Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 665 Lượt đọc
  • 5 Trả lời

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của tungngx
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 1,335 Bài viết

    • 2,119 Được cảm ơn

    #1
    Mong MOD không khóa topic này nhé vì đây ko phải là chính trị mà là liên quan đến môi trường để sống, kinh tế,... mà con cháu chúng ta sẽ sống. Em nghĩ các mẹ có quyền phải biết.


    Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than 11/09/2009 07:18 (GMT + 7) (TuanVietNam)- "Phải thử nghiệm. Nếu khai thác than mà có lợi và giữ được lúa thì chúng ta làm. Còn không, phải dừng lại. Chúng ta không bao giờ chấp nhận đánh đổi".

    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Tiềm năng lớn, rủi ro cao
    >> Sẽ báo cáo Quốc hội về khai thác bể than sông Hồng

    Tuần Việt Nam vừa có cuộc trao đổi với TS địa chất Nguyễn Sỹ Quý, nguyên cán bộ Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Công nghiệp, thành viên Hội đồng phản biện của VUSTA với Đề án bể than đồng bằng sông Hồng của TKV. Ông Quý từng có kinh nghiệm tham gia khảo sát địa chất than ở Quảng Ninh và vùng Khoái Châu (Hưng Yên).
    ĐBSH sẽ sụt lún nghiêm trọng?
    IMG_4425Q
    TS địa chất Nguyễn Sĩ Quý. (Ảnh: HPhương)

    - Là một thành viên tham gia phản biện, ông có ý kiến gì xung quanh bản Đề án bể than sông Hồng của TKV?
    Dự báo trữ lượng than ở khu vực này là 210 tỷ tấn với 100 vỉa than, mỗi vỉa dày vài mét.

    Quan ngại lớn nhất của chúng tôi với việc khai thác bể than sông Hồng là vấn đề sụt lún, biến vựa lúa đồng bằng sông Hồng thành hồ chứa nước nhiễm mặn. Thậm chí, cũng có người dự báo nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ phải di dân tới nơi khác ở.

    Cái đáng lo là ở chỗ khả năng sụt lún sẽ không diễn ra ngay lập tức, mà từng bước, mỗi ngày một ít. Và sẽ một ngày nào đó, cả vùng đồng bằng rộng lớn của chúng ta sẽ chìm trong chua mặn.

    Tuy nhiên, đây mới chỉ là tiên đoán ban đầu, còn việc sụt lún ra sao phụ thuộc vào việc chúng ta sẽ khai thác ra làm sao, công nghệ thế nào.
    Tại đề án, TKV cũng nêu giải pháp, trong trường hợp đất sụt do khai thác, sẽ đổ đất để bù vào. Thế nhưng, giải pháp này có vẻ hơi hài hước. Không hiểu họ sẽ lấy đất ở đâu, nhất là với một khối lượng khổng lồ như vậy. Hoặc giả thử có thể làm được cái việc đó thì cũng chưa chắc đã tái canh tác ngay được.
    - Ông vừa nhấn mạnh tới khả năng khai thác bể than đồng bằng sông Hồng sẽ có thể dẫn tới nguy cơ sụt lún đất. Ông có thể mô tả kỹ hơn về nguy cơ này thế nào?
    Phải lưu ý, nền địa chất ở ĐBSH là đất xốp. Nếu có sụt lún xảy ra sẽ không sụt thẳng. Mà giống như việc một ngôi nhà bị sụt, nó sẽ kéo theo nhà bên cạnh, dù ít hơn và dẫn tới một phản ứng dây chuyền sang cả khu vực xung quanh. Chúng tôi gọi hiện tượng này là sụt lan tỏa, sụt kéo theo. Khi ấy, chúng ta sẽ không lường hết được tác hại.
    - Nhưng thưa ông, hiện nay khoa học kỹ thuật trên thế giới đã đạt được nhiều tiến bộ to lớn. Liệu chúng ta có thể có cách nào để xử lý việc sụt lún nếu tiến hành mở bể than đồng bằng sông Hồng không?
    than1
    Khu vực dự kiến sẽ khai thác than ở ĐBSH.
    Khó lắm. Về lí thuyết, có thể chống sụt lún bằng phương pháp chèn lò, lấp bằng phù sa. Tuy nhiên, ngay cả khi làm được thì cũng chỉ giải quyết được một phần, không thể bù đắp hết. Chính phần thiếu hụt đó sẽ gây nên hiện tượng sụt lún.

    Địa chất thủy văn: Đối tác Nhật cũng “bó tay”

    - Bên cạnh nguy cơ gây sụt lún đất, còn điều gì khiến ông quan ngại về tính khả thi của dự án này?

    Cốt lõi của việc khai thác than ở ĐBSH chính là vấn đề nước và vấn đề đá.
    Về nước, theo tính toán của các nhà khoa học đã được công bố nhiều năm nay, lượng nước chảy vào công trình khai thác mỏ sẽ là 20.000 m3/h. Hiện nay, về mặt khoa học, chúng ta chỉ có thể bơm tháo khô được lượng nước 6000 – 10.000 m3/h. Với lượng nước trên 10.000 m3/h, khoa học vẫn đang bó tay, chưa có cách gì xử lý được. Nếu không tháo khô được mỏ, làm sao chúng ta khai thác? Đó là vấn đề hết sức nan giải.
    Từ những năm 1980, Việt Nam đã muốn kiểm tra xem bể than ĐBSH có khả năng khai thác được không. Chúng ta có đặt vấn đề nhờ Hội đồng Tương trợ kinh tế SEV giúp đỡ, tuy nhiên họ cho biết không có khả năng để giúp Việt Nam.
    Trong các năm 1998 – 2001, đối tác NEDO của Nhật Bản cũng đã tiến hành khảo sát, thăm dò một phần bể than ĐBSH, thế nhưng họ cũng nói rằng, việc xử lý vấn đề nước ở khu vực này là quá khả năng. NEDO đã rút lui, không tiếp tục kế hoạch ở bể than ĐBSH.
    - Ông có biết lí do NEDO rút lui?
    Vào thời điểm đó, đối tác Nhật Bản cũng đã nghe về tổng lượng nước chảy vào công trình khai thác mỏ là 20.000 m3/h và họ hi vọng con số này là không có thật. NEDO đã tiến hành thăm dò địa chất, trong đó một nửa số mũi khoan là để kiểm tra địa chất thủy văn. Cuối cùng, họ đành bỏ phí 15 triệu USD (giá vào thời điểm năm 2001).
    Thủy văn công trình: 20.000 m3/h hay 6.000 m3/h
    - Với đề án mở cửa bể than ĐBSH, phải chăng họ đã có phương án xử lý được vấn đề nước?
    Theo đề án của TKV, họ mới thử nghiệm công nghệ xử lý 6000 m3/h, không phải là 20.000 m3/h. Muốn biết có làm được hay không, theo tôi, phải thử nghiệm nghiêm túc.


    - Liệu có việc, ở địa điểm này lưu lượng thủy văn công trình là 6.000 m3/h trong khi ở địa điểm khác, lượng nước lên tới 20.000 m3/h?
    Không có chuyện đó. Đặc trưng địa chất ở ĐBSH là có nhiều "cửa sổ", nghĩa là nhiều nơi không có lớp đất sét cách nước. Việc có nhiều "cửa sổ", đồng nghĩa với việc khối lượng nước sẽ cùng đổ dồn qua các "cửa sổ" đó để tràn vào các vỉa than. Hơn nữa việc có nhiều "cửa sổ" địa chất thủy văn, thì lượng nước sẽ không thể chỉ là 6.000 m3/h được.
    Ngay trong bản báo cáo địa chất kết quả khảo sát, tìm kiếm, thăm dò than ĐBSH của tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam tháng 5/2006 cũng dẫn nghiên cứu của NEDO cho biết, lượng nước chảy vào công trình khai thác mỏ là 20.000 m3/h. Trong khi đó, bản đề án của TKV chỉ viết vỏn vẹn: Lượng nước là 6000 m3/h. Tôi không rõ cơ sở khoa học để TKV đưa ra con số 6000 m3 nước/h là căn cứ thế nào.

    Không thể nghĩ đơn giản rằng nước chảy vào công trường khai thác mỏ thì bơm ra. Đây là nước chua, đã nhiễm mặn, phải qua xử lý. Chúng ta không thể bơm ra như khi chống lụt, mà cần có đường dẫn và hệ thống xử lý. Hiện nay, đề án của TKV chỉ nêu chung chung là bơm ra ngoài, nhưng thải nước ra như thế nào, xử lý ra sao, cũng chưa thấy nó nêu một cách thuyết phục.

    than2
    Một cảnh khai thác than ở Quảng Ninh. Ảnh: vfej.vn


    Khi rút nước ở dưới tầng sâu khai thác mỏ, vô hình chung, chúng ta đã gọi nước biển vào, làm mặn hóa ĐBSH. Cả một thảm thực vật lớn sẽ thay đổi. Hướng thay đổi như thế nào, xảy ra trong bao lâu, TKV cũng cần cùng các bên liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng.
    - Trên thế giới đã có nước nào từng khai thác than ở điều kiện như vậy chưa, thưa ông?
    Nhật Bản đã khai thác thành công ở khu vực đảo Hockaido, dưới lòng Thái Bình Dương. Tuy nhiên, điều kiện đất đá của họ hoàn toàn khác. Đất trên và dưới vỉa than của Nhật Bản đều cứng rắn.

    Trong khi đó, đất đá ở ĐBSH có đặc tính mềm, bở. Hệ thống vách trụ để khai thác mỏ khó. Nguy cơ sập lò là hiện hữu. Mặc dù có thể khắc phục được địa chất công trình nhờ vào công nghệ và kinh nghiệm khai thác than lâu năm của Việt Nam, tuy nhiên, chi phí sẽ đội lên, rất tốn kém.

    Không chấp nhận đánh đổi
    - Thưa ông, việc Việt Nam sẽ thiếu than là nguy cơ hiện hữu, nếu không có nguồn bù đắp thì chúng ta sẽ phải bỏ tiền để nhập khẩu. Việc mở cửa bể than đồng bằng sông Hồng đang được bàn bạc. Theo ông, để có thể đưa ra quyết định đúng, chúng ta cần phải làm gì?
    Cần kiểm chứng và xác minh lại các con số, nhất là về địa chất thủy văn và địa chất công trình. Hiện nay đang tồn tại nhiều luồng quan điểm rất khác nhau, do vậy cần phải thử nghiệm.
    - VUSTA cũng nói rằng họ sẽ làm 4 dự án thử nghiệm để có được câu trả lời. Theo ông khi thử nghiệm TKV cần tập trung vào những vấn đề nào?
    Theo tôi, chúng ta cũng không cần phải tiến hành thử nghiệm ở quá nhiều. Chỉ cần 2 dự án thử nghiệm là đủ.
    Đúng là chúng ta cần phải làm thử nghiệm chứ không phải thăm dò. Mà mỗi thử nghiệm chỉ cần làm với 150 triệu tấn than. Chúng ta có đủ lượng than C1, C2 để thử nghiệm mà không cần phải thăm dò.
    Sau khi tiến hành thử nghiệm, nếu giải đáp được các câu hỏi về nước, về đất, về tác động môi trường… và vẫn đáp ứng được yêu cầu về hiệu quả kinh tế thì hãy làm. Nếu không, chúng ta phải kiên quyết dừng lại.
    Khai thác than chỉ có thời hạn nhất định, chỉ trăm năm và chứa đựng nhiều hiểm họa. Trong khi đó, vựa lúa có thể khai thác cả nghìn năm. Hãy cứ thử nghiệm cho thấu đáo. Nếu kết luận cuối cùng là khai thác than mà có lợi và giữ được lúa thì chúng ta làm. Còn không thì không bao giờ chấp nhận đánh đổi.

