TIN TÀI TRỢ.

Chuyện những bà vợ của các vị vua Việt Nam

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 7.47K Lượt đọc
  • 52 Trả lời

  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #1
    Chuyện những bà vợ của các vị vua Việt Nam


    - Bên cạnh công việc quốc gia đại sự, chốn hậu cung của các vị vua Việt Nam cũng là cả một thế giới của những điều bí ẩn, lạ kỳ

    images720063_xxx80_VuaMinhMang
    Vua Minh Mạng

    Người phụ nữ 3 lần từ chối làm vợ vua Lê Đại Hành

    Với nhiều người, trở thành vợ vua là một may mắn tột đỉnh, thế nhưng có một người phụ nữ đã 3 lần từ chối vào cung làm vợ vua Lê Đại Hành, đó là bà Phạm Thị Hến, quê ở làng Tó (làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay).

    Vua Lê Đại Hành gặp bà vào năm Tân Tị (981) trong lần cùng một cánh quân vận chuyển lương và vũ khí lên phía bắc để chống quân Tống xâm lược. Thấy bà nhanh nhẹn, thông minh, giỏi võ, lại tình nguyện tham gia đánh giặc nên vua giao đảm nhận việc trông coi, vận chuyển lương thực, khí giới cho quân đội.

    Không lâu sau, quân Tống đại bại, bà Phạm Thị Hến xin về quê chịu tang cha, hết kỳ hạn 3 năm, Lê Đại Hành cho người rước bà nhập cung nhưng cả 3 lần, bà đều từ chối, cuối cùng vua phải đích thân về làng Tó và chấp thuận 3 điều kiện là: Làm lễ lớn tế cha bà 3 ngày trước khi đón dâu; lễ cưới phải tổ chức ngay tại làng Tó; địa vị của bà phải ngang hàng với 4 bà hoàng hậu của vua.

    Cũng vì quá yêu người đẹp, mến tài lẫn sắc nên Lê Đại Hành chấp thuận cả 3 điều kiện. Bà Phạm Thị Hến được phong làm Phạm hoàng hậu, người dân thường gọi bà là bà Chúa Hến. Thế nhưng, nhiều năm ở bên vua mà bà không sinh được mụn con nào, buồn tủi bà xin về quê sinh sống và mất tại đó khi mới 37 tuổi.

    Nơi thờ bà ngày nay vẫn còn, đó là đình làng Hoa Xá. Điều thú vị là ngôi đình được dựng trên chính nền cũ ngôi nhà kết hoa (Hoa Xá), nơi diễn ra đêm tân hôn giữa vị hoàng đế anh hùng và cô thôn nữ làng Tó năm nào; tên làng cũng vì thế còn được gọi là làng Hoa Xá.

    Trần Nhân Tông được vợ che chở trước hổ dữ

    Hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông tên húy là Trinh, con gái lớn của danh tướng Trần Hưng Đạo, khi chưa vào cung, bà có tước vị là Quyên Thanh công chúa. Sau khi trở thành vợ vua, bà được phong làm Bảo Thánh hoàng hậu. Tháng 3 năm Quý Tỵ (1293), con trai bà là Anh Tông lên ngôi đã tiến phong mẹ mình là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng thái hậu.

    Các sách như Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết có lần Trần Nhân Tông đã được bà che chở trước hổ dữ: “Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới. Thượng hoàng thường làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu rồi sai quân sĩ đánh nhau với hổ.

    Có lần Thượng hoàng ngồi xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Vì thềm lầu thấp, song chuồng và thềm cũng thấp, con hổ bỗng nhảy ra khỏi chuồng leo lên lầu, mọi người đều sợ chạy tan cả, duy chỉ còn có Thái hậu và bốn, năm người thị nữ vẫn ở đấy. Thái hậu nghĩ bụng không khỏi bị hại, mới lấy chiếu che cho Thượng hoàng và cả mình. Con hổ lên lầu kêu gầm lên rồi vội vàng nhảy xuống, không vồ hại ai cả.

    Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì, con voi bỗng xông vào định lên trên điện, người hầu hai bên đều chạy tản chỉ còn mình Thái hậu vẫn ở đấy”.

    Sử thần Ngô Sĩ Liên nhà Hậu Lê bàn rằng: “Voi và hổ là bậc hung dữ, ai cũng phải sợ, thế mà lúc voi, hổ hung tợn làm ngang, Hoàng hậu vẫn thản nhiên không sợ. Hoàng hậu thực sự là một anh hùng trong đám nữ lưu vậy” (Đại Việt sử ký tiền biên).

    Lê Thánh Tông lấy một cô gái gánh nước làm vợ

    Vị Hoàng đế đa tài và cũng rất đa tình Lê Thánh Tông có rất nhiều giai thoại được truyền tụng trong dân gian, trong số đó có cả những chuyện thú vị giữa vua và các giai nhân. Không rõ có bao nhiêu điều trong đó là sự thật, bao nhiêu điều là do thêu dệt mà nên, nhưng theo danh sách những người vợ chính của vua Lê Thánh Tông mà cuốn Đại Việt thông sử ghi chép thì tất cả các bà đều là con gái các quan tướng trong triều, duy nhất có một người xuất thân bình dân và bà trở thành vợ vua cũng rất tình cờ.

    Người vợ này của vua Lê Thánh Tông họ Nguyễn (không rõ tên), sách Đại Việt thông sử cho biết về duyên kỳ ngộ giữa hai người như sau: “Bà là người xã Hòa Thược, huyện Kim Trà. Khi vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành dừng lại ở xã này, thấy bà gánh nước qua, có nhan sắc, vua đem lòng yêu bèn cho vào cung, được nhà vua quý mến. Lần lần phong đến bậc phi, về sau sinh ra Triệu Vương”.

    Theo chính sử thì năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đích thân dẫn quân đi chinh phạt Chiêm Thành, như vậy người con gái huyện Kim Trà (nay là Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế) đã được vua lấy làm vợ trong thời gian này. Kết quả mối tình giữa hai người là một hoàng tử tên là Lê Thoan, được phong tước Triệu Vương, ông là con trai thứ 13 của Lê Thánh Tông.

    Vợ Minh Mạng là con gái một danh tướng Tây Sơn

    Sau khi nhà Nguyễn thành lập, các vụ trả thù những người có cảm tình với triều Tây Sơn diễn ra khốc liệt và kéo dài nhiều năm. Ấy vậy mà một danh tướng Tây Sơn lại trở thành bố vợ một vị vua nhà Nguyễn thì thật là lạ kỳ.

    Vị vua đó là Minh Mạng, hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn và ông bố vợ của vua chính là tướng Ngô Văn Sở. Theo một số tư liệu thì Ngô Văn Sở bị giết năm Ất Mão (1795) trong cuộc tranh chấp nội bộ giữa các quan tướng Tây Sơn thời vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản). Nhưng có nguồn tư liệu cho hay thực ra Ngô Văn Sở không chết, ông thấy triều chính Tây Sơn ngả nghiêng nên bí mật bỏ trốn theo Nguyễn Ánh và mang một tên khác.

    Khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) tiến hành hàng loạt vụ trả thù nhà Tây Sơn đã phát hiện ra Ngô Văn Sở chính là viên tướng nổi danh một thời của Tây Sơn. Sách Liệt truyện cho biết Gia Long không giết Ngô Văn Sở mà chỉ cách chức Quản đạo trấn Thanh Hoa của ông vì “Sở làm việc lâu ở đó lại giỏi nên được tha tội chết”. Lý do nữa là Ngô Văn Sở lại là cha của bà Ngô Thị Chính, vợ hoàng tử Phúc Đảm (sau này lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng).

    Trong số hàng trăm phi tần, vua Minh Mạng chỉ sủng ái bà Hiền phi Ngô Thị Chính và và Lệ tân Nguyễn Gia Thị. Bà Ngô Thị Chính đã sinh cho vua 5 hoàng tử và 4 công chúa. Sự sủng ái của vua đối với bà còn thể hiện qua việc Minh Mạng phục chức cho nhạc phụ của mình là Ngô Văn Sở và phong cho em trai bà Hiền phi là Ngô Văn Thắng chức Cai đội.

    Vua Đồng Khánh trừng phạt các bà vợ

    Giống như bao vị hoàng đế khác, trong nội cung của vua Đồng Khánh có rất nhiều cung tần, mỹ nữ. Tháng 8 năm Ất Dậu (1885) ngay sau khi lên ngôi, Đồng Khánh đã ban dụ phong tước cho những người vợ của mình theo các bậc khác nhau là phi, tần, tiệp dư, quý nhân, mỹ nhân, tài nhân… chia nhau phụ trách, cai quản công việc ở tam cung, lục viện và vua căn dặn rằng: “Những người trên phải kính cẩn thực thi nội chức để việc trong nội cung được nghiêm chỉnh. Người xưa từng nói, phải tề gia rồi sau mới trị quốc, đó là điều trẫm vô cùng mong mỏi vậy”.

    Thế nhưng chỉ hai năm sau, vào tháng 2 năm Đinh Hợi (1887) Đồng Khánh đã ban dụ nêu tội trạng và biện pháp trừng phạt đối với các bà vợ của mình. Sách Đồng Khánh chính yếu cho biết vua bực tức nói rằng: “Đặt ra chức vị phi, tần để chia nhau cai quản lục viện và kính cẩn cần mẫn, tiết kiệm cái ăn cái mặc hàng ngày, ngoài việc đó ra không có gì khác gọi là báo đáp… Nào ngờ bọn sâu mọt đó cam tâm vứt bỏ ân huệ, mỗi ngày một thêm lười biếng,… Vì vậy không thể không nghiêm khắc, tùy theo hạnh kiểm của từng người mà phân biệt nghị xử cho nghiêm nội cung”.

    Kết quả là vợ chính của vua là Hoàng quý phi do cai quản không tốt hậu cung nên bị nhắc nhở nghiêm khắc, Giai phi vì sớm biết hối lỗi nên được tha. Còn lại các phi tần khác, người thì bị vua đánh giá có cử chỉ thô tục, người bị coi là ham chơi bời lêu lổng, người thì bị quy kết có tính tham lam, đố kị… nên đều bị giáng cấp. Trong bài dụ của mình vua còn răn rằng: “Nếu vẫn giữ thói ấy thì mệnh lệnh đã đưa ra pháp luật sẽ tuân theo mà thi hành, lúc ấy khó bảo toàn được vị thứ” (Đồng Khánh chính yếu).

    Lê Thái Dũng

    http://bee.net.vn/channel/1984/20110...t-Nam-1802590/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của bonongcoc
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 13 năm
    • 1,330 Bài viết

    • 965 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #2
    Trần Nhân Tông được vợ che chở trước hổ dữ :Laughing::Applause:
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #3
    Nghi án về 'thân phận' của bà hoàng Trường Lạc


    (ĐVO) Là một trong số 7 bà vợ của vua Lê Thánh Tông và được chính sử khẳng định là con của Thái úy Nguyễn Đức Trung…, song dân gian vẫn lưu truyền rằng, bà hoàng Trường Lạc mới là con gái của Nguyễn Trãi.

    Có thể nói, cuộc đời và số phận của bà hoàng Trường Lạc trong sự lưu truyền của dân gian hết sức bi thảm. Cha bà cùng với 3 họ bị giết oan, bà bị bắt làm nô tì từ năm 2 tuổi. Lớn lên bà được tuyển vào cung vua, được phong quý phi, hoàng hậu, rồi lại bị vua hắt hủi, giam nơi cung cấm. Bà được tấn phong hoàng thái hậu (mẹ vua), thái hoàng thái hậu (bà vua) và cuối cùng, lại bị chính cháu nội sai người giết chết.

    Bà hoàng có số phận bi thảm

    Sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong bài Vua Thánh Tông có đoạn: Khoảng đầu niên hiệu Thái Hòa (1443-1453), Tế văn hầu Nguyễn Trãi phải tội, có người con gái bị bắt vào quan, sung vào hàng nữ nhạc. Người con gái ấy tư sắc tuyệt đẹp, ở tuổi 17, 18 nhưng không biết nói, chỉ ngồi gõ phách.

    Khi vua bước lên ngự tọa, người con gái bỗng cầm phách hát. Tiếng hát du dương, nỉ non: "Hẹn nhau từ thuở Thiên Đình - Lòng nào nỡ phụ tâm tình thế rủ...", khiến mọi người sửng sốt. Vua thấy vậy, gọi đến gần, trông dung nhan như nàng Ngọc Nữ mà Thái hậu mộng. Vua hỏi quê quán, cha mẹ, người con gái ứa nước mắt kể: "Nàng là con gái Tế Văn hầu Nguyễn Trãi. Vì nỗi nhà oan ức, luôn kìm giữ trong lòng, nói ra không được, đành phải làm câm cho khỏi chịu thêm oan khổ...". Lê Thánh Tôn nghe, cảm thương và cho dẫn cô gái đến chào Thái hậu, rồi kén vào cung, phong làm Trường Lạc Hoàng hậu (trong chính sử chép, Trường Lạc Hoàng hậu là con gái Thái úy Nguyễn Đức Trung, người Thanh Hóa).

    cd305chua1
    Chùa Huy Văn, nơi thờ bà hoàng Trường Lạc tại Hà Nội. Ảnh: ilovehanoi.vn

    Vốn tư sắc tuyệt đẹp, bà Trường Lạc được vua Thánh Tông yêu quý nhất trong số các cung nhân. Vua đã cho điều tra lại vụ án Lệ Chi Viên và xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, bổ Anh Vũ, một người anh cùng cha với bà, làm tri huyện (1464). Tuy nhiên, mối tình đằm thắm với vua Thánh Tông không rõ kéo dài bao lâu, nhưng về sau, theo sử sách, bà bị ruồng bỏ, bạc đãi đến nỗi đem lòng thù ghét.

    Lại nói chuyện sau khi vua Thánh Tông bằng hà, Hiến Tông (1497-1504), con bà hoàng Trường Lạc, lên nối ngôi. Hiến Tông chết, con thứ ba lên nối ngôi, lấy niên hiệu Túc Tông. Chưa đầy một năm, Túc Tông chết, không có con nối ngôi, bà muốn lập Lã Côi Vương, nhưng bị nội thần Nguyễn Nhữ Vi lập mưu đưa người con thứ hai của Hiến Tông lên làm vua (niên hiệu Uy Mục).

    Ngày 22 tháng 3 năm Đoan Khánh thứ nhất (1505), vua Uy Mục sai người hầu ngầm giết Thái hậu Trường Lạc.

    Nghi vấn lịch sử

    Gia phả họ Nguyễn Nhị Khê cho biết, sau vụ án Lệ Chi Viên, gia quyến Nguyễn Trãi có một số người chạy thoát nạn “tru di tam tộc”. Đó là một người con của ông cùng hai bà vợ thứ tư và thứ năm, đang mang thai… Phải chăng đây chính là cơ sở để người ta cho rằng, chuyện bà hoàng Trường Lạc (huý là Hằng) là con gái của Nguyễn Trãi?

    Nói về việc này, người xưa có những ghi chép không giống nhau, trong đó có tài liệu chỉ nhắc đến con trai Anh Vũ may mắn sống sót mà không cho biết Nguyễn Trãi có con gái sống sót. Tuy nhiên, sử gia Trần Huy Liệu (Nguyễn Trãi, Khoa Học, 1966) lại viết rằng: Thế rồi cả gia quyến Nguyễn Trãi bị bắt giam: con gái bị sung làm nô tỳ ở cung vua hay ở các nhà quan, con trai thì chờ ngày ra pháp trường chịu tội tử hình. Như vậy, giả thuyết con gái Nguyễn Trãi sống sót là có.

    Mặt khác, chính sử chép rằng Thái hoàng thái hậu Trường Lạc mất năm 1505, thọ 65 tuổi. Theo cách tính tuổi thông thường, cô Hằng sinh năm 1441. Được hai tuổi (1442) thì mồ côi cha. Năm 1460 cô được tuyển vào cung, tuổi vừa tròn 20. Chi tiết này có vẻ khá trùng hợp với các tài liệu nói về Nguyễn Trãi. Tính từ năm ông bị giết (1442) đến năm cô Hằng được tuyển vào cung (1460) được 18 năm. Cô Hằng vào hầu vua Thánh Tông năm cô ít nhất cũng đã được 19 tuổi ta. Và năm Nguyễn Trãi bị giết, cô Hằng được 2 tuổi, Anh Vũ còn nằm trong bụng mẹ. Rất có thể bà Trường Lạc là chị ruột hay ít ra cũng là chị cùng cha khác mẹ của Anh Vũ.

    Tiếp đó, tại sao chính sử nói bà Trường Lạc quê ở Gia Miêu (Thanh Hóa), song lại được vua Uy Mục cho làm điện Quang Mỹ ở phường Lệ Viên huyện Quảng Đức (Thăng Long, Hà Nội ngày nay) để thờ tiên tổ của bà. Phải chăng quê quán thực của bà là vùng Quảng Đức, chứ không phải Gia Miêu? Chúng ta cũng được biết rằng Nguyễn Trãi sinh ra tại gia đình nhà mẹ là dinh quan Tư đồ Trần Nguyên Đán ở Thăng Long. Đây là một điều trùng hợp ngẫu nhiên hay cố ý ? Hay là cha đẻ của bà không phải là Nguyễn Đức Trung mà chính là Nguyễn Trãi?

    Một số sử gia đương đại cho rằng, việc Nguyễn Trãi có một người con gái sống sót nhưng chính sử lại chép Hoàng thái hậu Trường Lạc (hay Hoàng thái hậu họ Nguyễn) là con gái thứ hai của ông Nguyễn Đức Trung có thể lý giải do Thái úy là người tốt, ông nuôi cô nô tì từ nhỏ và nhận là con. Thêm vào đó là dù triều đình Thánh Tông có biết rõ gốc gác của bà quý phi hay bà hoàng hậu Trường Lạc, thì sử thần đương thời cũng khó mà có thể chép rằng chính triều đình của bố Thánh Tông đã giết oan ba họ nhà bố vợ của vua.

    Bảo Bình

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...147816.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,281 Bài viết

    • 2,965 Được cảm ơn

    #4
    Mình góp vui vài mẩu chuyện nhé:

    Kể chuyện vua Gia Long: Các bà phi của vua Gia Long

    Gia Long có hai bà phi được phong làm Hoàng Hậu là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu ( mẹ Hoàng tử Cảnh ) và Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu ( Mẹ Minh Mạng ); nhà vua còn sách phong cho bà Lê thị Ngọc Bình ( con vua Lê Hiển Tông, em Ngọc Hân Công Chúa ) làm Đệ Tam Cung. Bà này sinh được hai Hoàng Tử là Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương.

    Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu họ Tống. Năm lên 18 tuổi, Nguyễn Ánh cưới bà đầy đủ nghi lễ truyền thống và tấn phong làm Nguyên Phi. Bởi tính tình cẩn trọng, cử chỉ đoan trang, nên bà được Nguyễn Ánh rất quý trọng.
    Mùa thu năm Quý Mão ( 1873) Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh, phải chạy ra đảo Phú Quốc, sau đó thấy tình hình nguy ngập, Nguyễn Ánh gửi Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc ( Pigneau de Béhaine) qua Pháp xin cầu viện. Lúc ấy, Hoàng Tử Cảnh mới 4 tuổi. Bá Đa Lộc lạy xin thọ mạng. Nguyễn Ánh và bà Nguyên phi lau nước mắt đưa hoàng tử Cảnh sang Pháp. Sau khi Hoàng Tử Cảnh đi rồi, Nguyễn Ánh lấy một thoi vàng chặt đôi ( một thoi 20 lượng ) trao cho bà , một nữa và căn dặn :
    - Con ta đi rồi, ta cũng sẽ đi sang Xiêm. Vậy Phi phải ở lại đây ( Phú Qiốc ) để cung phụng Quốc Mẫu ( tức bà Thiếu Khương , vợ của Nguyễn Phúc Luân ) chưa biết gặp nhau khi nào và ở chỗ nào, vậy lấy vàng này làm tin .
    Trong những ngày Nguyễn Ánh bôn tẩu, khi ở Xiêm, lúc ở Việt, bà vẫn một mình hầu hạ mẹ chồng. Ngoài việc hầu hạ mẹ chồng, bà còn thân hành may dệt nhung phục cho quân lính. Một lần, quân Nguyễn giao chiến với quân Tây Sơn, đến hồi quyết liệt, quân Nguyễn núng thế, muốn rút lui, bà tự tay nổi trống thúc quân, quân Nguyễn Ánh hăng hái trỏ lại, xông lên và cuối cùng thắng lợi .
    Sau ngày thu phục đất nước, Gia Long hỏi bà nửa thoi vàng năm xưa, bà đem vàng ra trình lên. Gia Long vô cùng cảm động, cầm lấy nửa thoi vàng và bảo rằng:
    - Vàng này mà còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp cho trong lúc gian nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết.
    Dứt lời, Gia Long lấy nửa thoi vàng của mình ráp với nửa thoi vàng của bà Nguyên Phi, rồi trao hết cho bà.

    Cuộc tình duyên của bà Tam Cung Lê Thị Ngọc Bình với Gia Long cũng khá lạ kỳ. Sau khi thắng trận trở lại Phú Xuân, Nguyễn Ánh gặp bà vợ trẻ của Quan Toản là công chúa Ngọc Bình đang còn ở lại trong cung, không kịp chạy theo vua Tây Sơn. Say mê trước sắc đẹp của bà, Nguyễn Ánh quyết định lấy bà, sau đó đã phong làm Đệ tam Cung .
    Bà Ngọc Bình lấy hai đời chồng đều làm vua ( Cảnh Thịnh và Gia Long) nên trong dân gian có câu ca dao:
    "Số đâu có số lạ lùng!
    Con vua mà lấy hai chồng làm vua."

    Cũng là một sự trớ trêu! Nguyễn Huệ Quang Trung chồng bà Ngọc Hân công chúa; Nguyễn Ánh Gia Long chồng bà Ngọc Bình, em Ngọc hân; hai kẻ cừu địch không đội trời chung ấy lại trở thành anh em " cột chèo " !

    Đó là những bà phi đặc biệt và nổi tiếng. Còn các bà phi khác trong Hoàng Cung, những gần một trăm bà, lại xảy ra bao chuyện rắc rối. Bài báo của Michel Đức Chaigneau đăng trong tờ " Le monniteur de la Flotte xuất bản năm 1858 tường thuãt như sau:
    - " Khanh sẽ không ngờ rằng cái gì đợi Trẫm ở đây kia ( Ngài chỉ vào hậu cung của Ngài) khi Trẫm rời khỏi nơi đây, ở đây Trẫm được hài lòng vì Trẫm nói chuyện với những người xứng đáng, họ lắng nghe Trẫm, họ hiểu biết Trẫm, và khi cần họ vâng lệnh Trẫm răm rấp, còn ở
    đằng kia Trẫm gặp phải một lũ quỉ sứ thật sự . Chúng cãi vả nhau, n gược đãi nhau, phỉ báng nhau và sau đó tất cả cũng chạy đến cầu xin Trẫm phân xử. Nếu làm đúng thì Trẫm sẽ luôn luôn khiển trách tất cả. Vì Trẫm không biết ai sẽ nhương nhịn ai trong cơn giận dữ " .
    Sau một lúc im lặng Ngài tiếp: " Chốc nữa trẫm sẽ ở giữa một đám yêu phụ làm Trẫm điếc tai, nhức óc " ( vừa giả giọng và điệu bộ của một người đàn bà trong cơn giận dữ; Ngài vừa thét):
    - Muôn tâu Bệ Hạ, Hoàng Bệ Hạ phân xử, bà đã sỉ nhục thần thiếp, người ta ngược đãi thần thiếp, thần thiếp xin phân xử ".
    Nhà vua phì cười, rồi nhìn vị đối thoại của Ngài như để gơi ý. Vị quan Pháp cũng cười ngất, nhất là bản kịch câm của nhà vua và những tiếng la hét của Ngài để bắt chước sự giận dữ của các cung phi. Ông tâu: " Việc đó rất dễ, Hoàng Thượng có thể giảm bớt mối sầu khổ của họ bằng cách hạn chế số Cung Phi " .
    Nhà vua ngắt lời:
    - Suỵt ! Hãy nói khẽ! Nói khẽ !
    Ngài cho những lính vệ và những hộ vệ quân đã theo Ngài khắp nơi được phép lui ra và nói tiếp: " Ồ ! Ông Chaingneau, nếu các quan đồng liêu của Khanh nghe được điều Khanh vừa mới nói ra đó, họ sẽ trẻ thành những kẻ thù vĩnh viễn của Khanh, Khanh không biết rằng các cung phi hầu hết đều là con gái của các quan ư ? Này, mặc dù số tuổi của Trẫm đã đáng kể, nhưng không bao lâu nữa, một vị quan sẽ dâng hiến cho Trẫm con gái của ông ta. Trẫm không thể từ chối được, vì như thế, Trẫm sẽ chọc tức ông ta và cùng đau đớn. Ở đây chính là một vinh dự và một sự đắc ý đối với một ông quan có con gái được vào Hoàng Cung, và đối với Trẫm đó là một sự bảo đảm chắc chắn nhất về lòng trung thành của ông ta. Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông. Nếu Trẫm ghét bỏ một một trong các cung phi của Trẫm, thì nó sẽ than phiền với thân phụ nó ngay, và nếu không sỉ nhục to tiếng trước tuổi tác già nua của Trẫm, thì ông ta cũng khéo léo gieo rắc giữa các quan những sự đồn đại vụn vặt về Trẫm, sẽ làm cho Trẫm mang đầy sự lố bịch trước đôi mắt của thần dân".

    Hẳn đó là lời bộc bạch chân tình của một ông vua trước một người nước ngoài. Câu đánh giá của Gia Long về phụ nữ ở thế kỷ XIX thật thú vị:
    " Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông". Đó là câu đánh giá của một ông vua thời phong kiến, theo chế độ đa thê. Còn bây giờ, ở những đất nước theo chế độ độc thê, không hiểu câu đó có còn đúng không?


    ( Theo Đại Nam chính biên liệt truyện và Le moniteur de la Flotte của Michel Đức Chaigneau)
    Theo Tôn Thất Bình (Kể Chuyện Các Vua Nguyễn)


    http://www.huexuavanay.com/en/empero...-gia-long.html
    Trăng tàn, nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,281 Bài viết

    • 2,965 Được cảm ơn

    #5
    Vua Thành Thái và giai thoại tuyển phi

    30/03/2011 GMT+7
    Triều Nguyễn (1802-1945) trải qua 13 đời vua, mỗi vị vua đều tuyển chọn cho mình những cung phi mỹ nữ để phục vụ cuộc sống hàng ngày. Đa số các vua triều Nguyễn chọn con gái của các quan đại thần trong triều. Con của người có phẩm trật cao được tuyển vào cấp bậc cao, phẩm trật thấp thì cấp bậc thấp; con gái thường dân được vào cung phải là sắc nước hương trời. So với các vua triều Nguyễn, vua Thành Thái có một giai thoại tuyển phi khá kỳ lạ.

    Lên ngôi khi mới 10 tuổi


    Thành Thái (1889-1907), tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con trai thứ 7 của vua Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân) và bà Phan Thị Điểu, sinh ngày 22/2 năm Kỷ Mão (14/3/1879). Sau khi vua cha bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế truất, hoàng tử Bửu Lân bị quản thúc ở giảng đường Viện Thái Y, năm 1884 được theo mẹ về quê (làng Phú Lương, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế), năm 1888 trở lại kinh đô và ở trong Đại nội để lo hương đăng cho nhà thờ Dục Đức đường. Vua Đồng Khánh băng hà vào lúc năm cùng tháng tận, làm cho triều Nguyễn và người Pháp hết sức bối rối. Việc lựa chọn người nối ngôi cần phải nhanh chóng để tân xuân kịp có tân quân nên Viện Cơ mật vội vã thỉnh ý Lưỡng cung (Nghi Anh hoàng hậu - vợ vua Thiệu Trị và Lệ Thiên Anh hoàng hậu - vợ vua Tự Đức) rồi sang Tòa Khâm sứ Pháp lấy ý kiến. Cuối cùng cả hai bên đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân lên ngôi, lúc đó mới được 10 tuổi. Ngày mồng 1 Tết (31/1/1889), triều đình làm lễ chính thức tôn hoàng tử Bửu Lân lên ngôi, lấy niên hiệu Thành Thái.
    Việc chọn hoàng tử Bửu Lân lên ngôi vua được nhiều người nhắc đến. Nguyễn Phúc tộc thế phả kể lại đoạn Viện Cơ mật hỏi ý kiến viên khâm sứ Pháp: “Hiện nay vua Đồng Khánh mất, theo quý khâm sứ thì nên chọn ai?”. Nhưng ông Diệp Văn Cương là thông dịch viên - dượng của hoàng tử Bửu Lân lại dịch là: “Nay ông vua Đồng Khánh mất, Lưỡng tôn cung và Cơ mật viện đều đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân lên nối ngôi, vậy ý kiến của quý khâm sứ thế nào?”. Nghe vậy, viên khâm sứ đáp: “Nếu Lưỡng tôn cung và Cơ mật viện đã đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân thì tôi cũng xin tán thành”. Lời của viên khâm sứ lại được ông Diệp dịch khác đi: “Theo ý tôi thì Cơ mật viện nên chọn hoàng tử Bửu Lân là hợp lý hơn cả”. Nghe thế, các quan cơ mật ra về và liền đi rước hoàng tử Bửu Lân lên ngai vàng.

    3302011141018325

    Giai thoại tuyển phi

    Thành Thái là một vị vua thông minh, khỏe mạnh, lanh lẹ, có tinh thần yêu nước, chống đối thực dân Pháp, coi thường bọn đại thần nịnh bợ như Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải. Vì thế, thực dân Pháp lấy cớ ông bị bệnh tâm thần, ép triều Nguyễn bắt ông thoái vị năm 1907 và đưa ông vào an trí tại Vũng Tàu, rồi đày qua đảo Réunion năm 1916.
    Trong thời gian vua Thành Thái ngồi trên ngai vàng, nhà vua thường hóa trang làm thường dân khi vi hành. Thậm chí có khi ông cải trang thành một người ăn mày để hiểu thêm nỗi đau nhân thế. Nhưng có lẽ cuộc vi hành thú vị nhất của vua Thành Thái là cải trang thành một thư sinh lên xứ Kim Long chơi. Sau khi thăm đủ nơi chốn trên vùng đất thanh lịch, yên tĩnh và có nhiều thôn nữ xinh đẹp, vua Thành Thái cùng một số tùy tùng bước xuống bến đò. Bỗng thấy cô lái đò xinh đẹp, vua Thành Thái muốn gợi chuyện. Đò vừa ra khỏi bến, vua Thành Thái ỡm ờ hỏi cô gái:
    - Này o tê, có ưng làm vợ của vua không?
    Ngây thơ không biết đó là nhà vua cải trang, cô gái nửa đùa nửa thật đánh bạo nói: “Ưng”.
    Thế là vua Thành Thái đứng dậy, cầm tay nàng kéo ra mũi thuyền, bước nhanh ra sau đò, cầm lái, giành lấy chèo từ tay người đẹp, mặc cho nàng đỏ mặt thẹn thùng. Nhà vua bảo: “Rứa thì quý phi ngồi nghỉ để trẫm chèo cho!”. Nói rồi vua Thành Thái đích thân chèo đò xuôi dòng Hương từ Kim Long đến bến Nghinh Lương đình, trước Phu Văn Lâu. Đò cập bến, vua Thành Thái bảo mọi người tiễn đưa “quý phi vào nội” thể theo nguyện ước của nàng.
    Thật là một lối tuyển cung phi mới lạ! Câu ca dao:
    Kim Long có gái mỹ miều
    Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

    hẳn xuất phát từ giai thoại này.
    Thành Thái là vị vua có tinh thần dân tộc, có tư tưởng chống thực dân Pháp và ghét bọn đại thần nịnh bợ. Chính vì thế, vua Thành Thái không được lòng khâm sứ Pháp và một số đại thần trong triều, nên chúng tìm mọi cách phế truất, lấy lý do vua bị điên. Cuối cùng Hội đồng Phụ chính cùng với khâm sứ Pháp ra một bản thông báo chung nhấn mạnh rằng: “Vì Thành Thái mắc bệnh điên nên hai chính phủ đã quyết định như vậy để bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như chính bản thân nhà vua”. Như vậy, Thành Thái làm vua được 18 năm, bị phế truất năm 1907. Ông mất tại Sài Gòn ngày 24/3/1954, thọ 74 tuổi, được con cháu đưa về chôn cất ở Huế.

    www.vietyo.com_94bbfe2fe768cd
    www.vietyo.com_94bbfe306bd175

    www.vietyo.com_94bbfe2f717d5d

    www.vietyo.com_94bbfe3e7b888d

    www.vietyo.com_94bbfe5b95c234

    http://www.thegioimoi.vn/cps/phaplua...11/3/1351.aspx
    Trăng tàn, nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,685 Bài viết

    • 4,230 Được cảm ơn

    #6
    Nhiều chuyện thâm cung bí sử ly kỳ của VN mà dc làm thành phim thì cũng hay và hấp dẫn phải biết! Chỉ có điều, làm sao cho vừa hay mà vừa ra văn hóa Việt mới là bài toán nan giải!
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của Bali
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 4,890 Bài viết

    • 4,427 Được cảm ơn

    #7
    lịch sử vua chúa VN hay như vậy mà các con cháu sau này ko được biết...trong khi đó ls TQ thì thuộc hơn
    U're my Sunshine
    eNortjKzUjI0NrQwMFWyBlwwFW0Czw,,95
    • Avatar của 3012
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 11 năm
    • 4,611 Bài viết

    • 10,009 Được cảm ơn

    #8
    Về chuyện vợ vua Lê Thánh Tông là con gái Nguyễn Trãi mình cũng có đọc đâu đó vài lần.
    Nhưng bà tên là Nguyễn Thị Huyền chứ ko phải là Hằng- theo sách mình đọc.
    Và ko phải vì vua Lê Thánh Tông lấy bà làm vợ mà minh oan, rửa tội cho Nguyễn Trãi.
    Mẹ vua Lê Thánh Tông là bà phi Ngọc Dao đc Nguyễn Trãi bảo vệ trc hoàng hậu Nguyễn Thị Anh nên vua và mẹ mới trốn thoát. Rồi gia đình Nguyễn Trãi bị vu oan, sau này hoàng tử Lê Tư Thành lên ngôi là vua Lê Thánh Tông nhớ ơn gia đình Nguyễn Trãi nên giải oan cho Nguyễn Trãi và con gái Nguyễn Trãi là bà Huyền đc tuyển vào cung, phong làm hoàng hậu. Nhưng sau này bà cũng bị vua xa lánh.
    Ôi, tớ ham đọc sử sách VN lắm. Nhiều chuyện lịch sử rất là hay.
    Ấn tượng nhất là 2 bà 2 lần làm vợ vua: Dương Vân Nga và Lê Thị Ngọc Bình.
    Ngoài ra còn bà Nguyễn Thị Duệ - giả trai đi thi và đỗ tiến sỹ nữa.
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #9
    Gặp các bà hoàng cuối triều Nguyễn


    Học giả Lê Văn Hiến viết lại về cuộc gặp với bà hoàng Nam Phương, bà Thành Thái và bà Duy Tân theo lệnh của Hồ Chủ tịch.

    Gặp bà Nam Phương

    Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1945, anh em cho biết bà Nam Phương mời tôi gặp bà 9 giờ hôm nay.

    Đúng giờ hẹn, tôi và đồng chí Hải Triều (tức là đồng chí Nguyễn Khoa Văn) và một đồng chí nữa (tôi quên tên) đến cung An Định, chỗ ở của bà Từ Cung, mẹ Vĩnh Thụy, và bà Nam Phương.

    Bà Nam Phương ra sân tiếp tôi và mời vào phòng khách. Phòng trang hoàng rất lịch sự và kiểu cách Âu châu. Nam Phương có tiếng là người lịch thiệp, tuy tuổi đã hơi cao, nhưng vẫn còn phong cách của một bà Hoàng có sắc đẹp nổi tiếng.

    Bà vừa rót nước trà mời khách, vừa tỏ lời hỏi thăm sức khỏe của tôi đi đường từ Hà Nội vào Huế thế nào?

    images604457_1012280namphuong
    Nam Phương hoàng hậu - Ảnh: art2all.net

    Tôi trả lời: “Cảm ơn bà, sức khỏe vẫn bình thường” và nói tiếp: “Trước khi đi vào đây, tôi có đến gặp Cố vấn và thấy ngài vẫn khỏe mạnh”.

    Khi tôi nói bà chú ý nghe một cách chăm chỉ, rồi tự nhiên bà xách ghế đến ngồi gần bên tôi và hình như bà muốn nghe lại lời tôi vừa nói. Tôi ngạc nhiên chưa hiểu ra sao thì rất may, đồng chí Hải Triều nhanh ý lại rỉ tai cho tôi biết bà nặng tai phải nói to bà mới nghe được.

    Tôi vừa nhắp cốc nước trà vừa nhắc lại rõ ràng từng câu lời tôi vừa mới nói.

    Bà cảm ơn, vui vẻ.

    Từ đây bắt đầu vào câu chuyện chính.

    - Thưa bà cố vấn, tôi được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy thác vào gặp bà nói lên lời hỏi thăm của Người về sức khỏe của bà và các con bà: Đồng thời Hồ Chủ tịch cũng có ý định mời bà và các cháu ra Hà Nội ở cùng với cố vấn để cho gia đình đoàn tụ vui vẻ hơn cảnh như lâu nay mỗi người mỗi ngã. Chính phủ sẽ lo chu tất mọi việc cho ông bà. (1)

    Đầu tiên, khi nghe tôi nói Hồ Chủ tịch gửi lời hỏi thăm và chúc sức khỏe bà và các con, bà tỏ ý vui vẻ, phấn khởi hẳn lên. Đến khi nghe tôi nói ý định của Hồ Chủ tịch mời ra Hà Nội cùng ở với cố vấn, bà có vẻ đăm đăm suy nghĩ. Thái độ như bàng hoàng không còn tự nhiên nữa.

    Bà tiếp tục rót nước mời tôi và đồng chí Hải Triều.

    Một lúc sau, bà mới bắt đầu nói:

    - Tôi xin nhờ ông Bộ trưởng báo cáo với Hồ Chủ tịch, tôi hết sức cảm động và vui sướng được cụ Chủ tịch gởi lời hỏi thăm sức khỏe mẹ con tôi, tôi xin vô cùng cảm tạ.

    Còn về ý định của Hồ Chủ tịch đưa mẹ con tôi ra Hà Nội cùng đoàn tụ với ông cố vấn, tôi xin có ý kiến để trình lại với cụ Chủ tịch: Hiện nay ông cố vấn một mình ở thủ đô Hà Nội, với phong cách và lối sống của ông. Nhà nước chu toàn cho đầy đủ cũng phải tốn kém lắm. Chính phủ vừa mới thành lập, trăm công nghìn việc, phải tốn kém bao nhiêu! Cần tránh những gánh nặng khác. Tôi và 4 con tôi trong này sống cũng tạm đủ. Với cuộc sống bình thường chúng tôi vẫn có khả năng tự lo liệu cũng được. Nếu mẹ con chúng tôi ra sống chung với ông Cố vấn, Nhà nước phải tốn kém gấp bội, tôi nghĩ như vậy là không đúng. Xin Hồ Chủ tịch cứ tạm để mẹ con chúng tôi tạm nương náu trong nầy, khi nào tình hình nước nhà ổn định và tốt dần lên, bấy giờ sẽ đặt vấn đề đoàn tụ của gia đình chúng tôi cũng chẳng muộn. Nhờ Bộ trưởng thưa lại với Hồ Chủ tịch hộ cho. Chúng tôi rất cảm ơn.

    Bà Nam Phương thoái thác một cách khéo léo, lịch sự. Tuy thâm tâm của bà ra sao, chưa được biết chắc chắn, nhưng cách lập luận của bà tỏ ra có lý vừa có nhân hậu.

    Thấy không có khả năng thuyết phục bà được nữa, tôi phải nhận sẽ báo cáo lại với Hồ Chủ tịch.

    Tưởng câu chuyện đến đây là xong, tôi uống hết cốc nước, rồi đứng dậy định cáo từ bà ra về.

    Bà vội vàng giữ lại và nói: “Mời ông Bộ trưởng nán lại một chốc, tôi sẽ báo cáo với bà Từ Cung, Người sẽ vui lòng tiếp ông Bộ trưởng”. Nói xong bà vội vào nhà trong ngay.

    Tôi hơi ngạc nhiên.

    Đồng chí Hải Triều cho biết bà Từ Cung là vợ Khải Định, mẹ của Bảo Đại.

    Trong lúc đang suy nghĩ sẽ tiếp xúc với bà Từ Cung như thế nào đây, thì bà Nam Phương từ nhà trong ra niềm nở mời chúng tôi vào.

    Một căn phòng trang hoàng lộng lẫy, trang trí theo kiểu phong kiến phương đông. Không có xa-lông, chỉ một cái bàn dài chạm trổ, bóng nhoáng.

    Bà Nam Phương mời tôi ngồi ghế bên phải, bà ngồi ghế bên trái.

    Hai phút sau, nghe một tiếng soạt, cửa trướng từ từ mở, một bà trạc tuổi trên dưới sáu mươi, đầu chít khăn vàng, mặc áo thêu nhiều màu sắc, từ trong trướng bước ra lên thẳng trên một chiếc ghế để sẵn ở giữa giống như chiếc ngai sơn son thếp vàng. Thấy bà Nam Phương đứng dậy, tôi cũng đứng dậy. Tôi không nhìn bà Từ Cung mà chỉ nhìn bà Nam Phương.

    Sau khi Từ Cung ngồi, bà đưa tay mời chúng tôi ngồi.

    Tôi lúng túng. “Ai sẽ bắt đầu câu chuyện đây. Bà Từ Cung chào tôi hay tôi chào bà trước?”

    Chẳng lẽ tôi chào và nói thay mặt Hồ Chủ tịch đến thăm sức khỏe bà Khải Định? - Không thể được rồi.

    Thấy tôi chưa nói được lời gì, bà Nam Phương liền đứng dậy xin phép bà Từ Cung giới thiệu ông Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi công cán ở miền Nam, ghé thăm gia đình ông cố vấn và đến chào bà Từ Cung.

    Nhận thấy lời giới thiệu vừa khéo và đúng mức, tôi đứng lên tiếp lời.

    - Được ủy nhiệm vào công cán trong nầy, trước khi ra đi, tôi có đến thăm cố vấn, ngài luôn luôn khỏe mạnh và ngài có nhắn lời thăm gia đình. Tôi đã gặp bà cố vấn và được bà giới thiệu đến thăm Từ Cung. Tôi xin tỏ lời chúc Từ Cung luôn luôn khỏe mạnh và trường thọ.

    Bà Từ Cung nhếch miệng cười tỏ lời cảm ơn.

    Bà đưa tay mời dùng trà và hỏi:

    - Ông cố vấn làm việc có được Chủ tịch Hồ Chí Minh thương mến không?

    Tôi trả lời: quan hệ giữa Hồ Chủ tịch và cố vấn luôn luôn tốt đẹp.

    Hai bà đều tỏ ý vui mừng, và đều nói rất cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Một lúc sau, bà Từ Cung đứng dậy cáo từ và ra lệnh cho bà Nam Phương tiếp tục tiếp tôi.

    Câu chuyện cũng tạm đủ, chúng tôi xin tạm biệt bà Nam Phương. Bà tiễn chúng tôi ra tận ngõ tỏ ý vui vẻ hài lòng. Nhất là bà hài lòng về việc được giới thiệu tôi đến thăm và nói chuyện với bà Từ Cung trong lúc này.

    Một vấn đề rất tế nhị mà tôi chưa nghĩ đến. Khi đến gặp bà Nam Phương, tôi không chú ý gặp bà Khải Định vì một lẽ dễ hiểu là không có nội dung gì để gặp. Một lẽ nữa, tôi với danh nghĩa được ủy thác của Hồ Chủ tịch và đại diện Chính phủ, tôi phải thận trọng trong tiếp xúc, không thể tiếp xúc tràn lan.

    Nhưng nghĩ lại, nếu tôi gặp bà Nam Phương xong rồi ra về không một câu hỏi thăm bà mẹ cố vấn Vĩnh Thụy, mặc dầu bà ở cùng một nhà, thì rõ ràng là có chỗ chưa chỉnh lắm, gây thắc mắc đối với bà Từ Cung. Bà Nam Phương đã nắm được tâm lý này, và với bản chất người lịch thiệp, nhạy cảm, đã chủ động giữ tôi lại một cách khôn khéo, thân hành tổ chức cuộc gặp gỡ giữa bà Từ Cung với tôi, tuy chỉ có tính chất hoàn toàn xã giao nhưng đối với bà Từ Cung rất có ý nghĩa.

    Gặp bà Thành Thái và bà Duy Tân

    Về trụ sở của Ủy ban Trung bộ, anh em cho biết đã tìm gặp được bà Thành Thái và bà Duy Tân. Hai bà hẹn chiều nay (10/12/1945) 15 giờ đến gặp tôi.

    Đúng 15 giờ, hai bà cùng đến một lúc. Tôi ra chào hai bà từ ngoài cửa và mời vào phòng khách.

    Hai bà hai mẫu người có chỗ giống nhau mà có chỗ khác nhau rõ rệt. Giống nhau ở chỗ tư thế đàng hoàng, lịch sự, lễ độ phong kiến, cốc cách của vị hoàng hậu trước đây. Khác nhau ở chỗ một bà - bà Thành Thái - vào trạc tuổi 60 ăn mặc trang nhã, nói năng lịch thiệp, cốc cách phong kiến nhưng thêm vẻ người tu hành thoát tục, bà đeo chuỗi hạt bồ đề trong người. Còn bà dâu - bà Duy Tân - trạc tuổi trên dưới 40, trang sức giản dị, vẫn còn giữ nét đẹp của thời trẻ, thời hoàng hậu, nhưng trông bà khỏe mạnh đượm vẻ lam lũ của người thường xuyên lao động.

    Tôi tiếp chuyện với hai bà, nhưng ngạc nhiên thấy rõ ràng hai phong cách đối xử với nhau cũng cách biệt tôn ty giữa bà mẹ chồng và nàng dâu, mặc dầu cả hai bà đều trải qua cương vị hoàng hậu. Từ đầu đến cuối buổi chuyện, bà Thành Thái vì là cương vị mẹ đối với bà Duy Tân nên bà tiếp lời hết. Bà Duy Tân không nói lời nào, thỉnh thoảng bà hé miệng cười để tỏ ý đồng tình tán thưởng.

    Sau các lời trao đổi chào hỏi thông thường có tính cách xã giao, nghi lễ, tôi bắt đầu trình bày với hai bà:

    - Thưa hai bà.

    Tôi có nhiệm vụ đi công cán ở miền Nam. Trước khi đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh có ủy thác cho tôi đến đây tìm cho được hai bà để nói lên lời ân cần thăm hỏi của Người đối với hai bà và chúc hai bà dồi dào sức khỏe và trường thọ.

    Nói đến đây, cả hai bà đều đứng dậy chắp tay vái vái vừa nói:

    - Cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh! Cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh!

    Tôi nói tiếp:

    - Người cũng nhắn thêm rằng từ ngày ông Thành Thái và ông Duy Tân vì lòng yêu nước, mong nước nhà tự do độc lập nên bị thực dân Pháp bắt đưa đi đầy các nơi xứ lạ, hai bà đều lâm vào cảnh lẻ loi, cô đơn đằng đẵng hàng mấy chục năm. Chắc hai bà có gặp nhiều khó khăn. Hồ Chủ tịch muốn báo để hai bà biết: Chính phủ Việt Nam từ nay sẽ trợ cấp cho hai bà hàng tháng mỗi bà năm trăm đồng để chi dùng trước thời buổi khó khăn này. Nếu hai bà thấy không có gì trở ngại mà vui lòng chấp thuận, tôi sẽ báo cáo với Hồ Chủ tịch để Người hài lòng.

    Nghe xong, hai bà tỏ ra vô cùng xúc động, nghẹn ngào, không nói nên lời.

    Sau phút im lặng, bà Thành Thái với nét mặt cảm động bắt đầu nói:

    - Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ, từ ngày chồng và con tôi vì lòng mong muốn cho nước nhà độc lập tự chủ, nên bị Pháp bắt đầy quê người đất khách. Chúng tôi phải lâm vào cảnh sống lẻ loi, cô đơn không ai để ý. Ngay trong hoàng tộc nhiều người cũng sợ phải liên lụy. Bản thân tôi phải nương nhờ cửa Phật lần lữa qua ngày. Không ngờ! Thật là không ngờ! Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mới thành lập mấy tháng nay, “quốc gia đại sự” dồn dập, mà Cụ Chủ tịch đã nghĩ ngay đến chúng tôi, gửi lời thăm hỏi ân cần, lại còn gửi tặng cho tôi và dâu tôi, bà Duy Tân, một món trợ cấp hàng tháng rất hậu hĩ. Chúng tôi quả thật đứng trước một bất ngờ rất lớn! Rất cảm kích!

    Nghẹn ngào! Xúc động quá! Biết nói lời gì để xứng đáng với lòng chiếu cố của Người. Bây giờ xin thế này có được không. Trước nay tôi đi tu, từ nay về sau tôi vẫn tu. Buổi sáng và buổi tối, tôi thường tụng kinh niệm Phật. Kinh nhật tụng của tôi thường kết thúc bằng câu:

    “Cầu chúc Hoàng Triều vạn tuế, vạn vạn tuế!”

    Giờ đây, thời thế đã thay đổi, Hồ Chủ tịch là lãnh tụ cao nhất và uy tín lớn nhất của quốc dân, để tỏ lòng biết ơn và quý mến Người, tôi sẽ sửa lại câu kết thúc kinh hằng ngày của tôi bằng câu:

    “Cầu chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn tuổi, muôn tuổi!”

    Như vậy có được không?

    Tôi trả lời: rất hoan nghênh ý nghĩ đẹp của bà.

    Rồi bà nói tiếp:

    - “Nếu vậy thì nhờ bộ trưởng báo cáo lên Hồ Chủ tịch chúng tôi vô cùng cảm tạ Người, và từ nay hàng ngày chúng tôi cầu mong Người sẽ sống, sống mãi với non sông đất nước”.

    Bà nói xong, xúc động quá, bà chớp chớp mắt hình như có chiều ngấn lệ.

    Tôi cũng rất cảm động. Rót nước trà thêm mời hai bà.

    Cuộc tiếp xúc xong. Hai bà cáo từ ra về.

    Bà Thành Thái ra về trước. Tôi đưa bà ra tận xe.

    Bà Duy Tân ở nán lại vài phút. Cầm tay tôi, bà khóc nức nở, không nói ra lời. Cuối cùng bà tạm biệt với một câu ngắn gọn và chân thật:

    - Ý nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng quá. Chúng tôi sống lẻ loi, cô đơn. Phải chịu đựng mấy chục năm nay với hoàn cảnh hết sức khó khăn. Chỉ có Hồ Chủ tịch mới nghĩ đến chúng tôi. Xin cảm ơn Hồ Chủ tịch. Cảm ơn Bộ trưởng.

    Rồi bà ra về.

    Cuộc gặp gỡ hai bà Thành Thái và Duy Tân có ý nghĩa rất tốt đẹp, đậm đà tình cảm, mang nội dung chính trị rõ nét. Các bà tin tưởng ở Hồ Chủ tịch, tin tưởng ở Chính phủ, không còn sống trong bầu không khí nơm nớp lo âu như trước nay.

    Chỉ trong thời gian nửa năm, cục diện thay đổi nhiều lần và nhanh chóng. Thực dân Pháp bị đổ, Nhật với cpbn Trần Trọng Kim nắm chính quyền, rồi lại bị đổ. Bảo Đại thoái vị. Chính phủ cách mạng ra đời với Chủ tịch Hồ Chí Minh mà lúc ấy tên tuổi của Người chưa được nhiều người biết.

    Không phải chỉ có hai bà, cả hoàng tộc, tôn thất nhà Nguyễn, con cái gia đình họ hàng các quan to của triều đình Huế trước đây đều lo âu chờ đợi, không biết rồi Chính phủ cách mạng sẽ đối đãi, xử trí thế nào đây.

    Cử chỉ đẹp đẽ của Hồ Chủ tịch đối với gia đình Bảo Đại, với hai bà Thành Thái và Duy Tân đã đánh tan bầu không khí lo sợ lâu nay. Tin hai bà được trợ cấp của Chính phủ và Hồ Chủ tịch lan ra nhanh chóng làm cho mọi người rất hoan hỉ và an tâm. Rõ ràng chính sách, cử chỉ của Hồ Chủ tịch rất tình lý, trong sáng, đi sâu vào lòng người, gây lên một hiệu quả chính trị rất rộng lớn mà mãi sau này vẫn chưa đánh giá hết.

    (1) Ngày 1/12/1945, theo sắc lệnh số 70 của Hồ Chủ tịch, đồng chí Lê Văn Hiến được cử làm đặc phái viên của chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

    Lê Văn Hiến (Trích hồi ký) - Theo Tạp chí Sông Hương

    http://bee.net.vn/channel/1984/20101...guyen-1784855/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #10
    Lý Chiêu Hoàng và vở kịch nhường ngôi (I)


    - Lý Chiêu Hoàng lên ngôi là do vua cha truyền lại. Trong chế độ phong kiến cha truyền con nối, trường hợp truyền ngôi cho con gái như Lý Chiêu Hoàng là độc nhất vô nhị. Vậy tại sao lại có sự

    Lý Chiêu Hoàng là vị vua nữ thứ hai của nước ta sau bà Trưng Trắc. Nằm ở trung tâm của vòng xoáy quyền lực, số phận của bà rất đặc biệt.

    Lý Chiêu Hoàng sinh vào tháng 9/1218, là con thứ của Lý Huệ Tông. Trước đó hai năm, người chị gái của bà là công chúa Thuận Thiên chào đời. Thuận Thiên sau này được gả cho Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh. Vì vua cha không có con trai, tháng 10/1224, khi mới được 6 tuổi, bà được phong làm Hoàng Thái tử, sau đó vua cha nhường ngôi cho, được tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

    Thật ra, việc phong con gái làm Hoàng Thái tử để truyền ngôi là bước đầu tiên trong kế hoạch đoạt ngôi nhà Lý, mà những người đạo diễn ra nó không ai khác là Trần Thủ Độ (chú) và Trần Thừa (bố của Trần Cảnh) đang là những vị quan có thế lực của nhà Lý.

    images171961_lch
    Lý Chiêu Hoàng.

    Bởi vì dù Huệ Tông không có con trai nhưng trong hoàng tộc nhà Lý, những người cùng hàng anh em hay chú bác của vua, không thiếu gì người có con trai. Vua có thể nhận một người con cháu trong hoàng tộc làm con nuôi rồi truyền ngôi cho người này (như trường hợp Lý Nhân Tông nhận con của em mình làm con nuôi rồi truyền ngôi cho người này, tức là vua Lý Thần Tông, trước đó 100 năm). Để cài được người của họ Trần vào cạnh vua, Trần Thủ Độ lúc này đang là Điện tiền chỉ huy sứ (coi giữ mọi việc quân sự ở Kinh thành) đã cho cháu mình là Trần Cảnh vào hầu vua.

    Trần Cảnh sinh ngày 16/6 năm Mậu Dần (1218) hơn Lý Chiêu Hoàng có ba tháng. Một bé trai mới 6 tuổi, con nhà quan, mọi sinh hoạt cá nhân còn phải có người hầu hạ, vậy thì Trần Cảnh sao có thể phục dịch hầu hạ được người khác? Chẳng qua là những người họ Trần, lúc này thế lực rất lớn, đã cài vào để tạo ra màn kịch kết hôn mà thôi.

    Về việc Lý Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh, Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư (hai bộ sử tin cậy nhất của ta) đều ghi chép tương tự như nhau. Đó là do Lý Chiêu Hoàng "yêu" Trần Cảnh, "thấy Trần Cảnh đẹp trai nên phải lòng".

    Thực ra thì hai đứa trẻ đang ở tuổi lên 6 thì làm sao đã biết "yêu". Chẳng qua là trong cung điện thâm nghiêm, kín cổng cao tường, toàn là người lớn và luôn mang vẻ mặt nghiêm nghị (vì ở chốn cung đình đâu có được cười đùa), Lý Chiêu Hoàng chơi thân với Trần Cảnh, quyến luyến Trần Cảnh là chuyện bình thường của những đứa trẻ. Cái sự thân thiết quyến luyến đó được người lớn, mà cụ thể là các quan lại thế lực của nhà Trần ở cung đình giải thích là tình yêu nam nữ. Thế là người ta tổ chức ra một buổi lễ thành hôn cho hai đứa trẻ.

    Rồi, theo truyền thống từ xưa, vợ không thể ở địa vị cao hơn chồng, người ta lại đạo diễn ra vở kịch nhường ngôi. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh để trở thành Hoàng hậu. Trần Cảnh lên ngôi vua là Trần Thái Tông. Toàn bộ vở kịch đó được nhào nặn, sắp xếp và diễn biến trong hơn một năm. Lúc này hai vợ chồng đều mới 7 tuổi (sử ghi 8 tuổi là tính tuổi ta).

    Phan Duy Kha

    (còn tiếp)

    http://bee.net.vn/channel/1984/20091...goi-I-1729028/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #11
    Cuộc đời éo le của Lý Chiêu Hoàng: Kết thúc có hậu


    - Cuộc đời Lý Chiêu Hoàng là một bi kịch về những mưu đồ chính trị mà bà bị đẩy vào. Cũng may, cuối cùng số phận không đến nỗi bất công khi cho bà một bến đỗ bình yên vào cuối đời.

    Lý Chiêu Hoàng đang từ ngôi chí tôn, phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, xuống làm Hoàng hậu gọi là Chiêu Thánh Hoàng hậu. Hai vợ chồng ăn ở với nhau được 12 năm. Lúc này đã thành hai thanh niên ở độ tuổi trưởng thành, 19 - 20 tuổi, cái tuổi đáng lẽ tình yêu phải nở hoa kết trái.
    Nhưng thật không may, Hoàng hậu không hề có thai. Lúc này, người chị gái của Chiêu Thánh là Thuận Thiên lấy Trần Liễu, anh vua, đang mang thai. Sợ vua không có người nối dõi, rồi lại sinh chuyện như nhà Lý, triều đình nhà Trần đã có một quyết định hết sức trái với luân thường đạo lý.

    images177158_T4%20Den%20Rong-noi%20tho%20Vua%20Ly%20Chieu%20Hoang
    Đền Rồng, nơi thờ vị nữ hoàng duy nhất của Việt Nam ở thôn Long Vỹ, phường Đình Bảng, Bắc Ninh trước khi bị phá đi xây lại.

    Đó là, bắt Trần Liễu phải nhường vợ cho em trai mình là Trần Cảnh. Thế là nàng Thuận Thiên, chị gái của Lý Chiêu Hoàng lại trở thành Hoàng hậu, vợ của Trần Cảnh. Còn Lý Chiêu Hoàng bị đánh tụt xuống làm... công chúa và phải vào ở lãnh cung.

    Lý Chiêu Thánh an phận trong lãnh cung, với địa vị là công chúa hơn 20 năm trời. Từ một cô gái trẻ trung xinh đẹp, đầy quyền uy khi xưa (nữ hoàng rồi Hoàng hậu) giờ bà đã 40 tuổi, vò võ một mình trong hoàn cảnh rất trớ trêu. Giữa lúc đó thì tướng quân Lê Phụ Trần, một người có công lớn trong việc đánh lui quân Nguyên (lần thứ nhất, vào năm 1257), ông được vua ban khen và gả công chúa cho. Nàng công chúa đó chính là Chiêu Thánh. Số phận tưởng chừng như quá hẩm hiu, không ngờ lại thành ra có hậu.

    images177159_T4%20-%20Den%20Rong

    Từ ngày trở thành vợ của tướng quân Lê Phụ Trần, Lý Chiêu Thánh mới được hưởng tình yêu và hôn nhân đích thực. Và cuộc đời bà đã nở hoa kết trái. Bà sinh cho ông hai người con: Con trai tên là Tông được phong tước Thượng vị hầu (1), con gái tên là Khuê, được phong Ưng Thuỵ công chúa.

    Bà mất tháng 3/1278 khi vừa tròn 60 tuổi (sử ghi 61 tuổi là tính theo tuổi ta). Theo truyền thuyết dân gian thì tuy vào tuổi 60, nhưng Chiêu Thánh vẫn còn là một người phụ nữ rất đẹp, má bà vẫn hồng, môi đỏ và đặc biệt tóc không hề có sợi bạc. Mộ bà được táng tại khu lăng mộ các vua nhà Lý ở Đình Bảng, gọi là lăng Cửa Mả.

    Ở đây bà được thờ ở một ngôi đền riêng gọi là đền Rồng. Vì bà đã lấy chồng (xuất giá) nên không được thờ trong đền thờ 8 vị vua triều Lý (đền Lý Bát Đế). Ngày 9/11/2009, UBND TP Hà Nội đã tổ chức gắn biển "Công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội" cho di tích đền Rồng. Đền được xây dựng từ thế kỷ XIII, đã bị xuống cấp nghiêm trọng.

    Cuộc đời của Lý Chiêu Hoàng nằm ở trung tâm của vòng xoáy quyền lực. Vì vậy mà số phận của bà rất đặc biệt, bị quăng lên quật xuống không biết bao nhiêu lần. Tuy nhiên, số phận cuối cùng cũng mỉm cười với bà, khi bà bước ra ngoài vòng xoáy đó. Bà sinh ra để làm một người phụ nữ bình thường, yêu chồng, thương con, sống một cuộc đời bình dị.

    Phan Duy Kha

    http://bee.net.vn/channel/1984/20091...o-hau-1729508/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #12
    Chuyện bà hoàng Từ Dũ dạy con làm vua


    - Ở nước ta duy nhất tên một Hoàng Thái Hậu của một triều đình phong kiến được đặt cho một cơ quan , đó là Bệnh viện Từ Dũ ở TP.HCM. Từ Dũ là mẹ vua Tự Đức. Bà được nhân dân tôn vinh, truyền tụng vì bà là người phụ nữ nhân cách cao quý, chính trực, một người mẹ đã từng “dạy con làm vua”!

    Quý phi được cùng vua chấp chính

    images293479_Ho_ng_th_i_h_u_Tu_Du
    Hoàng Thái Hậu Từ Dũ

    Thái Hậu Từ Dũ tên thật là Phạm Thị Hằng, là con của Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, sinh ngày 10/6/1810, quê ở Tân Quy, Tân Hào, tỉnh Gia Định (đất Gò Công xưa, nay là Tiền Giang).

    Đất miền Nam xưa có 3 người phụ nữ tài sắc được tuyển vào cung Triều Nguyễn, trong đó đất Gò Công chiếm tới hai: Bà Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị và Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại.

    Từ nhỏ bà Hằng là người thông minh, ham đọc sách, thông kinh sử, lớn lên trong nề nếp đạo đức nho phong của gia đình. Biết tiếng, vợ vua Gia Long đã tuyển Hằng vào cung làm vợ lẽ cho Hoàng tử trưởng Miên Tông (con Minh Mạng) năm bà 14 tuổi. Năm 1829, bà sinh ra Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Đầu năm 1841, vua Minh Mạng băng hà, Miên Tông lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiệu Trị. Đầu năm 1846, bà được phong là Quý Phi.

    Theo sách Đại Nam chính biên liệt truyện (NXB Thuận Hóa,1993) thì vua Thiệu Trị rất tin vào kiến thức và sự nhạy cảm chính trị của vợ.

    Khi thiết triều, vua ngồi ở điện Khâm Văn nghe chính sự, cho bà Từ Dũ ngồi sau tường nghe các quan tâu việc, nghe vua phán. Sau đó bà sẽ nhận xét cho vua từng việc một. Khi vua Thiệu Trị đau yếu, mọi việc triều chính đều ủy thác cho bà đảm trách. Cuối năm 1947, vua Thiệu Trị qua đời, Hồng Nhậm lên ngôi đặt nên hiệu Tự Đức .

    Vua Tự Đức được mẹ giáo dục kiến thức, lễ giáo từ nhỏ. Bà là người thầy quyết định sự hình thành tri thức cũng như đạo lễ và nếp sinh hoạt Nho giáo, khuôn phép của vua sau này. Chính vì vậy mà Hồng Nhậm tuy nhỏ tuổi hơn, nhưng vẫn được vua Thiệu Trị chọn làm người kế vị. Hồng Bảo tuy là anh, con vợ cả, nhưng lười học, chơi bời lêu lỏng nên không được chọn.

    Dạy con làm vua

    Từ nhỏ Hồng Nhậm đã chăm đèn sách, dùi mài kinh sử, khi đã thành vua, tuy việc nhiều, ông cũng không quên học hành.

    Bà Từ Dũ thường dặn con: "Người ta có học rồi mới biết thiện ác... Phải nhớ câu: Nhân bất học bất tri đạo” (người không học thì không biết đạo lý). Khi đã là vua, tối tối Tự Đức có lệ đọc kinh sử cho mẹ nghe. Đến đoạn quan trọng, bà thường phân tích cho vua biết những ý tưởng sâu xa, những kinh nghiệm để điều hành triều chính. Bà đánh giá sâu sắc các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc như Hán Vũ Đế, Tần Thủy Hoàng, Khổng Minh, Phạm Lãi... cho con nghe để rút bài học khi làm vua trăm họ.

    Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (dẫn theo nhà nghiên cứu Thái Bình), bà Từ Dũ còn can gián vua biết trọng dụng người trung thực, người tốt. Chuyện rằng, khi mới lên ngôi, vua Tự Đức có nhiều lúc xao nhãng công việc triều chính. Quan trong triều không ai dám can ngăn. Chỉ có Phạm Phú Thứ dâng sớ trách vua.

    Vua Tự Đức tuổi còn trẻ nên rất bực tức, liền cách chức Phạm Phú Thứ, đuổi về làm lính. Chuyện đến tai bà Từ Dũ.

    Bà hỏi vua: "Ông Phạm dâng sớ khuyên con thì ông được cái gì?”. Tự Đức thưa: "Dạ, ông không được gì, nhưng con thấy làm bề tôi mà trách vua thì quá đáng lắm". "Thế khi bị con giáng chức, xuống làm lính, ông Phạm có oán giận gì không?”. “Con không nghe có chuyện ấy”.

    Bà Từ Dũ từ tốn giải thích cho vua: "Thế thì người này đáng trọng lắm. Dâng sớ trách như vậy là vì có lòng thương vua. Lúc bị nạn lại chỉ cam chịu, mà không đem lòng oán giận, thì theo mẹ đấy là người chính trực, trung thành. Con nên nghĩ lại. Đất nước cần những người như thế". Vua Tự Đức nghe ra, liền xuống chiếu ân xá, triệu Phạm Phú Thứ về kinh, giao chức vụ mới.

    Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, chép rằng: "Đức Từ Dũ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dũ ban câu chi hay, thì Tự Đức liền biên ngay vào một quyển giấy gọi là Từ Huấn Lục.

    Dạy con làm người

    Một hôm rảnh việc nước, Vua Tự Đức ngự bắn tại rừng Thuận Trực, gặp phải khi nước lụt. Còn hai ngày nữa thì có kị đức Hiến Tổ, mà ngài chưa ngự về. Đức Từ Dũ nóng ruột, sai quan đại thần là Nguyễn Tri Phương đi rước.

    Nguyễn Tri Phương đi được nửa đường, vừa gặp thuyền ngự đương chèo lên, mà nước thì chảy mạnh, thuyền không đi mau được. Gần tối thuyền ngự mới tới bến. Khi ấy trời đang mưa, mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng sang cung, lạy mẹ xin chịu tội.

    Đức Từ Dũ ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi cả. Ngài lấy một cây roi mây, dâng lên để trên ghế trát kỷ rồi ngài nằm xuống xin chịu đòn. Cách một hồi lâu, Đức Từ Dũ xoay mặt ra lấy tay hất cái roi mà ban rằng: "Thôi, tha cho! Đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kị".

    Năm 1858, Tự Đức bàn với triều thần phá lệ cũ, phong Hoàng Thái Hậu cho mẹ (Triều Nguyễn có lệ không lấy Trạng nguyên, không phong Hoàng Hậu). Nhưng bà Từ Dũ hai lần từ chối.

    Bà giải thích với triều thần một cách tỉnh táo và tâm huyết: “Tăng thêm hư danh cho đẹp đẽ trong tình cảnh đất nước như bây giờ, thì cũng bằng làm tăng cái thất đức của ta mà thôi... Ta chỉ mong các khanh hết sức giúp vua, khiến ta ngày càng thấy sự đổi mới của đất nước, thì không có cái vinh nào hơn thế! ”. Năm bà 60 tuổi (1870) bà mới nhận tấn phong, nhưng bảo không được tổ chức lễ lạc tốn kém.

    Bà thường hỏi han nhà vua về việc dùng người, dặn vua phải cảnh giác với bọn quan lại tham ô: "Từ xưa đến nay, nói đến quan lại thì chỉ một chữ THAM là chưa trừ được. Mọt nước hại dân là ở đấy. Quan lại bổ ra tỉnh, khi về vị nào vị nấy chở đầy túi. Của ấy không lấy ở dân thì lấy đâu ra?”.

    Bà thường khuyên vua: “Phép giữ nước là phải được lòng người. Muốn được lòng người thì phải đặt quan lại cho xứng chức, dân mới lạc nghiệp. Dùng người tốt mới có lợi cho đất nước”.

    Có lần, có người trong họ Phạm từ Gò Công ra Huế cầu xin vua ban cho một chức tước. Bà nổi giận bảo vua: "Người trong họ của mẹ, hễ không có công lao gì thì không được ban cho tước lộc. Hễ ai làm gì trái phép nước thì cứ nghiêm trị như thường, để làm gương công minh”.

    Bà Từ Dũ luôn hướng vua đến việc bảo vệ văn hóa dân tộc, nhớ về cội nguồn của mình. Tương truyền, bà đã sai người bới món mắm tôm chà ở tận Gò Công ra Cung để ăn cho “đỡ nhớ”!

    Tự Đức là một nguời rất mê hát bội (tuồng). Một lần vua cho đội tuồng cung đình diễn vở Tàu chuyện Phàm Lê Huế giết cha, giết anh. Bà Từ Dũ ngồi xem, nghiêm mặt bảo: "Sao lại diễn ra quá kỹ cái trò thất đức như vậy? Con giết cha, anh giết em thì còn gì là đạo lý nữa? Nước mình khác, nước người khác, không được bắt chước mà diễn xằng bậy!”. Vua Tự Đức phải nhận lỗi trước mẹ!

    Năm 1883, vua Tự Đức qua đời, bà Từ Dũ đau đớn sống qua những năm tháng tao loạn của triều đình nhà Nguyễn do sự áp bức của thực dân Pháp.

    Sau khi tấn công quân Pháp bị thất bại, đêm 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi và Hoàng gia bôn tẩu. Bà Từ Dũ đã theo con đường Cần Vương chống Pháp của vua. Ra đến Tân Sở (Quảng Trị), do tình thế bức bách, bà lúc này đã 75 tuổi, sức yếu, nên đã cùng với các bà vợ của vua Tự Đức phải ở lại Tân Sở, sau đó trở lại Huế.

    Tham khảo:

    Đại Nam chính biên liệt truyện , NXB Thuận Hóa dịch và ấn hành, 1993

    “Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt nam”,

    Trung Tâm BTDTCĐ Huế và Tạp chí Xưa & Nay xuất bản, 2002


    Ngô Minh

    http://bee.net.vn/channel/1984/20100...m-vua-1743209/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #13
    Lục sử… tìm nàng 'Tây Thi' nước Việt


    Để đẹp lòng Tuyên phi Đặng Thị Huệ, chúa Trịnh Sâm không ngừng dùng ngân khố làm nên những trò vui mới. Điều này được cho giống tích Phù Sai được Tây Thi, chiều chuộng nàng đến nỗi “muốn gì được đó”.

    Với sắc đẹp được miêu tả là “mày ngài mắt phượng, vẻ người mười phần xinh đẹp” (Hoàng Lê nhất thống chí), Đặng Thị Huệ trở thành đệ nhất mỹ nhân trong phủ Chúa và được người đời sau liệt vào “tứ đại mỹ nhân” của dân tộc Việt.

    Tỳ nữ… bỗng thành ái phi

    Theo từ điển Lịch sử nhân vật Việt Nam, Tuyên phi Đặng Thị Huệ là một người đã gây ra nhiều tai ác trong phủ chúa Trịnh và triều đình hậu Lê, ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

    Sử sách chép rằng, Thị Huệ có nguồn gốc xuất thân nghèo khổ, là cô gái hái chè quê ở làng Phù Đổng, huyện Đông Anh, Bắc Ninh (nay là Hà Nội). Vì có nhan sắc, nói năng nhanh nhẹn, làm việc hoạt bát nên Thị Huệ được phủ Chúa chọn vào làm thị tỳ cho một trong những bà Tiệp Dư của Trịnh Sâm là Trần Thị Vinh. Xét về thứ bậc, Tiệp Dư chỉ là vợ thứ của Chúa, cho nên thị tỳ của vợ thứ chẳng danh giá gì. Tuy nhiên, thị tỳ Đặng Thị Huệ lại khôn khéo tận dụng mọi cơ hội để mở lối tiến thân và đã thành công.

    CDV-14.2-DTH-in
    Tuyên phi Đặng Thị Huệ được người đời sau liệt vào “tứ đại mỹ nhân” của dân tộc Việt.

