ Đông Ba. Ảnh: Tuổi Trẻ
    4 giờ sáng, sương còn lạnh căm dọc bờ sông Hương, Tiến đã thức dậy, tranh thủ chạy xe ra chợ kiếm hàng chở lấy tiền mua sách vở cho mấy đứa em.
    > Mồ côi, nuôi hai em nhỏ vẫn đậu đại học

    Từ ngày mẹ mất, gánh nặng cơm áo học hành của sáu người em đè lên đôi vai Tiến. 24 tuổi, nhưng trông Dương Công Tiến già nhiều so với tuổi tác. Bảy anh em mồ côi, người anh phải gánh vác trọng trách, làm cha, làm mẹ, làm anh nuôi sáu đứa em.

    Nhà anh em Tiến ở phường Phú Hậu, thành phố Huế. Căn nhà hai gác nhưng trống huơ trống hoác, chỉ có mỗi chiếc xe máy là công cụ kiếm tiền nuôi em của Tiến. Cha Tiến, ông Dương Trắc, năm 1999 trong một lần qua sông đã bị chìm đò và chết. Mẹ Tiến, bà Nguyễn Thị Nở, vốn đau yếu, lại thêm làm lụng quá sức đã ngã bệnh và đến năm 2005 bà cũng theo chồng, bỏ lại một đàn bảy đứa con, Tiến lớn nhất, lúc đó 22 tuổi.

    Bà con anh em ai cũng nghèo, Tiến quyết định bỏ học để kiếm tiền nuôi em. Bà cô gắng đi vay 7 triệu đồng giúp Tiến mua một chiếc xe máy làm phương tiện kiếm sống, số nợ vay hằng tháng sẽ trả góp.

    Sáng nào cũng vậy, một ngày mới của người anh trai cả bắt đầu từ 3h sáng, chạy ra chợ chở hàng lên chợ Đông Ba. Hửng sáng, ăn vội miếng gì đó rồi lên phố làm thợ hồ, "thợ đụng", ai kêu gì cũng làm. Nhưng khổ quá khiến cô em gái Dương Thị Ngọc Liên học hết lớp 9 cũng nghỉ, đi làm thợ may để phụ anh nuôi các em. Đứa em kế là Dương Nguyên cũng phụ anh, vừa học vừa đi bán bánh mì kiếm thêm tiền nuôi em.

    Tiến tâm sự: "Nhiều hôm thấy em đói meo mà đau thắt lòng, chẳng dám mơ gì về tương lai, mong sao được khỏe mạnh mãi để nuôi em. Thấy trẻ hàng xóm có cái này cái khác, còn em mình cái áo mặc cũng chưa lành mà thắt cả ruột gan. Giờ mà mình mệnh hệ nào, các em chắc chết đói mất!".

    Dù gánh nặng mọi bề nhưng Tiến vẫn cố gắng làm lụng kiếm tiền nuôi em ăn học, em trai thứ hai là Dương Nguyên vừa tranh thủ học nghề sửa chữa xe máy, vừa làm "thợ đụng" phụ thêm anh, em thứ 4 đang học lớp 12, còn lại ba em đứa lớp 7, đứa lớp 4, đứa út mới lên 4 tuổi.

    (Theo Tuổi Trẻ)
    • 937 Bài viết

    • 69 Được cảm ơn

    #3
    Những đứa trẻ không được khai sinh


    lung-gu1
    Những đứa trẻ xóm "lưng gù". Ảhh: Thanh Niên
    Phía sau chợ Vinh (Nghệ An) có hàng chục phận người bị tách biệt hẳn với cộng đồng, tạo nên một thế giới riêng. Người dân sống quanh đó quen gọi là 'xóm lưng gù', ở đây, người chết không có khai tử, trẻ con không có khai sinh...

    Đường vào xóm ngập rác và bốc mùi xú uế nồng nặc, hậu quả của những chất thải đủ loại của hàng nghìn con người ngày ngày lăn lộn kiếm sống ở chợ Vinh. Anh Hùng cho biết xóm là một tập hợp của 15 hộ gia đình di cư từ huyện Quảng Trạch (Quảng Bình). Họ vượt hàng trăm cây số ra đây lập nghiệp để mưu sinh.

