TIN TÀI TRỢ.

Chuyện ít biết về hậu duệ của Phan Bội

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 630 Lượt đọc
  • 0 Trả lời

Cập nhật hằng ngày những tin tức chọn lọc từ Đọc Báo Giùm Bạn của Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 68 Bài viết

    • 95 Được cảm ơn

    #1
    Chuyện ít biết về hậu duệ của Phan Bội Châu


    GiadinhNet - Nhắc đến Phan Bội Châu, hầu hết các tài liệu lịch sử đều viết về những đóng góp của cụ với đất nước mà ít đề cập đến khía cạnh gia đình, con cháu trực hệ.

    Nhân dịp 70 năm ngày mất của Phan Bội Châu (10/1940 - 10/2010), chúng tôi đã được gặp gỡ nhiều thành viên của gia đình để hiểu rõ hơn về cuộc đời, con cái, đặc biệt là thông tin về bà chánh Huyên - người vợ đầu của cụ…

    Hai người phụ nữ phía sau con đường cách mạng

    Bà Phan Thị Thanh, cháu nội của cụ Phan Bội Châu kể với chúng tôi về những điều bà được nghe, được chứng kiến về cuộc sống của ông - bà nội mình. Theo bà Thanh, cụ Phan Bội Châu kết hôn với bà Thái Thị Huyên, quê ở huyện Yên Thành, Nghệ An. Bà Huyên làm dâu nhà họ Phan nhiều năm nhưng vẫn không có con, nên gia đình họ Phan khá sốt ruột (5 đời nhà họ Phan đều độc đinh). Sau đó, bà Huyên tình nguyện cưới vợ thứ cho chồng là bà Nguyễn Thị Em, người ở huyện Nam Đàn (Nghệ An).

    phan1
    Cụ Phan Bội Châu lúc sinh thời

    Bà Thái Thị Huyên vốn là người phụ nữ tảo tần, sinh thời làm nghề buôn vải từ Nam Đàn lên các huyện miền núi. Khi cưới vợ thứ cho chồng, bà và bà Em khá hoà thuận, thương yêu nhau. Sau khi về làm vợ cụ Phan, bà Đặng Thị Em sinh được một người con trai. Dù là con trưởng nhưng cụ Phan lại đặt tên là Phan Nghi Đệ. Bà Em sinh thêm một người con gái nữa tên là Phan Thị Cương. Còn bà Huyên, 3 năm sau ngày cưới vợ lẽ cho chồng, đã mang bầu và sinh được người con trai, đặt tên là Phan Nghi Huynh để thể hiện rõ ngôi thứ trong nhà.

    Cả hai người phụ nữ ấy chỉ được gần chồng trong một thời gian rất ngắn, phải chịu cảnh nuôi con một mình. Thời gian cụ Phan hoạt động tại Huế, chỉ có bà Em thi thoảng đi lại thăm chồng, còn bà Huyên khá bận bịu với việc buôn bán nên ít khi được gặp.

    Theo lời kể của bà Thanh, những năm tháng cụ Phan hoạt động trong các phong trào yêu nước vợ con của cụ chịu nhiều cơ cực, phiền toái, đặc biệt là bà Huyên. Cho đến khi cụ Phan xuất dương, cụ buộc phải làm giấy ly hôn thì bà Huyên mới tạm thời được nhà cầm quyền (Pháp) để yên ổn. Chính bởi những hy sinh của bà mà khi nghe tin vợ mất, từ Trung Quốc xa xôi, cụ Phan đã khóc bà qua câu đối bằng chữ Quốc ngữ: "Tình cờ động khách năm châu, hơn ba mươi năm chồng có như không, cố đứng vững mới ghê, nuốt đắng ngậm cay tròn đạo mẹ/ Khen khéo giữ nền bốn đức, gần bảy mươi tuổi sống đau hơn thác, thôi về mau cho khỏe, đền công trả nợ nặng vai con".