    • Thu Hà – Hoàng Phương

    Kết quả dự tính lượng nước chảy vào mỏ:
    Tổng lượng nước chảy vào công trình khai thác hầm lò trong trường hợp khai thác hầm lò là 16.829 m3/h
    Tổng lượng nước chảy vào công trình khai thác hầm lò trong trường hợp khai thác lộ thiên là 91.754 m3/h
    Nếu khai thác lộ thiên, lượng nước chảy vào moong khai thác lớn gấp 5,5 lần khai thác hầm lò. Đó là chưa kể tới lượng nước sông Hồng chảy trực tiếp vào moong vì với bờ dốc công trường như đã tính toán, thì sông Hồng nằm gọn vào vùng moong (nếu khai thác lộ thiên, sông Hồng phải chảy theo dòng khác).
    Trích trang 29-30, Đề án Phát triển bể than ĐBSH của Công ty năng lượng sông Hồng, TKV.


  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của tungngx
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 1,335 Bài viết

    • 2,119 Được cảm ơn

    #2
    Mở bể than 210 tỷ tấn: Sụt lún và quan ngại của SHE 14/09/2009 05:48 (GMT + 7) (TuanVietNam)- Nhân đọc bài “Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện” trên Tuần Việt Nam hôm 14/9, độc giả Trần Huy Ánh có vài lời bàn thêm với TS Nguyễn Thành Sơn.
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Tiềm năng lớn, rủi ro cao
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Lắng nghe phản biện

    Sụt lún và mối quan ngại của SHE
    SHE – tên viết tắt Công ty Năng lượng Sông Hồng- chi nhánh của TKV tại Hưng Yên do TS Nguyễn Thành Sơn viết trong bài “Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện” có cho biết là mối quan ngại của SHE về chuyện sụt lún khi khai thác bể than. Để khắc phục mối lo ngại này, theo chúng tôi hiểu cách diễn giải của TS thì SHE đề xuất bù một cách đơn giản nhất là bù bằng cát.
    Trong bài cũng cho biết là các vỉa than có độ sâu từ 150 đến hàng ngàn mét. Như vậy chúng tôi hiểu một cách giản đơn là muốn có 210 tỷ tấn than là phải lôi ra khỏi lòng đất 210 tỷ m3 than và sẽ có ngần ấy cát sẽ được chui vào đó. Tất nhiên là cát tại chỗ chứ không ai lấy cát biển Đông mà bù vào.

    Vì theo TS giải thích: ”Chẳng lẽ ở ĐBSH đất cát lại ít hơn than. Đơn giản về mặt kỹ thuật, khi lấy ra 1 tấn than, nếu phải chèn lò để chống lún sụt trên mặt đất, chúng ta chỉ cần đưa vào khoảng 1m3 cát để lấp chỗ trống; còn về mặt kinh tế, 1 tấn than có giá trị và giá trị sử dụng cao hơn nhiều so với cát…”.
    ucg-process-diagram-1 Ảnh minh họa (vietnamep)So sánh một cách nôm na là 420 km đê sông Hồng đắp từ năm 1915 đến 1927 có hơn 110 triệu m3. Từ năm 1954 đến 1980 phong trào đắp đê rầm rộ thế mà Hà Nội ta đắp thêm có 10 triệu m3. Số cát bù vào sẽ gấp 1.750 lần khối lượng đắp đê của hàng triệu người mấy chục năm.
    Thủ đô Hà Nội mở rộng có diện tích 3.300 triệu m2 (nhỏ hơn với diện tích bể than 3.500 triệu m2). Khối lượng bù là cát, nước hay phù sa sẽ là diện tích Hà Nội đắp cao lên 63 m. Rất có thể tôi tính nhầm, mong được TS Nguyễn Thành Sơn làm rõ hơn.
    Nếu như cách dẫn giải của tôi đúng thì dự án không tính chuyện di dân, thì dân sẽ sinh sống ra sao khi dưới chân mình là hang động mênh mông không biết đặc rỗng thế nào. Việc khai thác tầng sâu như vậy là mực nước ngầm tự nhiên hạ theo mà chẳng cần biết đến cái lý thuyết áp lực mỏ hay dịch động rối rắm khó hiểu TS nêu ra, đơn giản là “nước chảy chỗ trũng” vậy thôi…
    Đất sụt lún khi khai thác bể than này ra sao chưa ai dám chắc. Nước ngầm (thường để khai thác nước ăn) không còn thì dân không đi chỗ khác ở mới là chuyện khó giải thích .
    Nhân lực cho công nghệ khai thác mới
    Theo TS Sơn cho biết: Và trong đề án của mình, TKV đã giới thiệu sơ bộ lý thuyết về quản lý dịch động. Về vấn đề này, chỉ những người có đủ trình độ ngoại ngữ mới có đủ thông tin và hiểu được.
    Thực ra, đây là “sân chơi” của các chuyên gia về khai thác than, chứ không phải của các nhà địa chất. Như vậy, theo chúng tôi hiểu là chuyên ngành phức tạp và không nhiều người biết. Một rủi ro lớn, xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng tới nhiều người và theo cảnh báo có tác động lâu dài…Vậy mà ít người biết về nó thì số người có khả năng khắc phục có lẽ còn ít hơn .
    Theo TS, nước ta có bao nhiêu người có được trình độ cần thiết? Họ được đào tạo ở đâu? Ai có khả năng đánh giá khả năng hiểu biết của họ. Và nếu dự án TKV đề xuất đi vào hoạt động thì cần bao nhiêu người, đào tạo trong bao lâu thì đủ?.
    Cũng mong TS cho biết thêm, những người vừa giỏi ngoại ngữ lại am hiểu quản lý dịch động nước ta có thảo luận trên internet không, có đăng bài trên các tạp chí quốc tế không. Vì thực tế chỉ mới có vài công trình ngầm, hố đào có vài m mà báo đài cho biết sụt lún thường xuyên. Tìm chuyên gia thiết kế thi công công trình ngầm của 2 thành phố lớn hiện tại cũng không dễ.
    Đánh giá môi trường chiến lược
    moitruong Ảnh minh họa farm4Theo TS Nguyễn Thành Sơn: Đề án đã được Chính phủ giao Bộ Công Thương tổ chức thẩm định theo đúng các thủ tục và trình tự hiện hành. Cùng với việc thẩm định chính xác và khách quan của Bộ Công Thương về Đề án.
    Tuy vậy theo báo chí cho biết: Bộ Xây dựng cũng cho rằng, TKV phải tính được đến yếu tố tác động của xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu... Phản biện của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam cho rằng đề án khai thác than ĐBSH "sơ sài, trùng lặp, thiếu cơ sở", thiếu báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.
    Theo Luật Bảo vệ môi trường (2005) được Quốc họp khóa XI , kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, quy định bắt buộc phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (gọi tắt là DMC) từ 1/1/2006 đối với các chiến lược, quy hoạch và quy hoạch phát triển.
    Như vậy là có nội dung chưa thống nhất giữa thông tin của TS và báo chí. Vậy TS cho biết có bản DMC chưa? Nội dung của nó ra sao và tốt nhất là công bố trên Web site của SHE để đông đảo các giới tham khảo và đóng góp cho dự án .
    Cũng theo TS Sơn, kế hoạch TKV đã giao và SHE đang thực hiện soạn thảo một bộ tài liệu hỏi-đáp về những vấn đề liên quan, nhằm tiến tới tổ chức hội thảo rộng rãi về việc phát triển Bể than ĐBSH.
    Nếu có trong phần hỏi đáp nên có biểu đồ so sánh công suất khai thác than của TKV 20 năm trở lại đây. Mức đóng góp của ngành than vào ngân sách nhà nước. Những biện pháp nâng cao sản lượng giảm chi phí khai thác, khắc phục ô nhiễm môi trường. Dự báo nhu cầu thị trường than thế giới, khi các nền kinh tế lớn đang lập chiến lược năng lượng thay thế hóa thạch. Và ngành than sẽ có chiến lược năng lượng Xanh cho đất nước như thế nào?

