Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

U nang tuyến vú

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 6.1K Lượt đọc
  • 6 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của suzi2010
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 51 Bài viết

    • 24 Được cảm ơn

    #1
    Các mẹ thông thái ơi, hôm trước em đi khám tổng thể thì khi siêu âm tuyến vú phát hiện 2 cái u nhỏ (1 cái 10mm, 1 cái 6mm) ở hai bên ngực. Em đang hoang mang lắm, bắt đầu từ đâu bây giờ? khám chuyên khoa sâu ở bác sỹ nào, các mẹ giúp em với. Em ở Hà Nội ạ. Cảm ơn các mẹ nhiều
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của nike.pro
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 7 năm
    • 41 Bài viết

    • 13 Được cảm ơn

    #2
    bệnh ung nang tuyến vú với chị em phụ nữ quá là phức tạp,do các triệu chứng trên biến thành.khi cho con bú xong sửa không ra hết mà đọng lại trong cơ thể ,khi cai sửa con xong các bà mẹ không nặn cho hết sữa trong cơ thể để lâu ngày cũng xảy ra hiện tượng dư thừa mà sinh ra ung thư tuyến vú,
    ung thư tuyến vú cửng do đương tuyến mồ hôi tao thành,nó thuộc về can,gan có công năng tiết và xử lý ,không đi ra ngoài mà tạo thành ung thư tuyến vú,
    mặc áo ngực quá nhiều quá dày cửng là nguyên nhân gây nên bệnh tật.
    nên thư gian khi nằm ngủ không nên mặc áo ngực quá nhiều,tốt nhất khi đi ngủ không mặc áo ngực,thường xuyên xao bóp bầu ngực để cho khí huyết lưu thông.người nào có chông thì nên kêu ông xã làm việc này củng được,

    Nếu miệng đắng họng khô, phiền táo không yên, đại tiện bí kết, huyết áp tăng cao, tinh thần suy nhược không yên, nhịp tim nhanh, hay chứng rối loạn chức năng tuyến giáp trạng, thì đa số nên kiêng cử dùng Gừng tươi, tỏi, hẹ, hành, thịt dê, hồ tiêu, cùng các loại nhiều chất béo, đồ thơm ráo, cay; Nếu Tỳ Vị hư hàn(bụng yếu)(bụng lạnh), chân tay mát lạnh, đại tiện lỏng nhão, huyết áp thấp, nhịp tim chậm, thì nên kiêng ăn dưa hấu, Bí đao, Củ cải, Đậu xanh, quả Lê, Mía; Miệng lưỡi lở loét, thì, nổi mụn, thì nên tránh ăn măng, mầm đậu, mướp, hẹ, cà chua, nghêu sò, ba ba, ốc, thịt trai.

    bệnh u nang tuyến vú không nên đi mổ hay cắc không uống thuốc tay y sau này hai tới công năng tiêu háo của tỳ vị,âm hư dương hư-khi huyết hư,

    Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
    - Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.

    có thể các bà mẹ nào không hiểu có thể liên hệ qua mail cho mình,sẻ tư vấn miễn phí về căn bệnh quái ác này.
    mail:thiennhan.dongy@gmail.com
    yahoo chat: thiennhan.dongy

    thân ái chào
    thiện nhân
    • Avatar của suzi2010
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 51 Bài viết

    • 24 Được cảm ơn

    #3
    Híc, nghe bác nói em sợ quá. Em sẽ liên hệ nhờ bác tư vấn ạ
    • Avatar của nike.pro
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 7 năm
    • 41 Bài viết

    • 13 Được cảm ơn

    #4
    TÔI xin noi thêm về căn bệnh ung thư này...cồ gắn đọc nhé/

    Bệnh ung thư theo y học hiện đại:
    1. Tóm tắt vê bệnh ung thư theo nghiên cứu của y học hiện đại:
    Các tế bào bình thường trong cơ thể phân chia và lão hóa theo một quy trình đã định sẵn. Các loại tế bào trở thành lão hóa trong một thời gian nhất định và sẽ tự hủy đi, quá trình tự hủy này gọi là "apoptosis" hay "programmed cell death". Khi một tế bào phân chia thì nó sẽ trở thành 2 tế bào hoàn toàn giống như tế bào mẹ. Khi 1 tế bào mẹ phân chia và tạo thành 2 tế bào con không giống như tế bào mẹ, các tế bào này được gọi là bị đột biến. Hệ thống phòng thủ của cơ thể (immune system) do lá lách (tỳ) làm chủ có nhiệm vụ truy tìm tất cả những tế bào lạ xâm nhập vào cơ thể (virus, bacteria) và tiêu hủy chúng. Các tế bào bị đột biến vì không giống như các tế bào mẹ nên cũng được xếp vào tế bào lạ và được hệ thống phòng thủ sẽ tiêu hủy đi. Các tế bào đột biến sinh ra rất thường xuyên trong cơ thể trong suốt đời người và luôn luôn được hủy đi. Bệnh ung thư xảy ra khi một vài trong số các tế bào bị đột biến hình thành và chúng thoát qua được sư kiểm soát của hệ thống phòng thủ. Chúng không tuân theo quá trình tự hủy như tế bào bình thường và tiếp tục phân chia một cách vô tổ chức, xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa và trở thành các bướu ung thư.

    2. Nguyên nhân đưa đến tế bào bị đột biến:
    Theo thống kê, những người sống ở môi trường có nhiều chất phóng xạ, hóa chất độc hại, bệnh nhân ăn nhiều các loại thức ăn có hóa chất (preservative), dùng nhiều các thức ăn uống có nhiều chất kích thích như rượu bia, café, thuốc lá có nguy cơ bị ung thư cao hơn. Nói tóm lại bệnh nhân ung thư là những người tiếp xúc nhiều với độc tố.

    3. Cách chữa trị theo y học hiện đại:
    Y học hiện đại có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, dưới đây là 3 phương pháp thông dụng nhất:
    - Phẫu thuật: cắt bỏ chỗ bị ung thư
    - Xạ trị (radiation): dùng tia phóng xạ để đốt vùng cơ bị ung thư
    - Hóa trị (chemotherapy): dùng một loại hóa dược có đặc tính làm tổn thương tới phần DNA (gene) của tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi một tế bào bình thường bị thương tổn thì nó sẽ tự sửa chữa trong khi tế bào ung thư không biết tự sửa chữa vì chúng không còn tuân theo những quy luật đã định sẵn nữa vì vậy cứ tiếp tục dùng hóa trị trong một thời gian dài thì dần dần sẽ tiêu diệt được hết các tế bào ung thư

    4. Hiệu quả thấp của các cách chữa trị này:
    - Phẫu thuật: nếu tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể thì không thể nào làm phẫu thuật để lấy hết ra được, chỉ cần vài tế bào sót lại thì chúng sẽ phát triển thành khối u mới. Trong quá trình phẫu thuật, nhiều các tế bào ung thư bị tách ra khỏi khối u, sót lại và di chuyển qua chỗ khác, phát triển thành nhiều khối u mới (di căn).
    - Xạ trị: các tế bào ung thư được đốt đi nhưng tia phóng xạ tự nó lại gây ra bệnh ung thư do làm tổn thương tới DNA của các tế bào bình thường. Cũng như phẫu thuật, không thể nào đốt hết đi được các tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể.
    - Hóa trị: phương pháp này gây tổn hại rất lớn tới cơ thể vì toàn bộ các tế bào trong cơ thể đều bị tổn thương. Phương pháp này để lại các phản ứng phụ nghiêm trọng như rụng tóc, sắc mặt xanh tái, tròng mắt trắng dã, thất thần, vô sinh. Khi các tế bào bình thường tự sửa DNA của nó không được hoàn chỉnh, chúng sẽ trở thành những tế bào ung thư mới.

