TIN TÀI TRỢ.

định nghĩa châm cứu là gì?

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 4.22K Lượt đọc
  • 2 Trả lời

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành.

Theo dõi Webtretho

Đến trả lời mới nhất
    • 19 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #1
    Châm cứu là phương pháp chữa bệnh có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hiện nay ở Việt Nam châm cứu cũng đã được ứng dụng và cũng gặt hái được rất nhiều thành công. Bài viết này chúng tôi sẽ giúp mọi người hiểu rõ châm cứu là gì?

    Châm cứu là một trong những phương pháp chữa bệnh cổ xưa của Trung Quốc. Cho đến ngày nay mọi người đã không còn xa lạ với phương pháp này, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu được châm cứu là gì một cách rõ nét. Bài viết hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề này.

    Châm cứu là gì?:
    Châm có nghĩa là dùng vật nhọn (như kim, que nhọn...) đâm vào hoặc kích thích vào huyệt. Còn cứu có nghĩa là dùng nhiệt (hơi nóng) tác động lên huyệt.
    Châm và cứu là hai phương pháp chữa bệnh có rất sớm ở phương Đông. Người ta dùng kim thuộc chế thành các loại kim khác nhau, châm ở những bộ phận đặc biệt trên cơ thể con người (huyệt vị); sau khi châm vào da thịt, căn cứ vào bệnh tình và thể chất người bệnh khác nhau mà dùng thủ pháp phù hợp nhằm đạt đến mục đích thông kinh hoạt lạc, khử tà phù chính (khử bệnh tật, nâng cao sức đề kháng của cơ thể) mà chữa bệnh, phương pháp này gọi chung là châm.
    Còn cứu dùng lá ngải khô để chế thành ngải nhung, rồi lại dùng ngải nhung chế thành viên to nhỏ như mồi ngải, hoặc cuốn thành điếu ngải, đốt lửa xong trực tiếp hoặc gián tiếp hơ hoặc đặt lên huyệt vị nhất định của cơ thể người bệnh, thông qua sự kích thích ấm nóng này làm cho thông kinh lạc đạt mục đích chữa bệnh và phòng trừ bệnh tật.
    Hai phương pháp trên tuy khác nhau nhưng sử dụng huyệt vị giống nhau, có khi cùng châm và cứu, thông thường gọi là phép châm cứu.
    Cách thức châm cứu: Châm cứu có 2 cách thức để thực hiện là: dùng vật nhọn đâm vào huyệt (được gọi là tác dụng vật lý học). Hoặc kích thích vào các huyệt (được gọi là tác dụng hóa học).
    Dụng cụ châm cứu:
    - Kim châm cứu
    - Ngãi đốt
    - Điện cực
    - Đèn hồng ngoại...
    Kim châm cứu:
    Thời thượng cổ người ta dùng đá mài nhọn để làm kim châm. Sau đó cùng với sự phát triển của kinh tế và kỹ thuật, vật liệu làm kim không ngừng thay đổi, từ kim bằng đá mài đến kim đồng, kim sắt, kim vàng, kim bạc và ngày nay là kim bằng thép không gỉ.
    Trong châm cứu hiện nay người ta thường dùng các loại kim sau:
    - Hào châm: từ 5 phân đến 3 tấc 5, nhỏ từ số 26 đến 32... thân kim tròn trơn, loại này sử dụng rất rộng trong quần chúng.
    - Tam lăng châm: kim 3 khía mũi nhọn để châm cho ra máu.
    - Bì phu châm: còn gọi là tiểu nhi châm, là hình thức cầm lấy cán gõ lên vị trí của huyệt, gõ nhiều hay ít tùy theo bệnh, nên gọi là kim Mai hoa. Nó có tác dụng làm cho da mẫn cảm để điều chỉnh kinh lạc được phấn khởi. Đánh mạnh hay nhẹ tùy theo người mập hay ốm. Những bị bệnh ngoài da, bệnh mắt, bệnh dạ dày, ruột, bệnh đau lưng, thần kinh suy nhược dùng trị rất hữu hiệu.
    - Hoả châm: loại dụng cụ về ngoại khoa, cán kim làm bằng trúc hay xương. Khi xử dụng dùng gòn bao kim đoạn thoa dầu mè rồi đốt trên lửa đỏ. Khi kim cháy đỏ bỏ gòn châm vào chỗ đau, sau khi châm lập tức lấy kim ra và lấy tay đè lên chỗ đã châm làm cho chỗ đau được hết.
    Vậy châm cứu là gì? châm cứu là một phương pháp chữa bệnh sử dụng những công cụ khác nhau như: kim châm, ngải... nhằm kích thích vào các huyệt đạo trên cơ thể với mục đích thông kinh hoạt lạc, điều hòa khí huyết, trừ độc, giải trừ bệnh tật. Châm cứu đang là một phương pháp được nhiều người trên thế giới sùng tin vì những hiệu quả chữa bệnh tuyệt vời của nó.

    Các bạn có thể tìm hiểu thêm bài viết Châm cứu học Trung Quốc.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • 19 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #2
    Châm cứu Việt Nam cũng có lịch sử phát triển lâu đời, cùng với quá trình kế thừa và phát triển của mình, châm cứu đã đem đến những kinh nghiệm, cách chữa bệnh vô cùng hiệu quả cho nhân loại.

    Châm cứu là phương pháp chữa bệnh được ra đời từ Trung Quốc, nó đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền y học của toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Châm cứu trong quá trình du nhập của mình đã để lại cả kho tàng những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, điều đó được gọi chung với cái tên lịch sử châm cứu Việt Nam. Bài viết hôm nay sẽ đi tìm hiểu vấn đề này.

    Lịch sử phát triển châm cứu học:
    Châm cứu là một bộ phận trong di sản y học phương Đông do con người sáng lập và phát triển trong quá trình đấu tranh lâu dài với bệnh tật. Châm cứu được xem như là một phần của y học Trung Hoa được xây dựng và phát triển từ kinh nghiệm dân gian: trong quá trình lao động của người thượng cổ, con người phát hiện khi bị những viên đá nhỏ va chạm thì thấy giảm nhẹ đau đớn của bệnh tật vốn có trong cơ thể.Trải qua lâu ngày, trong mọi người hình thành khái niệm dùng Phiếm thạch chữa bệnh. Trải qua hàng trăm ngàn năm, con người đã tích lũy được rất nhiều thực nghiệm và kinh nghiệm chữa bệnh lâm sàng.
    Hiện nay khoa châm cứu đã được thế giới chú ý. Ở Pháp , Đức, Nhật, Đại Hàn, Trung Hoa… đều có thành lập các viện châm cứu, các y viện chuyên trị bệnh bằng khoa này, thu thập hàng ngàn luận án để tổng kết phổ biến kinh nghiệm và 3 năm có họp một lần, một tạp chí ra hàng tháng (R.I.A) được phát hành rộng rãi.

    Lịch sử châm cứu Việt Nam:
    Theo một số ghi chép còn lại cho thấy châm cứu học ở Việt Nam đã được sử dụng sớm nhất ở châu Á và trên thế giới: nó được phát triển lần đầu vào đời Hùng Vương (287 – 257 trước C. N), tiếp đến là đời vua Thục An Dương Vương (257 – 207 trước C.N); và châm cứu phát triển rực rỡ nhất vào đời vua Ngô, Đinh, Lê, Lý (937 – 1224 sau C.N):
    - Năm 1136 (sau C.N ) Minh Không Thiền sư (tục danh là Nguyễn Chí Thành ) đã dùng pháp ngữ nhà Phật và châm cứu chữa khỏi bệnh tính thần kinh cho vua Lý Thần Tông được phong là Lý Triều quốc Sư.
    - Đời nhà Trần, Trâu Canh đã dùng châm cứu chữa bệnh cứu sống con của vua Trần Minh Tông là hoàng tử HẠO sau khi lên ngôi là Trần Dụ Tông mắc bệnh liệt dương và Trâu Canh đã dùng châm cứu chữa khỏi.
    - Đời nhà Hồ (1401 – 1407 ) có y sư Nguyễn Đại Năng người xã Hiệp An, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương đã soạn cuốn sách "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca" bằng thơ Nôm để phổ biến rộng rãi phương pháp châm cứu trong nhân dân. Đặc biệt Nguyễn Đại Năng đã tìm ra một số huyệt mới chưa thấy ghi trong sách châm cứu của các nước trên thế giới.
    - Đến đời Hậu Lê (1423 – 1789) có đại danh y Hải Thượng Lãn Ông soạn bộ Y Tông Tâm Lĩnh trong đó cũng có hướng dẫn chữa một số bệnh bằng châm cứu.
    - Đời Tây Sơn dưới triều vua Quang Trung (1788 – 1802) nhà vua đã lệnh cho Thái y viện phát huy các hình thức chữa bệnh trong đó có ngành châm cứu.
    - Đến đời Nguyễn (1802 – đến đầu thế kỹ 20) có Vũ Bình Phủ hiệu là Nam Dương Đình giỏi về châm cứu đã biên soạn bộ sách “Y thư lược sao” tổng hợp về lý luận và thực tiễn châm cứu thời bấy giờ. Đây là tác phẩm viết về châm cứu thứ hai của nước Việt Nam ta .
    Năm 1885 thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, năm 1902 chúng mở trường đào tạo y sĩ và dược sỹ để phục vụ tầng lớp cai trị, từ đó nước ta có hai ngành Đông y và Tây y. Thực dân Pháp luôn tìm cách chèn ép y học cổ truyền trong đó có châm cứu, họ dần dần loại đông y ra khỏi tổ chức nhà nước, châm cứu từ đó mai một đi không phát triển nữa.
    Từ sau cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam. Khoa châm cứu dần dần được cũng cố và phát triển rộng rãi. Ở miền Bắc ngành Đông y và châm cứu được phục hồi mạnh mẽ. Từ đó Hội Đông y Việt Nam rồi hội Châm Cứu Việt Nam và Viện Châm Cứu Việt Nam được thành lập cùng với bộ môn đông y trường đại học y khoa đã mở nhiều lớp để đào tạo thầy thuốc châm cứu phòng và chữa bệnh bằng châm cứu đang phát triển rộng rãi trên khắp nước ta. Đặc biệt có giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài Thu đã áp dụng tài tình châm tê trong phẫu thuật.
    Có thể nói châm cứu ở Việt Nam có những thời khắc thăng trầm trong lịch sử, tuy nhiên cho đến ngày nay nó vẫn luôn được kế thừa truyền thống và tiếp tục phát huy những cái mới. Cho đến hôm nay và mai sau nữa, tôi tin chắc rằng lịch sử châm cứu Việt Nam sẽ lại được tiếp tục ghi dấu ấn trong nền y học dân tộc.