    • Trần Huy Ánh

    • Avatar của Rosaline
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 1,403 Bài viết

    • 834 Được cảm ơn

    #3
    Khai thác than thì chắc bà con nông dân không được lợi, vì tiền khai thác than chắc chẳng tới tay dân chúng. Nên giữ vựa lúa đồng bằng sông Hồng, sẽ có hàng chục triệu người không bị chết đói. Khai thác than rồi bà con sống bằng gì, lấy gì ăn? Dân chúng khổ quá coi chừng họ nổi loạn đấy!
    • Avatar của tungngx
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 1,335 Bài viết

    • 2,119 Được cảm ơn

    #4
    Mở cửa bể than 210 tỷ tấn:Nóng vội sẽ trả giá đắt

    16/09/2009 06:55 (GMT + 7) (TuanVietNam)- "Hãy nhìn ra thế giới tại sao nhiều quốc gia rất giàu tài nguyên, nhưng họ vẫn nhập khẩu nguyên liệu thô từ các quốc gia khác.....?! Phải chăng họ dại hơn chúng ta?"- Ý kiến của độc giả Trần Nhất Duy.

    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Tiềm năng lớn, rủi ro cao
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Lắng nghe phản biện
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Sụt lún và quan ngại của SHE

    Đã có hàng ngàn ý kiến gửi về Tuần Việt Nam cùng luận bàn về đề án mở cửa bể than 210 tỷ tấn tại đồng bằng sông Hồng. Có những ý kiến tạm coi là chuẩn xác, còn một số ý kiến khác có thể chưa đúng hoàn toàn. Nhưng hãy gạt sự đúng – sai sang một bên, chỉ với việc phản hồi gửi về diễn đàn nhiều đến vậy cũng đáng để chúng ta cùng suy ngẫm.
    Mở dễ quản khó
    than_2
    Chúng ta đã quản lí tốt vùng mỏ Quảng Ninh
    chưa? Ảnh minh họa: cafeF


    Không bàn đến chuyên môn với lý do “dành cho giới khoa học chuyên ngành”, độc giả Sơn Trần đến từ ĐHKT Quốc dân Hà Nội nêu vấn đề: “Hãy nhìn lại Quảng Ninh, mỏ than lớn nhất Việt Nam hiện nay. Sau bao nhiêu năm khai thác, Quảng Ninh có khác gì một khu công trường đầy bụi bặm và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Trong một thời gian rất dài nữa, đất đai ở vùng mỏ Quảng Ninh chắc chắn cũng không thể làm gì được ngoài đào xới để lấy than. Liệu đất mỏ sẽ làm được gì khi hết than? Chúng ta đã quản lí tốt vùng mỏ Quảng Ninh hay chưa?