    II. Những nhận xét về bệnh ung thư theo y học cổ truyền:
    1. Những tạng chịu trách nhiệm thanh lọc độc tố: tỳ, can, thận là 3 tạng giữ trách nhiệm thanh lọc máu trong cơ thể.
    - Tỳ thống huyết, chủ cơ nhục. Bệnh ung thư là bệnh ở cơ nhục và máu huyết vì vậy nằm trong phạm vi chức năng của tỳ. Theo y học hiện đại thì tỳ (lá lách) giữ nhiệm vụ phòng thủ (immune system) vậy chức năng của tỳ theo như Đông và Tây y có điểm giống nhau.
    - Can (gan) tàng huyết, chủ sơ tiết. Các loại thức ăn nóng nhiệt, độc hại, các loại chất kích thích như rượu bia, café đều gây ra chứng hỏa vượng ở can. Theo y học hiện đại thì gan chịu trách nhiệm thanh lọc các chất độc tố ra khỏi cơ thể (detoxification). Vậy chức năng của can theo Đông y và Tây y cũng giống nhau về điểm này.
    - Thận: giữ chức năng thanh lọc máu, đào thải chất cặn bã, chất thừa trong máu ra dưới dạng nước tiểu. Chức năng này Đông y và Tây y đều giống nhau.

    2. Nhận xét về cơ chế bệnh sinh:
    - Các bệnh nhân ung thư thường có tiền sử tiếp xúc nhiều với các loại độc tố, sử dụng các loại hóa chất, kích thích tố, thuốc Tây dài hạn. Can, thận, tỳ làm việc không ngừng nghỉ để thanh lọc các chất độc tố này ra khỏi cơ thể, khi lượng độc tố vào cơ thể với mức cao hơn lượng độc tố được thanh lọc ra hàng ngày thì chất độc tích tụ dần thành nhiệt độc và gây ra bệnh ung thư
    - Tôi có tiếp xúc qua một số các bệnh nhân ung thư thì thấy đều có triệu chứng can, thận, tỳ suy nhất là tạng tỳ. Người lớn tuổi có tỷ lệ bị ung thư nhiều hơn người trẻ. Điều này cho thấy khi 3 tạng này suy yếu thì nguy cơ bị ung thư tăng lên. Tạng tỳ chủ về hệ thống phòng thủ nhưng những bệnh nhân ung thư đều có tạng tỳ suy yếu. Vậy không phải là các tế bào ung thư thoát qua khỏi hệ thống phòng thủ của tỳ mà là tỳ quá suy yếu không tiêu diệt nổi tế bào ung thư.

    3. Biện chứng luận trị:
    - Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
    - Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.

    4. Phương thức điều trị:
    - Thanh lọc độc tố: muốn thanh lọc độc tố ra hết khỏi cơ thể thì trước hết phải chặn hết tất cả các loại độc tố có thể vào cơ thể. Tránh ăn các loại thức ăn uống làm sẵn, các loại đồ hộp, các chất kích thích như café, thuốc lá, rượu bia, các loại hóa chất sử dụng hàng ngày (hóa chất dùng lau chùi nhà cửa, phân bón cỏ, thuốc trừ sâu, v.v.).