    Sách Hoàng Lê Nhất thống chí đã ghi chuyện tiến thân của Đặng Thị Huệ: “Bấy giờ, bốn phương yên ổn, kho đụn đều tích chứa đầy, cho nên, Chúa dần dần kiêu căng, ăn chơi xa xỉ, phi tần và thị nữ được kén chọn rất nhiều, cốt sao đắm say cho thỏa thích. Một hôm, có bà Tiệp Dư tên là Trần Thị Vinh, sai ả nữ tỳ là Đặng Thị Huệ, bưng khay hoa đến dâng nơi chúa ngồi. Ả nữ tỳ này người làng Phù Đổng, mắt phượng mày ngài, dáng người tuyệt đẹp. Chúa trông thấy thì ưa, bèn tư thông với ả…”.

    Thị Huệ ngày càng trở nên gần gũi hơn với Chúa Trịnh, được sủng ái và lập làm Tuyên phi.

    Muốn thứ gì, Chúa ban thứ đó

    Sau khi vào phủ Chúa, Đặng Thị Huệ vốn khéo ngon ngọt yêu chiều, được Trịnh Sâm coi như báu vật, ngọc ngà, xin vật gì Chúa cũng cho, nên thoả sức điểm trang lộng lẫy, tận hưởng xa hoa. “Ả được đặc ân ở chung với chúa, cứ y như một cặp vợ chồng những nhà thường dân. Mọi vật dụng như xe, kiệu, áo quần... đều được sắm hệt như của Chúa…”, Sách Hoàng Lê Nhất thống chí chép.

    Để chiều lòng người đẹp, Chúa không ngừng dùng ngân khố để làm nên những trò vui mới. Cứ đến dịp trung thu hằng năm, Chúa cho lấy những vật liệu quý trong kho ra làm đèn lồng – mỗi cái ước tính khoảng vài chục lạng, và dựng hàng trăm cây phù dung ven hồ Long Trì tại Bắc cung để treo đèn. Trịnh Sâm còn cho quan lại và phi tần, cung nữ trong phủ chúa mặc sức vui chơi, nhưng cũng không quên phục vụ Chúa và Tuyên phi. Tích này được ví giống Ngô Phù Sai cho xây cung Quán Khuê làm từ châu báu để Tây Thi chơi; rồi còn cho làm Hưởng Điệp Lang - là chiếc guốc có thể kêu leng keng theo mỗi bước chân của Tây Thi.

    Theo sử sách, Chúa Trịnh Sâm có ngọc dạ quang, đây là chiến lợi phẩm của một trận đánh phương Nam, nên rất quý viên ngọc này. Trong một lần lấy viên ngọc xem, Thị Huệ lấy tay mân mê viên ngọc, Chúa nói: "Nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc sây sát!". Thị Huệ bèn ném viên ngọc xuống đất mà khóc rằng: "Làm gì cái hạt ngọc này! Chẳng qua vào Quảng Nam kiếm giả Chúa hạt khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của khinh người như vậy?". Rồi Thị tự ý bỏ ra ở cung khác, từ chối không gặp Chúa nữa. Chúa phải dùng nhiều cách dỗ dành cho Thị Huệ vui lòng, lúc ấy mới chịu làm lành.

    Đặng Thị Huệ ngày càng nhõng nhẽo Trịnh Sâm. Tương truyền, Một lần, có tay truyền giáo người Tây Dương đem theo lọ nước hoa đáng giá mười xe ngọc, Thị Huệ bỏ cơm ba bữa làm Trịnh Sâm phải đồng ý. Lần khác, có người lái buôn mang sang đôi giày đáng giá mười dãy phố, thấy Cúa trù trừ, Thị Huệ leo hẳn lên kỳ đài dọa nhảy xuống tự vẫn, khiến Trịnh Sâm rốt cuộc cũng phải bằng lòng.

    Từ đó, không gì Đặng Thị Huệ không dám đòi, kể cả việc hỏi con gái Chúa là Công nữ Ngọc Lan cho em trai mình là Đặng Mậu Lân, một kẻ nổi tiếng có tính hung bạo, dâm dật và càn rỡ. Và cuối cùng, cũng vì mê mẩn Đặng Thị Huệ, Trịnh Sâm đã phế con trưởng, lập con trai của Thị là Trịnh Cán (5 tuổi) lên ngôi vua.
    Có thể nói, sự sủng ái quá mức của Chúa Trịnh dành cho Thị Huệ là một phần nguyên nhân gây rối loạn trong kinh thành.

    Vĩnh Khang

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...140659.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #14
    Tiết lộ 'người thứ 3' xen vào chuyện vợ chồng vua Bảo Đại

    Tuy sắc nước hương trời nhưng Mộng Điệp không phải người đẹp số 1 ở đất Hà thành thời đó. Bà từng có một đời chồng, nhưng vua Bảo Đại vẫn yêu si mê...

    Bảo Đại cưới bà Nam Phương năm 1934 khi ông 21 tuổi. Trong 12 năm “hương lửa mặn nồng” hai người có với nhau 5 người con. Thời điểm đánh dấu sự kiện vị vua thứ 13 của nhà Nguyễn kết thúc lời thề "chỉ một vợ một chồng" là lúc Mộng Điệp, người đẹp gốc Kinh Bắc sinh trưởng ở Hà Nội, xuất hiện, năm 1946.

    Duyên kỳ ngộ

    Cuộc gặp gỡ giữa Bảo Đại và Mộng Điệp cũng cós thể coi là “hữu duyên” bởi thời gian này, ông ở Hà Nội làm cố vấn Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khi đó, Mộng Điệp đang là một vũ nữ khá nổi ở Hà thành. Vốn nổi tiếng sinh đẹp lại biết cách ăn nói nên dù đã có một đời chồng (thầy thuốc-bác sĩ Phạm Văn Phán nổi tiếng ở Hà Nội lúc đương thời và một đứa con riêng) nhưng Mộng Điệp vẫn khiến cho Bảo Đại si mê.

    cdbaodai1
    Hình ảnh về già của ông vua cuối cùng triều Nguyễn và bà thứ phi Mộng Điệp.

    Sự gặp gỡ của Bảo Đại và Mộng Điệp có thể sánh như “trai anh hùng” với “gái thuyền quyên” nên điều gì cần phải đến đã đến. Hai người nhanh chóng sống cuộc sống “già nhân ngãi, non vợ chồng”.

    Theo nhiều tài liệu, sau Nam Phương Hoàng Hậu, Mộng Điệp là người phụ nữ được gần gũi Bảo Đại nhiều nhất. Bà thậm chí còn là người được ông hoàng này yêu quý hết mực.

    Sau năm 1949, khi Bảo Đại từ Hong kong về nước, bà luôn luôn được gần gũi cựu hoàng đế. Thậm chí, ở Đà Lạt, Bảo Đại còn dành tặng cho bà một toà nhà riêng, gần biệt điện hoàng đế để tiện sớm tối kề cận. Khi tháp tùng cựu hoàng sang Pháp về sống ở Cannes, bà cũng tậu một biệt thự riêng gần lâu đài Thorenc của hoàng gia.

    Sau này, khi Bảo Đại lên Buôn Ma Thuột, trông nom văn phòng Hoàng triều cương thổ (vùng đất trên cao nguyên mà Pháp dành riêng cho triều Nguyễn) bà cũng được tháp tùng. Đây là quãng thời gian đẹp và hạnh phúc nhất của hai người.

    Mộng Điệp đã sinh cho Bảo Đại 3 người con. Trong đó, có một con gái là Phương Thảo (1946) và hai con trai Bảo Hoàng (1954-1955) và Bảo Sơn (1955-1987).

    Uy lực của người đàn bà đẹp

    Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, so với Nam Phương Hoàng Hậu, Mộng Điệp có phần khéo léo hơn và khá có uy với ông hoàng. Một trong những chi tiết chứng minh sự khôn ngoan của bà thể hiện ở cách “chăm sóc” vua Bảo Đại.

    Vốn biết Bảo Đại có một tâm hồn rất nghệ sĩ và lãng mạn nên thay bằng lối tiếp xúc trang trọng xa cách, Mộng Điệp thường rất biết cách tạo không khí thân mật và ấm áp khi ở bên cạnh chồng. Trong những ngày tháng bên vị vua thứ 13 của nhà Nguyễn, bà thường trải chiếu hoa cạp điều hoặc thảm để nhà vua ngồi ăn cơm trên sàn nhà thay vì ngồi trịnh trọng trên bàn, có kẻ hầu người hạ theo lễ nghi của triều đình.

    Loại chiếu bà chọn là loại chiếu có dệt hoa và xung quanh cạp bằng vải mầu điều rất đẹp và sang trọng… Vì thế vua Bảo Đại luôn tìm được cảm giác thanh nhàn và ấm cúng bên người tình.

    Không chỉ chú ý chăm lo cho vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, từ khi trở thành thứ phi của Bảo Đại, Bùi Mộng Điệp thường xuyên đi về Huế thăm bà Từ Cung, thân mẫu Bảo Đại, tranh thủ tình cảm của bà.

    Mộng Điệp khéo cư xử nên được Hoàng thái hậu rất yêu quý. Nhiều ý kiến cho rằng, sở dĩ bà được đức Từ Cung yêu quý còn bởi xuất thân của bà có nhiều nét tương đồng với đức Từ Cung. Hơn nữa, Mộng Điệp lại sùng đạo Phật, biết chăm lo thờ phụng tổ tiên trong khi chính cung hoàng hậu vốn theo công giáo nên lơ là việc này.

    Nhờ cảm tình của đức Từ Cung mà Mộng Điệp được bà Hoàng thái hậu "ban mũ áo" sau khi làm lễ trước bàn thờ tổ tiên trong Đại Nội, chính thức công nhận là thứ phi. Tuy nhiên, dù được hoàng tộc thừa nhận, bản thân và các con đều được đưa vào tôn phổ nhưng Bùi Mộng Điệp và các con bà vẫn không được phong tước hiệu nào.

    Mặc dù vậy vai trò và vị trí cũng như thiên diễm tình của thứ phi Mộng Điệp trong cuộc đời Bảo Đại là không thể phủ nhận.

    Vân Nhi

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...139521.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #15
    Đức Từ Cung - bà mẹ vua cuối cùng


    - Bà Hoàng Thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn là Đoan Huy Hoàng Thái hậu, tên thật là Hoàng Thị Cúc, vợ vua Khải Định (1916-1925), mẹ vua Bảo Đại (1926-1945).

    Bà Thái hậu xuất thân trong họ Hoàng Văn (hay Huỳnh Văn hay Hoàng Trọng) có nhiều người đỗ đạt và làm quan to gốc ở làng Mỹ Lợi, Tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế như các ông Hoàng Văn Tuyển (1824-1879), đậu Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1851), từng làm Tổng đốc Bình Định và Thượng thư bộ Công; ông Hoàng Trọng Nhu, năm 38 tuổi, đậu Cử nhân Khoa Kỷ Dậu (1909). Thân sinh của bà là ông Huỳnh Văn Tích, đậu Tú Tài, làm Tri huyện Hoà Đa (Bình Định), thân mẫu của bà là bà La Thị Sơn.

    Tuy gốc gác, xuất thân trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan như thế, nhưng hoàn cảnh riêng của bà thì hết sức hẩm hiu.

    Chuyện trong gia đình họ Hoàng Mỹ Lợi kể rằng: Ông Tú tài Hoàng Văn Tích tuy đã làm Tri huyện nhưng gia đình rất khó khăn. Ông có với bà La Thị Huân người con trai đầu lòng Hoàng Trọng Khanh, khi sinh thêm người con gái tiếp theo là Hoàng Thị Như [1] ông phải nhờ người chị vợ là La Thị Sơn đến giúp em lo liệu việc nhà.

    images337037_hf

    Không ngờ ông thấy “mía ngon nên bứng cả bụi”, bà chị vợ La thị Sơn có mang với ông và sinh ra bà Hoàng Thị Cúc (ngày 28/1/1890). Sinh con xong, bà Sơn cảm thấy ân hận nên giao con lại cho ông Huyện và bà đi lấy chồng chính thức. Bà Cúc được dì Huân và cũng là mẹ đích, thương yêu nuôi dưỡng tận tình.

    Không may ông bà Huyện chết sớm, việc nuôi dưỡng chăm sóc bầy con trao vào tay người con trai cả Hoàng Trọng Khanh. Ông cả Khanh ham chơi, cờ bạc nên đem các bà em gái “bán” cho các nơi quyền quý giàu có để lấy tiền. Bà Hoàng Thị Cúc đoan hậu được “tiến” vào làm Thị nữ hầu hai bà Thánh Cung và Tiên Cung - vợ góa của vua Đồng Khánh.

    Theo chuyện kể trong gia đình họ Hoàng, năm 1913 ông Phụng Hoá Công - con trai cả của hai bà Thánh Cung và Tiên Cung (ông Hoàng cả), tư thông với thị nữ Hoàng Thị Cúc và sinh ra công tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.

    Năm 1916, Phụng Hoá Công Bửu Đảo được tôn lên làm vua lấy niên hiệu Khải Định, năm 1917, bà được phong Tam Giai Huệ Tần, rồi Nhị Giai Huệ Phi (1918). Vua Khải Định có hàng chục bà vợ, nhưng Huệ Phi Hoàng Thị Cúc được vua Khải Định sủng ái nhất. Cuối năm 1925 vua Khải Định băng hà , con trai bà là Vĩnh Thụy đang học bên Pháp được gọi về nối ngôi lấy niên hiệu là Bảo Đại rồi mới trở lại Pháp học tiếp. Năm 1932, vua Bảo Đại học xong về nước trị vì, tôn phong bà là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (ngày 25/3/1933).

    Thời thơ ấu bà không được học, sau khi được tiến vào Tiềm để rồi được chức vị cao dưới thời Khải Định bà đã có ý thức phấn đấu học tập. Bà đọc và viết được chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Tất cả những nghi lễ cúng kỵ phức tạp trong Nội cũng như ở các lăng miếu bà đều thành thạo.

    Trong suốt thời gian con bà tại vị hay lưu vong ở nước ngoài, mọi việc tế lễ của triều Nguyễn đều do bà chủ trì. Dưới thời Ngô Đình Diệm và các chính quyền Sài Gòn sau Diệm, bà bị làm khó khăn mọi mặt nhưng vẫn quyết tâm giữ cho được các lễ cúng kỵ trong nội. Bà đã hết sức cố gắng mới giữ được đội Ba Vũ khỏi tan rã. Nhờ thế mà ngày nay Huế còn có được đoàn ca múa Truyền thống hết sức quý giá.

    Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), đền miếu và lăng mộ các vua Nguyễn hư hại nhiều. Chính bà đã đứng ra xây dựng lại Thái Miếu và Hưng Miếu, và sửa chữa nhiều di tích khác nữa. Đối với Phật giáo, bà có nhiều đóng góp mang tính lịch sử.