    Các bạn có thể xem thêm bài viết: Hội châm cứu Việt Nam tại đây.
    • 19 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #3
    Châm cứu phát triển ở Việt Nam đã từ rất lâu rồi, còn hiệp hội châm cứu Việt Nam ra đời từ đâu và phát triển ra sao? chúng ta hãy đi tìm hiểu vấn đề này nhé.

    Hội Châm Cứu Việt Nam được thành lập năm 1967, trong 41 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, đất nước ta đã có những bước tiến đặc biệt về mọi mặt trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó Châm cứu Việt Nam luôn phấn đấu trưởng thành mạnh mẽ.

    Vai trò của Hội châm cứu Việt Nam
    :
    - Thiết thực chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Việt Nam, nhất là công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ta ở vùng sâu, vùng xa, những gia đình nghèo thuộc diện chính sách của xã hội.
    - Hội Châm cứu Việt Nam muốn góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển chung của Hội châm cứu trên thế giới. Trải qua thực tiễn với hàng ngàn năm lịch sử, tổ tiên ta từ đời này sang đời khác đã tích lũy một kho tàng kinh nghiệm phong phú trên lâm sàng, xây dựng được một lý luận đặc sắc của phương đông (giải thích được những biểu hiện sinh lý và hiện tượng bệnh lý của con người, gắn liền với học thuyết lâu đời của y học phương Đông như Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, học thuyết Kinh Lạc, học thuyết Tạng Phủ, học thuyết Thiên Nhân Hợp Nhất...).
    Sự phát triển của hội châm cứu Việt Nam:
    Châm cứu Việt Nam có lịch sử lâu đời, từ thời đại các vua Hùng. Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ, châm cứu chỉ là sự hành nghề tự phát của các lương y, chưa được nhà nước phong kiến chăm sóc, bảo trợ.
    Chỉ từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta mới có chủ trương, chính sách rõ ràng, kiên quyết khôi phục và phát huy nền y học cổ truyền dân tộc, trong đó có ngành châm cứu. Hội Đông y Việt Nam và, sau đó là Hội Châm cứu Việt Nam được thành lập.
    Chỉ qua gần nửa thế kỷ, một thời gian rất ngắn trong lịch sử nước nhà mấy nghìn năm, ngành châm cứu Việt Nam đã lớn mạnh vượt bậc. Hội Châm cứu Việt Nam hiện đã tập hợp được 27.800 hội viên ở 63 tỉnh, thành phố.
    Các nhà châm cứu Việt Nam, mà GS Nguyễn Tài Thu là gương mặt tiêu biểu, đã đạt được những thành công vang dội, được thế giới ngưỡng mộ, trong hai lĩnh vực đặc biệt: châm tê để mổ, và châm cứu chữa một số bệnh hiểm nghèo (như liệt nửa người, liệt toàn thân, câm, điếc, v.v.). Trong số hàng trăm nước trên thế giới có thực hành châm cứu, thì Việt Nam ta được Hiệp hội Châm cứu thể giới xếp vào số 5 nước có ngành châm cứu tiên tiến nhất (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Pháp, và Malaysia).
    Hội châm cứu Việt nam họp thường kì 6 năm 1 lần. Đại Hội IV năm 1991: Hội Châm Cứu Việt Nam đã gia nhập Liên hiệp hội Châm cứu thế giới (WFAS), đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc mở rộng quan hệ quốc tế.
    Đại hội V đã bầu BCH TƯ Hội khóa V gồm 81 vị, GS Nguyễn Tài Thu được bầu lại lần thứ 3 là Chủ tịch Hội. Sau Đại Hội V ngày 30/12/1997, Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam ra quyết định 273/TH chấp thuận cho Hội Châm Cứu Việt Nam ra khỏi Tổng hội đánh dấu bước ngoặc vững vàng cho ngành Châm cứu Việt Nam đối với y học Việt Nam và thế giới.
    Ngày 18/01/1998, Ủy Ban TƯ Mặt Trận TQ Việt Nam ra quyết định số 30/MTTQW công nhận Hội Châm Cứu Việt Nam là thành viên chính thức của Mặt trận, GS. Nguyễn Tài Thu được bổ sung là Ủy Viên UBTW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

    Ngày nay hội châm cứu Việt Nam đã và đang phấn đấu phát triển Châm cứu theo định hướng phối hợp giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc của dân tộc, phục vụ tốt hơn nữa, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân.

    Các bạn có thể xem thêm bài viết: châm cứu là gì tại đây.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)