    . Tâm chủ huyết, Phế chủ khí, khai khiếu ra mũi, tà nhiệt tổn thương tâm, nên sinh nục huyết. Nục huyết là chứng huyết đi ra đàng mũi”. Ở mục “Ác Hạch Hậu” nói thêm: “ác hạch là do phong nhiệt độc khí, lẫn lộn xâm tập vào huyết khí, kết thành hạch ở dọc cổ, lại gặp phải tác động của phong hàn, dần dần không tiêu, cũng không vỡ, tên gọi là ác hạch”. Mục “Hư Lao Môn” sách “Phổ Tế Phương” chép: “phàm, bệnh cấp lao (chứng hư lao có kèm theo nhiệt tắc ở Phế) , triệu chứng thì giống với chứng nhiệt, nhưng bản chất thì khác nhau rõ rệt. Trong chứng này, huyết khí đều thực, bên trong tích nhiệt mà phạm đến Phế, tạng phủ ủng tắc, nhiệt độc không giải được mà sinh bệnh. Do bẩm thụ bất túc, doanh vệ đều hư, Tâm Phế ủng nhiệt, kim hỏa chống đối lẫn nhau, tạng khí khắc lẫn nhau; hoặc gặp phải ngoại tà, nên phiền táo mà mình nóng, gò má đỏ, tim đập nhanh, đầu đau, mồ hôi trộm, ho, họng khô, khớp xương đau mỏi, người gầy yếu, vàng vọt, bệnh lâu ngày khiến cơ thịt sẽ teo tóp, khạc đàm thổ huyết, đều là chứng trạng của chứng này”. Các triệu chứng kể trên, đều khớp với các triệu chứng của bệnh bạch huyết. Ở mục “Cách Hạ Trục Ứ Thang Sở Trị” trong sách “Y Lâm Cải Thác” có nói: “bên ngoài tràng vị, bất kể nơi nào, cũng đều có khí huyết. Khí vô hình nên không thể kết khối được, kết khối là d huyết hữu hình vậy”, đã nhấn mạnh tính quan trọng trong việc hoạt huyết hóa ứ để trị chứng vùng bụng tích khối.
    Theo Tây y bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu). Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao.
    Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền
    Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.
    Bệnh nhân thường có thể có những triệu chứng sau:
    do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp.
    do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt.
    do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
    do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm.