    Nhà bà Mai là một cái chòi, được dựng tạm bợ bằng tre và lợp lá cọ. Bên trong, không có bất cứ một thứ tiện nghi nào ngoài mấy cái nồi nhôm, dăm cái chậu nhựa méo mó, đống chăn gối bục lõi... Bà Mai phân trần: "Cũng phải cần cái chỗ cho bọn trẻ sinh hoạt. Chúng tôi ở trên thuyền cả ngày, ăn, ngủ đều trên đó hết". Bà kể, 15 hộ với khoảng 60 nhân khẩu ở đây đều sống theo "phong cách riêng" đó.

    Cả xóm "lưng gù" có khoảng chục chiếc thuyền nan, cái rộng nhất 6m2, còn lại chừng 3-4m2, trên mái được phủ thêm một lớp cót cao khoảng 1m để che nắng mưa. Họ "định cư" trên những con thuyền ọp ẹp đó để làm "nhà" và làm phương tiện kiếm ăn. Người chết, trẻ ra đời cũng trên chiếc thuyền đó.

    Cả xóm có chừng 30 đứa trẻ đang độ tuổi đi học nhưng chưa biết mặt chữ. Ngày ngày, chúng phải thức dậy từ rất sớm, đứa theo mẹ ra sông đánh cá, đứa theo cha lên chợ Vinh vác hàng thuê...

    Thằng bé đen như khẩu súng tên là Tuấn. Năm nay Tuấn 14 tuổi, nhưng quắt queo như que củi khô. Nghe bà Mai nói, tất cả những đứa trẻ ở đây đều suy dinh dưỡng và mắc nhiều bệnh tật, bởi nguồn thức ăn cung cấp cho cái tuổi "bẻ gãy sừng trâu" của chúng chỉ đơn thuần là những ngọn rau dại ngắt bên bờ sông, thỉnh thoảng bố mẹ bán thừa mớ cá chúng mới được một bữa tươi...

    Tuấn chưa một lần được cắp sách đến trường nhưng lại là lao động chính của gia đình. Hằng ngày, nó dậy rất sớm, từ lúc 4 h sáng đã theo bố lên chợ Vinh gánh hàng thuê, mỗi ngày cũng chắt chiu được trên dưới hai chục nghìn đồng. Buổi chiều về, nó cùng bố chèo thuyền đi thả lưới bắt cá ngoài sông Cửa Tiền, nhìn lũ bạn cắp sách đến trường mà nó chỉ biết cúi gằm mặt.

    Những lúc như vậy, anh Vinh, bố của nó chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong, bởi cơm ngày ba bữa còn chưa đủ nói chi đi học. Vả lại, Tuấn cũng như những đứa trẻ khác ở đây, làm gì có giấy khai sinh mà làm thủ tục đi học.

    Cái khổ về con chữ cũng là một trong những nguyên nhân ghìm chặt người dân nơi đây trong cái đói. Nghề nghiệp chính của cả xóm là cửu vạn và đánh bắt cá trên sông Cửa Tiền. Cũng đã nhiều lần họ muốn đi tìm một nghề khác cho thu nhập cao hơn nhưng vì không biết chữ nên đành "bó gối".

    Em Nguyễn Thành Nam, cư dân "xóm gù", làm nghề bốc vác ở chợ Vinh vốn thật thà, Nam được một chủ hàng cho vay 3 triệu đồng để mua xích lô chạy hàng kiếm tiền. Mặc dù rất muốn nhưng em vẫn phải từ chối bởi lý do không biết chữ.

    15 hộ trong cái xóm chài nghèo này đã dứt áo ra đi cầu thực với hy vọng kiếm tìm một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng niềm hy vọng lớn nhất của họ là những đứa con nay cũng đang lặp lại cái vòng luẩn quẩn của cha mẹ chúng: Ngày ngày lênh đênh kiếm sống không biết bao giờ được thoát khỏi cảnh đói cơm, khát chữ.

    (Theo Thanh Niên)
    • 937 Bài viết

    • 69 Được cảm ơn

    #4
    Cuộc mưu sinh nhọc nhằn của 5 chị em mồ côi



    5 chị em mồ côi. Ảnh: Thanh Niên
    25 tuổi, nỗi khắc khổ hằn in trên khuôn mặt Phương. Nhiều năm qua, cô một mình gánh vác trọng trách nuôi nấng đàn em không may lâm cảnh mồ côi. Cả 5 chị em oằn mình bươn chải cùng cuộc sống mòn mỏi trước số phận nghiệt ngã.