    Cũng với quan ngại này, độc giả viết tiếp: “Xin hỏi 210 tỷ tấn ấy TKV khai thác được trong bao lâu? 100 năm? 200 năm? Vậy sau đó đất ấy chúng ta làm gì? Chúng ta lại có thể trồng lúa lại trên đất ấy? Cát để chống sụt lún tất nhiên là ở ĐBSH có đủ, tất nhiên là ĐBSH có đủ cát, đủ phù sa nhưng như vậy liệu có ảnh hưởng đến nông nghiệp? Cái giá của khai thác cát lấp khoảng trống của than không chỉ là giá của cát, nó còn là giá của lương thực. Vậy sao tiến sĩ Sơn nói dễ dàng là cát không giá trị bằng than? Đấy là tôi chỉ đặt vấn đề dựa trên giả định tất cả các vấn đề tiến sĩ Sơn nêu ra đều đúng.
    Hơn thế, cư dân vùng này quen làm nông nghiệp, truyền thống văn hóa lâu đời có cả nghìn năm, bây giờ thay đổi liệu có sinh ra tệ nạn, tiêu cực? Tất cả những vấn đề đó không chỉ ảnh hưởng đến mỗi vùng ĐBSH, mà nó còn ảnh hưởng đến quốc gia, sự phát triển và kế thừa của mai sau nữa”.
    Độc giả Hoàng Quốc Việt ở Hà Nam cho rằng: “Chúng ta đã lãng phí quá nhiều nguồn tài nguyên mà nguyên nhân chính là do những suy nghĩ chủ quan trước mắt. Chúng ta đầu tư nhiều nhưng kết quả thu về không bù đắp được chi phí bỏ ra, cuối cùng thì cũng nhà nước phải bù lỗ.
    Mở rộng bể than là chuyện tốt nhưng trước hết cần tính đến hậu quả xảy ra. Nhiều vụ viêc xảy ra trước đây là bài học mà cái giá phải trả rất đắt. Tình trạng bán hết nguồn tài nguyên trong nước với giá vô cùng rẻ mạt để rồi ngay sau đó chúng ta lại phải nhập từ các nước khác nguyên liệu với giá vô cùng cao”.

    Chưa quản được những gì đang có, sao vội tính việc khai thác bể than SH?

    Còn theo độc giả Đào Văn (Hà Nội): “Đành rằng, việc tính toán đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước trong tương lai là một việc làm hết sức cần thiết, nhưng chúng ta đã quản lý tốt việc khai thác và sử dụng tài nguyên ở những vùng khai thác từ trước đến nay đâu mà đã vội tính đến việc khai thác bể than này?

    Những năm trước đây, người dân từng chứng kiến nhiều đồi xanh mơn mởn ở Quảng Ninh. Nhưng, việc quản lý thì gần như buông lỏng, mạnh ai nấy làm. Hậu quả là môi trường, cảnh quan ở đây bị tàn phá nghiêm trọng, nguồn nguyên liệu vàng đen của Tổ quốc bị khai thác, sử dụng một cách vô tội vạ và đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Nguồn thu về cho ngân sách Nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng. Môi trường sống của nhân dân bị ô nhiễm nặng, người dân luôn phải đối mặt với bệnh tật.
    Hơn nữa, việc quản lý xuất khẩu than cũng còn nhiều đáng phải bàn. Chúng ta đã buông lỏng quản lý trong nhiều năm, để tình trạng xuất khẩu than lậu tràn lan. Chỉ thời gian gần đây việc này mới được kiểm soát chặt hơn, tuy nhiên, nếu không làm quyết liệt và bền bỉ thì việc này chẳng qua cũng chỉ như làm phong trào, bắt cóc bỏ đĩa. Sau đó lại đâu vào đấy.
    Không ít người ngạc nhiên rằng, hiện chúng ta đang tính tới khả năng (trên thực tế là đã làm) phải nhập khẩu than, thế mà tại sao chúng ta vẫn cho xuất khẩu than? Phải chăng là do than của ta khai thác được phục vụ nhu cầu trong nước không đẻ ra được “lợi nhuận” nên phải bán đi - mua về?
    Những hậu quả trên là do đâu? Phải chăng là chính sách của nhà nước về lĩnh vực này chưa phù hợp, chưa tính đến yếu tố lâu dài, pháp luật chưa đủ mạnh để răn đe, xử lý các trường hợp vi phạm, hay còn vì vấn đề nào khác nữa? Có hay không sự tiếp tay của những người vừa đá bóng vừa thổi còi - đối với các hoạt động khai thác, xuất khẩu than lậu.
    Và độc giả này chốt lại: “Cần phải quản lý tốt cái mình đang làm đi rồi hãy tính đến những cái kế tiếp. Vì cái lợi trước mắt mà nhắm mắt làm bừa, rồi lại vấp phải những sai lầm như khi xã hội còn chưa phát triển và nhận thức người dân còn chưa cao thì xã hội ở giai đoạn phát triển hiện nay và mai sau không thể chấp nhận”.

    Lo ngại an ninh lương thực
    image014%2831%29
    "Nguy cơ đất đai bị nhiễm mặn rất cao,
    trong khi vấn đề hoàn nguyên đất vẫn
    quá mơ hồ, thì trồng trọt làm sao được, người
    nông dân sẽ ra sao?”
    Ảnh minh họa: vanhoahoc.

    Lo ngại sẽ thiếu đói, độc giả Vũ Văn Lân đến từ Đồng Nai dẫn dự báo của giới khoa học: “Thế giới ngày càng bị sa mạc hóa, ảnh hưởng của khí hâu nóng lên có nghĩa là diện tích canh tác lương thực bị thu hẹp, lương thực sẽ càng quan trọng hơn. Mặt khác dân số ngày càng tăng cũng khiến lương thực ngày càng đắt đỏ.
    Hiện nay nước ta có 2 vựa lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, Nhưng đồng bằng sông Cửu Long thì rất thấp, gần sát mực nước biển. Các nhà khoa học đã cảnh báo, trong tương lai không xa, đồng bằng này sẽ bị thu hẹp do nước biển xâm thực. Theo tính toán, trong vòng 20 năm sẽ mất khoảng 30% diện tích, như vậy khả năng thiếu lương thực có thể xảy ra. Và nếu chúng ta khai thác than ở ĐBSH sẽ ảnh hưởng sản lượng lúa như vậy an ninh lương thực không đảm bảo. Do đó không nên mở bể than này”.