    Sau ngày Bảo Đại “hồi loan” năm 1932, bà đã tác động với Bảo Đại cho Phật giáo ra đời Hội An Nam Phật học và chính Bảo Đại nhận làm Hội trưởng danh dự của hội. Nhờ thế của Bảo Đại, lãnh đạo Hội An Nam Phật Học loại trừ được những người làm tay sai cho Pháp. Người lãnh đạo hội An Nam Phật Học được bà tín nhiệm nhất là Bác sĩ Lê Đình Thám. Đến năm 1934, cũng do tác động của bà, vua Bảo Đại đã “sắc tứ’ cho các chùa Tây Thiên, Tường Vân và Trúc Lâm.

    Đặc biệt qua năm 1935, vua Bảo Đại đã nghe lời mẹ (và ông Nguyễn Khoa Tân) đến dự lễ Phật đản tại chùa Diệu Đế và cúng dường 150 đồng bạc Đông Dương cho việc tổ chức lễ Phật Đản.

    Hôm ấy, Tam Tôn Cung cúng dường 100 đồng và bà Từ Cung cúng 50 đồng. Những Phật sự như thế chưa bao giờ diễn ra đối với Hoàng gia Nguyễn. Nó đã có một tác động rất mạnh cho việc chấn hưng Phật giáo thời bấy giờ.

    Năm 1936, bà giao cho người anh cả là Hoàng Trọng Khanh cùng với dân làng dựng chùa Phật tại làng Mỹ Lợi quê hương của bà. Bà cũng đã đóng góp nhiều tiền của để tu sửa chùa Bảo Quốc và chùa Tường Vân.

    Năm 1951, bà giao cho cô dâu Bùi Mộng Điệp cùng với chú của bà là ông Hoàng Trọng Quang xây dựng chùa Khải Đoan [2] ở Buôn Mê Thuột - ngôi chùa sắc tứ đầu tiên ở Tây nguyên và cũng là ngôi chùa sắc tứ cuối cùng của triều Nguyễn.

    Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, vào các năm 1968, 1972, 1975, Chính phủ Sài Gòn đưa máy bay ra Huế mời bà vào Sài Gòn để tránh bom đạn. Nhưng lần nào bà cũng trả lời rằng:

    -“ Đồng bào còn đây, xã tắc còn đây, sống chết gì tôi cũng ở đây. Xin cám ơn!”

    Trong Tết Mậu Thân 1968, mặc cho bom rơi đạn nổ quanh nhà 79 Phan Đình Phùng (Huế), suốt ngày người ta vẫn thấy bà ngồi dưới cầu thang tụng kinh cầu nguyện cho chiến tranh sớm chấm dứt, cầu cho quốc thái dân an.

    Đến mùa thu năm 1980, bà bệnh nặng, biết mình không thể sống thêm được nữa, bà cho người mời đại diện Chính quyền thành phố Huế đến và nói:

    - Tôi vốn xuất thân trong một gia đình nghèo, không có tài sản chi hết. Tất cả những gì tôi có hôm nay đây đều là của nhà Nguyễn. Nay nhà Nguyễn không còn nữa thì đây là tài sản của nhà nước. Tôi xin bàn giao cho các ông.

    Ông Nguyễn Vương - Chánh văn phòng UBND thành phố Huế lúc ấy thay mặt chính quyền cám ơn bà. Nhờ quyết định cuối cùng của bà mà ngày nay nhà 79 Phan Đình Phùng trở thành di tích do nhà nước quản lý - kỷ niệm cuối cùng của bà Hoàng Thái hậu cuối cùng của Việt Nam.

    (Con cháu nội ngoại của bà rất đông nhưng trước khi bà mất, bà không hề cho con cháu một cái chén, một đôi đũa nào. Đầu năm 2000 vừa rồi, người ta còn được biết bà đã có công giao cho Thị vệ Nguyễn Đức Hoà bí mật giữ cho nhà nước cách mạng hai két sắt ngọc ngà châu báu của các vua Nguyễn để lại mà bà đã chuyển lên Dinh Ba Đà Lạt hồi còn chiến tranh chống Pháp).

    Bà mất ngày 3/10/1980, hưởng thọ 91 tuổi. Lăng mộ của bà được táng gần Tư Lăng (lăng Đồng Khánh) làng Dương Xuân, bà được thờ ở nhà riêng của bà trước đây tại 79 Phan Đình Phùng, Huế.

    Vì công đức lớn lao của bà đối với nhà Nguyễn, với Phật giáo ở miền Trung, với làng quê Mỹ Lợi của bà nên bà đã được tôn vinh là Từ Cung hay Đức Từ.

    Chú thích:
    [*] Nội dung bài viết nầy rút trong tập “700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế” của Nguyễn Đắc Xuân, Nxb Trẻ, TP.HCM 6/2009

    [1] Thân mẫu của nhà soạn kịch nổi tiếng Vũ Đức Duy sau nầy

    [2] Tên chùa Khải Đoan rút từ chữ Khải (vua Khải Định) và Đoan (Đoan Huy Hoàng Thái hậu) Hoàng Thị Cúc

    Tâm Hàng Nguyễn Đắc Xuân

    http://bee.net.vn/channel/1984/20100...oc-ta-1749414/
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,787 Bài viết

    • 1,207 Được cảm ơn

    #16
    Túm lại, em thấy hậu cung VN có vẻ "sạch sẽ" hơn tk nhiều nhiều lần. Các mẹ có giai thoại nào post hết lên rồi dạy con ta biết sử ta đáng tự hào thế nào :Laughing:
    Cố mà đối chọi giữ dòng Lạc Tiên


    Hạnh phúc?
    Là khi có việc gì đó để đam mê.
    Có ai đó để yêu thương.
    Và có điều gì đó để hy vọng.


    Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ.
    Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

    FzWNp8
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #17
    Xót phận bà hoàng cuối cùng của nhà Lý


    Trần Thị Dung được vua yêu và sắc phong ngôi hoàng hậu. Các anh em thân thích của bà thế lực lớn mạnh và đều giữ những chức tước quang trọng trong cung. Tuy vinh hiển vậy nhưng cuộc đời của vị hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý này vẫn đầy éo le, trắc trở.

    Năm lần bảy lượt bị bức tử

    Năm 1209, triều đình xảy ra binh biến, hoàng tử Sảm, con vua Lý Cao Tông, phải lánh nạn ở Hải Ấp. Trên đường chạy, thái tử được ông chủ thuyền cá là Trần Lý đón về nhà mình ở làng Tức Mạc (Nam Định) che chở. Tại đây, mối tình giữa hoàng tử Sảm và con gái người chủ thuyền xinh đẹp Trần Thị Dung đã nhanh chóng nảy nở. Hôn lễ giữa hai người đã được nhanh chóng tổ chức.

    Sau này, Trần Lý cùng với người em vợ của mình mộ quân về Thăng Long dẹp loạn, đón vua Cao Tông trở về chủ trì việc chính sự. Tháng 10 năm 1210, vua Cao Tông qua đời, hoàng tử Hạo Sảm lên ngôi thiên tử, lấy hiệu là Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ yêu là Trần Thị Dung về đoàn tụ.

    cd224nang1
    Tranh vẽ nàng Trần Thị Dung.

    Tuy nhiên, không được lòng hoàng Thái Hậu, Trần Thị Dung luôn bị Đàm Thái hậu (mẹ đẻ vua) cho là cùng bè đảng với quân phản trắc (trước đây, Trần Tự Khánh vì không đón được Huệ Tông về kinh đã đón một người con của vua Lý Anh Tông là Huệ Văn vương lập làm vua mới).
    Thái hậu họ Đàm thường xuyên xúi giục vua Huệ Tông đuổi nàng Thị Dung đi. Ép không được, Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của Thị Dung. Huệ Tông biết vậy, thương vợ nhưng cũng không dám ra mặt bênh vực mà chỉ tìm cách âm thầm ngăn chặn. Mỗi bữa ăn, vua lại cho gọi Thị Dung ăn cùng, chia đôi suất của mìnhvà không lúc nào để nàng ăn một mình.

    Mặc dù vậy, thái hậu vẫn nung nấu ý định giết Thị Dung đến cùng. Một lần bà sai người đem chén thuốc độc đến cung hoàng hậu, bắt nàng phải uống. Vua biết chuyện đích thân đến ngăn lại rồi cùng Thị Dung đang đêm lẻn trốn đi, nương nhờ vào thế lực của Trần Khánh. Từ đó cuộc sống của bà hoàng TrầnThị Dung mới tạm thời yên ổn.

    Chồng hóa điên, hoàng hậu bị ban cho em họ

    Vua dẫu bất bình với lối hành xử của mẹ nhưng lại là người con hiếu thuận. Khi thấy Trần Khánh làm dữ với thái hậu, ông vẫn vội vã đưa mẹ trốn lên Lạng Sơn. Trần Khánh đuổi lên Lạng Sơn, Huệ Tông lại rước mẹ về Bình Hợp. Đứng giữa mẹ và vợ; giữa tình và hiếu… lâu dần vua quá căng thẳng mà hóa điên.

    Tháng 3 năm Bính Tỵ (1216) ngay sau khi Trần Thị Dung sinh con gái đầu lòng là Thuận Thiên, thì nhà vua trở bệnh. Trong thời gian này, ông thường giả làm thiên binh, thiên tướng, đầu đội mũ cắm cờ nhỏ, tay cầm giáo mác, đùa múa từ sáng đến tối không nghỉ. Khi múa xong thì đổ mồ hôi, nóng bức khát nước, uống rượu ngủ li bì đến hôm sau mới tỉnh. Những ngày này, Thị Dung cũng sống trong lạnh lẽo và buồn bã.

    Đỉnh điểm nỗi bất hạnh của bà hoàng Trần Thị Dung là khi vua Lý Huệ Tông phẫn chí bỏ đi tu, bà trở thành món ‘lễ vật’ được ban cho Trần Thủ Độ, chính là người em họ của mình.

    Vâ Nhi

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...142110.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #18
    Dương Vân Nga - hoàng hậu hai vua


    Trong lịch sử, ít có nhân vật nữ nào lại vinh hiển bằng thái hậu Dương Vân Nga: là hoàng hậu của 2 vị hoàng đế, mẫu hậu của 3 vua.

    Lật lại lịch sử và các truyền thuyết hư thực trong dân gian có thể thấy, có những giả thuyết khác nhau về tướng mạo của Dương Vân Nga song phần lớn đều chung một nhận định, bà chắc chắn là một phụ nữ đẹp.

    Chim sa cá lặn

    Khi mới chào đời, Vân Nga rất khác thường. Cô bé khóc dạ đề 3 tháng cho tới một đêm có vị thiền sư đi qua làng, nghe tiếng khóc. Ông vào nhà, chỉ xoa nhẹ vào lưng Vân Nga khẽ ru: “Nín đi thôi, nín đi thôi /Một thân gánh vác cả đôi sơn hà” là cô bé nín bặt. Người ta cho rằng đó chính là lời sấm về cuộc đời của bà sau này.

    cdvn2
    Tranh minh họa hoàng hậu Dương Vân Nga. (Sưu tầm)

    Tương truyền, sinh thời Dương Vân Nga rất xinh đẹp. Bà có khuôn mặt bầu bĩnh rất phúc hậu song vẫn có nét thanh tú, cao sang. Nước da của bà hoàng hậu họ Dương trắng hồng và cặp mắt phượng, mày ngài lúc nào cũng long lanh đầy tình tứ.

    Nhan sắc bà được tả trong cuốn Hoàn Vương ca tích, sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ nhân dân tỉnh Hà Nam, không chỉ đẹp mà còn tràn đầy sinh lực: “Môi son rừng rực, mặt hoa rờn rờn/Mắt kia sao mọc cờn cờn/Cổ kia đã trắng lại tròn hân hân...”.

    Sự thanh thoát và uyển chuyển của người con gái đẹp họ Dương khiến mỗi nước nàng đi cả vùng thiên nhiên, cây cỏ xao động, bừng sáng: “Ðồi đông điểm ngọc, đồi tây mây vàng/Suối trong tựa ánh nguyệt tràn/Mây ngồi xổm, cá lượn đàn lên mây/Chim kề mỏ, bướm xỏ mày/Bao nhiêu suối chảy thành cây đàn cầm...”.

    Chắc hẳn chính vẻ đẹp thanh tú, mỹ miều và uyển chuyển của bà đã khiến cho cả vị chúa động Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh và sau này Thập đạo tướng quân Lê Hoàn mê đắm. Đó phải chăng cũng là lý do bà được làm chính cung ở cả hai triều đại Đinh và Tiền Lê đồng thời cũng khiến những tranh cãi về con người và phẩm hạnh của bà đến nay dường như vẫn chưa có hồi kết thúc.

    cd135dvn1
    Cố đô Hoa Lư, nơi ghi dấu cuộc đời hoàng hậu Dương Vân Nga.

    Sử xưa chỉ trích, sử nay thông cảm

    Hoàng hậu họ Dương bị các sử gia phong kiến buộc tội là “gian dâm” với tướng Lê Hoàn từ trước. Bà bị họ chì trích rất nặng nề trong việc không tròn đạo vợ chồng khi chúa động Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh vừa bị bị sát hại đã nhanh chóng trao giang sơn cho Thập đạo tướng quân Lê hoàn và trở thành hoàng hậu của vị vua này.

    Không biết hoàng hậu Dương Vân Nga có thực sự “gian dâm’ với tướng quân Lê Hoàn hay không chỉ biết, chuyện bà và vị tướng trẻ tài ba Lê Hoàn có tình cảm với nhau là có thực. Hành động bà tự tay khoác áo long bào lên tướng quân, việc khi trở thành hoàng đế, vua Lê Đại Hành mang theo bà đi đánh Tống, bình Chiêm có thể chứng minh điều này.

    Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là bởi, thực tế trong hoàn cảnh của mình hoàng hậu Dương Vân Nga vẫn còn sự lựa chọn. Khi Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị sát hại, Đinh Toàn còn nhỏ (6 tuổi) bà có thể thay quyền nhiếp chính như tiền nhân đã làm. Hoặc giả bà cứ thủ tiết, lánh đời để con cháu nhà Đinh mặc ý lựa chọn hoàng thân… Tuy nhiên, quyết định của bà là nhường lại ngai vàng cho tướng tài Lê Hoàn.

    Mối tư tình của hoàng hậu Dương Vân Nga đối với thập đạo tướng quân Lê Hoàn còn thể hiện rõ nét hơn khi bà đồng ý trở vợ ông. Ngày vua Lê Đại Hành lên đường bình Chiêm bà đã theo ông lên chiến trường, trong khi cung cấm có vô vàn cung tần mỹ nữ có thể sẵn sàng sung sướng được “giúp’ bà thay thế.

    Rồi có lần, khi vua Lê Đại Hành thắng trận trở về từ biên ải, Dương Vân Nga còn mang thuyền rồng và long sàng ra đón. Hai người đã có những giây phút cực kỳ mặn nồng bên nhau trong tiết trời mây mù vần vũ và cái tên sông Vân Sàng (Giường mây) được đặt cho cuộc gặp gỡ ấy đã khẳng định điều này ít nhiều là có thực.

    Thậm chí, có một giai thoại kể rằng, vị tướng trẻ Lê Hoàn ngay lần đầu gặp đã tức khắc bị Dương Vân Nga chinh phục. Tối đó, ông mộng thấy chim thần mang mình lên chín tầng mây, rồi thả chàng rơi trúng phòng Dương Vân Nga...

    Bảo Bình

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...145375.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #19
    Ỷ Lan - Vị Nguyên phi có tài trị nước, an dân


    avatar
    Đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan.

    Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, cũng có sách ghi tên bà là Lê Thị Yến Loan hay Lê Thị Khiết. Ỷ Lan nghĩa là dựa vào cây lan, đó là hình ảnh hết sức độc đáo của cô thôn nữ vùng Thổ Lỗi, sau này đổi là Siêu Loại (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm- Hà Nội ngày nay).

    Theo truyền thuyết, Ỷ Lan sinh ngày 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), lúc lên 10 tuổi thì mẹ mất, bố lấy vợ kế nhưng ít lâu sau cũng qua đời. Ỷ Lan là một cô gái rất xinh đẹp và chăm làm.

    Sử cũ chép rằng, bấy giờ Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai nối ngôi, lòng lấy làm lo lắng, bèn đi cầu tự ở khắp nơi. Mùa xuân năm 1063, vua Lý Thánh Tông đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Khi đi qua hương Thổ lỗi, ngài vén rèm nhìn ra, thấy thần dân đang sụp lạy, duy từ xa có người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo:

    Tay cầm bán nguyệt xênh xang,

    Một trăm ngọn cỏ lai hàng tay ta.

    Lý Thánh Tông lấy làm lạ, sai quân lính đưa cô đến trước xe hỏi chuyện. Thấy cô gái bội phần xinh đẹp, lại đối đáp lưu loát, thông minh dịu dàng, vua liền truyền đưa về kinh thành Thăng Long.

    Nhà vua lấy ngay hình ảnh của kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ ấy làm hiệu cho nguyên phi, người đương thời cũng như người bao thế kỷ qua nhân đó mà gọi là Nguyên phi Ỷ Lan.

    Vua cho xây dựng một cung điện riêng (nay là đình Yên Thái, phường Hàng Gai, Hà Nội) đặt tên là cung Ỷ Lan.

    Không lấy việc chau chuốt nhan sắc mong chiếm được tình yêu của vua, mà quan tâm đến hết thảy mọi công việc trong triều đình. Ỷ Lan khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách nên chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan, triều thần bái phục người có tài.

    Năm 1066, Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử Càn Đức (sau là vua Lý Nhân Tông, 1072-1127). Nhà vua vì đặc biệt quý Nguyên phi Ỷ Lan, vào năm 1068 đã cho đổi gọi nguyên quán của Ỷ Lan là làng Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại (nghĩa là vượt lên trên đồng loại). Địa vị của Ỷ Lan trong hoàng tộc càng trở nên vững vàng.

    Ỷ Lan không phải chỉ là cô gái đẹp mà còn là người tài cao, sắc sảo và rất có bản lĩnh. Hoàng đế Lý Thánh Tông quả đúng là người có con mắt nhìn người rất tinh tường.

    Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lý Thánh Tông thân chinh cầm quân đi đánh phương Nam, đã trao quyền nhiếp chính không phải cho Hoàng hậu Thượng Dương, cũng không phải cho Tể tướng Lý Đạo Thành, mà giao cho Ỷ Lan.

    Nguyên phi Ỷ Lan được tin cẩn trao quyền điều khiển chính sự ở triều đình, nghĩa là gần như cho bà làm vua khi vua vắng mặt.

    Cũng ngay năm ấy, nước Đại Việt không may bị lụt lớn, mùa màng thất bát, nhiều nơi sinh loạn. Thử thách quá lớn đối với vị nữ nhiếp chính còn rất trẻ. Nhưng nhờ có kế sách trị nước đúng đắn, quyết đoán táo bạo, loạn lạc đã được dẹp yên, dân đói đã được cứu sống.

    Vua đánh giặc lâu không thắng bèn giao binh quyền cho Lý Thường Kiệt, đem một cánh quân nhỏ quay về, dọc đường về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên) nhà vua nghe quan lại và dân ca ngợi Nguyên phi có tài trị nước, lòng lấy làm xấu hổ mà nói: "Nguyên phi là đàn bà mà còn làm được như thế, ta là nam nhi mà chẳng làm được gì hay sao?". Nói rồi quyết chí cho quân quay lại đánh tiếp và thắng trận giòn giã. Lần này ngài đã bắt được Chế Củ và Chế Củ xin đem đất ba châu: Địa Lý, Ma Tinh, Bố Chính (tức vùng Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc tội.

    Năm 1072, vua Lý Thánh Tông đột ngột qua đời, thái tử Càn Đức lên ngôi mới có 7 tuổi, đó là Lý Nhân Tông. Triều Lý không tránh khỏi rối ren. Nhưng khi Ỷ Lan trở thành hoàng thái hậu nhiếp chính và Lý Thường Kiệt nắm quyền nguyên soái thì nước Đại Việt lại khởi sắc, nhanh chóng thịnh cường.

    Ỷ Lan đã thi hành những biện pháp dựng nước, yên dân, khiến cho thế nước và sức dân mạnh hẳn lên. Bởi vậy, năm 1077 khi Tống triều cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược, với toàn quyền điều khiển triều đình, Ỷ Lan đã huy động cả dân tộc cầm vũ khí đánh bại quân thù.

    Ở địa vị tột đỉnh của hiển vinh, nhưng Ỷ Lan vẫn không quên cảnh ngộ của những người phụ nữ nghèo hèn, những người đã và đang sống cuộc đời còn thua kém hơn cả thuở hàn vi của bà.

    Sách sử chép rằng, vào năm Quý Mùi (1103), chính Ỷ Lan đã phát tiền ở kho nội phủ để chuộc con gái nhà nghèo bị bán do ở đợ, đem họ mà gả cho những người đàn ông góa vợ.

    Bàn về sự kiện này, sử thần ngô Sĩ Liên nói: "Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm chân chính vậy".

    Về già, Ỷ Lan để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Ỷ Lan là người sùng phật. Tính đến năm (1115), bà đã cho xây cất 150 chùa, đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương (Dương Xá, Gia Lâm).

    Sử cũ có lời định đoán rằng, hẳn là bà sám hối về việc bức hại Dương thái hậu và 72 thị nữ nên mới làm như vậy (Đấy là lỗi lớn của bà, sử không bỏ qua và chính Ỷ Lan cũng tự lấy làm tiếc).

    Nguyên phi Ỷ Lan qua đời vào ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), được đặt tên thụy là Phù thánh Linh Nhân hoàng thái hậu.

    Đương thời, cảm ơn đức cao dày của bà, nhân dân đã tôn vinh bà Ỷ Lan là "Quan âm nữ". Bà là một trong những danh nhân có tài trị nước xuất chúng của dân tộc, một phụ nữ sáng danh của lịch sử nước nhà.

    Quần thể khu di tích Ỷ Lan có chùa, đền, điện, sơn trang thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thuộc thành phố Hà Nội. Chùa và đền thờ nguyên phi Ỷ Lan còn có tên gọi chùa "bà Tấm", đền "bà Tấm", chùa Cả, đền Cả.

    Chùa có tên "Linh Nhân Tư phúc Tự" do chính Linh Nhân hoàng thái hậu Ỷ Lan xây dựng, nhiều ngôi chùa khác khánh thành vào tháng 3 năm Ất Mùi (1115).

    Hàng năm, nơi đây có hai kỳ lễ hội lớn được tổ chức vào 20 tháng 2 âm lịch và ngày 25 tháng 7 âm lịch.

    Hội tháng hai là hội chính, hội 25 tháng 7 tương truyền là ngày giỗ của Ỷ Lan, và là ngày bà làm lễ giải oan cho hoàng hậu Thượng Dương cùng 72 cung nữ bị chết oan.

    Di tích đền Ghềnh ở xã Như Quỳnh, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên cũng là nơi thờ tượng bà Ỷ Lan. Nơi đây, hàng năm tổ chức lễ hội tưởng niệm bà hai lần, từ mồng 5 đến 16 tháng 3 âm lịch mừng ngày sinh và 25 tháng 7 là ngày mất của bà./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Y-L...910/186.vnplus
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của hoa_mai
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 15,982 Bài viết

    • 33,079 Được cảm ơn

    Thành viên cảm ơn nhiều 2018
    #20
    Giải mã vụ án Ỷ Lan 'bức chết' vợ cả của vua


    (ĐVO) Sau khi được phong Linh Nhân thái phi, Ỷ Lan đã vô hiệu hóa Thượng Dương Hoàng thái hậu bằng cách bắt tạm giam vợ cả của vua cùng 76 thị nữ vào cung cấm, rồi bức chết chôn theo lăng Lý Thánh Tông.

    Nguyên phi Ỷ Lan tương truyền có tên là Lê Thị Khiết, ngoài ra bà còn có tên Lê Thị Yến, Lê Thị Yến Loan (giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho biết đó chỉ là cách phiên âm từ tên Ỷ Lan). Theo tài liệu truyện thơ của Trương Thị Ngọc Trong, một cung tần của chúa Trịnh Cương thì bà có tên là Lê Khiết Nương. Bà được cho là sinh ngày 7/3/1044.

    Năm 1117, bà mất, được hỏa táng, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Hiện nay, còn miếu thờ bà ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

    Nguyên phi Ỷ Lan được coi là phụ nữ không chỉ có sắc đẹp, mà có tài và uyên bác bậc nhất của nước Việt. Tuy nhiên, vì vụ án oan trên, các nhà chép sử khi xưa không muốn nhắc nhiều đến bà khi ghi nhận công đức xây dựng nên một nền văn hóa rực rỡ thời Lý.

    Thủ đoạn chính trị?

    Năm 1072, vua Lý Thánh Tông qua đời, Thái tử Càn Đức (con đẻ của Ỷ Lan Nguyên phi) mới 6 tuổi lên nối ngôi, hiệu là Lý Nhân Tông (1072-1127). Ỷ Lan được tôn phong Linh Nhân thái phi, còn hoàng hậu họ Dương là Thượng Dương Hoàng thái hậu – đã dựa vào thế lực của Thái sư Lý Đạo Thành, gạt Ỷ Lan ra khỏi triều đình. Ngoài ra, lễ xưa cũng quy định, hễ hoàng đế lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi thì thái hậu được quyền nhiếp chính, nhưng Dương thái hậu lại không phải là mẹ đẻ của Lý Nhân Tông, điều đó càng khiến Linh Nhân thái phi căm tức. Đến năm 1073, một vụ tàn sát bi thảm đã diễn ra, mà nạn nhân chính là Dương thái hậu cùng 76 thị nữ (cũng có sách nói chỉ có 72 thị nữ).

    Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng: “Linh nhân có tính hay ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với Vua rằng: Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý thì người khác thưởng, vậy con để mẹ già vào đâu?. Vua bèn sai giam Dương thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương rồi bức phải chết, cho chôn theo lăng của Thánh Tông.

    Phân tích bản chất vụ án này, trong cuốn Chuyện tình các vua chúa Việt Nam, TS Đinh Công Vỹ một mực cho rằng, Nguyên phi Ỷ Lan đã phạm tội “giết người hàng loạt”, đã giết hại vợ cả của chồng. “Sự tham lam quyền lực, sự ích kỉ cá nhân đã giết chết hết mọi nhân tính của Ỷ Lan”, TS Vỹ nhận xét.

    Chỉ là cái ghen thường tình của đàn bà

    Nhà sử học Lê Văn Lan và TS Phật học Thích Đức Thiện, trụ trì chùa Phật Tích, đều cùng chung một cái nhìn nhân ái về việc này: "Trong sự nghiệp làm chính trị thì âu đấy cũng là chuyện thường thấy…"

    “Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết Thái hậu, hãm hại người vô tội đến mức tàn nhẫn như thế? Ấy vì ghen là tính thường có của đàn bà, huống chi lại là mẹ đẻ mà không được dự chính sự. Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải kêu với Vua. Bấy giờ, Vua còn trẻ thơ, chỉ biết chiều lòng mẹ là thích mà không biết là lỗi to…”, Sử thần Ngô Sĩ Liên giải thích.

    TS Vỹ đáp trả rằng, ông Ngô Sỹ Liên đổ cho “ghen là thường tình”, đổ cho vua là “trẻ thơ” thì làm sao chỉ ra được kẻ có tội nữa, đều là vô trách nhiệm. Ỷ Lan vốn dĩ có những “mưu mô xảo quyệt” ngay từ khi kết hôn với vua nên bà đã “làm nên tội lớn” với triều đình, nhân dân.

    Trong khi đó, PGS-TS Nguyễn Minh Tường, Viện Sử học Việt Nam, cho rằng cần nhìn nhận nhân vật lịch sử biện chứng với tư duy khoa học. Cần “soi” hành động của bà Ỷ Lan dưới vương triều phong kiến đó, thì nó có nguyên do. Thời kỳ đó có tục “tuận tang”, tức là vua, hoàng hậu hay thái hậu mất thì đôi khi triều đình cũng chôn theo cung phi để hầu. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận uẩn khúc trên có thể là điểm đen trong cuộc đời của Ỷ Lan. Bà có công 8 phần, lỗi chỉ 2 phần. Ngay sau chuyện làm với Dương thái hậu, bà đã hối lỗi và xây dựng hàng trăm ngôi chùa để chuộc lỗi của mình.

    Sử chép lại, mùa xuân năm Quý Mão 1063 Vua Lý Thánh Tông, tuổi đã 40 mà không có con nối dõi về viếng chùa Dâu (phủ Thuận Thành, Bắc Ninh) để cầu tự, dân làng mở hội nghênh giá. Từ xa nhà vua nghe thấy tiếng hát luyến láy ngân nga ở đâu đưa đến, nhìn kỹ thấy một người con gái đứng tựa gốc cây lan. Vua cho mời vào, hỏi ra mới biết nàng ở trang Thổ Lỗi, gia đình làm nghề trồng dâu nuôi tằm. Thấy người con gái tuổi vừa đôi mươi, dáng vẻ yêu kiều quyến rũ, đối đáp thông minh, vua rước về kinh thành lập làm phi. Ỷ Lan lần lượt sinh cho Vua Lý Thánh Tông hai người con trai. Người con trai đầu là Thái tử Càn Đức (sinh năm 1066) và người con thứ hai là Minh Nhân Vương. Sau khi vua cha băng hà, Thái tử Càn Đức lên nối ngôi.


    Vĩnh Khang

    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...141683.datviet
    "Người Phụ Nữ và bông hoa là hai kỳ công tuyệt vời của Thượng Đế. Tuy nhiên bông hoa là kỳ công tuyệt vời hơn vì…nó không biết nói"
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3