    5 giờ sáng, trời còn mờ sương. Những ngôi nhà trên con hẻm nhỏ đất đá gồ ghề còn kín mít cửa. Phạm Thị Minh Phương ở phường Thị Nại, thành phố Quy Nhơn (Bình Định) đã choàng dậy vội vã đi về hướng chợ Đầm. Cô bắt đầu một ngày mưu sinh nhọc nhằn bằng nghề nhổ lông gà thuê để chăm lo cho 4 đứa em côi cút...

    Năm 1998, người cha trụ cột trong gia đình qua đời vì bệnh viêm ruột thừa vỡ mủ. Đầu năm 2006, người mẹ lại qua đời vì chứng bệnh gan.

    Trước đây, bố của Phương làm nghề bốc vác; mẹ tần tảo làm thuê ở chợ Đầm. Thu nhập ít ỏi chỉ giúp cả gia đình 7 miệng ăn lần lữa qua ngày. Căn nhà trống huơ trống hoác, trên con hẻm nhỏ ở tổ 27, khu vực 4, phường Thị Nại, TP Quy Nhơn (Bình Định), bề ngang chưa tới 2 mét, bề dài khoảng hơn 3 mét, được chắp vá bằng tấm cót, gỗ phế thải, tôn cũ nằm trên con hẻm nhỏ là "tổ ấm" của 5 chị em mồ côi.

    Minh Phương đã ngăn một gác lửng làm trang thờ bố mẹ. Để có điện thắp sáng cho các em học bài, Phương xin "câu" nhờ nhà hàng xóm. Nước sinh hoạt, 5 chị em mồ côi phải chắt chiu mua từng thùng nhỏ.

    Mỗi khi trời đổ mưa, nước hắt tứ bề, tràn xuống nền nhà, 5 chị em đi lượm bạt, ván về lót để co cụm tránh ướt. Những lúc mưa lớn, hết cách chống đỡ, Minh Phương dẫn các em xin trú ngụ nhà bà con lối xóm.

    Mỗi sáng ra chợ nhổ lông gà thuê, Phương thu nhập được 10 ngàn đồng. Nghề này bấp bênh, bữa có bữa không nên để có tiền mua gạo nuôi sống các em, Phương xin làm thêm vào buổi chiều ở một cơ sở chế tác lồng chim gần nhà. Tháng nào làm nhiều, cô nhận được hơn 300 ngàn đồng. Phương tâm sự: "Tụi em làm được ngày nào ăn ngày đó. Nhiều lúc không có tiền, em phải chạy đi mua nợ ít gạo về nấu cháo".

    Khó khăn, Phương và các em cũng chẳng biết than vãn cùng ai. Tất cả đều lặng lẽ gắng gượng vượt qua để sống, lo hương khói cho bố mẹ. Cô nghỉ học giữa chừng khi bố mẹ lâm trọng bệnh. 4 người em của Phương đứa phụ xe tải, đứa làm lồng chim, 2 em vẫn còn đi học, Viễn sắp vào lớp 8 trường THCS Tây Sơn; Hương sắp vào lớp 4 trường Tiểu học Trần Hưng Đạo.

    Phương nghẹn ngào: "Em chỉ cầu mong sức khỏe để làm lụng chăm lo các em nhỏ. Em cũng mong 4 đứa em đừng bao giờ lâm bệnh bởi bệnh tật mà không có tiền thuốc thang như bố mẹ lúc trước...".

    Địa chỉ 5 chị em Phương: Hẻm 83, đường Hoàng Hoa Thám, tổ 27, khu vực 4, phường Thị Nại, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

    Nhà Phương không có số điện thoại. Nếu muốn liên lạc, độc giả có thể gọi về số của người hàng xóm (tên Mua). Số điện thoại là 056.811500, xin gặp Phương vào buổi trưa hoặc tối.
    • 937 Bài viết

    • 69 Được cảm ơn

    #5
    Đường đến giảng đường của 4 chị em mồ côi


    mo-coi1
    Ba anh em bảo ban nhau học sau những giờ làm thê. Ảnh: Tiền Phong
    Cha bỏ đi biệt tăm, mẹ đổ bệnh nặng và qua đời, 4 chị em ở làng An Dạ (Triệu Phong, Quảng Trị) đã vượt qua những cay đắng, tủi hờn của bốn đứa trẻ mồ côi, vững vàng trên giảng đường đại học…

    Trong căn lều tuy rách nát nằm chỏng chơ giữa cái làng An Dạ nghèo khó ngày ấy, bố mẹ và bốn chị em Hồ Thị Vĩnh Khánh (1981), Hồ Vĩnh Phú (1983), Hồ Thị Vĩnh Thanh (1985) và Hồ Vĩnh Hưng (1988)

    12 giờ đêm, mấy chị em vẫn phải đi theo mẹ gánh lúa thuê cách nhà 5 km. Ba năm sau, người mẹ đổ bệnh nặng. Bốn chị em ứa nước mắt nhìn nhau khi muốn cứu mẹ phải có trên 40 triệu đồng để mổ tim.