    Bằng con mắt của một nhà Địa chất, độc giả Nguyễn Hồng Kiên cho rằng, đề án mở cửa bể than 210 tỷ tấn quá mạo hiểm. Vị này lập luận: “Một khi vấn đề môi trường không xử lí được, thoát nước hiện nay vẫn là điều không tưởng, nguy cơ đất đai bị nhiễm mặn rất cao, trong khi vấn đề hoàn nguyên đất vẫn quá mơ hồ, thì trồng trọt làm sao được, người nông dân sẽ ra sao?”

    Của để dành cho con cháu mai sau

    Một cư dân khác của vùng đồng bằng Sông Hồng, độc giả Trần Nhất Duy (Thái Bình) góp lời: “Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nguồn nhân lực tri thức con người còn rất thiếu, công nghệ thì đa phần nhập khẩu với giá cắt cổ ở nước ngoài, tài nguyên trong nước thì bán thô với giá rẻ mạt, rồi tự hào rằng, ngành mình đang góp phần lớn vào GDP cả nước (năm 2008 chiếm 40 % GDP ).
    Thế kỷ 21 là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, trí tuệ chính là tiền bạc, sản phẩm công nghệ cao chính là tiền bạc, hãy đầu tư nghiêm túc cho giáo dục trước, nhập khẩu các tài nguyên thô của các nước khác về, đấy là một việc làm khôn ngoan. Hãy nhìn ra thế giới tại sao nhiều quốc gia rất giàu tài nguyên, nhưng họ vẫn nhập khẩu nguyên liệu thô từ các quốc gia khác.....?! Phải chăng họ dại hơn chúng ta?

    Vây nên, khi trình độ của chúng ta chưa cao, chưa nên bàn tới vấn đề này, mà hãy để con cháu chúng ta làm. Đó mới là thượng sách, chứ đừng vì lợi ích của ngành, hay các chỉ số tăng trưởng mà lao ngay vào dự án khổng lồ và đầy rủi ro”.

    • TH (tổng hợp)

    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của tungngx
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 1,335 Bài viết

    • 2,119 Được cảm ơn

    #5
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Rosaline Xem bài viết
    Khai thác than thì chắc bà con nông dân không được lợi, vì tiền khai thác than chắc chẳng tới tay dân chúng. Nên giữ vựa lúa đồng bằng sông Hồng, sẽ có hàng chục triệu người không bị chết đói. Khai thác than rồi bà con sống bằng gì, lấy gì ăn? Dân chúng khổ quá coi chừng họ nổi loạn đấy!
    Đúng vậy, dự án này rõ ràng có quá nhiều nhược điểm. Rủi ro cao, nguy cơ biến đồng bằng sông Hồng màu mỡ và nuôi sống người dân Việt hàng nghìn năm này có nguy cơ biến thành hồ nước mặn khổng lồ. Không còn rộng canh tác, hàng triệu người nông dân sẽ đi đâu về đâu.
    Đừng nói nó chẳng liên quan gì đến mình và các mẹ ở đây. Mình cứ tưởng tượng rằng rồi nay mai khi cùng con cháu về quê ta sẽ phải đi bằng thuyền và chỉ xuống dưới lòng hồ sâu hàng trăm mét nói với con cháu rằng đó là nguyên quán của cha mẹ đấy!
    Hãy để than lại trong lòng đất mẹ như của hồi môn/lộc giành lại cho con cháu đời sau. Tôi xin!
    Trong chiến tranh, người nông dân đã hiến dâng chồng, con cho chiến trận cho lý tưởng, đã nhịn ăn gửi lương thực ra tiền tuyến. Nay thời bình rồi, hãy tự hỏi đã làm được gì cho nông dân nếu ko hãy để người nông dân được yên! Tôi xin!
    Mỗi lần mình về quê thấy thương lắm, vẫn còn rất rất nhiều người nghèo đói mặc dù sống giữa một đồng bằng màu mỡ. Hãy làm tốt các việc hiện tại, đừng làm khổ họ thêm nữa. Tôi xin!
    • Avatar của tungngx
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 1,335 Bài viết

    • 2,119 Được cảm ơn

    #6
    Mở bể than 210 tỷ tấn: Trách nhiệm giải trình 17/09/2009 06:08 (GMT + 7) (TuanVietNam)- Mở bể than không thể chỉ tính đến việc giải bài toán về năng lượng mà còn phải tính đến bài toán về giữ đất lúa và môi trường sống cho người nông dân. Chính phủ phải giải trình một cách đầy đủ để các ĐBQH có đủ điều kiện cân nhắc.
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Tiềm năng lớn, rủi ro cao
    >> Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than

    Trao đổi với Tuần Việt Nam về Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của QH Lê Quốc Dung nhấn mạnh: Mở bể than không thể chỉ tính đến việc giải bài toán về năng lượng mà còn phải tính đến bài toán về giữ đất lúa và môi trường sống cho người nông dân. Nếu không chúng ta sẽ phải trả giá đắt mà nguồn thu được từ than không thể bù đắp nổi…
    Khai thác than và giữ đất lúa
    Thưa ông, ông nghĩ thế nào về đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng được đưa ra vào thời điểm này?
    Ông Lê Quốc Dung: Trước hết phải thấy rằng, nhu cầu về nguyên, nhiên liệu phục vụ cho công nghiệp hóa ở nuớc ta hiện rất lớn, trong khi các nguồn đều có giới hạn. Chỉ còn nguồn than, nhưng mỏ than ở Quảng Ninh thì trữ lượng cũng hạn chế, khai thác đạt hơn 40 triệu tấn/năm trong khi nhu cầu của Việt Nam lớn, dự báo năm 2015 có thể vọt lên đến 90 triệu tấn. Để đáp ứng nhu cầu trong nước thì sắp tới lượng than xuất khẩu sẽ không còn nhiều.

    Hơn nữa nếu phát triển nhiều nhà máy điện chạy bằng than thì việc Việt Nam không còn xuất khẩu than mà phải nhập than về là điều khó tránh khỏi. Qua quá trình thăm dò, chúng ta phát hiện có một bể than ở Đồng bằng sông Hồng rất lớn, với trữ lượng khoảng 210 tỷ tấn. Đồng ý cần phải có thêm nguồn than để giải quyết bài toán năng lượng nhưng có quá nhiều vấn đề đang đặt ra cho đề án này.
    Cụ thể những vấn đề đó là gì?
    Ong-Dung
    Ông Lê Quốc Dung. Ảnh: Tự Minh.

    Vấn đề lớn nhất là mỏ than này nằm ở vùng đồng bằng trồng lúa với diện tích đất đai phì nhiêu màu mỡ. Mà diện tích trồng lúa hiện nay ở phía Bắc là tối quan trọng về mặt chiến lược, cả trước mắt và lâu dài. Khai thác than mà vẫn giữ được đất lúa là một bài toán cực kỳ khó khăn. Vì vậy 2 bài toán đặt ra là bài toán nguyên liệu và giữ đất lúa. Bên cạnh đất lúa lại là môi trường sống của rất nhiều người dân. Khó có thể giải quyết 2 bài toán này cùng lúc.
    Mặt khác, khi khai thác than có thể sẽ gây lún sụt đất. Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam có đưa ra phương án sẽ bồi hoàn đất trong quá trình lún sụt. Nhưng việc bồi hoàn đất này cũng không hề dễ, nhất là bồi hoàn đất phải bảo đảm độ màu mỡ để trồng lúa. Nói thật, nếu lấy đất khác đổ vào thì làm gì có đất màu mỡ, chỉ có đất cát, mà đất cát thì sản xuất nông nghiệp kiểu gì? Hai nữa là môi trường nước ngầm sẽ giải quyết như thế nào. Nếu hỏng tầng nước ngầm thì sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân.
    Còn môi trường mặt đất thì như thế nào? Khai thác lên, còn các phế thải lấy lên thì có giải quyết được không. Đấy là chưa kể đến vùng đồng bằng sông Hồng nền đất xốp và mềm, nguồn nước ngầm lớn, hút đi không dễ thì liệu chúng ta có tháo khô được để khai thác than hay không? Hiện nay, về mặt khoa học, chúng ta chỉ có thể bơm tháo khô được lượng nước 6000 – 10.000 m3/h. Hút nước đi đã khó, lại còn xử lý lượng nước này như thế nào để không ảnh hưởng đến sinh hoạt, đồng ruộng, cây trồng…

    Có thể thấy môi trường đất mặt, đất ngầm, nước mặt, nước ngầm là không dễ xử lý và có xử lý được cũng rất nan giải… Chúng ta nói có học tập kinh nghiệm khai thác của nước ngoài nhưng phải chú ý là điều kiện môi trường của họ như thế nào, đất của họ cứng và đặc biệt không có đất lúa…
    Còn vấn đề quản lý khai thác than thì sao thưa ông? Khi mà quản lý khai thác than ở Quảng Ninh đang có khá nhiều bê bối?
    Thực ra nếu mở bể than đồng bằng sông Hồng thì về công nghệ khai thác sẽ khác mỏ than ở Quảng Ninh. Công nghệ khai thác khác nhau nên quản lý cũng khác nhau. Ở Quảng Ninh chủ yếu là khai thác lộ thiên, khai thác bởi nhiều thành phần kinh tế. Nhưng nếu khai thác than ở đồng bằng sông Hồng thì công nghệ không cho phép khai thác lộ thiên mà lại là hóa khí và hóa lỏng nên chủ yếu các tập đoàn kinh tế lớn mới có thể làm được. Và ai làm phải có giấy phép và công nghệ, không thể tự phát như vùng Quảng Ninh. Nên ở đây sẽ có thuận hơn về quản lý.

    Tuy nhiên than khai thác ở đây chưa thể nghĩ đến xuất khẩu mà chỉ dùng trong nội địa vì sản phẩm của công nghệ hoá khí là chạy điện trực tiếp, hoá lỏng là than bùn thì phải qua chế biến.
    Vậy quan điểm của ông như thế nào, có nên khai thác bể than đồng bằng sông Hồng không khi có quá nhiều vấn đề đang đặt ra như thế?
    Có được nguồn tài nguyên là quý, và nếu khai thác được thì về mặt Nhà nước, cộng đồng, nguời dân đều được hưởng lợi nhất định vì nó tạo ra nguồn năng lượng, tăng nguồn thu, sản phẩm hàng hóa, công ăn việc làm… Nhưng quan điểm của tôi là phải tính đến nhiều con đường.

    Nếu trong lúc khó khăn và giới hạn về điều kiện kinh tế thì việc khai thác một phần than để bảo đảm nguồn năng lượng sử dụng cho quá trình phát triển là cần thiết nhưng giải quyết nguồn nhiên liệu chỉ bằng than cũng là bất đắc dĩ, là không ổn. Vì xét về mặt tài nguyên, sử dụng không có kế hoạch thì sẽ cạn kiệt. Ngoài ra còn vấn đề môi trường vì than tạo ra nhiều khí thải, gây ra biến đổi khí hậu, nên cần thiết phải tìm thêm con đường khác để giải quyết vấn đề năng lượng.
    Do đó phải khai thác thử trong diện hẹp, làm từng bước và nhìn nhận thận trọng. Và cũng phải thấy được rằng, dù có khai thác lên thì lợi ích không thể thoả mãn vì chúng ta cũng chỉ vắt cạn kiệt tài nguyên để đưa vào sử dụng. Nên nếu khai thác cấp tập quá, ồ ạt quá, nhanh quá chắc chắn phải trả giá bằng môi trường. Nhưng để khai thác dù chỉ một phần trữ lượng than ở đồng bằng sông Hồng thì cũng nhất thiết phải giải quyết được mấy bài toán đã nêu trên.
    Nhưng có ý kiến cho rằng, giữa lúa và than thì than mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn nhiều?
    Đúng là nếu tính giá trị đất lúa so với than thì không là gì nhưng để ra được đất sản xuất lúa thì sự bồi đắp cấu thành mất hàng nghìn năm. Còn nếu phá hủy nó để khai thác than bằng mọi giá thì hàng nghìn năm sau cũng không thể khôi phục được. Khai thác than có thể cải thiện đời sống cho người dân vài ba chục năm nhưng sau đó thì sống dựa vào đâu? Người Việt Nam đông, đất trồng lúa không nhiều, lại đang có nguy cơ thu hẹp lại bởi nhiều dự án, trong khi nhu cầu lương thực trên thế giới ngày càng lớn. Do đó chúng ta phải biết quý đất trồng lúa .
    Quản chặt xuất khẩu than