    PHÂN TÍCH CƠ CHẾ BỆNH SINH:
    Đông y học cho rằng sự phát sinh của bệnh bạch huyết, đa phần là do ôn nhiệt độc tà dựa trên cơ sở bên trong hư tổn, âm dương thất hòa, tạng phủ hư nhược, mà đi vào gây bệnh
    1. Tinh khí bên trong khuy hư, là nội nhân (nguyên nhân bên trong) phát sinh chứng bệnh này, có quan hệ mật thiết với Can, Tỳ, Thận. Tình chí không thoải mái, Can khí uất kết, khí huyết thất hòa, âm dương thất điều. Có thói quen thường xuyên ăn một món ăn, khiến Tỳ hư, nguồn hóa sinh khí huyết không có (ở trẻ con thường có biểu hiện rõ rệt). Lao động vất vả, lập gia đình sớm, nhiều lần sinh nở, phòng sự thái quá, dẫn đến thận tinh khuy hư, nguồn hóa sinh cho cốt tủy không đủ. Trên cơ sở công năng Can Tỳ Thận thất điều, với tinh huyết hư tổn, nếu lại gặp phải ngoại tà thì sẽ phát bệnh.
    2. Ôn nhiệt tà độc trong chứng bạch huyết cấp tính thường có đặc điểm phát bệnh cấp, phát triển rất nhanh, tính chất nguy hiểm, dễ tái phát, và dễ có biến chứng nguy hiểm. Nên ôn nhiệt độc tà là ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài) quan trọng phát sinh chứng này. Ôn nhiệt độc tà bao gồm các chứng bệnh nhiễm độc, nhiễm phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại (như là: Benzene, Alkane, các loại tế bào độc hại). Vì ôn nhiệt độc tà thừa hư mà đi vào, tổn thương khí phận, nên xuất hiện đại nhiệt, mồ hôi như tắm, mạch hồng đại. Nếu chính khí không thắng tà khí, thì sẽ dẫn đến tổn thương đến doanh âm, tổn thương đến phần huyết mà xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Ôn nhiệt độc tà bức huyết vong hành, thì sẽ xuất hiện các chứng trạng xuất huyết, như tỵ nục (xuất huyết mũi), ban đỏ; ôn nhiệt độc tà hun đốt huyết sinh ứ, nên xuất hiện các ban đỏ tía dưới da, sắc lưỡi hồng tối xậm, hoặc đỏ tía tối. Ứ huyết một khi đã hình thành thì: một là sẽ khiến huyết không đi theo kinh mà xuất ra ngoài; hai là có thể khiến cho sự vận hành của huyết trì trệ lại, không thông (bất thông tắc thống), mà gây đau nhức các khớp. Khí trệ huyết ứ còn có biểu hiện trong bụng tích khối (Can Tỳ sưng to mà cứng chắc); ba là nếu huyết ứ không thông, thì huyết mới không sinh, thêm vào đó, xuất huyết thì sẽ khiến tổn thương đến khí, lâu ngày xuất hiện huyết hư mà biểu hiện tâm quý, khí đoản, vô lực, thiếu máu. Ôn nhiệt độc tà, hòa dịch thành đàm, đàm và ứ kết hợp với nhau, mà xuất hiện tích khối dưới hai bên sườn, hạch đàm mọc ở vùng cổ.
    Vốn bẩm khí hư, lại thêm vào xuất huyết, khí huyết khuy hư, có thể khiến cho khí không thâu nhiếp huyết, huyết đột ngột xuất ra ngoài; huyết mất đi thì khí bị tổn thương, lại thêm vào chứng trạng khí hư, từ đó mà hình thành một vòng tuần hoàn ác tính.
    Nói chung, chứng bạch huyết là do tinh khí hư bên trong, ôn nhiệt độc tà xâm nhập, tổn thương đến phần huyết mà sinh bệnh. Vị trí bệnh là ở phần huyết, và cốt tủy. Vì Can chủ tàng huyết, Tỳ chủ sinh huyết, Thận chủ cốt sinh tủy, nên bệnh này có mối quan hệ mật thiết với ba tạng Can, Tỳ, Thận. Thường Thường vì hư mà sinh bệnh, vì hư mà dẫn đến thực. Hư là ôn nhiệt độc dễ tổn thương tân dịch, tổn hao khí, thường khiến cho khí âm lưỡng hư, Can Thận âm hư. Bệnh lâu ngày thì thường chủ yếu là khí huyết khuy hư; nếu là thực, thì không ngoài nhiệt độc, huyết ứ, đàm trọc gây bệnh. Giai đoạn cấp tính thì có hư có thực, nhưng chủ yếu là thực ở ngọn. Thời kỳ bệnh chậm, tuy có độc tà ẩn náu bên trong, nhưng vẫn chủ yếu là hư. Trên lâm sàng, thường thấy lẫn lỗn hư thực, cơ chế bệnh diễn biến phức tạp, đa dạng. Như nếu thời kỳ cấp tính nhiệt độc không giải, có thể truyền đến Tâm bào, mà xuất hiện các chứng trạng hôn mê nói nhảm; lúc nhiệt độc hun đốt, sẽ khiến Can phong nội động, mà xuất hiện cổ gáy cứng, co rút; thời kỳ cuối, do tà tổn thương chính khí, chính khí càng ngày càng suy, nên xuất hiện Tỳ Thận dương hư, khí huyết lưỡng hư.
    BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:
    Phát nhiệt, xuất huyết, khí huyết khuy hư, đàm hạch (u hạch), khối u trong, các khớp đau nhức, là biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng này.
    1.Ở người bệnh bạch huyết, hơn 50% số người phát bệnh đều có dấu hiệu phát sốt, đồng thời, trong một sốt giai đoạn phát bệnh, người bệnh có thể có một sốt giai đoạn nhiệt độ xuống thấp, hoặc nhiệt độ trung bình, hơi sợ lạnh, ra mồ hôi nhiều. Nếu có kết hợp với một bệnh tà khác, thì sẽ xuất hiện sốt cao, có kèm theo sợ lạnh nhiều mồ hôi. Ở bệnh bạch huyết mạn tính thì đa phần có biểu hiện nhiệt độ thấp.
    2. Chứng xuất huyết trong bệnh bạch huyết thường có chứng trạng xuất huyết, trong quá trình phát bệnh, đều có xuất hiện xuất huyết, thường là có chấm xuất huyết dưới da, ban ứ huyết dưới da và nục huyết là thường thấy nhất; cũng có thể thấy tỵ nục, thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, và kinh nguyệt lượng quá nhiều. Xuất huyết đáy võng mạc có thể dẫn đến mờ mắt, khoang hắc võng mạc xuất huyết thì thường là dấu hiệu của tử vong. Biểu hiện xuất huyết rõ rệt trong chứng bạch huyết mạn tính thường xuất hiện trong thời kỳ bệnh biến cấp.
    3. Khí huyết lưỡng hư thường là triệu chứng mà đa số các người bệnh trong chứng bạch huyết đều mắc phải, đồng thời nó sẽ nặng thêm lên theo mức độ nặng dần của bệnh tình. Thường biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, vô lực, tâm quý khí đoản, môi và móng tay khô úa.
    4. U hạch (đàm hạch) thường phát sinh ở vùng cổ và nách, lớn nhỏ không đều nhau, sắc da bình thường, ấn vào không di chuyển, chất cứng, dưới da và da đầu thấy có nhiều hạt cứng.
    5. Chứng tích trong bệnh bạch huyết ban tích (Can Tỳ sưng to) thường thấy Can hơi sưng to; bệnh bạch huyêt mạn tính thì thường thấy Tỳ sưng to, mức độ sưng to thường rõ ràng, có thể thấy dưới bờ sườn trái có một số hạt lợm cợm, chất cứng, ấn vào không đau.

    CHẨN ĐOÁN:
    1. Khởi bệnh và các chứng trạng lâm sàng:
    a) Bệnh bạch huyết cấp tính khởi bệnh nhanh, bệnh trình ngắn. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường là phát nhiệt, xuất huyết, mất máu từ từ, các khớp đau nhức, có u hạch.
    b) Bệnh bạch huyết mạn tính khởi bệnh chậm, thời kỳ đầu thường không có chứng trạng rõ rệt. Biểu hiện lâm sàng điển hình thường là Can Tỳ sưng to (nhất là Tỳ), có chứng trạng khí huyết khuy tổn, xuất huyết, các khớp đau nhức, u hạch.

    PHÂN BIỆT CHẨN ĐOÁN
    1. Tý bệnh: Các biểu hiện phát nhiệt, đau nhức các khớp, tâm quý trong bệnh bạch huyết cấp tính trẻ em, rất dễ nhầm lẫn với chứng tý thông thường, cần chú ý phân biệt. Cần cẩn thận hỏi về tiền sử bệnh, tiến hành quy nạp, kết hợp xét nghiệm tây y càng tốt. Tý bệnh thường có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là cơ nhục, các khớp, cân cốt phát sinh đau nhức, mỏi mệt, tê bại, nóng ran, co duỗi khó khăn, nặng thì các khớp sưng to biến dạng. Mà trong chứng bạch huyết thì có biểu hiện đau nhức các khớp, nhưng đa phần có kèm theo các biểu hiện đau xương ức, phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, khởi bệnh cấp.
    2. Ôn bệnh: Ôn bệnh là cách gọi chung của các chứng bệnh ngoại cảm phát nhiệt cấp tính do cảm phải ôn nhiệt độc tà của khí hậu bốn mùa, khởi bệnh cấp, truyền biến nhanh, phát nhiệt, dễ động phong co giật, và thương âm hao huyết, có tính truyền nhiễm, lây lan, dịch theo mùa. Biểu hiện phát nhiệt, xuất huyết của bạch huyết giống với ôn bệnh, nhưng không có quy luật truyền biến vệ khí doanh huyết, cũng không có tính truyền nhiễm, lây lan, bệnh theo mùa.
    3. Huyết chứng trong bệnh bạch huyết cấp mạn tính đều có thể xuất hiện nhiều dạng chứng trạng. Chứng bạch huyết có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết, thì thuộc vào một loại hình đặc thù trong huyết chứng. Cùng lúc xuất huyết có kèm theo biểu hiện lâm sàng là phát nhiệt, Can Tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
    4. Bệnh bạch huyết thể hư lao, và nhất là bệnh bạch huyết mạn tính, xuất hiện biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khí huyết hư, thì thuộc vào loại hình đặc thù thuộc hư lao. Cùng lúc chứng khí huyết khuy hư, còn có các biểu hiện lâm sàng phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, Can tỳ sưng to, các khớp đau nhức.

    tất cả các ung thư nói trên:

    Nguyễn thiện nhân:
    • 18 Bài viết

    • 3 Được cảm ơn

    #5
    B ơi! b bị un và kết quả đtri thn rùi?M cũng mới phát hiện vào giữa tháng 11, Nghe ng nhà nói hầu như pn đều bị cacs u,chỉ có điều phải xem là u gì để có p.a đtri đúng và kịp thời.M có ng nhà mách đến bs Họi ở TBinhf,bs này giỏi và làm lâu năm ở bv ĐK Thái bình,Nếu khám ở HN THÌ NÓI ĐẾN BS nHợi ở TB thì họ cũng biêt.Bs này tự khám và làm xét nghiệm tại PK tư,đến đó ô ý chẳng hỏi gì bảo nằm rồi khám,sau đó lấy kim làm sinh thiết,ra 2 cái xilanh nc màu ngà vàng,rồi bán thêm thuốc KS VỀ UỐNG.M làm đc nủa thg rùi.
    B đã chữa đc chưa kq thn có uống thc gì khg?chia sẻ cho mình biết vói nha?.Thanks!Chúc b SK THẬT TỐT VÀ LL VUI VẺ NHA,
    • 21 Bài viết

    • 2 Được cảm ơn

    #6
    Bệnh này, cũng có liên quan đến chế độ dinh dưỡng hàng ngày đó. Ăn nhiều chất béo, dầu mỡ, uống chất có ga, rượu, chất kích thích... Cũng là yếu tố gây ra bênh. Bạn nên ăn nhiều rau xanh, trái cây, tập thể dục thường xuyên để phòng chống bệnh tật nhé.
    Một số nguyên nhân viêm tuyến tiền liệt ở nam giới bạn nên cảnh giác.
    Những điều nam giới nên biết về bệnh phì đại tuyến tiền liệt để phát hiện và điều trị kịp thời.
    • 18 Bài viết

    • 3 Được cảm ơn

    #7
    Trích dẫn Nguyên văn bởi suzi2010 Xem bài viết
    Các mẹ thông thái ơi, hôm trước em đi khám tổng thể thì khi siêu âm tuyến vú phát hiện 2 cái u nhỏ (1 cái 10mm, 1 cái 6mm) ở hai bên ngực. Em đang hoang mang lắm, bắt đầu từ đâu bây giờ? khám chuyên khoa sâu ở bác sỹ nào, các mẹ giúp em với. Em ở Hà Nội ạ. Cảm ơn các mẹ nhiều
    B ui!Tình trạng SK CUA B hiện nay thn?sau khi phát hiện bạn đã dtri kqua ra sao?M cũng mới p.hiện ra ở ngực trái ,1 cục và BS đã hút Sinh thiết.Kq là U nang lành+ viêm mô TB.đến h đc 3 tuần rùi,chưa đi khám lại.Hiện giờ sắp có Chu kỳ KN nên thỉnh thoảng thấy cắn nhói bên trong.K bít sao nữa.Muốn hỏi B xem phg pháp đtrij của b & kqua thn?b có uống thuốc gì k,sau có ảnh huỏng gì SK K.?BS đã hut hết cho m nên k phẫu thuật gì hết.Mong nhận đc TL CỦA B!