    Cảnh đời éo le sớm cuốn cả bốn chị em vào vòng xoáy. Không ai bảo ai, bốn đứa trẻ nheo nhóc ấy buổi tranh thủ tới lớp, buổi đi làm thuê, tối thay nhau vào viện chăm sóc mẹ.

    Khánh học xong cấp ba, chấm dứt con đường học hành, lên xe vào Đà Nẵng làm công nhân. Phú xách xẻng đi phụ hồ, làm thợ mộc...

    Thanh hết đi ở thuê, đi mò hến, buôn gạo ở quê lại tranh thủ ngày hè lang thang tận Cà Mau, Bạc Liêu bán kem, tuốt mía để kiếm tiền lo thuốc thang cho mẹ và cho việc học của mình. Còn cậu em út Hưng xin một chân chăn bò thuê cho làng.

    Cả bốn chị em đều học khá, giấy khen xếp đầy cả chiếc cặp xách, vì không có chỗ để treo trong ngôi nhà chật chội.

    Lúc Hưng nhận giấy báo trúng tuyển đại học là lúc bốn chị em đeo vành khăn tang, vĩnh biệt chỗ dựa tinh thần cuối cùng là người mẹ.

    Chiến thắng của sự khao khát học tập

    Mẹ mất. Cha bận gia đình riêng không về thắp nổi một nén nhang. Thi đại học năm đầu, Thanh trượt. Phú cũng trượt.

    Hai anh em lao vào cuộc mưu sinh để nuôi cậu em út đang học lớp 11. Có lúc họ đã tính đến chuyện phải giã từ con đường học hành. Thanh đã làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động.

    Khát khao học hành trỗi dậy. Một năm sau khi Phú thi đỗ khoa Sư phạm Mỹ thuật (ĐH Nghệ thuật Huế), Thanh cùng lúc nhận giấy báo trúng tuyển của ba trường đại học.

    Không phụ công các anh chị, cậu em út Hưng cũng thi đỗ cùng lúc hai trường đại học: khoa Tin (ĐH Sư phạm Huế) và khoa Nông học (ĐH Nông lâm Huế). Sau hai năm vừa học vừa làm, Khánh cũng đã có tấm bằng trung cấp kế toán.

    Thanh nhớ lại ngày đầu tiên vào nhập học. Bà con lối xóm cho mượn được 400 ngàn đồng giắt lưng. Túi hết sạch tiền, có những buổi trưa Thanh phải thơ thẩn ở trường cho qua bữa.

    Một chuỗi ngày tự mưu sinh lại bắt đầu với ba anh em mồ côi trên đất Huế, nhưng lần này là mưu sinh để nuôi sự học.

    Sáng sáng, người ta thấy một anh chàng sinh viên gầy gò đạp xe ra một công trường đang xây dở xin làm phụ hồ, chiều đi học về lại cũng chàng trai ấy đến nhà hàng bưng bê quét dọn.

    Sau 12 giờ đêm lại soạn giấy mực ra vẽ tranh thuê. Suốt 3 năm qua ngày nào Phú cũng có lịch làm việc như thế để có tiền ăn học.

    Còn Thanh và Hưng, mỗi người tuần 10 buổi dạy thêm, bất kể đêm hay ngày, xa hay gần. Ngoài ra, Thanh còn tranh thủ nhận thêm đồ gia công về làm tại nhà. Mỗi ngày của hai chị em thường kết thúc lúc 1 giờ đêm sau bữa cơm “chay”.

    Không có nhiều thời gian như những bạn khác, nhưng Thanh vẫn rất hăng hái với công tác từ thiện của trường. Thanh đăng ký đi dạy thêm lớp tình thương tại Phú Cát, đi tình nguyện hè, rồi tham gia chiến dịch quyên góp tình nguyện giúp bà con xã miền núi A Lưới...

    Thanh tâm sự: “Mình đã khổ nhưng có nhiều người khác còn khổ hơn. Gắng giúp họ được gì thì mình sẽ hết lòng”.