    Theo dự tính, từ năm 2013, Việt Nam phải nhập khẩu than mới đủ cho tiêu dùng trong nước. Nhưng hiện tại chúng ta vẫn xuất khẩu than? Ông nghĩ sao về vấn đề này?
    Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có luồng ý kiến cho rằng, với các mỏ than đã mở, khai thác lên chưa dùng hết thì phải xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, giải quyết công ăn việc làm cho người dân. Nhưng tôi nghĩ là không nên khai thác một bước quá xa như thế, không nên xuất khẩu quá nhiều mà phải chủ động điều tiết nguồn than khai thác để xuất khẩu ít đi, còn nhu cầu trong nước bao nhiêu thì khai thác đến đó.
    Quan điểm thứ hai là không nên xuất khẩu than nữa. Điều này cũng đúng vì trữ lượng than ở Quảng Ninh cũng đến lúc cạn kiệt. Mặt khác chúng ta đang bán than với giá rẻ, trong khi dự báo thời điểm nhập vào thì sẽ là giá cắt cổ. Do đó nhất thiết phải điều tiết nguồn than xuất khẩu.
    dongbang Ảnh minh hoạ
    Khai thác tài nguyên không phải là một phương pháp làm giàu tối ưu. Nhưng hình như chúng ta đang mắc ở chỗ này?
    Kinh nghiệm của nhiều quốc gia ở nhiều giai đoạn, nếu chỉ dựa vào tài nguyên do thiên nhiên ban tặng thì phát triển không bền vững và chất lượng cũng không cao, lại phải giải quyết nhiều vấn đề KT- XH kéo theo.

    Tài nguyên ở Việt Nam thì phong phú thôi chứ không phải là nhiều. Cần khai thác tài nguyên nhưng dựa vào nó cũng chỉ mức độ thôi. Và tiết kiệm tài nguyên đang là xu hướng mà nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.

    Còn để phát triển đất nước thì người Việt Nam có truyền thống cần cù sáng tạo nên ta cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện động lực cho người lao động phát huy năng lực. Chứ hiện tại, chúng ta vẫn nặng về khai thác tài nguyên nhiều hơn. Như trong đầu tư thì nặng đầu tư về vốn liếng, mà vốn thì nặng về ngân sách Nhà nước.

    Trong phát triển các nguồn lực thì cũng nặng về nguồn lực tài nguyên nhiều hơn. Trong khi đó, nguồn lực con người rất cần chú trọng. Phát huy vai trò con người càng sớm thì càng tốt, càng tạo được nền móng vững chắc cho sự phát triển KT-XH.
    Nhưng phải thay đổi tư duy này từ đâu?
    Phải từ các nhà lãnh đạo quản lý. Các Tập đoàn kinh tế làm kinh doanh thì thường tính đến lợi nhuận mà ít chú ý đến lợi ích môi trường, đến sự cân bằng trong phát triển KT- XH. Nên các nhà lãnh đạo quản lý Nhà nước phải tính như thế nào, không thể các Tập đoàn trình như thế nào, lãnh đạo nhất trí như thế. Ở đây cũng cần phát huy ý kiến phản biện của xã hội, từ các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học đến người dân, doanh nghiệp…
    Trách nhiệm giải trình
    Nếu đề án được đưa ra QH thì QH sẽ là “chốt chặn” cuối cùng quyết định việc có thực hiện hay không?
    QH hiện nay đang có nhiều quyết định tốt. Nhưng vấn đề là phải cung cấp cho đại biểu QH những thông tin, ý kiến xác đáng. Đặc biệt, khi bấm nút thông qua thì chúng ta lấy biểu quyết số đông nhưng khi tiếp thu giải trình thì cần phải cân nhắc vì có thể số ít ý kiến lại có căn cứ và là căn cứ rất tốt. Nên có rất nhiều yếu tố để đi đến quyết định đúng đắn.
    Vậy, trách nhiệm của Chính phủ trong việc giải trình như thế nào?
    Chính phủ phải giải trình một cách đầy đủ thì các ĐBQH mới có đủ điều kiện cân nhắc bấm nút. Tránh tình trạng tài liệu thì đưa ít, thời gian thì gấp gáp, đại biểu không có đủ điều kiện nghiên cứu, và nếu thời gian thảo luận tại QH lại ngắn nữa thì chúng ta dễ đi đến kết luận hình thức.

    Tuy vậy, các đại biểu QH cũng phải thực sự quan tâm đến vấn đề này để có trách nhiệm với quyết định của mình, với sự phát triển của đất nước. Trên cơ sở phát huy thảo luận bàn bạc kỹ càng của QH cùng với việc có nhiều thời gian trao đổi ý kiến, thống nhất ý kiến thì tôi tin QH sẽ làm đúng chức năng đại diện của nhân dân và cơ quan quyền lực.
    Xin cảm ơn ông!

    • Tự Minh (thực hiện)

    http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/8009/index.aspx