    Cả hai người con trai của cụ Phan là ông Phan Nghi Huynh và ông Phan Nghi Đệ đều theo cha hoạt động trong các phong trào yêu nước, chịu cảnh tù đày. Ông Phan Nghi Đệ, sinh năm 1901, con trai thứ của cụ Phan bị địch bắt đày đi Lao Bảo (Quảng Trị). Sau khi ra tù, ông Đệ sống ở quê nhà, về sau vào sống với cha, ngày hai buổi giúp cha cơm nước. Ông Đệ bị bệnh và mất vào năm 1946. Còn ông Phan Nghi Huynh cũng bị lao động khổ sai tại Nghệ An, mất khi mới hơn 40 tuổi.

    Bà Phan Thị Cương sinh năm 1902, người con gái duy nhất của cụ Phan, cũng tham gia hoạt động cách mạng. Bà Cương mất năm 1997.

    Gặp cháu đích tôn của cụ Phan giữa Hà Nội

    Mỗi khi có ai đó nhắc về ông nội và cha mình thì ông Phan Viết Hồ lại không kìm được cảm xúc. Ông Hồ bị tai biến mạch máu não đã nhiều năm nên hầu như những thông tin chúng tôi có được về gia đình đều qua lời vợ ông là bà Phạm Thị Hoà Mỹ.

    phan2
    Ông Phan Viết Hồ luôn xúc động khi nhắc đến ông nội mình.
    (Ảnh: P.H)


    Theo bà Mỹ, hai người con trai của cụ Phan Bội Châu rất khó lấy vợ vì nhiều người sợ bị liên lụy. Thật may mắn, ông Huynh được ông Đặng Thai Mai giới thiệu lấy một người họ hàng tên là Đặng Thị Liễu.

    Bà Đặng Thị Liễu sinh ra được 2 người con trai và 2 người con gái là bà Phan Thị Huy (đã mất), bà Phan Thị Thanh, ông Phan Viết Hồ và ông Phan Viết Liễn (đã mất). Ông Huynh sau này xe duyên thêm với một người phụ nữ khác là bà Hoàng Thị Thiện. Bà Thiện sinh được 2 người con là bà Phan Thị Liên và bà Phan Thị Lục.

    Cũng theo thứ bậc thì ông Hồ chính là cháu đích tôn của cụ Phan Bội Châu, mặc dù ông ít tuổi hơn so với một số người con của ông Phan Nghi Đệ. Cái tên "Phan Viết Hồ" chính do cụ Phan Bội Châu đặt trước khi ông được thành hình hài.

    Ông Phan Viết Hồ sinh năm 1941, đến năm 1953 ông cùng người em là Phan Viết Liễn được sang Trung Quốc học tại trường Thiếu sinh quân. Sau này ông Hồ kinh qua các chức Phó Giám đốc Công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh, Phó Hiệu trưởng trường Công nhân kỹ thuật Việt Xô... Hiện gia đình ông trú tại đường Tôn Thất Tùng, Hà Nội.

    Cụ Phan Bội Châu lúc sinh thời.

    Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867, quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ An). Lúc nhỏ, cụ nổi tiếng thông minh. Năm 1900, cụ đỗ thủ khoa trường Nghệ và chính thức bước vào cuộc đời hoạt động trong các phong trào yêu nước.

    Đầu năm 1905, cụ sang Nhật Bản rồi quay về dấy lên một phong trào Đông Du vào năm 1905-1908. Khoảng tháng 3/1909, tổ chức Đông Du bị giải tán và cụ Phan bị Chính phủ Nhật trục xuất. Sau một thời gian hoạt động cụ Phan bị thực dân Pháp nhờ bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24/12/1913.

    Ngày 30/6/1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu, Phan Bội Châu vừa đến ga bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước, bị giam lỏng ở Bến Ngự (TP Huế).

    Mặc dù phải sống cuộc đời "cá chậu chim lồng", nhưng cụ vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước...

    Hoàng Phương

    http://giadinh.net.vn/20101108111256...n-boi-chau.htm
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT