TIN TÀI TRỢ.

Miền Ký ức

  • 1.16K Lượt chia sẻ
  • 27K Lượt đọc
  • 45 Trả lời

  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3

Bài học lớn đằng sau câu chuyện nhỏ

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #1
    Đọc tên mình trong danh sách thành viên tích cực của WTT mà cảm thấy xấu hổ, vì bản thân mình chẳng tích cực chút nào. Xin cảm ơn các bạn đã vote cho mình.

    Tự cảm thấy mình có bổn phận phải đền đáp lại WTT và nhà Thư giãn/Sách truyện thơ. Mà mình chẳng có chút gì để đền đáp lại ngoài mấy bài viết lẩm cẩm. Thôi cũng xin đưa lên đây hầu chuyện cho vui. Dù biết rằng thể loại mình viết sẽ không đáp ứng với thị hiếu của hầu hết các bạn trên WTT, vì ở đây gần hết là người trẻ, năng động - mà mình chỉ có thể viết cho người già đọc (người già thì mấy ai lạng lướt trên NET đâu). Thôi đành như các cụ hay nói là: Qúy ở tấm lòng.

    Chuyện mà mình sắp kể ra đây là mình viết lại từ một câu chuyện có thực ngoài đời. Do tình tiết câu chuyện và cũng do sức viết của mình có hạn nên những trang đầu rất chi là SẾN. Mong các bạn bỏ qua.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #2
    MIỀN KÝ ỨC - Anchu


    Phần 1 – HỒI ỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ


    Năm 2004


    Từ tầng thứ ba của tòa nhà, bà Vân nhìn xuống đường phố, đường Sài Gòn xe lớn xe nhỏ qua lại chen chúc, người đi bộ hấp tấp bước ngược xuôi, lạc lỏng một vài chiếc xe đạp chầm chậm trôi theo giòng xe cộ như những nét chấm phá mang gam màu lạnh thêm cho một bức tranh có quá nhiều màu nóng. Hôm nay là 28/4 – sắp đến ngày nghỉ lễ lớn hằng năm, bao nhiêu năm rồi Sài Gòn thay da đổi thịt từng ngày, mỗi ngày trôi qua hình như vội vàng hơn, nhộn nhịp hơn hôm trước. Bà thở dài lẩm nhẩm:

    - Mau quá, sao mà mau quá. Gần ba mươi năm rồi.

    Hình như chỉ có bà mới hiểu bà nói gì, bà đưa tay mở máy vi tính, chọn một bản nhạc có sẵn trong máy. Tiếng nhạc nhè nhẹ dìu dặt, rồi giọng ca ngọt ngào của Hương Lan ngân lên:

    ” Vàng son nhớ mấy cho vừa,
    Hoàng hôn vang vọng tiếng xưa ngậm ngùi”

    Bản nhạc Tiếng xưa của Dương Thiệu Tước lung linh đong đưa. Bà Vân đưa tay che mặt, một phản xạ quen thuộc gần ba mươi năm nay của bà, mỗi khi nghe bản nhạc này. Hình như trong đôi mắt của bà có lăn ra vài giọt nước mắt.


    Ngọc Lan năm nay ba mươi tám tuổi, chị làm việc cho Công ty Du Lịch Thanh Vân gần mười lăm năm nay, nói chính xác là từ cái ngày Công ty mới còn là một tổ chức nhỏ nhận hợp đồng đưa đón khách đi du lịch. Lúc đó chỉ có hai chiếc xe, một chiếc bốn chỗ và một chiếc mười hai chỗ; mà chiếc nào cũng cũ rích, được sơn phết lại đủ để đứng ở xa không thấy xấu, còn tới gần thì người ta đành phải tự an ủi là coi vậy chớ chắc cũng không đến nỗi nào. Còn nhà nghỉ là căn nhà hai tầng lầu của bà chủ, bà chủ thì ở chung với nhân viên nữ, ngăn cách bằng mấy tấm ván ép mỏng dính. Lúc đó chị Lan bị chồng bỏ, nuôi đứa con trai bốn tuổi, thằng nhỏ phá như giặc mà lại đau ốm liên miên. Người chị họ của Ngọc Lan, vốn là bạn học cũ của bà Vân, dắt chị tới xin việc làm ở chỗ bà Vân. Năm đó Bà Vân còn trẻ, duyên dáng nhưng nghiêm khắc. Lần đầu tiên gặp bà chủ, chị Lan bị vẻ cao sang, thanh tú của bà hớp hồn. Từ đó chị trung thành, cần mẫn làm việc với sự phục tùng tuyệt đối của người nô lệ với chủ của mình. Nói cho đúng thì bà Vân rất dịu dàng và thông cảm với nhân viên, nhưng cái gì đã gọi là kỷ luật lại rất khắc khe, và trong con mắt của chị Lan thì không ai có thể bằng bà chủ của chị.

    Nghe tiếng nhạc vang lên trong phòng bà Vân, Ngọc Lan lắc đầu; chị tự biết mình phải làm gì. Mười lăm năm nay chị thuộc làu tính nết chủ nhân, khi bản nhạc Tiếng xưa của Dương Thiệu Tước nổi lên có nghĩa là nội bất xuất ngoại bất nhập, cứ giống như bản nhạc là cái bảng Do not disturb treo ở cửa phòng khách sạn vậy. Chị Lan nhớ trong đời chị đã một lần duy nhất chứng kiến cảnh bà Vân giận dữ khi bị quấy rầy trong lúc bản nhạc Tiếng xưa đang được cho hát đi hát lại nhiều lần. Cô kế toán trẻ tuổi không kiên nhẫn nghe lời khuyên của chị, đã tự tiện đẩy cửa phòng vào sau đó bị cho thôi việc không cần giải thích lý do; còn chị thì bị một câu cảnh cáo duy nhất nặng hơn chì: “Không có lần thứ hai đâu”. Từ đó chị luôn giữ chặt cửa phòng bà chủ khi nghe bản nhạc nổi lên, lòng tự nhủ phải giữ lấy nó như là cái nồi cơm của hai mẹ con chị.

    Mà cũng kỳ thiệt, bao nhiêu năm nay bà chủ cứ nghe đi nghe lại bản nhạc này không thấy chán, có khi bà để cho hát cả mấy chục lần. Đó là những ngày mùa mưa ướt dầm rỉ rả, Công ty du lịch ế khách, nhân viên ngồi chơi nhiều hơn làm; người thì đan len gia công, người học ngoại ngữ, còn bà chủ thì khóa chặt cửa phòng nghe đi nghe lại bản nhạc nức nở đó.

    Chị Lan cũng như bao nhiêu người làm cho cái Công ty này không ai biết được bà Giám đốc xinh đẹp thông minh dịu dàng đoan trang của họ vì sao lại sống đơn độc tới chừng tuổi ấy; lại cũng không ai biết chuyện tình của bà chủ như thế nào. Đại loại họ chỉ biết rằng gia đình bà chủ ra nước ngoài từ nhiều năm nay, duy nhất còn lại bà ở Sài Gòn, qua bao nhiêu nỗ lực và ngoan cố để giữ lại cho bằng được ngôi nhà hai lầu xinh đẹp không bị sung công. Họ cũng biết được bà Giám đốc thông thạo hai ngoại ngữ, sử dụng đủ cho phép lịch sự xã giao năm ngoại ngữ khác, đủ tài trí lèo lái Công ty từ lúc còn nghèo khổ cho đến khi phát đạt như bây giờ. Mà điều đặc biệt là không hề thấy bà đùa cợt chớt nhã với bất kỳ người đàn ông nào, luôn luôn nghiêm khắc từng lời ăn tiếng nói với người khác phái như những người tu hành thật sự.

    Chị Lan đã từng có chồng, bị chồng bỏ; chị cũng đã trải qua những đau đớn mất mát vì tình; nhưng thật sự thì chị không thể sống khép mình như bà Vân được. Đôi khi chị cũng có ý định tìm cho mình một người nào đó thay thế cho người chồng phụ bạc của mình nhưng điều đó quả là khó với chị. Ngoài đồng lương ở Công ty ra chị chỉ có thể kiếm thêm chút ít tiền bằng cái nghề thêu mà chị đã quen thuộc từ hồi còn rất trẻ. Thằng Tuấn Anh con chị năm nay mười chín tuổi, đang học Trung cấp điện với sự hỗ trợ của Công ty; có bao giờ nó để cho mẹ nó tìm được ai đâu. Cứ hễ mỗi lần có ai đến nhà chơi là nó làm như giặc tới, nó không thể chấp nhận một người đàn ông nào đó muốn có ý định bước vào căn nhà nhỏ xíu của mẹ con nó. Chị Lan đôi lúc tức quá quát con: “Mày muốn tao chết già sao?” Nó trả lời tỉnh bơ: “Con chỉ muốn mẹ như bác Vân, chừng nào bác Vân lấy chồng, mẹ lấy còn kịp mà”. Cái thằng – nó còn bắt chước chị, coi bà Vân là thần tượng nữa chớ.

    Mà nghĩ cho cùng cũng phải thôi – giàu sang, thông minh, xinh đẹp, giỏi giang như bà Vân còn chưa thèm nghĩ tới lấy chồng thì chị nghĩ tới làm chi cho mệt người không biết. Có đuợc bao nhiêu tiền dành dụm chị gởi hết ở Ngân hàng, dự định để cưới vợ cho con, thằng nhỏ nghe mẹ nói nó cười ngất: “May quá, mẹ mà lấy chồng coi như con làm gì có được khoản này”. Cái thằng – không biết mẹ nó thật ra mới có ba mươi tám tuổi, cái tuổi còn đủ sức kiếm một ông nào đó an ủi lúc trái gió trở trời. Nhưng kẹt nỗi nhìn thấy bà chủ đoan trang lạnh lùng lịch sự chị lại cảm thấy mình thật là tệ, không đáng xách dép cho bà.

    Có lần chị họ của chị Lan – người đã xin việc cho chị – vốn là bạn thân của bà Vân – đã nói nửa đùa nửa thật với bà chủ trước mặt chị: Xếp ơi – xếp cứ độc thân như vầy hoài, lính của xếp học theo xếp ở không cả lũ. Bà Vân cười ngất. May mà họ là bạn thân với nhau từ hồi học lớp sáu lớp bảy gì đó, chớ người khác ai mà dám nói với bà Vân kiểu đó, cái uy quyền từ con người bà Vân toát ra làm cho người đối diện phải e dè kiêng nể.

    Lan nhớ có lần chị hỏi thăm người chị họ của mình về lý do bà Vân ở độc thân cho tới bây giờ thì bị một cái trừng mắt kèm theo câu nói lạnh nhạt: “Chuyện ai nấy biết – kệ người ta”. Vậy là coi như chẳng ai biết đuợc sự tích tình yêu của bà Giám đốc mình ra sao hết, vì người duy nhất biết được thì lại chẳng bao giờ thèm nói ra.

    Sáng nay chị Lan rất rảnh rỗi, hơn hai chục chiếc xe lớn nhỏ của Công ty đã đưa khách đi du lịch nhân dịp lễ 30/4 hết rồi. Không bù cho mấy bữa trước điện thoại réo như điên, khách hàng dồn dập đăng ký, hỏi thăm làm cho chị mệt phờ phạc. Chị luôn luôn phải giữ lịch sự với khách dù bất cứ hoàn cảnh nào. Chị được bà Vân nhận vào làm một phần nhờ sự giới thiệu của người chị họ, một phần do giọng nói trong điện thoại nhẹ nhàng duyên dáng – điều này do bà Vân xác nhận như thế – mặc dù chị chẳng xinh đẹp gì, nếu không nói là hơi xấu xí khi ngồi ở vị trí đón tiếp khách. Chị dọn dẹp mấy cuốn sổ đăng ký, lấy khung thêu dở dang ra làm tiếp, cái nụ hoa hồng mới được phân nửa, bốn bữa nay không thêm được chút nào. Đang cắm cúi chị thoáng thấy bóng người trước mặt, nhìn lên thì gặp ngay người đàn bà sang trọng bệ vệ đã mấy lần đến Công ty và được bà Vân đón tiếp ân cần. Chị lật đật đứng dậy chào khách, Người đàn bà hất hàm trịnh thuợng:

    - Vân đâu ?
    Chị Lan ngập ngừng:
    - Bà Giám đốc đang bận. Xin phép bà chờ cho một lát.
    Người đàn bà nhíu mày:
    - Khỏi chờ. Tôi cần gặp ngay bây giờ,
    Chị Lan nghiêm giọng:
    - Thưa bà không được. Bà chủ không thể tiếp khách đuợc bây giờ. Xin bà thông cảm.
    Nét bực bội hiện lên rõ trên nét mặt người khách:
    - Không tiếp ai thì cũng phải tiếp tôi chứ. Chị vào báo với bà chủ đi.
    Ngọc Lan đứng chắn trước cửa phòng, cương quyết lắc đầu:
    - Thưa bà không thể được đâu ạ. Xin bà chờ cho.

    Bỗng bản nhạc Tiếng xưa chấm dứt, rồi một bản nhạc khác vang lên, Ngọc Lan thở phào nhẹ nhỏm.
    - Thưa bà, bây giờ bà chủ của tôi có thể tiếp khách được rồi. Thưa bà, bà là bà Lệ Trinh?
    - Phải.

    Ngọc Lan cầm máy điện thoại báo lại. Tiếng bà Vân nhẹ nhàng: Để tôi mời bà ấy.

    Bà Vân mở cửa, cười thật tươi:
    - Chị Trinh về từ lúc nào vậy? Sao không cho Vân biết?
    Rồi bà quay sang chị Lan:
    - Lan lấy hai ly cam tươi. Em có thể về được rồi đó.
    Bà Vân ngồi vào salon, đối diện với bà Trinh. Bà Trinh phàn nàn:
    - Nhân viên của Vân sao ngồi làm việc riêng, bên Mỹ là không có vậy đâu.
    Bà Vân nhẹ nhàng:
    - Người ta làm hết phần việc của họ rồi Trinh à. Họ làm kiếm thêm tiền là điều tốt mà, Vân thấy thích hơn là cứ để cho họ ngồi không tán chuyện với nhau.
    - Thì mình bớt người đi, để họ làm việc cho tăng năng suất.
    - À không, Vân cần họ làm việc nhanh nhạy và chính xác. Khi công việc đã xong họ có quyền đọc báo, học hay làm việc riêng, nhưng không ra khỏi nơi làm việc và không tụ tập đùa giỡn.
    - Vậy thì lãng phí công quá Vân ạ.
    - Không đâu chị, mình cho phép như thế để họ tranh thủ làm nhanh công việc của mình. Thời gian còn lại họ đọc báo, đọc sách để mở rộng tầm nhìn, học để trau dồi kiến thức, hoặc làm việc riêng để tăng thêm thu nhập. Vân nghĩ là điều đó tốt cho cả hai bên.

    Bà Vân đứng dậy, kéo rèm cửa sổ lại:
    - Chị Trinh về lâu chưa?
    - Hai ngày rồi. Mà phải đi thăm mấy đứa bạn, với lại đi thăm mộ ông bà. Bữa nay mới rảnh tới thăm Vân.
    - Cũng may là bữa nay chớ mấy bữa trước Vân bận lắm. Thiên hạ được nghỉ lễ 30/4 nên kéo nhau đi chơi. Được một điều là nhân viên ở đây làm quen việc nên cái gì cũng xong hết rồi.
    - Ở Việt Nam bây giờ mấy ngày này cũng vui heng. Trinh về đây tính đi chơi mà chắc đi không đuợc.
    Bà Vân ngạc nhiên:
    - Sao vậy Trinh ? Trinh muốn đi đâu thì lấy xe Vân mà đi. Vân ở nhà mà.
    - Sao Vân không đi chơi?
    Bà Vân thở dài:
    - Vân làm việc mong được ngày nghỉ, chớ đâu mong đi chơi.
    Bà Trinh lắc đầu:
    - Vân cứ thế này hoài … Trinh thì muốn đi nhưng mà cái chân Trinh đau quá, chắc đi không nổi. Uống bao nhiêu thuốc rồi mà cứ bớt rồi đau lại, cái bệnh khớp này coi bộ dai dẳng quá đi.
    Bà Vân uống một ngụm nhỏ nước cam, rồi nói:
    - Theo Vân thì mấy cái bệnh mãn tính này phải trị bằng thuốc Nam mới được, uống thuốc Tây nhiều quá mệt lắm .
    Bà Trinh nhăn nhó:
    - Trinh cũng biết vậy nhưng ở bên đó làm gì có thuốc Nam mà trị. Đúng là uống thuốc Tây nhiều trong người nóng nảy bức rức. Người Việt Nam mình có đi đâu cũng không quên được cái gốc.
    Bà Vân cười nụ:
    - Để chiều nay Vân đưa Trinh tới Bệnh viện Y học dân tộc.
    - Chiều nay nghỉ lễ mà.
    Bà Vân lắc đầu:
    - Chưa đâu, sáng nay mới thứ bảy, bệnh viện đó làm việc cả ngày thứ bảy chớ không phải nghỉ như những bệnh viện khác.
    Bà Trinh đồng ý:
    - Ờ nếu đi được thì đi, chớ Trinh cũng chán cái kiểu mệt mõi âm ỉ này quá. Thấy ai cũng muốn cải lộn. Hồi này nhân viên của Vân mà không cho Trinh vô dám Trinh chửi một trận lắm.
    Bà Vân cười ngất:
    - Xin đi. Cô đó là em bà con của An đó. An đưa vô làm cho Vân mười mấy năm rồi.
    Bà Trinh nhíu mày:
    - An nào? Phải An bạn của Công không?
    Vân gật đầu:
    - Đúng rồi, An hay đi học chung với Công đó.
    Bà Trinh như nhớ ra, phì cười:
    - Hồi xưa Trinh tưởng Công bồ với An chớ, tới lúc hai đứa nó giành ăn cự nự om sòm mình mới biết hai đứa này đầu óc bã đậu, tối ngày toàn rủ nhau đi ăn không hà.
    Bà Vân cười tủm tỉm:
    - Vậy nên ai cũng tròn như hột mít hết.
    Bà Trinh vừa nói vừa ra hiệu
    - Công bây giờ nặng hơn hai trăm pound đó Vân à. Bự cỡ này nè. Nó cũng còn tham ăn như hồi nhỏ. Còn An sao rồi?
    - Nó cũng chỉ hơi đẫy đà thôi. Chừng hơn năm mươi lăm ký.
    - Không. Ý của Trinh muốn hỏi gia đình An ra sao?
    Bà Vân trầm ngâm:
    - An lấy chồng hơi trễ, nó có một đứa con trai năm nay hai mươi tuổi. Học khá lắm. Đen như cột nhà cháy mà có duyên.
    Bà Trinh lại hỏi thêm:
    - Còn vợ chồng An ?
    - An làm công nhân KCS cho một công ty may, chồng nó làm Phó Giám đốc cho Công ty liên doanh. Tiền bạc cũng đủ xài. Nói chung là tốt.
    Bà Trinh thở dài:
    - Cuộc đời thật là kỳ lạ. Ngày xưa Vân đẹp hơn An, An học giỏi hơn Vân, mà bây giờ Vân giỏi hơn An, còn An thì hạnh phúc hơn Vân.
    Bà Vân quay đi:
    - Biết thế nào bây giờ Trinh ? Với Vân là quá đủ rồi.
    Bà Trinh phản đối:
    - Sao Vân lại nghĩ vậy ? Dù sau Vân cũng cần phải có một gia đình, chuyện ngày xưa đã xa quá rồi mà. Trinh về kỳ này có ý định làm mai cho Vân một ông bạn, cũng ở Mỹ. Vợ chết, có hai con gái mà lớn hết rồi. Làm chủ một trang trại, cũng rất khá giả.
    Bà Vân cắt ngang câu chuyện:
    - Thôi chị Trinh với Vân về nhà ăn cơm, chiều nay Vân đưa chị đi Bệnh viện Y học dân tộc.
    Biết ý bà Vân không vừa lòng với đề tài của mình, bà Trinh thở dài đứng dậy theo bà Vân về nhà.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #3
    Miền Ký ức 2 - Anchu

    Hai người đàn bà vào trong ngôi biệt thự xinh xắn hai lầu, tuy có hơi cổ kính của bà Vân. Sau khi tắm rửa ăn cơm xong, bà Vân đưa bà Trinh lên lầu nghỉ trưa. Bà Trinh ở căn phòng phía Tây, nơi đã mấy lần bà Trinh đến ở, bà Vân về phòng mình ở phía Đông. Căn phòng của bà Vân thật giản dị, thanh khiết, đồ vật trong phòng hoàn toàn là những vật dụng lâu đời. Ở góc phòng, một tấm ảnh đen trắng hình người đàn ông trẻ tuổi cười rất tươi. Bà Vân lặng người nhìn bức ảnh, nói một mình:

    - Anh vẫn ở bên em mà, phải không anh?

    Bà Vân thở dài, lên giường nằm. Buổi nói chuyện với bà Trinh trưa nay tuy không lâu nhưng làm cho bà gợi nhớ nhiều kỷ niệm. Bình thường bà Vân làm việc, hoặc học hành say sưa dù bà đã gần năm mươi. Cũng không có ai biết gì về dĩ vãng của bà để nói ngoại trừ An là người bạn gái thân thiết từ nhỏ của bà, mà bà An thì ở xa, cả năm mới gặp lại một lần; lại là người thông minh, tế nhị nên không bao giờ bà An đề cập đến chuyện riêng của bà. Cuộc sống vội vàng ở Sài Gòn cuốn hút bà Vân trôi đi, bà miệt mài trong công việc kiếm tiền làm niềm vui, hoặc có hôm rãnh rỗi thì đi thăm Viện dưỡng lão, Viện nuôi dưỡng người tàn tật. Bà hầu như không còn nhiều thời gian cho mình. Nhưng hôm nay thì khác; hôm nay là ngày nghỉ lễ, bà có một chút không gian và thời gian riêng cho mình, và bà cũng có thêm một người quen từ Mỹ về thăm bà, mà người này lại là một phần ký ức của bà. Bà nhìn đau đáu lên trần nhà, ngỡ như thấy một hình ảnh nào đó, bà nói một mình:

    - Ba mươi năm rồi, trời ơi ! Sao mà mau quá vậy ?

    Trong trí óc bà xuất hiện hình ảnh người đàn ông đó, người đàn ông duy nhất trong đời bà đã yêu, đã tôn thờ gần ba mươi năm nay, dù thật ra bà không hề biết được rằng người đàn ông đó có còn tồn tại trên cõi đời này hay không. Bà Trinh nhiều lần nói với bà là người ấy đã chết rồi, đã nhiều lần bảo bà quên đi, lấy chồng đi. Nhưng bà có yêu ai, thậm chí có để mắt đến ai đâu mà bảo lấy. Trong con mắt, trong trái tim, trong trí óc của bà chỉ duy nhất có một người ấy mà thôi. Bà làm sao quên được nụ cười rộng lượng quyến rũ của người đàn ông lớn hơn bà đúng một giáp. Bà làm sao quên được ánh mắt nồng nàn của người đàn ông mà chỉ vừa nhìn thấy lần đầu tiên bà đã biết bà sẽ không bao giờ quên được. Không ! cả cuộc đời bà chỉ duy nhất yêu có một người. Và chỉ duy nhất có một mình An hiểu bà, An là người luôn sát cánh với bà trong lúc bà bơ vơ, luôn đưa ra những lời khuyên, lời nhận xét đúng đắn nhất cho bà. Bà Trinh cho rằng bà An thua kém bà nhưng thật ra bà Vân luôn nghĩ rằng bà An mới là người thực sự thông minh, thực sự là chỗ dựa tinh thần cho bà mỗi khi bà bị khủng hoảng. Bà Trinh hoàn toàn không thể nào hiểu được bà, vì bà Trinh không phải là bạn của bà. Bà Trinh chỉ là em gái của người ấy, và là người ngày xưa đã từng phản đối quyết liệt khi biết người ấy yêu bà. Cho đến hai mươi năm sau, khi thấy bà vẫn sống độc thân với mối tình đầu ảm đạm bà Trinh mới đổi lòng giúp đỡ bà, ủng hộ bà về mặt vật chất. Trong gia sản hiện nay của bà có một phần ba là của ba mẹ bà Trinh gửi về, coi như là phần của gia đình người ấy gởi cho đứa con dâu hụt bất hạnh.

    Phòng bên kia bà Trinh cũng không ngủ trưa được, một phần do lạ nhà, một phần do bà nhớ lại chuyện bà nói hồi trưa. Bà nhớ mà tức cười, hồi xưa anh em bà vui vẻ lắm, thương yêu nhau lắm. Năm học lớp mười một tự nhiên thằng út đi đâu cũng kè kè với một con nhỏ xấu hoắc, lùn xủn mà còn hơi mập nữa chớ, ngoại trừ cặp mắt đen láy thông minh thì con nhỏ chả có gì mà kể. Vậy mà đi sinh hoạt hướng đạo thằng út cũng đi chung, đi học cũng nói chờ con kia đi chung, hỏi nó phải bồ nó không thì nó lắc đầu nguây nguẩy. Lúc đó bà Trinh mới ra trường, chị ba thì lấy chồng phi công sinh được hai đứa con, anh hai đi lính làm lớn lắm, thằng em kế học dốt thi rớt tú tài phải đi hạ sĩ quan. Thằng Công lúc đó học lớp mười một, là con cưng của ba má, má nuôi nó trắng trẻo mập ù, vậy mà nó lại còn đi với một con nhỏ cũng ù ù giống nó. Má than thở:

    - Nhà này con cái ai cũng yêu đương muộn màng mà sao thằng út bồ sớm quá vậy hổng biết.

    Nó sửng cồ:
    - Làm gì có đâu má.

    Chị ba hỏi:
    - Sao nghe nói Công đi đâu cũng đi với con nhỏ đó, bộ mới vô học lớp Công hả?

    Thằng Công trề môi:
    - Sức mấy, nó học khác lớp em.

    Chị ba trợn mắt:
    - Khác lớp sao hay đi chung?

    Thằng Công hỏi lại:
    - Khác lớp bộ đi chung hổng được sao? Cho chị biết là nó học giỏi lắm nghen, em đi chung với nó là còn vinh dự cho em nữa đó.

    Bà Trinh cười nắc nẻ:
    - Ừ vinh dự quá, từ ngày mày đi chung với nó, coi bộ áo quần mau chật quá. Hai đứa này chắc hạp tuổi lắm nên tứ chi phát triển dữ à.

    Thằng Công cự nự:
    - Chị nói tụi em đầu óc ngu si tứ chi phát triển hả. Còn lâu nghen. Xin lỗi bà chị, còn lâu chị mới ruợt kịp tụi em nghen.

    Rồi bà Trinh nhớ tới cái lần bà phát hiện ra rằng hai đứa ú ù này thiệt ra không hề có chút gì yêu đương hết. Đó là cái lần bà theo dõi thằng Công để bắt quả tang nó bồ bịch hồi mùa hè năm đó. Lúc đó thằng Công mới vừa thi Tú Tài một xong, nó hí hửng khoe má là con làm bài số dzách đó má. Bà già tin tưởng thằng con trai cưng mở tủ lấy cho nó một xấp tiền kêu bằng thưởng thằng út học hành cực khổ. Thấy nó tắm rửa thay đồ, chải đầu hất qua hất lại là bà Trinh đoán liền nó sắp đi với con nhỏ mập ù kia. Nghe nó nói con kia học giỏi lắm, chắc hai đứa tin tưởng thi đậu nên hẹn hò đi chơi đâu đây. Thằng Công dắt xe đạp tới đầu đường thì bà cũng phóng chiếc Solex đi theo, cách một khoảng xa xa cho nó không biết. Mà cái thằng ngu thiệt, nó đạp một mạch không thèm quay đầu ngó lại. Tới cái hẻm ở đường Ngô Tùng Châu thấy con nhỏ kia dựng xe đạp chờ sẵn, rồi hai đứa đạp xe đi song song. Bà đoán hai đứa này sắp vô rạp xi nê hay vô Sở Thú, công viên gì đó, nhưng mà lại thấy hai đứa đi lòng vòng rồi ghé xe bò bía, ăn xong đạp xe qua ngã bảy ăn cháo huyết, rồi tiếp tục đi ăn bún bò Huế, bà theo dõi hai đứa mập ú ăn mà phát thèm. Sau cùng hai đứa kéo nhau lên cầu Bông ăn chè thạch ở Hiển Khánh. Lúc này bà Trinh mệt quá nên cũng vô quán chè ngồi sau lưng thằng Công. Bà ăn một phần ba ly chè thì tụi nó ăn được nửa ly, rồi bà phát hiện ra là con nhỏ kia say sưa ngó tấm áp phích có hình Elizabet Taylor trong phim Nữ hoàng Cléopatre ở rạp Cầu Bông sát bên tiệm chè. Rồi bà cũng phát hiện ra là trong lúc con nhỏ ngó say mê thì thằng Công thò muỗng vô ly chè của con nhỏ múc bớt một muỗng bỏ qua ly nó. Được ba lần thì con nhỏ nghi ngờ, bà Trinh ngồi gần tụi nó nên nghe rõ ràng con nhỏ thắc mắc:

    - Ủa sao An mới ăn có nửa ly mà mau hết vậy ta?

    Thằng Công trả lời hàm hồ:
    - Ai biết An ăn bao nhiêu?

    Con nhỏ nhìn sang ly Công, nghi ngờ:
    - Ủa mà sao ly của Công còn nhiều hơn ly của An?

    Bà Trinh suýt bật cười khi nghe thằng Công trả lời:
    - Tại Công ăn ít hơn An.

    Con nhỏ phản đối:
    - Hổng có đâu, hễ An ăn một muỗng là Công ăn một muỗng mà. Huống chi nãy giờ An đâu có ăn, An mắc ngó mấy tấm quảng cáo mà, sao tự nhiên ly của Công đầy lên còn ly của An thì gần hết vậy?

    Thằng Công cự nự:
    - An làm giống như Công ăn của An vậy?

    Con nhỏ hỉnh mũi :
    - Công thề đi. Đứa nào ăn trộm chè của đứa khác thì làm con chó cụt chưn.

    Thằng Công nổi nóng:
    - Tao làm sao mà làm con chó cụt chưn được.

    Con nhỏ bẻ lại liền:
    - Vậy là mày ăn chè của tao chớ gì?

    Thằng Công cải lại:
    - Chè này tao bao, ly nào cũng là của tao.

    Con kia lý sự :
    - Hồi nãy tao bao bò bía sao mày hổng nói vậy?

    Thằng Công nói ngang:
    - Mày hổng nói kệ mày chớ mắc chi tao nói.

    Con kia dứt khoát:
    - Nói tóm lại mày ăn trộm chè của tao phải không?

    Tới đây thì bà Trinh không còn nhịn được cười nữa, tiếng cười của bà làm thằng Công giật mình, nó quay đầu lại thấy bà nên mặt mày ửng đỏ, còn con nhỏ kia thì ngơ ngác không biết gì.

    Bà Trinh nằm nhớ lại, tức cười quá cười một mình khùng khục, bà tức cười hai đứa nó, thi tú tài một rồi mà còn giành ăn, còn kèm thêm cái kiểu thề con chó cụt chưn nữa chớ. Vậy mà sau đó hai đứa đậu hết, mà đậu cao mới ác; bà già khoái chí làm một bữa ăn linh đình cho thằng Công mời bạn bè. Từ cái bữa ăn này mới sinh ra rắc rối đây. Nguyên nhân là do má biểu thằng Công mời bạn bè tới ăn mừng, nó kê danh sách hơn hai chục thằng con trai mà không có đứa con gái nào, chị ba ngạc nhiên:

    - Ủa em không có bạn gái nào hết sao Công?

    Thằng Công lắc đầu:
    - Dạ không.

    Bà Trinh – lúc đó là cô giáo Lệ Trinh – cười khúc khích:
    - Có một cô mập thù lù giành ăn với Công nên Công nghỉ chơi rồi.

    Thằng Công cải lại:
    - Đâu có nghỉ chơi, mà tại nó khác lớp với em, em mời nó đi ăn một mình nó hổng đi đâu.

    Anh hai bữa đó cũng về nhà ăn cơm, góp ý:
    - Con gái đi như vậy người ta mắc cở là phải rồi. Sao em không mời thêm bạn của cô ấy cho vui.

    Thằng Công lo lắng:
    - Lỡ nó rủ thêm năm đứa nữa sao?

    Đạt – anh trước Công tham gia:
    - Năm đứa càng tốt chớ sao, tha hồ cho tao tuyển chọn.

    Lệ Trinh cười ngất:
    - Ờ ! Biểu Công nó giới thiệu bạn gái thân thiết nhất của nó cho Đạt, con nhỏ mập ù mà còn giành ăn đó.

    Công phản đối:
    - Còn lâu đó. Em mà có giới thiệu nó là em giới thiệu cho anh hai. Nó tuy hổng đẹp, mập mập nhưng mà nó thông minh giống em. Có vợ thông minh là hết xẩy đó anh hai. Ông bà mình nói: Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột thứ ba nợ đòi. Anh cưới một con nhỏ thông minh như con bạn em là anh khỏi lo lắng gì hết.

    Lệ Trinh xì một tiếng:
    - Quảng cáo dữ vậy nhỏ?

    Công nghênh mặt:
    - Chớ sao chị tư. Nếu chị xấu thì chị đi mỹ viện là đẹp liền chớ nếu chị dốt chị đi đâu cho hết dốt bây giờ.

    Đạt xen vô:
    - Mày khen dữ vậy sao mày không chấm nó đi.

    Công nhăn nhó:
    - Nó chỉ hợp với em lúc đi ăn với đi học thôi, còn lại là em với nó cải lộn tối ngày. Với lại con đó nó nói nó không có ưng ai bằng tuổi nó đâu.

    Má cắt ngang câu chuyện:
    - Thôi muốn mời bao nhiêu đứa cũng được, má chấp nhận hết, con mời thêm bạn gái cho vui vẻ nhen Công.

    Đạt thắc mắc:
    - Vậy mày hổng chơi với mấy đứa con gái lớp mày sao Công?

    Công xì một tiếng:
    - Con gái lớp em đứa thì ỏng ẹo, đứa thì kiêu kỳ, đứa thì học dốt, đứa thì ăn diện, không đứa nào được hết.

    Anh hai cười tủm tỉm:
    - Nói tóm lại là Công chỉ chơi với cô bé mập mạp bạn ăn hàng của Công thôi.

    Công gân cổ:
    - Để rồi anh hai coi. Nó vậy mà dễ thương lắm đó.

    Rồi bữa tiệc cũng tới, cô bạn mập ù dắt thêm hai cô bạn gái khác tới, một trong hai cô đó, rất xinh đẹp và trang nhã. Đó là Vân.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #4
    Miền Ký ức 3 - Anchu

    Đồng hồ gõ một giờ, bà Vân ngồi dậy theo thói quen, bà định thay quần áo rồi qua phòng bên gọi bà Trinh đi bệnh viện thì chuông điện thoại reo . Một giọng nói quen thuộc vang lên:

    - Vân dậy chưa Vân? An đây.
    - An ở đâu gọi lại vậy?
    - Sài Gòn chớ đâu. Hồi mười một giờ An gọi tới văn phòng mà không thấy ai nghe.
    - Bữa nay Vân về hơi sớm. À ! An tới nhà Vân liền đi nhe.
    - Có vụ gì vậy?
    - Có Việt kiều về.
    - Ai?
    - Chị Trinh.
    - Thôi đi ! An hổng ưa bà đó chút nào. Thấy An tới chắc bã tưởng An tới xin tiền quá. An hổng qua đâu.
    - Vậy An về Sài Gòn được mấy bữa?
    - Bữa nay – ngày mai thôi. Chi vậy?
    - Chị Trinh ở nhà Vân. An không tới thì hai đứa mình gặp nhau ở đâu ?
    - Kệ . Lần sau An tới nhà Vân. Bây giờ thôi đi.
    - Thôi mà. Vân năn nỉ mà. An giận dai quá.
    - An không giận mà An hổng thích mấy người kiêu kỳ đó.
    - Thôi đừng có ghét nữa mà. Chị Trinh là chị của Công mà. An quên sao?
    - Sao mà quên? Nhưng kệ bã chớ.
    - Tới nhà với Vân đi, Vân sắp đưa chị Trinh đi khám bệnh ở Y học dân tộc. Có An thì mau hơn nhiều. Đừng có nói không nhen.
    Tiếng An thở ra trong máy:
    - Ờ thì đi. Mười lăm phút nữa.

    Khi bà An đến nhà thì bà Vân và bà Trinh đã chuẩn bị xong, họ tiếp tục đến bệnh viện bằng chiếc taxi mà bà An đã đi đến. Trên đường đi họ không nói với nhau nhiều, chỉ là bà Trinh than phiền các phiền toái nhỏ nhặt mà bà gặp trên chuyến đi về Việt Nam lần này.

    Bà An không hào hứng lắm với những câu chuyện của bà Trinh. Quả thật là bà không thích gì người đàn bà sang trọng giàu có này. Không phải chỉ mới bây giờ mà đã từ nhiều năm về trước, khi bà An còn là bạn thân thiết của Công, cậu em trai út của cái gia đình giàu từ trong trứng giàu ra này. Bà An nhớ đến thằng bạn thân của mình, cái thằng suốt ngày nghĩ đến chuyện ăn mà học thì quá giỏi, giống như là hai chữ ăn học luôn luôn được đi liền với nhau. Bà tủm tỉm cười một mình khi nghĩ đến mình ngày xưa cũng hay ăn như bạn mình và tự cho rằng mình ăn ít hơn nó. Đó là thời mà bà An còn rất trẻ, khi An và Vân cùng học chung một lớp ở trường Trung học đệ nhị cấp – bây giờ gọi là trường cấp ba. Tuy rằng bộ ba An, Vân, Thúy rất thân nhau nhưng đôi khi An vẫn xé lẻ đi chung với Công mà không sợ Vân hay Thúy giận. Lý do rất tức cười là vì An thích ăn hàng mà Thúy với Vân thì không thích, Vân khảnh ăn còn Thúy thì sợ mập. Trong khi đó An với Công cứ chén đều đều vô tư, hai đứa còn ngâm nga câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” và cùng hứa với nhau phải học giỏi như ăn. Nhưng có lẽ là vì An ăn ít hơn Công nên An cố hết sức mà vẫn không học giỏi bằng Công rồi tự ngậm ngùi đổ thừa là trời cho mình cái dạ dày và bộ não nhỏ hơn Công một chút xíu. Cũng may là sau đó vì phải lo toan quá nhiều cho việc gia đình trong những năm thất mùa đói kém, mà Công thì theo gia đình ra nước ngoài ngay từ năm 1975 nên An không còn bạn ăn hàng chứ nếu không thì….

    Bà An phì cười khi tưởng tượng đến thân hình đồ sộ một trăm ký có dư của thằng bạn mình, chao ôi nếu như mình cũng giống Công thì không biết anh Bình đau khổ như thế nào với một bà vợ to như cái bồ lúa đây, mà có khi ông ấy chán quá đi tìm một bà thon thả hơn thì sao, nghĩ cho cùng việc gì cũng nên giữ ở mức trung bình là tốt rồi.

    Tiếng bà Trinh lôi bà An ra khỏi giấc mộng ăn uống ngày nào:
    - Gì mà cười vậy An?
    - Em đang nhớ Công.

    Bà Trinh cười khanh khách:
    - Nhớ bạn ăn hàng hay nhớ những lúc ăn hàng.
    - Cả hai.

    Giọng bà Trinh chùng xuống, thủ thỉ:
    - Đôi khi Công nó cũng muốn về nhưng vợ nó khăng khăng không chịu. Vợ nó nói cha mẹ anh em ở đó hết rồi, về đây còn ai mà về.
    - Nghĩ cũng đúng đó chị.
    - Tất nhiên là đúng nhưng dù sao ai cũng đã có một thời gian sống tại quê hương mình, làm sao mà không muốn trở về thăm lại. Như chị bây giờ mỗi năm mỗi về, không về thì như thấy thiếu cái gì đó không hiểu nỗi. Mặc dù rõ ràng đôi lúc thấy bực mình vì những điều lạc hậu và vô lý của đất nước mình, nhưng cuối cùng rồi cũng đành chịu vậy.

    Xe dừng lại trước cổng bệnh viện, bà An bước thoan thắt vào làm thủ tục. Bà Trinh và bà Vân thong thả theo sau. Bà Trinh tấm tắt khen:
    - An nó còn khoẻ mạnh quá, đi đứng nhanh nhẹn như còn trẻ, không bù cho mình muốn bước lẹ một chút cũng khó.

    Ba người ngồi chờ ở băng ghế dài, bà Trinh và bà Vân tiếp tục nói về những người quen trong chuyện làm ăn, bà An lại miên man nhớ về nhũng ngày xa xưa ấy. Bà nhớ lại từng gương mặt trong gia đình bà Trinh, nhớ bà Quốc Trung mẹ của Công, người đàn bà Huế có cái tên dài lòng thòng Tôn nữ gì đó lâu quá bà cũng quên mất rồi, có điều bà Tôn nữ này ở Sài Gòn, làm việc trong một bệnh viện toàn người Sài Gòn, lại sống với một ông chồng dân miền Tây thứ thiệt nên bị lai căng ít nhiều. Dù sao cũng tốt là bà Trung không khó tánh, đôi lúc lại thấy dễ chịu hơn cả con gái là Lệ Trinh. Bà cũng nhớ lại ông Quốc Trung – giáo sư đại học trường Luật thời đó, một ông già hiền lành thường nheo mắt cười với bà, đôi khi còn gọi đùa bà là con dâu, dù rằng ông dư biết An không bói đâu ra một chút lý do nào để được gọi là con dâu của ông cả. Bà An còn nhớ cả bà Ánh Tuyết – người chị lớn của bà Trinh, bà Tuyết có một ông chồng lái máy bay, chính ông này vào tháng 4/1975 đã đem cả hai gia đình nội ngoại lên máy bay cất cánh bay thẳng ra nước ngoài. Bà cũng nhớ ông Đạt, anh kế Công, người được mệnh danh là học dốt nhất nhà, có cái bằng tú tài mà thi không đậu. Nhưng sau này theo lời bà Trinh, lại là một nhà kinh doanh xuất sắc, dẫn đầu trong số người Việt ở tiểu bang đó. Dù sao người mà bà An nhớ nhất vẫn là Công, đứa bạn dễ mến của bà, nghe đâu rằng vợ Công là người phụ nữ đáo để, tám năm trước khi ông bà Quốc Trung chia một phần nhỏ gia sản cho Thanh Vân, vợ Công đã tìm mọi phương cách để ngăn cản, mãi cho đến khi bà Ánh – vợ ông Đạt phải dở đến luật pháp và kiến thức của một luật sư ra thì Vân mới được hưởng chút gia tài bé bỏng đó.

    Một con ruồi bay vèo qua trước mũi bà An làm bà giật mình, nhìn qua bên kia bà tủm tỉm cười khi thấy bà Vân đang nói chuyện với một cụ bà người Hoa bằng cái ngôn ngữ mà bà An cho là rắc rối nhất trên đời ” Cái gì mà dăm bảy kiểu, hết Bắc Kinh tới Quảng Đông, Đài Loan, Phúc Kiến, chịu hết xiết” Bà An thường phàn nàn như vậy mỗi khi ông Bình chồng bà khuyến khích vợ học tiếng Hoa. Không phải bà An lười, bà đã chẳng học hết chương trình C tiếng Anh sao; nhưng tiếng Hoa thì bà chịu thua dù bà vẫn thường khen chữ viết của ngôn ngữ này đẹp như tranh thủy mặc. Ông Bình đôi khi mang bà Vân ra làm thí dụ cho bà An thì bà An cười ngất “Đem ai chớ đem con Vân ra mà thí dụ thì ngay cả anh cũng còn lâu mới theo kịp nó”

    Mà quả là bà An không nói ngoa đâu, vì bà An vừa thấy bà Vân quay sang trao đổi với một người đàn ông tương đối lớn tuổi bằng một ngôn ngữ khác rồi. Nhìn bộ dạng ông này chắc phải là người Hàn quốc đây. Coi kìa ông ta nói bằng tiếng quốc ngữ nên trông ông thoải mái quá, thỉnh thoảng lại còn ra dấu. Không biết tiếng Hàn chớ nhìn cái mặt hớn hở kèm theo kiểu nói và ra hiệu cách phấn khởi vậy thì chứng tỏ bệnh của anh hai Cao Ly này đã thuyên giảm khá nhiều. Ông già này chắc ở Việt Nam lâu rồi mới nhiễm cái kiểu vừa nói vừa ra dấu chỉ trỏ lung tung.

    Hồi đó có lần bà An hỏi bà Vân sao mà siêng học ngoại ngữ quá vậy. Hỏi trêu chọc bạn vậy thôi chớ ai mà hiểu Vân nhiều bằng bà An. Ngoài cái lý do học nhiều ngôn ngữ để phát triển thêm cho cái công ty du lịch mà Vân đang làm chủ, Vân còn học để quên đi thời gian, quên đi cái dĩ vãng, cái hình ảnh nhoè nhoẹt trong quá khứ, ba mươi năm chờ đợi mõi mòn cho một tình yêu bặt tin bí hiểm không có lời đáp. Ba mươi năm chông chênh một thân một mình chống chỏi với mọi bão táp phong ba xảy đến ở cái tuổi đẹp nhất, mộng mơ nhất của một đời người con gái đã đem Thanh Vân từ một cô gái hiền lành xinh đẹp nhút nhát trở thành một quý bà thanh lịch thông minh quyết đoán. Cũng may là tất cả đã trôi theo một chiều hướng tốt, một chiều hướng mà như bà An thường nói ” Hãy làm đi rồi trời sẽ giúp” hay như câu chữ mà Thanh Vân treo trong phòng làm việc ” God help anyone who help themselves”.

    Bà Trinh quay về phía bà An thì thầm:
    - Vân giỏi ghê An heng.

    Tất nhiên là phải giỏi rồi, bà An luôn luôn nghĩ về bà Vân như vậy. Không giỏi sao được khi ngay từ mười tám tuổi đầu người ta đã một mình chống chỏi với tất cả mọi khó khăn đưa đến, tự mình nhận lấy cũng có mà người khác đưa đến cũng có.

    An chợt miên man nhớ lại những ngày sau giải phóng; ngày đó cả hai chỉ mới mười tám tuổi, cái tuổi mà các cụ còn cho là ăn chưa no lo chưa tới, cũng là cái tuổi đẹp đẻ thơ mộng nhất của thời con gái. Về phần An thì không có gì nghiêm trọng lắm, ba An đi cải tạo một thời gian ngắn rồi về, mẹ An bán dần hết sạp vải trong chợ rồi theo chính sách mới của Nhà Nước chuyển gia đình đi kinh tế mới. Lúc đầu cũng khó khăn lắm vì hoàn cảnh chung của đất nước, nhưng gia đình An lại may mắn là có cô con gái đầu thông minh tháo vác, chị Hạnh lúc đó hai mươi hai tuổi vừa học xong khóa Điều dưỡng viên, khi đến khu kinh tế mới chị trình diện xin việc ngay lập tức. Ở một nơi heo hút mà có được người phụ trách y tế thì còn gì bằng, chị Hạnh lại xung phong nhận về bản làng xa nhất. Hồi đó mẹ An không hiểu ý chị, khóc lóc vì cô con gái đầu ngang bướng nằng nặc xin đến ở một nơi mà phải đi xe đạp mới tới nơi vì đường xấu đến mức chỉ có xe thô sơ mới qua được.

    Nhưng chị Hạnh ở thế mà lại hay, hai tuần chị về nhà một lần bằng xe đạp nhưng lại có xe bò của người làng chở lúa về cho chị. Đó là một nơi hẻo lánh nhất huyện, dân làng thật thà chất phác lại chưa từng được hưởng chút gì gọi là văn minh. Do vậy ai cũng yêu mến cô y tá thông minh nhanh nhẹn nhiệt tình nên khoai sắn lúa thóc chị không động tay mà vẫn lần lượt theo nhau chạy về nhà mẹ. Hợp tác xã chia đất cho chị Hạnh thì có người đến làm thay cho cô y tá suốt ngày bận rộn trị bệnh trên làng dứơi ngõ, cả ngày chị đi vắng mà vườn nhà chị đầy gà, heo trong chuồng kêu ủn ỉn thì có người vạch rào qua cho ăn. Ngay cả những năm thất mùa đói kém thì nhà An vẫn một tay chị Hạnh cung cấp thực phẩm nuôi cả sáu miệng ăn.

    Nhà An thì vậy nhưng với Vân thì khác hoàn toàn. Ngay từ những tháng đầu sau giải phóng ba mẹ Vân và hai em đã vượt biên, chỉ một mình Vân quyết định ở lại không người nào lay chuyển được. Đơn độc trong ngôi biệt thự của mình với tất cả sự kiên trì để giữ cho được chính nó. Khi chính quyền cử người đến làm việc Vân cứng cỏi chất vấn và cương quyết không ra đi. Một cuộc chiến không cân sức xảy ra giữa cô gái mười tám tuổi và một lô lốc người có đủ uy quyền hợp pháp và cả không hợp pháp. Lúc đó An trở về Sài Gòn vì chị Hạnh cho rằng An không thích nghi được với vùng đất mới, chị muốn An tìm một nghề nào đó hợp cho mình hơn là ngày ngày vác cuốc ra rẫy khều khều vài cọng cỏ. An tìm đến nhà Vân đúng vào lúc căn nhà sắp bị tiếp thu. Hai người thì tốt hơn là một người. Cả hai đứa con gái quyết liệt chống đối bằng đủ mọi lý lẻ và hành động nhưng cũng không ngăn nỗi cái tình huống xấu nhất xảy ra.

    Vào cái ngày đó là ngày nào An không nhớ chính xác, một nhóm người đến cùng với vũ khí trên tay buộc Vân phải ra khỏi nhà dù nhiều lần cô đã xuống nước xin được giữ lại chỉ một phòng riêng. Gã đàn ông có cái mặt mà như An thường ví von “Đại biểu cho giới chức tham quan ô lại thành phố” đã hung hăng xỉa xói vào mặt Vân như hành động của mấy chị hàng cá hàng tôm. Gã cán bộ này hai năm sau bị mất chức mất quyền và biến ra khỏi khu vực đó mất tăm.

    Lúc đó Vân khóc như mưa, mà không khóc sao được chứ, liệu cô sẽ đi đâu về đâu khi gia đình cô đến thời điểm đó vẫn biệt vô âm tín, thân gái bơ vơ không người thân quen vì những người bà con gần xa lúc loạn lạc đã mạnh ai nấy biến. Mà cô lại không hề muốn rời xa ngôi nhà đã gắn bó với mình từ khi sinh ra, điều đó là lẽ đương nhiên rồi. Vân ngồi bệt xuống nền nhà, lấm lem nước mắt và bụi bẩn trên khuôn mặt đẹp. Mấy người thanh niên ái ngại không dám tiếp tục công việc niêm phong. Gã cán bộ rống lên đuổi An ra khỏi nhà. Không hiểu sao lúc đó An quá mệt mõi, cô lẳng lặng ra đi như thể đó là điều duy nhất mà cô làm được. An đi, đi mãi, khi cô giật mình nhớ lại thì thấy mình đang ở trước mặt một căn cứ quân sự, An ngơ ngác nhìn quanh thì bị một anh bộ đội trẻ đứng trong phòng gác quát lên đuổi đi. Đột nhiên cô thấy tủi thân, cô nghĩ đến Vân, đến thân phận bạn mình, đến cái cảnh đêm nay hai đứa con gái biết ngủ ở đâu. Rồi cũng giống như Vân, cô ngồi bệt xuống nền đường khóc như mưa như gió, vừa khóc vừa nấc như bị hàm oan tức tưởi tự bao giờ. Anh bộ đội trẻ vừa đuổi An lúc nãy hoảng hồn chạy ra luống cuống:

    - Cái nhà cô này sao thế? Tôi đuổi cô đi chứ làm gì đâu mà cô khóc lắm thế hở giời?

    Cái giọng miền Bắc lạ tai này giá như bình thường chắc An phải cười khúc khích, nhưng bấy giờ cô chẳng thể cười được mà còn khóc to hơn, khóc cứ như từ thuở bé đến giờ cô chưa hề được khóc; nước mắt cô tuôn như thác, ứơt cả phía trước áo. Từ bên trong có mấy người lính trẻ chạy ra nhìn anh lính gác có vẻ nghi ngờ, anh ta lúng túng thanh minh:

    - Tớ có làm gì cô ấy đâu, tự nhiên cô ấy lăn đùng ra khóc.

    Bỗng nhiên mọi người tránh ra cho một chiếc xe Jeep cũ kỹ chạy đến, rồi cứ như Bụt hiện ra trong truyện cổ tích, một ông già ốm yếu bước xuống hỏi cô:
    - Cô gái, sao con khóc?
    An nấc lên, chỉ về hướng nào đó không biết, ông già lại hỏi:
    - Không phải mấy anh bộ đội này làm con khóc chứ?
    An gật đầu, vẫn tiếp tục khóc như trẻ con, ông già mĩm cười:
    - Thế là tốt rồi, bây giờ con lên xe với ông.

    An ngoan ngoãn trèo lên chiếc xe Jeep, mấy người lính dưới đất thở phào nhẹ nhõm. Trên xe đã có sẵn hai người, họ nép qua một bên cho An ngồi, ông già ra hiệu cho một trong số họ ra ngồi phía trước, còn ông lên ngồi kế bên An. Ông bảo:

    - Con chỉ nhà cho chú tài xế nhé.
    An gật đầu, lúc này chỉ còn sụt sùi khe khẽ, ông già lại hỏi:
    - Con có kể được không, kể cho bác nghe đi.

    An nghẹn ngào kể tiếng được tiếng mất, ông già chăm chú nghe, không biết có hiểu được chút nào không thì xe đã tới trước cửa nhà Vân. Vừa lúc đó An la lên một tiếng kinh hoàng, cô trông thấy gã cán bộ thô bỉ kéo lê Vân xềnh xệch ra khỏi cổng, mớ tóc dài của Vân rối bù xõa xuống mặt đường. Chiếc xe thắng gấp trước cổng, ông già nhanh nhẹn nhảy xuống, lao thẳng đến trước mặt gã đàn ông, giọng ông giận dữ:
    - Ở đâu ra cái kiểu đối xử với người dân như thế hở?
    Gã cán bộ quay lại, trừng mắt nghênh ngang:
    - Ông biết gì mà xía vô.

    Nhưng anh bộ đội ngồi phía trước đã nói khẽ vào tai gã và chìa ra cho xem một tấm thẻ. Lúc này An chạy đến với Vân, hai cô gái ôm chầm lấy nhau khóc tức tưởi. Về sau này cả hai hỏi nhau ngày hôm đó họ lấy đâu ra nhiều nước mắt lắm thế. Rồi cả đoàn kéo nhau vào nhà, Vân với An đi rửa mặt mũi, khi trở ra chỉ nghe thấy ông già bảo:
    - Thôi hai đứa cứ ở lại đây, chuyện gì để cậu giải quyết sau.

    Hai cô gái dạ mà không hiểu ông già nói cái gì, rồi mọi người mạnh ai nấy ra về, An ngơ ngác chạy theo xe nhưng ông già ngăn lại:
    - Đừng nói gì hết, hai giờ chiều mai đến chỗ cậu.

    Tối hôm đó hai đứa con gái reo lên hân hoan khi bà tổ trưởng khu phố đến báo cho biết ngôi nhà Vân không thuộc diện sung công nữa mà chỉ tạm thời mượn tầng trệt làm trạm y tế phường và tầng một làm kho chứa kiêm chỗ dạy bổ túc buổi tối trong một thời gian vì tuy gia đình Vân đi nước ngoài nhưng vẫn còn người ở lại. Cả hai cô đều biết rằng không hề dễ dàng để có quyết định này nếu không có sự can thiệp của những người lính buổi sáng, họ ăn mừng sự kiện này bằng một bài hát vang lừng trên tầng hai của ngôi nhà, nơi họ chắc rằng sẽ là của họ.

    Chiều hôm sau Vân và An đến khu quân sự hôm trước, đón họ là anh lính gác sáng hôm qua, An cười khúc khích khi nghe anh than thở:
    - Ối giời ơi cô làm tôi sợ phát khiếp, người gì đâu mà khóc lắm thế không biết.

    Hai cô gái bá vai nhau cười, anh đưa hai cô vào căn phòng nhỏ đơn sơ có ông lính già ngồi chờ sẵn. Ông già cười vui vẻ:
    - Bữa nay thì chắc là hai cháu vui rồi phải không? Đã có tin gì mới chưa?

    Vân ngần ngại kể lại chuyện tối hôm qua. Ông già, về sau này An gọi là chú Tư nhẹ nhàng hỏi chuyện Vân, Vân kể lại chuyện gia đình mình, kể lại nguyên nhân gây nên câu chuyện hôm qua, sau cùng cô ngập ngừng cám ơn ông về sự giúp đỡ, chú Tư cười ngất:

    - Chú không làm gì hết con à, chú chỉ nói nhỏ này (chú chỉ An) là cháu kêu chú bằng cậu, rồi chú nói họ về đi, chú sẽ đích thân coi lại chuyện này, có vậy thôi cháu .

    An nhí nhảnh:
    - Sao chú lại nói là cậu của con.

    Chú Tư cười tủm tỉm:
    - Vậy là con không thích có ông cậu này hả?

    An cười chun mũi :
    - Con có nói không đâu, nhưng sao không là chú, là bác mà là cậu?

    Vân lườm yêu bạn:
    - Tại vì hàng ngoại tốt hơn hàng nội.

    Cả ba người cười xòa, chú Tư hỏi han hai đứa thêm một lúc rồi hai cô cáo từ ra về, đưa hai đứa ra cửa, chú Tư nói thêm:
    - Thật ra lúc đầu chú không kịp hiểu con An nói gì, nhưng khi chú thấy Vân bị lôi kéo trên mặt đất thì chú hiểu là chú phải làm điều gì chứ không thể chấp nhận được hành vi thô bạo đó.

    Chú Tư kín đáo thở dài, chú quay sang Vân dặn dò:
    - Cháu phải nhớ rằng: Nếu khi nào tự mình không giải quyết được điều gì thì phải tìm thêm người giúp đỡ.

    Rồi chú quẹt tay vào má An hóm hỉnh:
    - Cứ như An nè, khóc cho to lên cho cả doanh trại cùng nghe.

    Và thêm:
    - Chỉ khổ tội cho thằng Tuấn, đến hôm nay vẫn chưa hoàn lại hồn, anh cu không thể tưởng tượng nổi mình chỉ quát có mỗi một câu mà có người khóc đến ba lít nước mắt.

    An xấu hổ đỏ cả mặt lí nhí chào chú Tư ra về, khi ra cổng cô cố liếc mắt tìm Tuấn nhưng không thấy, anh lính gác cổng hôm nay có vẻ lớn tuổi hơn cười với hai cô, khi đi ra khỏi cổng anh còn nói với theo:
    - Hôm khác có đến thì nhớ đừng khóc nhé!

    Hai cô gái dựa vai nhau cười khúc khích đi về.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #5
    Miền Ký ức 4 - Anchu


    Bà An giật mình vì cái đập tay của bà Vân:
    - Tới phiên mình rồi đó An.

    Bà An đi cùng hai người bạn vào phòng khám, bây giờ là buổi chiều, lại cận ngày lễ nên còn lại ba người đàn bà gần như là cuối cùng, bác sĩ nhìn thấy bà An thì cười tươi:

    - Chị Bình đi đâu đây?

    Bà An nghênh mặt lên như trẻ con.
    - Tới đây thì chỉ khám bệnh thôi chứ mua bán được gì.

    Cả bốn người đàn bà cùng cười vui vẻ, bà An nhanh nhẩu giới thiệu:
    - Chị Thanh, đây là hai người bạn của mình, tới đây nhờ Thanh khám bệnh. Còn đây là vợ anh Quyền, anh Quyền và anh Bình nhà mình là bạn từ lúc hai ông còn ăn chung cà rem.

    Bà An đẩy bà Trinh ngồi vào ghế trước mặt bác sĩ Thanh và ra dấu đó mới là người bệnh. Bác sĩ Thanh hỏi han, vén quần áo bà Trinh nắn nót hai đầu gối, khuỷu tay. Bà Trinh thì kể lễ bệnh tình và không ngừng thông báo rằng mình đã dùng nhiều thuốc Tây nhưng sau một thời gian lại tiếp tục đau nhức trở lại.

    An bỏ ra ngoài với Vân, hai người bạn ngồi trong ngôi nhà lá sau một khóm trúc già rậm rạp có tượng Hải Thượng Lãn Ông nhìn qua. Vân hỏi:

    - An về nhà ai vậy?
    - Về nhà chị anh Bình tối hôm qua.

    Bà Vân hỏi thêm:
    - Về chơi hay có chuyện gì?

    An trả lời:
    - Chơi thôi, nhân tiện thăm người quen.
    - Thăm được ai rồi.

    An lườm Vân:
    - Mới được hai người chứ mấy, tới người thứ ba thì bị bắt cóc vô đây ngồi.

    Vân bỉu môi:
    - Ngồi đây mát muốn chết còn làm bộ.

    An bỉu môi trả lại:
    - Mát sao không dọn vô ở luôn.
    - Ê đừng có trù ngươi ta dọn đồ vô ở trong bệnh viện chớ. À mà có gì mới hông?
    - Không có gì thay đổi là tốt rồi.

    Vân gật đầu:
    - Mình cũng vậy. À nè An, hôm qua Thúy mới gọi cho Vân, Thúy sắp gã con gái rồi đó.
    - Vậy sao? Tiêu đời thằng con rể.

    Hai người phụ nữ phá ra cười. Vân huých bạn.
    - An ác lắm, tối ngày hù dọa người khác.

    An trợn mắt:
    - Hù dọa không đâu, chuyện có thiệt mà.

    Hai người đều nghĩ đến cô bạn tên Thúy với biệt danh sát thủ, cô bạn gái thân thiết trong bộ ba của họ. Lúc còn đi học Thúy là cô gái độc nhất trong lớp thường xuyên đến võ đường luyện tập. Nhanh nhẹn, khéo léo và cần cù, cô luôn là niềm tự hào của thầy dạy võ, cứ giống như Thúy cố gắng học võ để bù lại cái chữ dở ẹt của mình và dĩ nhiên trong lớp học dù Thúy lớn hơn Vân và An hai tuổi, cô vẫn học hành lẹt đẹt nhất trong bộ ba của họ và là điều tương phản với An cả nội dung lẫn hình thức. Vậy mà cả ba luôn thân nhau, đôi khi có cải vả chút ít nhưng họ không coi đó là điều quan trọng.

    Cái tên sát thủ của Thúy là do An đặt trong một trận chiến kinh hồn mà cả ba chứng kiến, nói là kinh hồn cho vui vì nó được sắp xếp có bài bản thôi chứ thật sự những ngọn đòn giáng xuống là của Thúy chứ đối phương làm gì mà chống lại nổi cô gái có thân hình mảnh dẻ ngày nào cũng luyện tập hùng hục ở võ đường như Thúy. Sau trận mưa đòn đó đối phương của họ bầm dập như trái chuối và Thúy chết danh cũng từ đó. Đã vậy mỗi lần có chuyện gì An đều đem ra dọa Thúy “Thúy ơi. Thúy nhẹ tay thôi chứ không thì tiêu đời người ta rồi Thúy vô tù đó” Nghe kể lại rằng sau khi vượt biên qua Mỹ, Thúy chuyển sang Canada và làm chủ một võ đường theo đúng ước vọng của mình.

    Bà Vân quẹt tay vào má bà An:
    - Nghĩ gì mà cười tủm tỉm đó.
    - Đố biết.

    Vân cười mỉm:
    - Mới nhắc đến Thúy mà cười tủm tỉm thì chỉ nhớ đến trận địa năm xưa thôi chứ gì.

    Bà An cười thoải mái:
    - Ừ, mà sao nhớ hoài mà cũng tức cười hoài.

    Bà An không hiểu bạn mình có hay nghĩ đến trận địa ngày xưa như mình không nhưng rõ ràng là bà An rất thích nhớ lại những chuyện xảy ra khi bà còn trẻ. Ông Bình thường hay trêu vợ là người già thì thích hồi tưởng, Bà An biết mình không còn trẻ nữa nhưng già thì chẳng biết đã thực sự già đến độ thích hồi tửơng chưa. Bà chỉ cảm thấy hồi còn trẻ sao mà vui quá chừng, ngay cả những lúc cực khổ nhất cuối cùng vẫn có lối thoát nhẹ nhàng. Các anh chị của bà thì giả vờ ganh tỵ cho rằng cha mẹ bà đặt cho bà cái tên Thiên An nên lúc nào bà cũng được đất trời phù hộ, thí dụ như hồi bà gặp chú Tư bộ đội. Anh của bà, ông Phúc thường ví von là hồi đó bà gặp Bao Thanh Thiên nên mới chịu khó nghe tiếng khóc của con nhỏ lạ hoắc chớ nếu gặp quan tham thì cho bà khóc tới mai luôn cũng không ai thèm để ý; như Thanh Vân đó, khóc sưng mắt sưng mũi mà có ai thèm dòm đâu. Bà An thấy anh mình cũng có lý, nhưng còn những chuyện khác thì sao? Đâu phải chuyện nào cũng có một ông Bụt hiện ra hỏi: Vì sao con khóc? Cũng có chuyện bà phải tự thu xếp lấy chớ, như chuyện Thúy ra tay sát thủ vậy, không phải bà dàn dựng thì còn ai vào đây nữa.

    Bà Vân đập nhẹ vào tay bà An:
    - An ơi, tụi mình vô với chị Trinh chút nhen.

    Bà An lắc đầu, khoát tay:
    - Vân vô đi, An ngồi ngoài này cho mát.

    Bà Vân đi vô, An nhìn theo dáng đi thanh thoát của bạn, bà chép miệng tội nghiệp con nhỏ, đẹp người đẹp nết vậy mà cô đơn suốt mấy chục năm nay, mặc dù không biết là bao nhiêu người lui tới mà bà Vân vẫn làm ngơ. Bà An không biết Vân lấy đâu ra cái động lực để có thể giữ được cõi lòng lạnh giá như thế. Ngay từ khi Vân mới mười tám tuổi cho đến bây giờ bốn mươi tám rồi, đã có biết bao nhiêu người đàn ông bị bà Vân từ chối, khéo léo cũng có mà thẳng thừng cũng có, ở lứa tuổi nào thì người phụ nữ xinh đẹp đó cũng có đủ cách thức lịch sự để trả lời.

    Bà An cũng nhớ lại người đàn ông đầu tiên bị bà Vân từ chối, thật là xúi quẩy khi mở hàng lại là người đàn ông lì lợm liều lĩnh thô bỉ. May mắn, rõ ràng là Vân may mắn khi có hai người bạn luôn sát cánh với Vân. Đó là nạn nhân của Thúy trong trận chiến năm nào mà An đặt luôn cái tên sát thủ cho Thúy. Gã đàn ông tên Tiến có khuôn mặt bì bì luôn nhăn nhở mỗi khi Vân ngang qua cầu thang lên tầng hai. An và Thúy hay xầm xì với nhau về gã đàn ông ba trợn này. Gã làm thủ kho ở tầng một, nơi để nhiều loại hàng của hợp tác xã. Buổi tối gã ngủ lại trông coi kho, An với Vân ở tầng trên. Hồi đó An sống chung với Vân trong suốt thời gian học đại học (được đi học cũng là nhờ bàn tay của chú Tư). Tiền bạc thì An không quá lo vì đã có chị Hạnh tài trợ. Hai tuần An về nhà một lần, vừa nhận tiền vừa thăm gia đình, lúc đó Vân ở một mình trên lầu. Nhưng từ khi có Tiến đến, An đâm ra nghi ngờ gã đàn ông có đôi mắt hay nhìn trộm, đảo tới đảo lui này. Những lúc về nhà An phải nhắn Thúy đến ngủ với Vân. Được một thời gian hai cô ngứa mắt khi thấy gã đàn ông ngày càng nhăn nhở, có khi gã còn bảo Thúy không được ngủ lại vì không có tên trong hộ khẩu. Ba cô gái bực quá, Thúy bảo phải nhổ cỏ tận gốc chứ để như thế này hoài ai mà theo Vân suốt đời được. Lần đó suốt hai tháng An không về, còn Tiến thì thỉnh thoảng về nhà ở đâu tận Bình Phước. Sau khi điều nghiên kỹ càng An mượn cái khoan về nhà bí mật khoan mấy cái lỗ trên tường, rồi An đập cho méo cái gài chốt bên trong phòng Vân, sau đó cô kêu toáng lên rồi đi mua cái móc gài lỏng lẻo nhờ Tiến đóng giùm. Loại móc này gài bên trong thì bên ngoài chỉ cần dùng vật mỏng như mũi dao hất lên là mở được cửa ngay. Sau đó An luồn một sợi dây qua hai cái lỗ sát trần nhà một cái ở phòng Vân, một cái ở phòng An, đối diện cách nhau một lối đi . Đầu dây ở phòng An cô mắc vào đó một cái chuông loại mấy ông bán cà rem hay lắc dụ con nít; đầu bên kia để thả sát đầu giường Vân. An đắc chí tuyên bố giống y hệt Sơ lốc Hôm trong truyện cái băng lốm đốm. An tiếp tục kế hoạch của mình, cô than thở với Tiến hai tháng nay cô nhớ nhà quá mà không về được vì xe cộ đón khó khăn. Những năm đó đi lại rất phiền toái vì hầu hết vé xe chỉ bán cho người có giấy giới thiệu, người dân bình thường hiếm khi mua được vé, thường phải đón xe ngoài khi có khi không. Tiến hăm hở bảo để hắn đi mua vé giùm, Tiến bảo thứ bảy này Tiến cũng về Bình Phước, sẵn dịp sẽ mua vé xe cho An. An cười thầm rồi dặn dò Vân theo đúng kế hoạch.

    Trưa thứ bảy Tiến đạp xe ra bến xe như mọi khi Tiến vẫn đi, chỉ khác là có chở thêm An. Tiến mua vé xe cho An, đưa cô lên xe, xe lăn bánh An cười sung sướng vẫy tay chào Tiến. Nhưng khi xe ra khỏi thành phố thì An kêu quên đồ, bảo xe dừng cho cô xuống. An đón xe lam không về nhà Vân mà đi thẳng qua nhà Thúy.

    Xế chiều hôm đó Tiến đạp xe trở lại, hắn bảo với mọi người vì lo mua vé cho An nên trễ xe về Bình Phước, vì thế hôm nay hắn sẽ ở lại. Thứ bảy trạm y tế nghỉ từ 4 giờ chiều, buổi tối lớp học Bình dân học vụ lại được nghỉ; ngôi nhà Vân buổi sáng còn nhộn nhịp thế mà mặt trời xuống đã vắng tanh. Vân ngồi trên lầu theo dõi thấy Tiến đi ra ngoài ăn cơm lúc 6 giờ mười lăm, 6 giờ rưỡi cô lẻn xuống mở cửa, mở cổng, An và Thúy mặc áo bà ba, đội nón lá sùm sụp đứng sẵn gần đó tót vào.

    Ba cô khe khẽ lên lầu, An và Vân đổi phòng cho nhau, Thúy chung phòng với Vân. An cột một sợi dây dù mỏng manh vào chiếc móc cửa bên trong, đầu dây bên kia cô kéo qua chiếc cửa, chạy dài qua phòng đối diện tối om có Vân và Thúy trong đó. Khi muốn vào phòng, Thúy chỉ cần hất sợi dây lên là cái móc văng ra.

    Rồi An về phòng Vân, mở đèn mờ, kéo rèm cửa, cô lấy chiếc khăn phủ trên đầu xuống vai, ngồi chéo cửa sổ. Đã nhiều lần nghiên cứu, An biết khi ngồi ở vị trí này người bên ngoài sẽ thấy mờ mờ một người có tóc dài như Vân chứ không ai thấy được người đó mập ốm thế nào, có phải là Vân hay không.

    Gần 8 giờ cô thấy Tiến mở cổng, theo đúng quy ước với Thúy, An kéo nhẹ sợi dây đầu giường, một tiếng keng nhỏ vang lên ở phòng đối diện. Chỉ với một động tác kéo chuông này mà An đã phải tập đi tập lại nhiều lần sao cho chỉ nghe đúng một tiếng keng nhẹ nhàng. Cô trở lại ngồi đúng vị trí ban đầu, vì An mập tròn còn Vân thon thả nên An phải ngồi đúng tư thế cô đã bỏ công sức nghiên cứu; cô thấy Tiến đi vào, nhìn lên phòng Vân, lúc này trên lầu hai chỉ mỗi phòng Vân có đèn, còn phòng An thì không mở đèn ngay từ chiều. Tiến nhìn một lúc lâu rồi vào nhà, một tiếng keng nhỏ nữa lại vang lên cùng một lúc với tiếng mở cửa. An rời khỏi ghế, mở tủ lấy ra một chiếc máy ảnh để trên giường. Cô lại đứng dậy tháo hết bốn góc mùng của Vân rồi lại hí hoáy cột trở lại. Lần này 4 sợi dây 4 góc mùng được cột chung vào một sợi dây dài rủ xuống giường, An đã học kỹ cách cột mối dây này trong các buổi huấn luyện hướng đạo sinh lúc cô còn nhỏ, chỉ cần một cú giật, các mối cột cùng lúc bung ra. Rồi An đổi đèn ngủ, chỉ để lại một bóng sáng mờ ảo nhỏ xíu; xong xuôi cô lên giường buông mùng ba phía kỹ càng nhưng không nằm bên trong mà vén phía sát tường nằm lách bên ngoài. Ở vị trí này tay cô gần sợ dây chuông, gần sợi dây cột 4 góc mùng và chỉ cần ngồi dậy là có thể bật đèn sáng choang. An nằm im lặng đắp một tấm chăn mỏng, thỉnh thoảng có con muỗi cắn nhưng An chỉ gãi nhẹ, không dám đập.

    Đồng hồ gõ 8 tiếng, hai tầng lầu im lặng như nghe được cả tiếng muỗi bay, An cười thầm nghĩ rằng có ít nhất 3 người: An, Vân, Thúy đang hồi hộp theo dõi người thứ tư, còn người thứ tư làm gì thì không ai biết. Gần một giờ đồng hồ nữa trôi qua, An cảm thấy buồn ngủ, cô lo lắng vì biết mình lại chính là người dễ ngủ nhất, không biết kế hoạch cô tính có trật lất hay không mà kiểu này An sắp ngủ đến nơi rồi vẫn chưa thấy nhân vật chính xuất hiện.

    Nhưng đó là An lo xa vậy thôi chứ cô đã nghe tiếng mở cửa cầu thang mà buổi chiều Vân đã khoá. Chiếc cửa này khi trước chỉ mình Vân giữ chìa, nhưng sau này Tiến bảo Tiến giữ kho nên phải để Tiến giữ chìa phòng khi có trộm Tiến còn theo dõi được buộc lòng Vân phải làm thêm một chìa giao cho Tiến. An giật nhẹ tiếng chuông, trong đêm tối yên lặng tiếng keng vang lên chắc làm Tiến chần chừ nên một lúc lâu An mới nghe tiếng chân bước lên cầu thang nhè nhẹ. Hắn nghi ngờ chắc, An tự nhủ, cô căng mắt chờ đợi. Hơn mười phút sau mới nghe tiếng chân rất khẽ của Tiến dừng trước phòng, một lúc nữa An nhìn thấy mũi dao rất mảnh thò qua khe cửa, An canh vừa lúc cánh cửa kẹt mở là cô keng thêm tiếng chuông cuối cùng.

    Cô thấy Tiến rón rén bước vào phòng chỉ độc một cái quần đùi, hắn cẩn thận gài cửa lại rồi đặt con dao lên bàn phấn, đưa mắt quan sát, không biết vì nghi ngờ hay chưa quen với bóng tối trong phòng. Chắc đã yên tâm hắn khoát mùng chui vào. Nhanh như chớp An giật mạnh dây mùng, cái mùng mỏng manh phủ xuống người Tiến, An bật ngược về phía đầu giường nhảy xuống đất, một tay bật đèn một tay kéo máy ảnh lên mắt. Anh sáng bừng lên rồi ánh đèn flash loé lên chụp cảnh Tiến lúng túng ngồi trong mùng cùng lúc Thúy xông vào phòng, An vững dạ xoay người sang hướng cửa sổ chụp luôn mấy tấm Tiến lóc ngóc chui ra, lần này cô nhắm kỹ lọt vào khung hình cả chiếc đồng hồ và qua khung cửa sổ, ánh sáng đèn đêm của một nhà cao tầng chiếu tới. Thúy xông đến như con hỗ cái tát lia lịa rồi quẳng luôn Tiến xuống đất. Chưa vừa lòng Thúy lại bay đến tay đấm chân đá. An chỉ nghe thấy tiếng Tiến hự hự liên tục còn Vân thì đứng nép bên cửa run cầm cập. An khoát tay:

    - Đủ rồi đó Thúy, Thúy nện một hồi nữa hắn thành cái bao bột mì bây giờ.

    Thúy phủi tay đứng qua một bên, An cầm con dao Tiến để trên bàn phấn trầm trồ:
    - Chà con dao của thủ kho đẹp thiệt, có khắc tên nữa chớ. Cất làm vật chứng đi Thúy.

    Cô đưa dao cho Thúy rồi đi tới gần Tiến:
    - Chà, bây giờ khuya rồi mà ông thủ kho đi đâu lạc lên phòng chị em tôi để tụi tôi tưởng trộm tới viếng. May quá là chụp kịp mấy tấm hình làm bằng chứng ông đi lạc vào phòng phụ nữ lúc 9 giờ đêm. Cái vụ này hơi khó coi nhen. Thôi ông làm ơn xuống lầu giùm tôi, có ai hỏi thì khai là bị ăn trộm đánh, có khi ông còn được bằng khen đó.

    Tiến nhìn An bằng đôi mắt căm tức, cô bỉu môi:
    - Hay là ông muốn toàn bộ cuốn phim này rửa ra gởi lên cấp trên của ông? Trong đây có cảnh ông ngồi trong mùng con Vân, cảnh ánh sáng đêm, cả giờ trong đồng hồ nữa, ông đủ sức trả lời chớ.

    Tiến hậm hực:
    - Tụi bây bày mưu hại tao.

    Thúy cười khẩy:
    - Đã học câu “Vỏ quýt dày, móng tay nhọn chưa”?
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Kuclanga
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 12 năm
    • 1,225 Bài viết

    • 2,370 Được cảm ơn

    #6
    tiếp
    H C Đào: Nhờ các bạn Việt Nam mua dùm trái cây, nông sản, ĐTDĐ, quần áo may sẵn, đồ chơi, đồ gia dụng SX tại Trung Quốc để chúng tôi có tiền mua tàu chiến, súng đạn đánh chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của các bạn. Cảm ơn các bạn.
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #7
    B]Miền ký ức 5 - Anchu[/B]


    Bà Trinh cũng như tất cả mọi người trong gia đình kể luôn bà Vân và bạn bè của ông Thành không ai biết được ông Thành mất tích trong trường hợp nào. Bà chỉ biết sáng hôm đó khi mọi người trong gia đình đang dùng điểm tâm, anh hai còn đang trêu chọc Đạt thì chuông điện thoại reo; anh hai đứng lên nghe điện thoại, chỉ nghe thấy anh hai dạ dạ rồi anh hai trở về bàn ăn nói là phải đi có việc gấp. Lúc đó đang chiến tranh, chuyện một ông Thiếu tá như anh hai ra đi hấp tấp không phải mới lần đầu, chỉ nghe thấy tiếng ba thở dài kín đáo, còn má thì dặn dò anh hai cẩn thận. Mọi người không mấy ai quan tâm vì dặn dò là chuyện má làm thường xuyên với tất cả người trong gia đình. Chỉ khác một điều là anh hai đứng tần ngần ở cửa hơi lâu, điều hiếm thấy đối với một sĩ quan cấp tá như anh hai. Trước khi đi anh hai còn nghiêng đầu nhìn cả nhà lần nữa rồi mới quay ra. Sau này mỗi khi nhắc lại trong gia đình ai cũng ứa nước mắt, ba nói chắc anh hai biết trước điều gì đó mà không nói ra, má thì tự trách mình sao không hỏi anh hai thêm một hai câu gì đó để sau này còn có manh mối.

    Rồi tới chiều tối không thấy anh hai về, má hối chị ba điện cho anh ba hỏi coi có gặp anh hai không, chị ba cằn nhằn nói lính tráng mà má làm như má đi làm ở văn phòng bệnh viện, hết giờ làm việc thì phải về nhà. Chị ba còn nói ba mình hiền quá, hết giờ lên lớp thì về nhà trình diện liền nên má tưởng ai cũng vậy hết, chớ chị ba mấy năm trời nay có biết giờ nào anh ba sắp về đâu? Lúc đó bà Trinh cũng thấy chị ba nói phải. Đành rằng từ hồi nào tới giờ anh hai đi đâu cũng báo cho trong nhà biết nhưng anh hai mỗi ngày mỗi lớn, lên chức cao thì công việc càng nhiều, huống chi bây giờ anh hai có người yêu rồi, ba còn nói là lo thu xếp mà cưới chớ anh hai sắp già; khi người ta có vợ sắp cưới thì người ta có đi chơi không báo trước cũng là chuyện bình thường.

    Rồi một ngày, hai ngày, ba ngày không thấy anh hai về, bây giờ không chỉ má lo mà cả nhà đều nhăn nhó, nhất là khi Công báo lại rằng đã nghe Thanh Vân nói lần cuối cùng nói chuyện với anh hai lúc 7 giờ sáng hôm đó, có nghĩa là anh hai đã gọi Thanh Vân sau khi ra khỏi nhà để rồi sau đó không còn ai trong gia đình biết điều gì cả.

    Cuối cùng ba đến Khu quân sự của anh hai làm việc, bạn bè anh hai ngơ ngác nói là sáng hôm đó có thấy anh hai đến trình diện Chỉ huy trưởng, sau đó ra đi không biết đi đâu. Ba xin gặp ông Chỉ huy trưởng thì tá hỏa khi biết rằng ông ta chết ngay trong bữa sáng hôm đó do bị một trái lựa đạn của tốp lính dù cải vả giành gái ở bàn kế bên, ông bị nổ banh xác trong khi đang say sưa tính toán cái gì đó mà không để ý cuộc cải lộn bên cạnh, đó là theo lời cô thu ngân của quán rượu kể lại.

    Bí quá ba phải xin ông Chỉ huy trưởng mới cho phép được coi Nhật ký quân vụ, ông Chỉ huy trưởng sau khi suy nghĩ và gọi điện xin phép cấp trên mới giở sổ ra, điều duy nhất có thể thấy là một chữ mật nằm kế bên tên anh hai. Ông chỉ huy trưởng mới chỉ biết khuyên ba chờ đợi chớ bản thân ông cũng không làm đuợc gì. Có thể anh hai được điều đi cho một công tác bí mật nào đó mà chỉ cấp trên mới biết và có khi phải đi đến cả tháng không chừng.

    Vậy thôi là chấm dứt tin tức của anh hai, suốt ba mươi năm qua chưa ai trong gia đình biết thêm được một điều gì khác. Tội nghiệp ba mẹ suốt bao nhiêu năm trời, cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay vẫn còn mơ ước gặp lại anh hai, nhưng anh hai thì biến mất cứ như mặt đất nuốt chững anh trong cơn giận dữ. Nhưng tội nghiệp nhất là Thanh Vân, một quãng đời xuân sắc trôi qua trong đợi chờ mòn mõi, một sự đợi chờ mà theo bà Trinh là vô vọng. Ai trong gia đình mà không biết anh hai trọng tình cảm, một bầy em chưa đứa nào thấy anh hai thô bạo bao giờ. Anh hai là kết tinh giữa sự dịu dàng đằm thắm của má và sự hào hoa phong nhã của ba. Bà Trinh mạnh dạn tin rằng anh hai đã chết từ ngày đó, vì theo bà anh hai không thể còn sống mà tuyệt luôn tin tức được. Anh hai có thể giận dỗi Thanh Vân, giận dỗi bầy em bốn đứa mà không thèm liên lạc, nhưng anh hai không thể quên cả má lẫn ba, nhất là má, người mà anh hai luôn coi là thần tượng, là người bạn thân thiết, là mẫu người phụ nữ điển hình, tiêu biểu cho tuýp phụ nữ mà anh hai lựa chọn làm vợ sau này. Vậy thì chỉ có một điều duy nhất: Anh hai chắc chắn phải chết rồi.

    Vậy mà Thanh Vân không bao giờ tin điều đó, chỉ vì một câu nói duy nhất của anh hai buổi sáng hôm anh hai mất tích ” Dù sao em cũng ráng chờ anh về”. Trời ơi, chờ biết tới bao giờ đây, cả một thời tuổi trẻ qua đi, sức lực và nhan sắc cứ lầm lũi đi ngược chiều với thời gian. Nếu anh hai mà biết rằng chỉ vì một câu nói của anh hai làm tan biến cả một khoảng đời vàng son của người con gái mà anh hai yêu thương nhất thì có lẽ kê súng vào thái dương anh hai cũng không nói. Ngay cả bà Trinh xưa kia vốn là người ganh tỵ với Vân, cương quyết chống đối chuyện tình yêu của anh hai mà còn phải mềm lòng trước ý chí không lay chuyển nổi của Vân. Thoạt đầu bà cũng nghĩ Vân chỉ chịu được đôi ba năm rồi cũng đi lấy chồng thôi, có ai mà trách chuyện không chung thủy với người đã biệt tăm biệt tích đâu. Nhưng năm này qua năm kia, bạn bè của má, của thằng Công ở Việt Nam lúc nào cũng có cái câu: “Tội nghiệp, thành con gái lỡ thì rồi” làm cho ông bà già chuyển tình thương đứa con trai cưng của mình qua đứa con dâu hụt. Tội nhứt là khi nghe má gọi điện thoại về đề nghị Thanh Vân làm giấy tờ để qua Mỹ sống với cả hai gia đình thì nghe Vân từ chối vì một lý do thật là kỳ cục: “Thôi má, con phải ở lại nhà này má ơi, bằng không lúc anh Thành về tới biết tìm mình ở đâu má”. Má nghe dứt câu trong điện thoại thì khóc hu hu như có đám tang, còn kể lễ Thành ơi Thành hỡi, vợ con như vậy mà nở bỏ ra đi bao nhiêu năm trời không một câu một tiếng. Má làm ba cũng rươm rướm nước mắt khóc theo, còn chị ba, thằng Đạt, thằng Công thì ngồi như hoá đá, ngay cả bà Trinh là người khó chịu nhất cũng chẳng dám nói tiếng nào. Hai tuần sau ông bà già làm bữa cơm gia đình, tuyên bố chia một phần bảy gia sản tích cóp được cho Thanh Vân, chính thức nhận Thanh Vân là con dâu ngay cả nếu như Thanh Vân có đi lấy chồng.

    Không ngờ cái quyết định chia gia tài cho Vân gây nên phản ứng bất ngờ, cái chuyện này bà Trinh chưa bao giờ kể ra cho bà Vân nghe cả, nhưng chuyện rò rỉ có đến tai bà Vân hay không thì bà Trinh không dám chắc.

    Hồi đó lúc lên máy bay qua Mỹ nhờ có ba bình tỉnh nên gia đình bà đem theo được toàn bộ của nã tích cóp được. Đó cũng là nhờ Đạt dự đoán được tình trạng chiến tranh trong nước, mới khuyên má hai tháng trước rút hết tiền ngân hàng ra mua vàng. Khi gia đình di tản, chỉ còn để lại Việt Nam một căn nhà và một người con trai không biết tung tích mà thôi.

    Qua Mỹ một thời gian ngắn là mọi người bắt tay làm lại từ đầu, ba đi dạy ở một trường Trung học còn Trinh dạy cho trẻ em ở một trường người Việt, má và chị ba mở một cửa hàng nhỏ, thằng Công đi học lại, riêng Đạt và anh ba được phép trích một phần của cải mang theo đem ra làm vốn kinh doanh nhà đất và chứng khoán. Không biết trời thương hay nhờ năng khiếu mà anh ba cũng làm ăn được còn thằng Đạt thì làm đâu thắng đó, mở được thêm mấy cửa hàng lớn kinh doanh thủy hải sản, má và chị ba phải nhảy qua trông coi, giao lại cái cửa hàng nhỏ cho bà Trinh vừa buôn bán vừa đi dạy tiếng Việt.

    Chín giờ sáng bà Vân gọi taxi đến bệnh viện thăm bà Trinh đang nằm điều trị tại đó từ bốn ngày nay. Ngày nào bà Vân cũng đến thăm, khi buổi sáng, lúc buổi chiều. Bà biết, ở trong bệnh viên rất buồn, nhất là đối với người không có người thân ở gần như bà Trinh. Hôm nay bà đến phòng đặc biệt – nơi bà Trinh đăng ký nằm nhưng không thấy. Chị hộ lý thò đầu ra nói bà Trinh đã chuyển xuống phòng 5 lầu 2.

    Khi bà Vân tìm đến nơi, phòng 5 đã có đông người, phần lớn là những người đi thăm bệnh. Nhìn quanh quất bà Vân thấy bà Trinh ngồi trên giường gần phía cửa sổ, nhìn thấy Vân, bà Trinh vẫy tay.

    Bà Vân nhẹ nhàng ngồi xuống bên giường:
    - Chị Trinh xin xuống đây hả?

    Bà Trinh nhăn mặt:
    - Ở đây thì hơi ồn ào, nhất là khi có nhiều người tới thăm người bệnh, không phải ai cũng ăn nói nhỏ nhẹ. Nhưng ở trong phòng đặc biệt thì buồn quá, không biết nói chuyện với ai, nên Trinh xin chuyển qua phòng này.

    Bà Vân nhìn quanh, gật đầu.
    - Ở đây cũng được lắm mà.

    Vân ngồi xuống giường, lấy trái cây trong túi xốp cất vô tủ. Bà Trinh cằn nhằn:
    - Đã nói Vân đừng mua mà, ăn làm sao hết.

    Vân cười tủm tỉm:
    - Không hết thì mời chị em quanh phòng, của không ngon nhà đông con cũng hết mà.

    Vân cắt cam, gọt táo rồi cho vào trong chiếc hộp nhựa đi mời từng giường. Cả 5 giường đều có người đến thăm, trái cây đi đến đâu hết đến đó, ai cũng vui vẻ cười cười nói nói.

    Bà Trinh bảo:
    - Vân nằm xuống đây đọc tờ báo này nè, Trinh đi hỏi cái này chút xíu.

    Bà đi qua phòng bên tìm người đàn bà chăm sóc cô gái tên Hồng, tìm không thấy bà lại đi một vòng, lúc gặp được bà dặn người đàn bà đó gì đó rồi trở về phòng, lúc này bà thấy ở giường kế bên thêm vài người thăm bệnh nữa, bà hỏi bà Vân:
    - Vân thấy ở đây ồn không?

    Bà Vân cười nhẹ:
    - Tập thể mà chị. nghe người ta nói chuyện cũng hay hay.

    Bà Trinh kể lể:
    - Ở bệnh viện này buồn lắm Vân ơi, nhứt là ở phòng đặc biệt ra vô cũng chỉ có mình mình, rồi hôm qua xin chuyển qua phòng này thấy đỡ hơn. Bên phòng kia có cô Hồng mới ngoài ba mươi mà liệt hai năm nay, thấy tội lắm, cũng may là thuê được người chăm sóc khoẻ mạnh siêng năng ngày nào cũng bồng ẳm đi tập vật lý trị liệu. Trinh mới đi kiếm bà người làm đó nhờ bã lát nữa lau chùi dọn phòng chớ người ra vô nhiều quá nhà cửa mau dơ lắm.

    Bà Vân cười tủm tỉm:
    - Chị Trinh kỹ quá vậy chị em trong phòng có ai than thở gì không?
    - Có gì, mình thuê người mình trả tiền, có bắt họ trả đâu.

    Giường kế bên đang hào hứng kể chuyện điều trị bệnh. Người bệnh kế giường bà Trinh nói:

    - Mà nói gì đi nữa nếu thuốc nam có phản ứng phụ gì nữa cũng lâu lắm mới thấy, chớ mà thuốc tây hả, tui nói, nó sốc cái rẹt, không có thuốc giải hay gặp y tá non tay là chết ngắc tức thì.

    Bà khách đến thăm hưởng ứng:
    - Phải rồi đó, nhứt là hồi trước thuốc hay bị sốc nhứt là Piniciline, họ kêu là sốc phản vệ cái gì đó. Tui biết nghe, hồi trước giải phóng có nhiều người chết oan cái vụ này, bom đạn nổ bị thương không chết mà chết vì sốc Piniciline.

    Một bà khách khác góp ý:
    - Tại họ không biết bản thân họ dị ứng với thuốc đó chớ tui thấy tận mắt có người họ đeo miếng giấy ở trên cổ như tấm bùa vậy, tưởng gì hoá ra: Tui tên là gì đó, tui bị sốc Piniciline. Làm ơn đừng chích thuốc này cho tui.

    Mấy người kia phá ra cười, bà khách gân cổ cải :
    - Tui nói thiệt mà, hồi truớc giải phóng tui gặp một ông đưa vô trạm y tế của má tui có đeo thiệt đó. Mà không phải nông dân đâu nghen, ngó lịch sự đẹp trai lắm đó.

    Sao giống như có cái gì gõ một tiếng boong trong đầu bà Trinh, sao có cái hơi hướng gì quen quen mà bà Trinh không tìm ra được. Rồi bà thấy bà Vân nhìn sang giường kế bên, mấy người đàn bà xúm lại cười cái ông nào đó của bà khách kể là quá cẩn thận. Chợt bà Trinh thấy mặt bà Vân xanh nhợt đi rồi từ từ bà Vân lịm xuống, bà Trinh hoảng hồn la lên:

    - Vân , Vân sao vậy, trời ơi sao vậy nè.

    Cả phòng nhốn nháo lên, có ai đó gọi chạy đi tìm y tá trực, những người khác kéo áo bà Vân xoa dầu, cạo gió. Bà Trinh mếu máo khóc khi thấy Vân vẫn không tỉnh. Rồi có tiếng người nói:
    - Dang ra, dang ra, bác sĩ tới rồi kìa.

    Bác sĩ và y tá trực chạy tới, chị y tá xua tay:
    - Ra ngoài bớt giùm đi, làm ơn mở cửa sổ cho thoáng.

    Mọi người lục tục kéo nhau ra ngoài, một số người đến thăm thấy vậy chào ra về. Bác sĩ bắt mạch, huyết áp; hai người y tá khác đem máy trợ tim đến. Một lúc sau Vân tỉnh lại, bà ngơ ngác nhìn quanh, Bà Trinh mừng cuống quýt:
    - Vân tỉnh lại rồi, ôi mừng quá bác sĩ ơi.

    Bà Vân chống tay định ngồi lên, bác sĩ cản lại:
    - Chị nằm yên đó cho khoẻ đã. Mười phút nữa rồi muốn làm gì thì làm, chị có đói không?

    Bà Vân lắc đầu:
    - Dạ không, cảm ơn bác sĩ, tôi không sao đâu.

    Bà bác sĩ già cười:
    - Không sao là tốt rồi, thôi nằm nghỉ đi, lúc nào mệt thì cho người gọi tôi.

    Bà Trinh sờ lên mặt Vân:
    - Khỏe thiệt rồi hả, trời ơi. Vân làm ai cũng hết hồn.

    Bà Vân ngồi dậy ngơ ngác:
    - Đâu rồi Trinh ?

    Đến phiên bà Trinh ngơ ngác
    - Cái gì ?

    - Mấy người hồi nãy ở đây nè. Bà Vân chỉ qua chiếc giường kế bên.

    - Họ về hết rồi, hồi nãy mấy cô y tá thấy đông quá biểu đi bớt cho thoáng. Chi vậy?

    Vân bật khóc rưng rức, bà Trinh hốt hoảng:
    - Gì vậy Vân? Sao Vân khóc?

    Vân nghẹn ngào:
    - Bộ Trinh không nghe họ nói gì sao?

    Bà Trinh ngẩn người:
    - Họ nói gì ?

    Bà Vân càng khóc nhiều hơn, mọi người trong phòng tò mò nhìn người đàn bà xinh đẹp sang trọng khóc thảm thiết bằng ánh mắt hiếu kỳ, bà Trinh suy nghĩ mãi không nhớ nổi trước đó có ai nói gì, bà đi đi lại trong phòng, cố gắng nhớ lại từng câu nói của mỗi ngừơi. Nhưng lúc đó đông người quá. mỗi người nói một câu không thành chuyện gì cả, bà rụt rè hỏi:
    - Họ nói chuyện bệnh viện hả?

    Bà Vân lắc đầu, vẫn không ngừng khóc. Bà Trinh lại hỏi:
    - Chuyện uống thuốc Nam hả?

    Bà Vân vẫn lắc đầu. Bà Trinh suy nghĩ tiếp lại hỏi:
    - Chuyện uống thuốc Tây bị sốc hả?

    Bà Vân vẫn khóc. Bà Trinh lại e dè hỏi:
    - Chuyện cái người đeo miếng giấy hả?

    Lần này thì bà Vân gật đầu. Bà Trinh ngạc nhiên hỏi.
    - Bộ người đó có quen với Vân hả?

    Bà Vân nấc lên:
    - Anh Thành đó.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #8
    Hôm nay cả ngày cúp điện - nóng muốn chết


    Miền Ký ức - Anchu


    Sấm nổ bên tai cũng không làm bà Trinh hoảng hốt bằng câu nói của bà Vân. Trời ơi sao mà bà có thể đoảng vậy không biết, đúng là khi nãy nghe kể bà có thấy một điều là lạ đánh thức bà nhưng bà không nghĩ tới một cái gì, rõ ràng là điều đó rất thân thuộc rất gần gũi mà sao bây giờ tới khi bà Vân nói thì bà Trinh mới nhớ đến.

    Bà Trinh nhớ lại hồi năm anh hai hai mươi lăm tuổi có lần anh hai uống cà phê ở một quán bar, trong quán có nhiều lính Mỹ nhậu, một tên trong bọn quá say rút chốt lựu đạn ném lên không, anh hai nhào xuống đất lăn tròn , trái lựu đạn làm chết một cô tiếp viên, bị thương bốn người trong đó có anh hai. Tuy anh hai bị nhẹ nhưng khi đem vô bệnh viện thì anh hai suýt chết vì sốc phản vệ piniciline. Hồi đó chưa có nhiều kháng sinh như bây giờ, trong miền Nam sử dụng piniciline là chủ yếu. Anh hai may mắn thoát chết vì đang ở trong bệnh viện lớn của quân đội Cộng Hoà, khi bị sốc thì kịp thời cứu sống. Nhưng từ đó về sau anh hai phải đeo một tờ giấy trước cổ, trong đó ghi tên và lời yêu cầu không sử dụng piniciline vì bất cứ lý do gì. Đó là ý kiến của má, hồi đó má làm trong phòng hành chính sự vụ của bệnh viện, bà đã từng biết qua hồ sơ về những cái chết của người bị sốc phản vệ khi họ còn trong tình trạng mê man khi đem tới bệnh viện. Má cương quyết bắt anh hai đeo tờ giấy ép plastic đó chung với tấm thẻ bài, mấy đứa trong nhà luôn chọc anh hai đeo bùa hộ mạng. Anh hai mới đầu cũng thấy dị không chịu đeo, nhưng bị má la dữ quá, với thêm sự phụ họa của ba nên sau cùng tấm bùa đó luôn luôn trên cổ anh hai cho đến ngày anh hai đột nhiên biến mất.

    Vậy mà bà Trinh tự nhiên quên mất cái dấu hiệu đặc biệt của anh mình mãi cho tới khi bà Vân nhắc lại. Vậy là mình đã quá già rồi còn gì, bà Trinh tự nhủ, bà ngồi xuống cạnh bà Vân hỏi lại.
    - Có đúng là họ nói tới anh hai không?

    Bà Vân lau nước mắt :
    - Vân hy vọng là vậy.

    Bà Trinh ngần ngừ rồi bước qua giường kế bên, hỏi người bệnh cùng phòng của mình:
    - Mấy người tới thăm chị hồi nãy là bà con với chị hả?

    Bà này cười lắc đầu
    - Hổng phải, chỉ có một đứa là em dâu tui thôi, con nhỏ mặc áo tím, còn lại là bạn của nó, sẵn đường đi cả đám ghé lại thăm chớ tui hổng có quen.

    Bà Trinh quay về giường hỏi bà Vân:
    - Hồi nãy ai nói vụ đó.
    - Vân không kịp ngó coi ai nói. Chỉ nghe được tới đó là Vân không biết gì rồi.
    - Trinh thì không để ý gì hết. Bà Trinh tự trách mình, Sao mà tệ quá vậy không biết, Bây giờ tính sao đây Vân?
    - Thì phải hỏi chớ sao.
    - Biết có phải anh hai không nữa, lỡ cũng có người đeo như anh hai sao?

    Bà Vân cương quyết:
    - Cũng phải hỏi thôi.

    Bà Trinh đến bên người bệnh lúc nãy. Bà hỏi:
    - Chị làm ơn chỉ giùm em chị ở đâu cho tui gặp chút.

    Người đàn bà kia ngạc nhiên:
    - Chuyện gì vậy.

    Bà Trinh lắc đầu:
    - Không có gì. Tụi tui chỉ muốn hỏi thăm cái chị hồi nãy ngồi ở đây thôi.

    Người bệnh ngần ngừ:
    - Hồi nãy ngồi đây có em dâu tui mặc áo tím, còn lại một người mặc áo trắng, một người mặc áo bông xanh.

    Bà Trinh ngắt lời:
    - Tui muốn hỏi cái chị hồi nãy kể chuyện có ông gì đeo tấm thẻ đó.

    Người bệnh nhớ lại:
    - Hình như cái đó là chị áo trắng kể. Thôi để tui hỏi lại em dâu tui cho chắc. Mà giờ này chắc họ chưa về tới nhà đâu, mấy chị phải đợi thêm chút nữa mới được.

    Mười một giờ trưa, bà Vân sốt ruột đến bên giường nhắc lại. Người bệnh tập tễnh bước ra ngoài điện thoại công cộng. Bà Vân ngăn lại:
    - Chị gọi di động của em nè.

    Bà bấm máy cho người kia. Bên này lớn tiếng gọi:
    - Mợ Tư về tới nhà chưa vậy?

    Một lúc sau, bà trả máy lại cho bà Vân, nói:
    - Em tui có nói cái chị đó về nhà chỉ cách đây 100 cây số rồi, nó nói nó không biết số điện thoại, biểu mấy chị muốn gặp thì lên nhà chị đó, tới chợ La Ngà hỏi thăm nhà chị Ngọc bán sách thì biết.

    Bà Vân cám ơn rồi trở về giường. Bà Trinh hỏi:
    - Vân biết La Ngà chỗ nào không?

    Bà Vân lắc đầu:
    - Vân không biết.

    Bà Trinh ngẩn ngơ:
    - Vậy rồi sao? Hỏi 108 được không?

    Bà Vân mím môi:
    - Để Vân hỏi An trước.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #9
    WTT hôm nay làm sao ấy, mình post 2 bài mà lên mỗi 1 bài

    Miền Ký ức - Phần 2

    Cuộc kiếm tìm và quá khứ của người đàn ông


    Anchu


    Bà An phải xin nghỉ phép để nhập vào hội tìm người của bà Vân. Bà Trinh cũng hối hả xuất viện đi theo. Sự nôn nóng làm cơn bệnh của bà lùi hẳn. Bà Vân tạm giao lại chuyện nhận khách và điều hành xe cho Ngọc Lan, các chuyện khác chờ bà về giải quyết. Họ xuất phát lúc 7 giờ sáng trên chiếc xe du lịch nhỏ do bà Vân cầm lái.

    Bà Trinh hỏi:
    - Có chắc biết đường không An?

    Bà An tỉnh rụi:
    - Em đi qua đó cả trăm lần rồi, có điều là không ghé qua thôi.

    Té ra cũng không dễ dàng như bà An nghĩ, địa phương đó kéo dài đến gần 10 cây số và có đến 4 cái chợ cùng tên, người ta chỉ phân biệt tên chợ qua tên cây số như lẻ hai, lẻ tư. Qua 3 chợ kia vẫn không có ai tên Ngọc bán sách, họ phải cho xe quay ngược lại để tìm chợ thứ tư. May mắn là cũng tìm ra. Tiệm sách nằm trong một góc khuất, đứa trẻ trông chừng hàng đang ngồi đọc truyện. Khi nghe hỏi đến mẹ, nó chỉ tay:
    - Mẹ con về nhà nấu cơm rồi.

    Theo sự chỉ dẫn của đứa trẻ và người trong chợ, họ tìm đến ngôi nhà bà Ngọc, một ngôinhà khiêm tốn với những vật dụng thông thường, chứng tỏ chủ nhân cũng không giàu có gì. Bà Ngọc ngạc nhiên khi thấy chiếc xe du lịch đậu trước nhà và những người đàn bà sang trọng hỏi tên mình. Bà mời vào nhà và rót nước cho khách:
    - Không biết mấy chị tìm tôi có chuyện gì?

    Bà An xởi lởi:
    - Thì cũng phải có chuyện mới kiếm. Tụi em đi từ Sài Gòn lên đây, hỏi thăm miết mới gặp được chị.

    Bà Ngọc lạ lùng:
    - Mà chuyện gì vậy?

    Bà Vân nhẹ nhàng:
    - Xin lỗi đã làm phiền chị. Chị cho em hỏi có phải mấy ngày trước chị có đi thăm người quen nằm trong bệnh viện Y học dân tộc không?

    Bà Ngọc mau mắn gật đầu:
    - Có. Hôm đó tôi đi lấy hàng, nghe nói chị bạn hàng quen đi thăm bà chị bị bệnh,sẵn tôi cũng muốn coi bệnh viện đó ở đâu nên đi cho biết.

    Bà Vân hỏi tiếp:
    - Trong lúc ngồi nói chuyện ở phòng bệnh, tôi nhớ hình như chị có nhắc tới chuyện người bệnh bị sốc thuốc Peniciline phải không?

    Bà Ngọc xác nhận:
    - Có, tôi có nói.

    Bà Vân mừng rở:
    - Có phải chị nói chị đã thấy tận mắt người đeo tấm giấy ghi mình bị sốc thuốc không?

    Bà Ngọc xác nhận lần nữa:
    - Đúng – chính mắt tôi nhìn thấy tờ giấy đó.

    Bà Trinh chen vô:
    - Chị có biết người đó ở đâu không?

    Bà Ngọc lắc đầu:
    - Tôi không biết.

    Ba người đàn bà nhìn nhau thất vọng. Một lát bà An hỏi:
    - Làm phiền chị, chị có thể nhớ lại được chị gặp ông đó trong trường hợp nào không?

    Bà Ngọc chống cằm:
    - Chuyện quá lâu rồi, từ hồi trước giải phóng lận, mấy mươi năm rồi còn gì?

    Bà Trinh hỏi tới:
    - Lúc đó chị ở đâu?

    Bà Ngọc trả lời ngay:
    - Cũng ở vùng này thôi nhưng cách đây mấy cây số. Hồi đó ở đây nhỏ chút xíu hà, dân cũng có mấy đâu, lần hồi sau này mới mở rộng ra như bây giờ. Lúc đó ở đây rừng không là rừng đó mà. Tụi tui đi học xe bị chận đắp mô thường xuyên. Hai đầu thì vài bữa có một trận đánh, chuyện chết với bị thương thì lu bù, kể sao cho xiết.

    Bà Vân biến sắc:
    - Lúc đó người đó như thế nào? Chị làm ơn kể lại được không?

    Người đàn bà trầm ngâm:
    - Phải để tôi từ từ mới nhớ lại được.

    Bà An hoà hoãn:
    - Vâng. Chị cứ thong thả. Tụi em đợi được mà.

    Một lúc lâu sau, người đàn bà tên Ngọc từ từ kể:

    Năm đó Ngọc được 16 tuổi, chưa lớn mà cũng không còn nhỏ. Lúc đó là vừa hết Tết, chiến sự liên tiếp nổ ra trên nhiều vùng đất nước. Nơi Ngọc ở trước kia vốn là vùng đất xôi đậu, ban ngày lính Cộng Hoà vác súng đi tới đi lui, ban đêm đến phiên vc vào nhà dân cuối xóm. Nằm trên đường quốc lộ nhưng an ninh không tốt lắm, buổi chiều tầm cỡ 4 giờ là xe không dám đi qua. Được cái cho tới gần ngày giải phóng mới có chiến tranh, còn trước thì bom đạn chỉ nổ ở 2 đầu vùng xôi đậu đó.

    Mẹ Ngọc là người duy nhất coi sóc cái trạm y tế nhỏ xíu ở đây, công việc chính của bà là hộ sinh, nhưng sau cái ngày mà ông y tá cuối cùng khăn gói vào quân đội thì bà phải một mình cáng đáng hết mọi việc trong ngoài cùng với bà y công (hộ lý)già nua lẩm cẩm Từ khám bệnh, phát thuốc, băng bó cho người dân trong vùng đến đỡ đẻ, chăm sóc sản phụ và con của họ. Ngay cả mỗi khi một hoặc hai đầu nổ ra tiếng súng là hai bà già lại chuẩn bị bông băng, nước sôi, dao kéo thuốc men. Chiến tranh có quá nhiều vết cắt, người dân vô tội cũng như những kẻ ở bên lề chiến tuyến. Mẹ Ngọc chẳng bao giờ từ chối ca nào. Cứ có người khiêng đến trạm y tế là bà lại lúi húi lau rửa băng bó, không buồn để ý xem nạn nhân là dân hay vc hoặc lính Cộng hoà. Sau đó ai mang thì đâu là chuyện của họ, bà chẳng quan tâm.

    Ngày trôi qua ngày, bà cứ lẳng lặng làm công việc của mình, có khi thấy nạn nhân bị thương nặng, khả năng của trạm không đủ mà chẳng thấy có người nhà, bà lại gọi xe lam chở người bị thương lên tuyến trên. Có khi bà trực tiếp đưa bệnh nhân đi. Có khi bà còn bệnh đợi ở nhà thì lại điều bà hộ lý đi kèm. Việc này thỉnh thoảng cũng có xảy ra nhưng không nhiều. Lúc đó người dân ở đây rất quan tâm đến nhau, không ai nỡ từ chối khi có yêu cầu của mẹ Ngọc, một phần vì tâm tính người dân quê thường nhân hậu,một phần vì cả nể tiếng nói của người duy nhất phụ trách sức khoẻ cho dân trong vùng, nên đôi khi họ giúp nhau mà chẳng cần tiền bạc gì. Điều này mấy mươi năm sau xem ra rất khó mà có được.
    Hôm đó là ngày Ngọc chuẩn bị để mai đi về trường học, cô học nội trú tại một trường trên tỉnh, Ngọc còn nhớ hôm đó trời nắng rất nhẹ nhàng. Khoảng hơn 10 giờ sáng một tai nạn xảy ra trên quốc lộ, do thắng gấp tránh một em bé băng ngang đường, chiếc xe du lịch màu trắng sữa đã lật nhào vào ven bờ cỏ. Người dân hiếu kỳ vây quanh rồi mang ra một người đàn ông mặc thường phục, ngất xỉu trên xe do chấn thương vùng ngực vào vô lăng. Mọi người lập tức mang nạn nhân vào trạm y tế. Mẹ Ngọc không tìm thấy vết máu trên người anh nhưng bà thấy nhiều vết va dập ở phần ngực và bụng. Sơ cứu, chích thuốc hồi sức mà mãi người đàn ông không tỉnh lại, mẹ Ngọc đành gọi xe chở anh lên tuyến trên. Hôm đó người y công già có việc xin nghỉ, còn trong phòng hộ sinh hai người phụ nữ đang nhăn nhó chờ chuyển dạ. Mẹ Ngọc không biết làm cách nào, bà đành gọi Ngọc đến bảo cầm giấy giới thiệu đưa bệnh nhân đi. Ngọc giãy nãy lên thì lập tức bị mẹ trừng mắt:

    - Đi đi, bảo đảm với con lên tới bệnh viện cũng chưa chết đâu. Lo mà cứu người ta chớ ở đó mà nhăn nhó.

    Rồi bà căn dặn:
    - Khi lên tới bệnh viện con phải chỉ cho nhân viên y tá thấy cái này.

    Bà kéo Ngọc đến gần, lôi trong cổ áo nạn nhân ra tấm thẻ bài và tờ giấy ép plactis cẩn thận. Ngọc đọc thấy giòng chữ:
    Tôi là Nguyễn Trung Thành
    Tôi bị sốc phản vệ với Peniciline. Xin đừng sử dụng Peniciline cho tôi dù bất kỳ hoàn cảnh nào.

    Nghe kể đến đây, cả bà Vân và bà Trinh bật khóc nức nở. Bà An cũng rươm rướm nước mắt quay đi nơi khác.

    Đợi cho mọi người qua cơn xúc động, bà Ngọc rót ra cho mình một ly nước, uống một hớp rồi từ từ kể tiếp:

    Lúc đó Ngọc sợ lắm, nhưng thấy ông ta không có máu me gì và nghe mẹ quả quyết nên cũng không dám cải. Người ta đặt nạn nhân lên một chiếc võng treo tòng teeng phía sau xe lam, một loại xe thô sơ ngày đó. Đó cũng là nơi duy nhất có thể đặt nạn nhân lên được vì xe lam chạy rất dằn xóc, không thể để trên ghế xe hoặc dưới sàn. Ngọc ngồi ở băng ghế phía sau phía chân người bị nạn, len lén nhìn chừng mà miệng thì đọc kinh liên tục. Cô vốn rất chết nhát, không ngờ bị mẹ bắt đi làm cái việc nhân đạo này.
    Xe lam là loại xe muốn chạy nhanh cũng không được, những người lớn tuổi đã từng di chuyển trên phương tiện này cũng hiểu. Đã thể nó lại kêu phành phạch vang trời, điếc cả tai. Nhưng đó là loại phương tiện giao thông khá thông dụng tại vùng đất này vào thời đó. Xe chở Ngọc và người bị thương đi được một đoạn khá xa, cô trông thấy người đàn ông khe khẻ mở mắt. Mừng quá, Ngọc gọi:
    - Anh gì đó ơi. Anh tỉnh chưa?

    Người đàn ông không trả lời, môi anh mấp máy. Ngọc lay hoay mở bi đông nước đem theo bên mình, đổ được chút xíu vào miệng anh thì xe dằn tưng tưng làm nước văng tùm lum. Chưa thêm được chút nào thì anh đã nhắm mắt lại tiếp. Sợ quá, Ngọc lại gọi:
    - Anh gì ấy ơi, anh Thành ơi . Phải anh tên Thành không?


    Ông ta không trả lời. Ngọc lại gọi:
    - Anh mở mắt ra cho tui đỡ sợ đi .

    Người đàn ông mở mắt. Ngọc mừng rỡ:
    - Anh có thấy đau chỗ nào không? Tui đưa anh lên bệnh viện quận nè.

    Người đàn ông không trả lời. Ngọc lại nói:
    - Anh thử nhúc nhích coi có đau chỗ nào không?

    Người đàn ông khẻ động đậy mấy ngón tay. Ngọc mừng quá, cô nói:
    - Anh cố cố ngóc đầu dậy thử coi có nổi không nghen, hay là tui đỡ anh dậy?

    Người đàn ông khẽ lắc đầu, rồi anh ta lại nhắm mắt. Ngọc ỉu xìu. Cô thường nghe mẹ nói bệnh nhân phải cố chiến đấu với chính mình thì mới mau khỏi bệnh. Ngọc cằn nhằn:
    - Biểu ráng ráng dậy mà hổng nghe. Anh mà hổng ráng là nằm luôn đó.

    Người đàn ông vẫn nhắm mắt. Ngọc tức mình không thèm gọi nữa.

    Xe chạy bắt đầu đến một đoạn đường vắng, chợt Ngọc nghe có tiếng súng nổ đằng xa, cô hốt hoảng. Chết rồi, sắp có đánh nhau ở phía trước, như vầy mà người đàn ông còn nằm đây thì cô biết làm sao. Người tài xế xe lam cho xe dừng lại, ông quay lại nói với cô:
    - Xuống xe đi Ngọc ơi, kiếm chỗ nào mà trốn đạn đi con.

    Ngọc lúng túng:
    - Còn ông này sao đây chú?

    Người tài xế gắt:
    - Kệ ổng chớ, ai mà khiêng ổng xuống được. Lo trốn đi.

    Nói xong ông chạy nhanh vào mấy bụi rậm ven đường. Ngọc sợ điếng người. Từ nhỏ đến giờ tuy vùng cô có chiến tranh, nhưng thực tế lại cách xa nhà cô đến cả chục cây số nên chỉ nghe, thấy mà chưa hề bị rơi vào bao giờ. Huống chi thời gian gần đây cô thường đi học xa, năm thì mười họa mới ở nhà, cô có phải bao giờ đối mặt với hoàn cảnh này đâu. Kinh nghiệm sống ở vùng chiến dạy cho người dân biết khi có tiếng súng nổ phải tìm nơi nào thấp, có vật che chắn mà ẩn mình, cô đang ngồi trên xe bên đường quốc lộ, là mục tiêu dễ thấy cho cả hai bên. Đã vậy lại còn thêm một ông nằm im nhắm mắt kế bên, sao mà cô khổ quá chừng vậy chớ. Ngọc lay người đàn ông:
    - Anh Thành ơi. Dậy đi, dậy trốn đạn.

    Người đàn ông mở mắt nhìn cô rồi nằm im. Bực tức, Ngọc nhảy xuống xe quát lên:
    - Ngu vừa vừa thôi chớ, súng nổ ầm ầm kìa, nằm đây đặng chết hả?

    Ngọc vừa kịp trông thấy ánh mắt sáng loé lên của người đàn ông thì bên tai cô đã nghe một tiếng uỳnh rồi cô thấy người mình nhẹ bỗng. Ngọc ngất đi ngay lập tức.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của algeri
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 9 năm
    • 107 Bài viết

    • 249 Được cảm ơn

    #10
    em xí xớn a
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #11
    Miền Ký ức - Phần 2 (8)

    Anchu

    Căn nhà vang lên tiếng hỉ mũi rột rẹt của bà Trinh, tiếng sụt sùi của Vân và tiếng thở dài của bà An. Bà Ngọc ngừng một lúc lâu sau rồi nói tiếp.

    Khi tỉnh dậy Ngọc thấy trời đã quá trưa, người cô đau nhừ như bị ai đánh. Ngồi một lúc tỉnh táo lại cô thấy mình may mắn rơi trúng một đám cỏ khô nằm sâu trong lề đường, chắc nhờ thế nên người cô không bị vết thương nào, nhưng Ngọc cảm thấy nặng nề và đau nơi vùng ngực. Đợi cho khoẻ lại Ngọc bò lần ra quốc lộ, việc đầu tiên là cô không trông thấy chiếc xe lam nào gần đó cả. Do không xác định được địa điểm nên Ngọc không biết mình đang ở nơi cách xa chỗ chiếc xe đậu lúc sáng là bao nhiêu. Cô chỉ thấy một mình mình trên đường vắng, cô sờ tay vào túi quần mò được mấy tờ tiền buổi sáng mẹ đưa. Tập tễnh đi một đoạn Ngọc trông thấy mấy vết máu trên đường và cái vật quen thuộc đập vào mắt cô từ xa là tờ giấy ép plactis mà người đàn ông tên Thành đã đeo nơi cổ.
    - Chắc anh ta chết rồi.
    Ngọc nhủ thầm, rồi cô tự hỏi:
    - Vậy thì xác anh ta ở đâu ?

    Tự hỏi vậy thôi chớ cho tiền Ngọc cũng không dám đi tìm, cô sợ muốn chết đây này. Còn cái xe lam và ông tài xế không biết ra sao nữa. Nhưng mà thôi, kệ họ, cô phải đón xe về nhà, ở nhà bây giờ không biết cô ra sao. Có khi má lại tưởng mình chết rồi nữa chớ đừng nói.

    Ngọc đón được một chuyến xe đò đi về nhà, trên xe ai cũng lo ngại khi thấy cô mặt mũi phờ phạc xanh mét, có người đàn bà còn hú hồn gọi vía cho cô nữa. Xuống xe người ta không lấy tiền còn chúc cô may mắn, mà may thiệt chớ có phải không đâu.

    Má cô ứa nước mắt khi thấy con gái trở về. Người tài xế và chiếc xe lam đã về cách đó ba mươi phút. Chiếc xe bị bung một bên vách nhưng vẫn còn chạy tốt. Ông tài xế gặp má cô, phân trần đã tìm nửa giờ mà không thấy cô và người đàn ông bị nạn ở đâu nên ông phải chạy xe về nhà, ở nhà vợ con ông cũng lo lắng cho ông không kém. Má cô không trách người tài xế, còn xin lỗi vì đã gián tiếp gây thiệt hại cho ông nhưng ông nói thoát chết là tốt rồi, của cải ăn nhằm gì. Người tài xế đó thiệt là tốt bụng.

    Bà Ngọc kể xong thì im lặng, sau đó bà nói thêm:
    - Từ đó cho tới giờ mẹ con tôi không hề biết thêm được chút tin tức gì của ông Thành, nhưng rõ ràng là tôi có nhìn thấy mấy vết máu và tấm giấy đó rớt trên đường còn ngoài ra không thấy thêm gì hết.

    Tất cả rơi vào im lặng. Bà Vân gục xuống bàn, hoàn toàn tuyệt vọng. Trời ơi. Sao lại tàn nhẫn khắc khe như thế. Ba mươi năm qua rồi anh chết gục ở đâu trong khi em mòn mõi chờ anh. Sao ngày cuối cùng của anh lại cay đắng thế này? Chết khi chung quanh không một người thân, không ai biết anh nằm xuống nơi đâu? Ai là người vuốt mắt cho anh? Sao anh không hiện về báo cho em biết? Sao anh dặn em phải chờ đợi anh mà anh lại bỏ em? Sao trước ra đi anh không nhắn gửi cho em vài giòng để em còn biết tìm anh ở đâu? Sao anh biến mất tăm như gió đưa đi xa lắc để ba mươi năm sau em mới biết được những điều đau xót này?

    Thời gian từ từ trôi. Cuối cùng bà An là người lên tiếng trước nhất:
    - Chị Ngọc có chắc là nhìn thấy tấm giấy nơi cổ anh Thành không?

    Bà Ngọc gật đầu:
    - Chắc chắn.

    Bà An lại hỏi:
    - Chị có chắc là khi đó chị có thấy anh Thành tỉnh lại không?

    Bà Ngọc trả lời:
    - Trước khi bị ngất đi, tôi có nhìn thấy ổng mở mắt lớn lắm.

    Bà An trầm ngâm:
    - Chị thấy trên đường nhiều máu không?

    Bà Ngọc lắc đầu:
    - Không nhiều.

    Bà An lại hỏi:
    - Chiếc xe không bị hư nặng phải không?

    Bà Ngọc xác nhận:
    - Chỉ bị bung một bên vách.

    Bà An trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
    - Cái võng như thế nào.

    Bà Ngọc ngẩn người. Rõ ràng bà không hề nhớ chi tiết này vì sau đó bà không nhìn thấy chiếc xe. Bà nói:
    - Tôi không biết.

    Bà An mím môi:
    - Người tài xế đó bây giờ còn sống không?

    Bà Ngọc gật đầu:
    - Còn, nhưng ông đã già lắm, không biết có còn nhớ chuyện đó nữa không.

    Bà Trinh không nén nỗi tò mò:
    - Chi vậy An.

    Bà An suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời:
    - Này nhé, viên đạn không rơi trúng xe, bằng chứng là chiếc xe không hư nặng. Chị Ngọc bị sức ép bắn tung lên là do trước đó chị nhảy xuống khỏi xe. Điều đó không có nghĩa là nhất thiết anh Thành đã bị trúng đạn, vì lúc đó anh còn đang nằm trong xe. Vấn đề là sau đó trên xe còn cái gì, có biểu hiện nào cho thấy cái chết của anh Thành không. Nên việc bây giờ là tìm người lái xe.

    Vân như bừng tỉnh. An nói đúng. Đã có ai nói nhìn thấy Thành chết đâu, sao bà lại tuyệt vọng như thế? Bà Ngọc bị bắn tung lên còn có thể rơi vào bụi cỏ được thì tại sao Thành lại không? Điều kỳ diệu xảy ra cho người này thì cũng có thể xảy ra cho người khác chớ.

    Bà Trinh nghi ngờ:
    - Nhưng chị Ngọc nói nhìn thấy tấm giấy anh Thành đeo.

    An lắc đầu:
    - Tờ giấy có thể bị sức ép bay đi. Vả lại nếu như anh Thành bị chết vì trái nổ đó thì trên xe và chung quanh phải đầy máu. Mà người lái xe còn đi tìm chị Ngọc và anh ấy thì chứng tỏ ông ta không thấy máu trên xe. Vấn đề này chỉ được xác minh bởi người đó mà thôi.

    Bà Ngọc đồng ý:
    - Ý kiến hay. Vậy thì bây giờ mấy chị chờ tôi thay đồ rồi tôi đưa mấy chị đi.

    An ngăn lại:
    - Trưa rồi. Chị cũng chưa ăn uống gì. Bây giờ tới nhà người ta hỏi chuyện đúng lúc ăn cơm thì không hay. Người già khó tính lắm. Cứ để thong thả cho ông ấy cơm nước, ngủ trưa dậy xong thì đến.

    Bà Vân nóng lòng:
    - Phải chờ tới chiều sao?

    Bà An gật đầu:
    - Chắc chắn là vậy. Vân phải kiên nhẫn. An cho rằng không phải chỉ một hôm nay là xong đâu. Theo An nghĩ đây chỉ mới là bước đầu, mà sẽ còn khó khăn hơn nữa kìa. Hôm nay chúng ta may mắn gặp chị Ngọc là nhờ tấm giấy ép nhựa anh Thành đeo nên chị Ngọc mới nhớ lại. Từ đây miếng giấy đó bay mất rồi, sẽ không còn dấu hiệu nào để truy tìm nữa đâu. Vân phải kiên nhẫn hết sức thôi.

    Bà Vân mím môi:
    - Chờ đến bao giờ Vân cũng chờ.

    Bà An nói một câu ý nhị:
    - Thì đã chờ đến ba mươi năm rồi mà.

    Buổi trưa họ ăn cơm ở nhà bà Ngọc. An nhanh nhẩu ra một tiệm cơm gần đó gọi món ăn đem về. Họ không muốn gây thêm phiền hà cho chủ nhà. Nghỉ trưa xong khoảng gần 3 giờ bà An gọi mọi người dậy, bà Ngọc cũng đã sẵn sàng.

    Theo sự chỉ dẫn của bà Ngọc, bà Vân lái xe đến một cửa hàng sắt vụn cách đó gần 2 cây số. Bà Ngọc vui vẻ chào hỏi chủ nhà rồi theo người đàn ông mập mạp bị thọt một chân đến căn phòng nhỏ tồi tàn phía sau.

    Người đàn ông thọt chân gọi:
    - Bố ơi. Có chị Ngọc đến thăm bố đây.

    Tiếng ông già trong phòng vọng ra:
    - Ngọc nào đấy?

    Người đàn ông trả lời:
    - Ngọc con bà mụ ngày xưa đó mà. Chị của anh Minh anh Mẫn đó bố.

    Tiếng ông già ho sù sụ:
    - Nhớ rồi, nhớ rồi. Bảo nó vào đây.

    Bốn người đàn bà khoát tấm màn cáu bẩn bước vào phòng. Bà Ngọc đon đả:
    - Cháu chào chú Đại ạ. Chú khoẻ không chú?

    Ông già ho thêm mấy tiếng:
    - Khoẻ gì cháu ơi. Già rồi mà. Tao cũng sắp sửa đi theo ba má mày rồi.

    Bà Ngọc cười vuốt:
    - Không đâu – Cháu trông chú còn khoẻ lắm. Chú ráng sống cho mấy em nó mừng.

    Ông già khoát tay:
    - Ráng thế nào được con. Mà này, hôm nay mày đi đâu đây, ai mà đông thế cháu.

    Bà Ngọc nhìn quanh quất thấy chỉ có mỗi một cái ghế, bà lúng túng chưa biết làm thế nào thì bà An đã nhanh nhẩu bê từ ngoài vào phòng một cái ghế băng gỗ cũ kỷ dơ dáy. Bà Vân rút chiếc khăn tay trắng tinh ra lau sơ rồi cùng hai người bạn ngồi tạm xuống. Bà Ngọc lúc này đã ngồi xuống ghế dựa cạnh chiếc giường mục nát của ông già. Bà Ngọc nắm tay ông:
    - Chú này, hôm nay cháu đến thăm chú, nhân thể cháu muốn hỏi chú cái này, không biết chú còn nhớ không?

    Ông già cười rung rinh hàm râu:
    - Mày nhớ đến chú là tốt . Còn tao già rồi, mày hỏi cái gì tao nhớ thì tao nói, không thì thôi nhé.

    Bà Ngọc cười:
    - Không thì thôi chứ con làm gì được chú?

    Bà với tay kéo chiếc gối kê vào lưng ông cụ, đấm khẽ vào vai ông mấy cái. Ông già vui vẻ hỏi:
    - Này cái Ngọc hỏi gì thì hỏi đi.

    Bà Ngọc nói chầm chậm:
    - Chú có nhớ chuyện cái ông xe lật mà chú đưa đi đoạn gần giải phóng không?

    Ông Đại cười khùng khục:
    - Cái con này, mày muốn đánh đố tao à? Mẹ mày thuê xe tao chở đi bao nhiêu người, hỏi tao thế sao tao nhớ nỗi.

    Bà Ngọc lắc đầu:
    - Không, cháu chỉ muốn hỏi chú có nhớ cái ông mà hôm đó cháu đi đưa bệnh theo xe chú đó. Những lần khác cháu có đi bao giờ đâu?

    Ông già có vẻ ngạc nhiên:
    - Thế mày có đi xe tao à?

    Bà Ngọc nhăn nhó:
    - Chú lại quên mất rồi à, cái lần đó cháu với chú đang đi thì đánh nhau đó.

    Rồi bà nhắc thêm:
    - Lần đó xe chú bị bung mất một bên hông xe, còn cháu thì văng tuốt vô lề đó.

    Ông già ngơ ngẩn một lát rồi nói:
    - Ừ mày nhắc tao mới nhớ, đúng là hôm đó có mày thật, rồi tao không tìm thấy mày tao chạy xe về một mình, má mày thấy vậy khóc quá trời.

    Bà Ngọc tươi hẳn lên:
    - Đúng rồi đó chú, đúng là hôm đó chú.

    Ông già ho một tràng rồi hỏi:
    - Nhưng hôm nay mày nhắc đến làm gì?

    Bà Ngọc nắm tay ông:
    - Phải có chuyện con mới hỏi chứ. Chú này, chú bảo sau lúc đánh nhau rồi chú đi tìm con, thế chú không nhìn thấy con mà chú có thấy cái ông nằm trên võng trong xe chú không?

    Ông già ngẩn ngơ:
    - Thấy ai đâu, tao về một mình mà.

    Bà Ngọc nói:
    - Thế chú có tìm xung quanh không?

    Ông già trả lời:
    - Có chứ, tao tìm chung quanh, mà có thấy ai đâu, tao bảo chắc chết hết rồi.

    Bà Ngọc lườm ông:
    - Chết đâu. Vẫn còn ngồi đây. Thế lúc đánh nhau chú có nhìn thấy gì không?

    Ông già gắt:
    - Lúc đánh nhau thì thấy cái gì. Sợ chết mẹ lo mà tìm chỗ nấp. Mà sao mày hôm nay hỏi tao lắm thế? Dắt ai đến đây mà đông thế?

    Bà Ngọc chỉ tay:
    - Đây là người nhà của ông đó, họ đi tìm ông ấy mà.

    Ông già cười nhe hàm răng cái còn cái mất:
    - Gì mà đến bây giờ mới đi tìm thì lấy đâu ra. Mà tôi nói thật, có khi là chết rồi.

    Bà Ngọc nhăn nhó:
    - Chú có thấy không mà nói.

    Ông già lườm bà Ngọc:
    - Mày nữa. Không thấy thì là chết chớ sao.

    Bà Ngọc cãi:
    - Chú cũng có thấy cháu đâu mà cháu đâu có chết.

    Ông già trề môi:
    - Chẳng phải ai cũng có phúc lớn như mày.

    Bà An ra miệng:
    - Ông ơi. Vậy lúc ông ra xe ông có còn nhìn thấy cái võng không.

    Ông già suy nghĩ một lát rồi nói:
    - Còn, về sau tôi vẫn còn xài mà. Nó cũng bị rách chút ít.

    Bà Ngọc lại hỏi:
    - Thế chú còn nhớ được gì nữa không ?

    Ông già trầm ngâm:
    - Tao nhớ họ có khiêng xác ai đó đi ngang gần chỗ tao trốn, mà tao sợ quá không dám động đậy.

    Bà Ngọc lý sự:
    - Sao chú biết cái xác.

    Ông già cãi:
    - Xác mới khiêng chớ không thì đã đi.

    Bà Ngọc cứng đầu:
    - Què chân thì làm sao đi. Còn xác thì người ta vứt lại chứ.

    Ông già không trả lời. Bà An chợt hỏi:
    - Ông có nhớ là đoạn đường đó bây giờ nằm ở đâu không?

    Ông già bảo:
    - Gần thôi. Lúc đó mới đi khỏi nhà con này chừng năm cây số chớ mấy.

    Bà An đưa mắt cho bà Ngọc, bà Ngọc biết ý đứng dây nói mấy lời cảm ơn rồi mọi người ra về. Bà Vân đến gần ông già hai tay kính cẩn đưa cho ông một xấp tiền. Ông già khoát tay:
    - Không, chị đưa cho tôi làm gì.

    Bà Vân mếu máo:
    - Cho cháu gửi chút công lao của bác.

    Ông già hất tiền ra:
    - Không, tôi không lấy tiền công.

    Bà An can thiệp:
    - Đúng rồi. Bác không lấy tiền công. Đây là tiền chị ấy trả cho chuyến xe thuê hôm đó và chi phí sửa chữa xe bị hỏng. Bác giữ lấy đi cho công bằng.

    Ông già cất tiếng cảm ơn, bà Vân mũi lòng:
    - Cháu còn phải cám ơn bác nữa.

    Mọi người đi ra ngoài nhà. Bà Ngọc đang nói chuyện với người thanh niên. Anh gãi đầu:
    - Ba em hồi này bệnh hoài, lúc nhớ lúc quên, người già mà chị.

    Bà Trinh nhét vào tay người thanh niên mười tờ 100 đô. Anh hốt hoảng:
    - Sao chị đưa em lắm thế.

    Bà Trinh khoát tay:
    - Sửa sang lại cái phòng cho ông cụ.

    Bà An nháy mắt ra hiệu lấy đi. Người thanh niên vội vả cảm ơn. Họ kéo nhau ra xe.

    Mọi người quay trở lại nhà bà Ngọc, bà Ngọc ngồi tính toán đoạn đường đi rồi nói:
    - Theo như chú Đại nói thì địa điểm đó hiện nay thuộc xã Ngọc Định, cách đây khoảng 8 cây số. Nếu mấy chị còn muốn tìm thì đến đó hỏi thăm. Tôi cũng không giúp được gì hơn.

    Ba người đàn bà cảm ơn rối rít. Bà Vân và bà Trinh cuộn 3.000 đô vào tay bà Ngọc. Bà ngần ngừ:
    - Tôi giúp mấy chị không phải vì số tiền này.

    Bà Vân khóc:
    - Nếu không có chị chúng tôi làm gì có chút đầu mối nào mà tìm. Xin chị đừng từ chối.

    Bà An tiếp lời:
    - Riêng chuyện mẹ chị giúp đỡ anh Thành, rồi chị phải đưa anh ấy đi, lại còn suýt chết thì bao nhiêu đây cũng chưa thấm gì.

    Bà Ngọc cảm ơn rồi như sực nhớ ra, bà nói thêm:
    - Tôi còn quên cho mấy chị biết, hôm đó anh Thành mặc áo sơ mi dài tay màu trắng, quần nâu, giày đen, thắt cà vạt xám, có cái kim cài cà vạt hình con rồng đẹp lắm.

    Bà Trinh ngẩn người:
    - Sao tôi nhớ hôm ra khỏi nhà anh tôi mặc đồ lính.

    Bà Ngọc lắc đầu:
    - Tôi không biết. Nhưng tôi chắc chắn anh ấy mặc quần áo như thế, vì mẹ tôi cởi khuy áo anh ấy khám mà. Vả lại tôi ngồi cạnh anh ấy suốt một đoạn đường, còn cho anh ấy uống nước nữa. Không sai đâu.

    Rồi bà nói thêm:
    - Chiếc xe anh ấy đi khi tai nạn là chiếc Toyota màu trắng sữa.

    Bốn người đàn bà chào nhau rồi ba người kia ra về. Trên xe bà Trinh lẩm bẩm:
    - Sao lạ vậy kìa, hồi ra đi anh hai mặc đồ lính, chạy chiếc Sprint mà.

    Bà An nhắc:
    - Chị đừng quên là khi bác tìm anh Thành, trong Nhật ký quân vụ có ghi là mật. Mà đã là mật thì tên họ còn đổi được chớ đừng nói áo quần.

    Bà Trinh im lặng, trong đầu ba người đàn bà rõ ràng có 3 suy nghĩ khác nhau
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #12
    Miền ký ức 9 - Anchu


    Bà Trinh đã vội vàng lên máy bay về Mỹ, bà muốn đích thân kể lại chuyện của Thành cho người trong gia đình. Việc tìm kiếm bây giờ chuyển hết qua cho bà An, vì bà Vân vốn dễ bị xúc động lại không khéo léo nhanh nhẹn như bạn. Bà An phải làm đơn xin nghỉ việc riêng thêm một tháng để chuẩn bị đi với bạn mình.

    Trước hôm bắt đầu cuộc kiếm tìm bà An gọi điện thoại cho bà Ngọc, nhờ bà này mua giùm chiếc xe Honda, bà nói với bà Vân:

    - Đi xe hơi ngó sang quá, mà không tiện. Lỡ phải đi vô đường hẻm thì không được, mà mắc kẹt trong mấy đoạn sình lầy thì khổ cho tụi mình.

    Bà Vân lúc nào mà chẳng khâm phục cái sự thông minh tháo vác của bà An, An nói gì mà Vân chẳng nghe, chiếc xe máy đối với bà có đáng gì, cùng lắm là sau khi tìm xong được hay không gì cũng tặng lại cho bà Ngọc, đâu việc gì phải bận tâm.

    Hai người đàn bà thuê taxi đi đến nhà bà Ngọc, sau đó cho xe taxi về rồi lấy xe Honda đi theo hướng chỉ dẫn của bà Ngọc.

    Suốt từ lúc đó cho đến 3 giờ chiều, bà Vân và bà An quanh đi quanh lại khu vực bà Ngọc chỉ không biết bao nhiều lần, vào nhà nào cũng hỏi thăm nhưng chỉ nhận được một câu không biết. Ăn uống qua loa, lại không quen đi nắng, bà Vân chỉ trong hơn nữa ngày đã mệt lã người. Thấy vậy, bà An quyết định chở bà Vân về lại nhà bà Ngọc. Sau khi nghỉ ngơi một lúc cho bà Vân khoẻ lại, bà An hỏi:

    - Bây giờ Vân tính sao? Có đủ sức ngày mai đi tiếp nữa không?

    Bà Vân cương quyết gật đầu. Họ nhờ bà Ngọc chỉ giùm một khách sạn hoặc nhà nghỉ. Bà Ngọc cười:

    - Ở đây không có đâu. Nếu muốn hai chị phải đi khỏi chỗ này 15 cây số mới có. Thôi hay là tối nay nghỉ tạm nhà tôi một đêm đi rồi ngày mai tính tiếp.

    Bà Vân ngần ngại khi thấy nhà bà Ngọc không rộng rãi lắm. Bà Ngọc hiểu ý nói:

    - Nếu hai chị ngại thì ra ngoài tiệm sách của tôi nghỉ đỡ. Ở đó trên gác có sẵn một cái giường nhỏ, cũng còn đủ chỗ để kê thêm cái giường xếp nữa.

    Bà An quyết định:

    - Vậy cũng được.

    Tối hôm đó bà Ngọc mang ra tiệm thêm chiếc giường xếp nhỏ. Bà lên gác chuẩn bị chăn màn cho hai người khách. Bà Vân ngại ngùng:

    - Thiệt là làm phiền chị quá.

    Bà Ngọc cười:

    - Mấy khi đâu.

    Rồi bà hỏi thêm:

    - Mấy chị đi kiếm cách nào?

    Bà An nói:

    - Tụi tui lấy khởi điểm từ Ủy ban nhân dân, hỏi thăm suốt dọc hai bên đường, cả hai hướng mà hỏi ai cũng kêu không biết.

    Bà Ngọc kêu lên:

    - Mò kim đáy biển vậy thì biết chừng nào mới tìm ra?

    Bà An ngẩn ngơ:

    - Vậy chị có ý kiến gì?

    Bà Ngọc thở ra:

    - Mấy chị quên tôi đã nói là ở đây hồi xưa ít dân lắm mà, bây giờ mới đông như vậy thôi. Mấy chị hỏi thăm nhằm người mới tới đây ở thì làm sao ai biết được.

    Bà Vân hỏi:

    - Vậy theo chị phải làm sao?

    Bà Ngọc nhíu mày:

    - Nếu là tôi tôi chỉ tìm hỏi thăm những gia đình đã đến đó trước năm 75, và đặc biệt tôi chỉ đến tìm những nhà làm ruộng rẫy, vì khu vực đó hồi xưa chỉ gần như là rừng, không có ai dám buôn bán gì đâu. Quan trọng là phải làm sao lọc ra được ai đến trước 75, ai sau. Như vậy thì thời gian mới rút ngắn được. Ngoài ra hai chị không nên chỉ tìm kiếm hai bên đường, vì thường thì hai bên đường hiện nay chỉ những nhà có nhiều tiền mới mua được, mà dân làm rẫy thì mấy người nhiều tiền.

    Bà An sực tỉnh. Đúng là không có bà Ngọc nhắc nhở thì bà đã không nhớ được điều này. Rõ ràng là suốt ngày nay bà toàn hỏi thăm nhằm những gia đình ngoài miền Bắc mới vào đây năm mười năm, làm gì họ biết được chuyện ba mươi năm trước. Bà An nói với bà Vân:

    - Chị Ngọc nói đúng thiệt. Mình ngu quá. Phải rồi, ngày mai mình làm như chị Ngọc nói.

    Bà Vân hỏi:

    - Làm sao để biết ai ở trước, ở sau.

    Bà An lườm bà Vân:

    - Đừng có nôn nóng quá mà mất sáng suốt, Không lẽ Vân mà cũng không biết cách nào sao. Ngày mai mình tìm Công an.

    Bà Vân hớn hở:

    - Đúng rồi. Ngày mai mình gặp Công an.

    Bà Ngọc nhắc nhở:

    - Nếu công khai không làm được thì nhớ tới thăm nhà riêng.

    Bà An gật đầu. Bà Ngọc nói:

    - Thôi hai chị ngủ sớm để ngày mai còn đi tiếp.

    Đúng như bà Ngọc tiên đoán, khi hai người đàn bà vô trụ sở Công an để nhờ tìm thì gặp ngay những khuôn mặt lạnh lẽo. Họ nhanh chóng khách sáo từ chối với lý do hiện nay rất bận và sổ sách từ mấy mươi năm nay đã thất lạc không còn.

    Hai người đàn bà tràn trề thất vọng ra về. Bà An nói với bà Vân:

    - Phải làm theo lời chị Ngọc thôi.

    Trưa đó họ tranh thủ tìm đến nhà người Công an xã, bà An khéo léo trình bày nhẹ nhàng nhờ giúp đỡ kèm theo lời hứa trả công bội hậu. Sau khi than phiền bận rộn đủ điều, anh ta hứa sẽ cho người tìm lý lịch dân trong xã đã đến ở đây trước năm 75 giùm và hẹn sau 2 ngày nữa đến lấy danh sách.

    Hai người lần này không trở về nhà bà Ngọc mà chạy xe thêm gần 10 cây số nữa để tìm một nhà nghỉ bình dân. Bà Vân hỏi:

    - Chờ hai ngày nữa, hay là mình về.

    Bà An cười:

    - Không tới hai ngày đâu. Thời đại vi tính này làm lẹ lắm, chẳng qua họ nói vậy để mình thấy họ bận rộn khổ cực vì mình thôi đó mà.

    Bà Vân nói:

    - Dù sao cũng phải, ai rảnh đâu mà đi làm chuyện không công cho mình.

    Bà An nhăn mũi:

    - Đừng có kể vụ này với chị Trinh là được rồi.

    Bà Vân thở dài:

    - Kệ chị Trinh chớ. Đối với Vân tốn kém bao nhiêu đâu có nghĩa lý gì.

    Đúng như bà An nói nói, chỉ ngày hôm sau, qua số điện thoại bà An để lại, người Công an xã đã cho bà tên và địa chỉ của 8 hộ dân bà cần tìm, trong đó có một gia đình làm nghề buôn bán.

    Bà Vân mừng rở:

    - Đúng là chị Ngọc thuộc địa phương này nên rành hơn mình, loại trừ được một số lớn không cần thiết.

    Hai người bắt đầu cuộc tìm kiếm lần nữa. Bà Ngọc quả thực đã tiên đoán gần như chính xác. Trừ đi gia đình buôn bán ở hơi gần mặt đường một chút, 7 hộ còn lại đều ở rất xa quốc lộ, đường xá sình lầy,vắng vẻ, nhà cửa tất cả đều đơn sơ và nghèo nàn.

    Bà An thở ra:

    - Không có chị Ngọc mình đi hỏi thăm tới Tết Ma Rốc chưa ra.

    Cả 8 gia đình đều không có dấu hiệu gì biết về người đàn ông mặc thường phục bị thất lạc trong những ngày gần chiến tranh, họ đều nói lúc đó người như vậy thiếu gì, hỏi mù mờ làm sao mà nhớ nỗi. Bà Vân gần như lã người đi vì tuyệt vọng thì người đàn ông chủ nhà trong rẫy, cái nhà cuối cùng, xa nhất mà họ đến chợt nói:

    - Tui thì hổng biết nhưng mà ba tôi ai biết ổng có biết chút gì hông. Tại vì hồi đó tui còn nhỏ mà.

    Bà An mừng rỡ:

    - Vậy bác nhà ở đâu vậy anh?

    Người đàn ông lắc đầu:

    - Ba tui đi xuống chùa hốt thuốc uống rồi. Mấy bữa nay ổng bị nhức mình nhức mẫy dữ quá.

    Bà An hỏi:

    - Vậy lúc nào bác về?

    Người đàn ông trả lời:

    - Sớm nhứt là tối nay. Thôi có gì ngày mai hai chị trở lại coi ba tui có biết gì hông.

    Hai người chào rồi ra về. Bà An động viên bà Vân:

    - Thôi thì ráng thêm chút nữa nghen Vân.

    Ngày hôm sau khi họ trở lại thì không gặp người chủ gia đình đâu nữa, trong nhà chỉ còn lại một ông già lọm khọm ngồi chuốt mấy nan tre. Không đợi hai người phụ nữ trình bày, ông già nói ngay:

    - Phải hai cô tới kiếm hỏi thăm cái ông bị lạc không?

    Bà Vân mừng rỡ:

    - Dạ phải rồi bác.

    Ông già gật gù:

    - Tui có nghe con tui nó nói rồi.

    Bà An hỏi:

    - Vậy hồi đó bác có gặp hông bác?

    Ông già gật đầu:

    - Có.

    Bà Vân mừng chảy nước mắt:

    - Bác nói giùm con đi bác.

    Ông già với tay cầm hòn đá, liếc nhẹ con dao:

    - Lâu quá tui cũng quên rồi, mà hồi tối con tui có nói, làm đêm hôm tui ráng nhớ lại, chớ nếu hỏi bất chợt tui cũng chịu thua luôn.

    Bà An nói:

    - Bác nhớ được tới đâu thì kể tới đó cho tụi con nghe đi bác.

    Ông già suy nghĩ một lát rồi kể:

    - Hồi đó tui có miếng rẫy ở gần đây, tại vì đói khổ quá mấy cô ơi mới ráng làm liều vậy chớ bom đạn ì ùng tối ngày, mấy ai dám vô đây mà chặt rừng phá rẫy. Hồi đó ở đây lưa thưa có mấy cái chòi mà bữa nào nhắm nhắm yên ổn mới dám vô, vô để thăm bẫy đó mà. Còn hễ bữa nào sáng ra nghe cắc cắc bùm thì ở nhà cho rồi. Bữa đó tui thấy gần 9 giờ rồi mà hổng có gì mới nói với má sắp nhỏ để tui đi coi có con chồn con heo gì không. Vô thăm một vòng miếng rẫy bắt được hai con thỏ, tính đi về thì nghe súng nổ. Sợ quá tui nhảy xuống hầm trốn. Mấy cô biết hông, hồi đó hễ ở đâu cũng phải đào cái hầm nhỏ để hễ khi nghe bắn nhau là chui xuống liền. Xui xẻo rớt trúng hầm thì ráng chịu, chớ bắn chíu chíu ở trên thì mình cũng thoát được hà. Được một hồi êm êm thì tui nghe có toán người đi ngang qua, rồi có người nói:

    - Liệng mẹ nó đi chớ hơi sức đâu mà khiêng.

    Rồi có ai đó nói:

    - Tướng thằng cha này coi bộ ngon, có khi ông gì đây.

    Có người cải:

    - Ngon sao đi xe lam, chắc chả ăn mặc vậy để đi đám cưới.

    Người đầu tiên nói:

    - Ngon không ngon gì thì liệng đi, lo rút cho lẹ để lát tụi nó tới bây giờ.

    Rồi tui nghe họ liệng xuống đất cái huỵch. Tui than thầm hổng biết cái xác nào đây, mình lại phải lo chôn nữa chớ.

    Khi không còn ai tui mới từ từ bò lên, rồi lén lén đi tới ngó mặt ông đó . Sở dĩ mà tui nhớ là vì hồi đó ổng mặc bộ đồ đẹp quá, dân ở đây toàn là quần áo lam lũ, bộ đội với lính thì mặc đồ xanh, còn ổng thì mặc áo sơ mi trắng, thắt cà ra quách nữa chớ. Tui tiếc bộ đồ đẹp, đứng ngó hoài. Sao tui thấy ổng nhúc nhích, té ra chả chưa chết. Tui lật đật xốc ổng vô chòi, ngó coi vẻ ổng đau đớn lắm. Tui đổ nước cho ổng, rồi đổ gạo nấu miếng cháo cho ổng. Tới chiều thì ổng khoẻ lại mà chưa nói được gì. Tui biểu ổng ngủ lại đi còn tui phải về nhà để vợ con mong ngóng. Tui đắp mền cho ổng rồi đem hai con thỏ về. Tới nhà cũng không dám kể cho ai nghe, tại vì hổng biết ổng là ai, lỡ là người Quốc gia thì sợ bộ đội kiếm chuyện, lỡ gặp mấy ông giải phóng thì sợ lính, nên tui nín luôn.

    Ông già hớp một ngụm nước rồi kể tiếp:

    - Bữa sau tui nói với vợ tui là tui vô chòi ở vài bữa mới về, tui đem theo dầu lửa, dầu gió, cá khô với đem thêm mớ gạo. Tính nuôi ổng hết tuần rồi thôi chớ sức đâu mà nuôi cho nỗi. Mình nghèo mà. Tới bữa sau thì ổng nói chuyện được, mà hỏi gì cũng lắc đầu. Tui nghĩ chắc người ta không muốn cho mình biết nên cũng hổng ép. Được hai ba bữa thì một lần tui đi thăm bẫy về tới nhà thấy ổng đi đâu mất tiêu. Từ đó tới giờ không có gặp lại nữa.

    Ông già kể xong, đứng dậy thò tay trên nóc tủ lấy ra một cái hộp gỗ đựng đủ thứ bà rằn. Ông lục lọi một lát rồi đưa ra một cái kẹp cavát nhỏ đã hoen rỉ, ông nói:

    - Ổng ra đi hồi nào không biết, còn bỏ quên lại cái này. Mới đầu tui tưởng nó bằng vàng thiệt nên cất kỹ lắm. Cất mà hổng dám đem bán, phần thì sợ lỡ là đồ giả người ta cười, phần thì sợ lỡ đồ thiệt người ta nghi mình trộm cắp . Nghèo như tụi tui lấy đâu ra đồ qúy mà bán. Hổng biết sao mấy năm nay nó xuống màu chớ hồi xưa đẹp lắm.

    Bà An đưa tay cầm chiếc kẹp cà vạt ngắm nghía. Đúng là chiếc kẹp có hình con rồng như bà Ngọc đã kể, chỉ có điều qua một thời gian dài không được bảo quản, lớp vàng mạ bên trên đã bị phai mất màu nên nhìn nó xấu xí chớ không còn đẹp nữa. Bà đưa cho bà Vân. Bà Vân bật khóc nức nở.

    Đợi cho Vân bớt khóc, bà An lại hỏi ông già:

    - Bác ráng nhớ giùm con thêm chút nữa, coi ông đó có nói gì với bác hông?

    Ông già trầm ngâm suy nghĩ rồi lắc đầu:

    - Không phải là ổng câm điếc đâu, tui biết là ổng có nghe. Tại vì tui biểu ổng quay lại cho tui xức dầu, hay kêu ổng ngồi dậy húp miếng cháo là ổng nghe mà. Nhưng mà tui hỏi ổng tên gì, ở đâu thì ổng lắc đầu không nói, mặt ổng lúc nào ngó cũng ngơ ngơ như người mất hồn. Tui nói chắc ổng mới bị súng đạn lần đầu nên ba hồn bảy vía lạc mất, chớ nếu người tỉnh táo ở hai ba ngày phải hỏi thăm đường về nhà chớ.

    Bà An suy nghĩ mông lung rồi hỏi:

    - Từ căn chòi của bác có bao nhiêu hướng đi?

    Ông già dắt bà An ra cửa, chỉ về hướng Bắc:

    - Hồi xưa cái chòi tui nằm ở chỗ đó, chỗ bây giờ là cái cây cao cao gần cái miễu đó. Chỗ đó có cái ngã ba, cái miễu đó thờ cô hồn chết vô số trong đợt giải phóng thị xã. Ở đó có con đường dẫn ra ngoài lộ cái là một, còn lại một đường dắt vô bản Thượng đi lên hướng trên. Đường phía dưới là đường vô khu người mình ở, là hồi đó chỗ liên lạc với cách mạng đó. Mà tui nhắc cho mấy cô nhớ là ở đây giải phóng sớm lắm nghen. Trước Sài Gòn gần hai tháng lận đó. Mấy cô có hỏi thăm ai cũng phải canh cho đúng thời gian mới dễ kiếm.

    Hai người cảm ơn ông già. Bà Vân trân trọng nhét vào tay ông già nắm tiền lớn:

    - Con cám ơn ông đã cứu giúp anh con trong cơn khốn khó. Ơn này chị em con không bao giờ quên.

    Ông già ngại ngùng từ chối thì bà An đã nói:

    - Bác không nhận ơn huệ thì coi như tụi con mua lại cái kẹp này. Bác lấy tiền đó mua lại cái bằng vàng khác mà xài.

    Ông già cười móm mém:

    - Tui gần đất xa trời rồi còn mua vàng vòng làm chi, mấy cô cho tiền thì tui để dành lúc đau lúc ốm.

    Hai người dắt xe ra, bà Vân chợt nhớ liền hỏi:

    - Bác ơi, anh con trai bác đâu rồi.

    Ông già trả lời:

    - Nó đi tỉa đậu rồi cô ơi. Có chuyện gì hông?

    Bà Vân cuộn thêm một nắm tiền vào tay ông:

    - Bác cho con gởi cái này cho anh để anh mua sắm thêm đồ trong nhà nghen bác.

    Ông già cảm động rưng rưng nước mắt:

    - Cô cho nhiều quá, thiệt tình cám ơn cô quá.

    Bà Vân mũi lòng:

    - Cái ơn cứu giúp anh con lúc bị nạn còn lớn hơn bác ơi.

    Hai người chạy xe về hướng ngã ba theo ông già chỉ, An hỏi Vân:

    - Bây giờ đi hướng nào đây?

    Vân nói:

    - Chắc là anh Thành thấy ai đó quen nên đi theo, hoặc giả ảnh bị cách mạng bắt không chừng.

    An cho xe chạy sâu vào bên trong, đi thêm một đoạn đã thấy có một xóm nhỏ bên trong, nhìn cũng khá sầm uất, lác đác nhà xây, tiệm tạp hoá, vườn cây ăn trái. Hai người xuống xe bắt đầu hỏi thăm. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này họ chỉ hỏi những gia đình nào đã ở đây trước 75. Nhưng thật là thất vọng, cả buổi chiều họ chỉ hỏi được hai gia đình, còn lại toàn thể đều là dân ngoài Bắc vào Nam sau giải phóng đến năm hoặc bảy năm. Hai gia đình được giới thiệu ở trước 75 thì đều là gia đình cách mạng, trong đó có một bà mẹ anh hùng. Không may mắn là tất cả mọi người già đều đã lên bàn thờ ngồi, những người còn lại dưới đất còn quá trẻ để không hề biết chút tăm hơi nào về người đàn ông mặc thường phục mất tích trong thời gian đó.

    Buổi tối trong nhà nghĩ, An vặn vẹo người cho đỡ mõi. Vân thì nằm vật ra giường chẳng ăn uống gì. An nói:

    - Tắm rồi thì phải ăn chút gì chớ. Muốn ngày mai nằm liệt luôn sao?

    Vân không nói, nằm đăm đăm nhìn lên trần nhà. Lòng bà đau xót tái tê, cơ thể bà như ai vắt kiệt. Không hiểu do trước đây bà chưa từng vất vả thế này hay áp lực tâm lý làm bà suy nhược. Vân nhớ đến Thành, nhớ câu dặn dò của anh trước khi ra đi. Bà liên tưởng lại những điều đau đớn mà Thành phải chịu qua lời kể của các nhân chứng. Định mệnh éo le để cho bà chờ đợi ba mươi năm mõi mòn không một chút tăm hơi. Anh biến mất đi như cơn địa chấn nuốt trọn vào lòng. Cha mẹ, anh em, người yêu không ai biết lúc mọi người nháo nhác tìm anh ở mọi nơi trên đường phố Sài Gòn thì thể xác anh đang phải đau đớn ở một góc trời xa lạ không một người quen. Ba mươi năm nay anh khốn khổ nơi nào, sao quá muộn màng để bây giờ em mới đi tìm anh. Để mọi sợi dây liên kết về anh gần như đã tả tơi vì sự tàn phá của thời gian. Em biết tìm anh ở đâu bây giờ khi những người lúc đó đã mãi mãi ra đi. Sao không là mười, là hai mươi năm trước để em còn lần ra được chút manh mối nào. Bây giờ em biết làm sao đây hở anh? Làm sao mà tìm ra anh giữa nơi xa lạ này, làm sao mà tìm được chút manh mối nào nữa đây?

    An buông mùng:

    - Không ăn thì ngủ đi, ngày mai còn sức đi nữa.

    Vân ngẩn ngơ:

    - Đi đâu nữa?

    An tròn mắt:

    - Chịu thua à? Còn phải tiếp tục chớ?

    Vân thắc mắc:

    - Nhưng đi đâu? Không lẽ anh Thành vô bản Thượng?

    An nằm xuống bên Vân, suy nghĩ một lúc rồi nói:

    - Động não chút đi. Nơi đó là ngã ba, một ra đường quốc lộ, một thì hồi chiều mình đã đi, còn một lên làng Thượng. Cả 3 đường đó anh Thành đều có thể đi được khi anh đã khoẻ hơn. Có thể anh ra đường đón xe về, có thể anh trở về lấy chiếc xe mà cũng không thể loại trừ trường hợp anh vào làng Thượng.

    Vân ngạc nhiên:

    - Anh vô đó làm gì?

    An nhăn nhó:

    - Ai mà biết đâu. Vân không thể hỏi như thế được. Nếu Vân đã quyết tìm thì hướng nào cũng phải tìm.

    Vân hỏi:

    - Bây giờ làm sao?

    An không trả lời. Bà mở di động gọi cho bà Ngọc. Một lát bà nói:

    - Loại bỏ trường hợp anh Thành quay lại lấy chiếc xe, chị Ngọc nói chiếc xe vẫn còn lại qua chiến tranh, sau đó bị hư hỏng dần.

    Suy nghĩ một lúc , bà quyết định:

    - Ngủ đi, ngày mai vào bản Thượng.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #13
    Miền Ký ức 10

    Anchu



    Hôm sau, hai người dậy sớm, bà An buộc bà Vân phải ăn sáng thật no, sau đó tiếp tục đi. Đường vào bản Thượng thật là xa, hai người vừa đi vừa hỏi thăm người qua đường. Đến nơi mới thấy thật là khó khăn vì rào cản ngôn ngữ. Mặc dù đã qua 30 năm, nhưng người dân tộc Châu Mạ vẫn chưa kịp hoà đồng với người Kinh, phần đông chỉ bập bẹ được vài tiếng. Một số ít người trả lời mơ màng vì cả hai bên đều không hiểu nhau. Nơi đây mọi vật vẫn còn rất thô sơ, điện chưa được biết đến đừng nói là chút văn minh gì. An chán nãn:

    - Kiểu này trở về thôi Vân ơi.

    Hai người thất thểu trở về như những người lính bại trận. Đến nhà nghỉ, An nói:

    - Chắc phải tìm cách khác thôi.

    Họ trả phòng, quay về nhà bà Ngọc. Bà Ngọc đang ở ngoài tiệm sách. Bà vồn vả hỏi thăm, hai người thay nhau kể hết mọi việc. Bà An kết luận:

    - Bó tay. Không làm sao tiếp cận được.

    Bà Ngọc suy nghĩ một lát rồi nói:

    - Để tôi giúp cho.

    Cả Vân và An đều ngạc nhiên:

    - Chị nói được tiếng dân tộc à?

    Bà Ngọc lắc đầu:

    - Không. Nhưng tôi có một người bạn người Châu Mạ thời còn đi học. Ngày mai tôi đi với mấy chị đi kiếm chị ấy.

    Bà Vân mừng quá:

    - Vậy ngày mai chị giúp em nghen.

    Rồi bà thêm:

    - Tiệm sách này chị giao lại được cho ai thì giao, không thì đóng cửa đi, phí tổn trong mấy ngày này em xin trả lại chị.

    Bà Ngọc ái ngại:

    - Chị đã đưa cho em nhiều rồi.

    Bà Vân lắc đầu:

    - Không có lời xác nhận của chị về cái tên trên thẻ đeo thì cả đời em cũng không biết được chút tin tức nào.

    Tối hôm đó họ lại tiếp tục ngủ lại trên căn gác bé tí hin của bà Ngọc.

    Hôm sau bà Ngọc lấy chiếc xe máy của nhà đi cùng Vân, An. Bà không rẻ vào con đường họ đã đi tìm mà chạy thẳng lên hơn 10 cây số nữa rồi bắt đầu vào con đường đất đỏ phía trong. Đường đi khó khăn, gập ghềnh, qua rất nhiều con dốc nhỏ ba người dừng lại trước căn nhà mới xây trong một vườn điều um tùm rậm rạp.

    Ngọc cất tiếng gọi:

    - Lý ơi . Có nhà không.

    Hai con chó ùa ra sủa vang trời, rồi có tiếng bà già đuổi chó. Bà Ngọc ra hiệu cho mọi người vào nhà. Bà đon đả:

    - Bác cho con gặp Lý chút ạ.

    Bà già người dân tộc đen đúa ốm nhách mặc váy quấn và áo chui đầu như người Kinh ho sù sụ:

    - Chờ chút đi. Đương hái điều.

    Rồi bà sai thằng bé tóc quăn tít, mặt mày đen nhẽm chạy đi kêu cô Tư. Một lát Lý về. Đó là người phụ nữ dân tộc đẩy đà có nụ cười tươi tắn thân mật vỗ vai bà Ngọc:

    - Lâu quá mới gặp. Có việc gì mà tới đây kiếm mình.

    Sau khi nghe bà Ngọc kể tóm tắt câu chuyện, bà Lý ôn tồn:

    - Cái đó thì mình giúp được, nhưng mà phải đợi mình tắm rửa chút đã.

    Ba người đàn bà thơ thẩn dạo quanh vườn điều trong khi chờ bà Lý. Bà An thắc mắc:

    - Bạn chị Ngọc nói tiếng Kinh giỏi vậy?

    Bà Ngọc cười:

    - Ba nó hồi trước đi lính, nó ở trong khu gia binh nên nói tiếng Kinh không mà. Chỗ này là sau khi giải phóng nó mới về.

    Bà Vân thất vọng:

    - Như vậy là chị Lý đâu có biết chuyện hồi đó đâu.

    Bà Ngọc gật đầu:

    - Tất nhiên là nó không biết rồi. Nhưng nó có thể hỏi thăm người trong bản cho mình, mình là người lạ, lại là người Kinh dễ dàng gì mà họ nói cho mình biết.

    Bà An đồng ý:

    - Phải đó. Họ không tin người Kinh mình đâu.

    Bà nhận xét thêm:

    - Người dân tộc ở đây có vẻ phát triển, nhà cửa cũng đàng hoàng đó chớ.

    Bà Ngọc phì cười:

    - Đây chưa phải là bản làng, với lại bây giờ Nhà nước có chương trình xây nhà cho người dân tộc mà.

    Bốn người lên xe, theo sự chỉ dẫn của bà Lý, bà Ngọc chạy vào con đường nhỏ ngược chiều. Bà Lý giảng giải:

    - Ở đây có tới 2 bản Thượng lần chớ không phải một đâu, còn lại có một bản mới được Nhà Nước thành lập ở cách đây 5 cây số về hướng nhà Ngọc nữa.

    Bà An thắc mắc:

    - Tụi em muốn hỏi bản Thượng ở phía dưới kìa.

    Bà Lý gật đầu:

    - Mình biết. Hồi đó là bản của mình mà, nhưng mà bây giờ người ta không ở túm lại nữa mà dãn rộng ra, ai cũng lập nghiệp lâu dài nên phá rừng làm vườn trồng cây ăn trái. Hồi đó sống du canh nên gom lại để kéo nhau đi cho dễ.

    Bà An hỏi:

    - Trước năm 75 khu vực này có mấy bản?

    Bà Lý chắc chắn:

    - Hai bản, bản của em là Châu Mạ, bản kia là Cho Ro.

    Rồi bà nói thêm:

    - Hai chị đừng lo, em biết rành lắm, tại vì hồi đó nhà em tuy ở khu gia binh nhưng tới ngày lễ cúng thần lửa, ngày lễ Yu Rmul phải quay về bản cúng bái chớ đâu có bỏ đi luôn.

    Bốn người vào làng theo sự hướng dẫn của bà Lý, quả thực như lời bà Ngọc nói, trong bản còn nhiều nhà làm bằng tre, nứa, khung gỗ, mái lợp cỏ tranh. Một số nhà có lẽ mới được xây, nhìn hao hao giống nhà tình thương. Bà Lý dẫn họ đến một ngôi nhà sàn dài hơn chục mét nằm lọt phía sau một ngọn đồi nhỏ. Bà giải thích:

    - Nhà này có ông già tên Kva Can, ổng lớn tuổi, trí nhớ còn tốt lắm, muốn hỏi cái gì kiếm ổng mà hỏi.

    Ông già ngồi phì phèo điếu thuốc to bằng ngón chân cái bên bậc thang cuối nơi cửa ra vào. Bà Vân lo ngại nhìn hàm răng được mài sát của ông và hai bên dái tai rộng hoặt đeo đôi tòng teng màu trắng nhờ nhờ. Bà An ghé tai bà Vân thì thào:

    - Tục lệ cà răng căng tai đó mà, nhưng chỉ có ở những người quá già thôi, trẻ như chị Lý làm gì có.

    Bà Lý nói một hồi dài với ông, ông suy nghĩ rồi lúc lắc cái đầu. Bà An theo dõi, đoán mò:

    - Vô vọng rồi.

    Bà Lý vẫn chưa ngừng nói, một lát bà quay lại hỏi bà Vân:

    - Chị có mô tả được hình dạng người đó không?

    Bà Vân mừng rở:

    - Cao, tóc quăn, trắng, đẹp trai, ăn nói điềm đạm.

    Bà An khẽ huých vào hông bà Vân, tiếp lời:

    - Lúc đi mặc áo sơ mi dài tay màu trắng, quần nâu, giày đen, có thắt cà vạt.

    Bà Lý lại tiếp tục phiên dịch. Ông già có vẻ suy nghĩ lung lắm, sau cùng ông nói một tràng với bà Lý. Bà Lý quay lại nói:

    - Ông nói lúc gần giải phóng ông không thấy ai tới ở bản này, nhưng về sau ông nói ông có nhớ cái gì đó lạ lắm, biểu mình chờ tới chiều coi ông có nhớ thêm được gì không.

    Họ ăn trưa bằng những ổ bánh mì và nước khoáng mà bà Ngọc chu đáo chuẩn bị hồi sáng. Bốn người đàn bà nằm nghỉ trên bộ vạt tre phía sau vườn. Gió thổi vi vu nghe vui tai, mát rười rượi. Bà Lý kể cho mọi người nghe về tập tục của người Châu Mạ.

    Dân tộc Mạ chia làm 4 giòng: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô và Mạ Krung. Bản làng này thuộc giòng Mạ Krung. Người Mạ sống nhờ vào phát rừng làm rẫy. Rẫy là nơi cung cấp lương thực cho bữa ăn hằng ngày vì chăn nuôi kém phát triển mà săn bắn không đem lại thức ăn thường xuyên. Người Mạ chia rẫy làm 2 loại: rẫy mới và rẫy cũ. Rẫy mới canh tác năm đầu và chỉ trồng lúa, rẫy cũ từ năm thứ hai trở đi, có thể trồng lúa hoặc hoa màu vài năm, sau đó bỏ hoang hoá cho rừng tự tái sinh lại, đó là các năm trước đây, còn bây giờ Nhà Nước cấm phá rừng, nên người Mạ không sống đời du canh nữa.

    Công cụ làm rẫy của người Mạ là rìu để đốn cây to, dao rừng để phát cành nhỏ, gậy chọc lỗ bằng gỗ dài 3m, bịt sắt ở đầu nhọn dùng để tra hạt, gùi nhỏ để đựng hạt giống. Người Mạ khi xưa suốt lúa bằng tay, cắt lúa nếp mới dùng liềm, bây giờ có cả máy suốt lúa. Quá trình canh tác của người Mạ hiện nay vẫn còn gắn liền với nhiều lễ nghi nông nghiệp để cầu mong cho mùa màng được tươi tốt. Trước khi đốt rẫy thì cúng thần lửa. Lúa sắp trổ đòng thì làm lễ Vu tam nam để ăn mừng và tạ ơn mẹ lúa. Lúa trổ bông thì làm lễ Yurmul. Đó là lễ lớn thứ hai trong chu trình một năm sản xuất. Trong lễ này người ta cúng heo hoặc dê và phải kiêng cữ trong 7 ngày. Lễ này còn có tục lệ dựng cây nêu trên rẫy tượng trưng cho hồn lúa. Khi thu hoạch xong, cây nêu được đem về cắm cạnh kho lúa của gia đình.

    Sau khi gieo hạt, người Mạ còn có tập quán dọn ra rẫy ở để chăm sóc cây lúa. Họ đem theo các dụng cụ dùng trong sinh hoạt như lương thực, váy áo, chăn mền, nồi niêu, nông cụ và cả chiêng ché nữa. Giữa rẫy họ dựng một chòi cao để canh rẫy, đuổi chim, họ còn dựng gần đó một nhà sàn thấp để ở, thu hoạch xong họ mới trở về làng.

    Chăn nuôi ở vùng này không phát triển, chủ yếu chỉ nuôi những con vật để dùng trong cúng tế. Thủ công tuy là nghề phụ nhưng dệt vải được coi như kỹ thuật cao với phương pháp đan hoa văn. Phổ biến hơn là nghề đan các đồ dùng bằng mây tre.

    Nhà của người Mạ được gọi là bon, bao gồm một hay nhiều ngôi nhà dài mà các thành viên trong đó có cùng một ông tổ. Ngôi nhà họ đang ở hiện nay cũng là một bon. Ngoài ra họ còn cất những ngôi nhà sàn nhỏ hơn, một số người hiện nay ở những ngôi nhà do Nhà Nước trợ cấp nhưng hình như người Mạ không cảm thấy thoải mái như khi ở trong nhà gỗ, có lễ họ đã quen với thiên nhiên, quen mùi nắng gió, khó chịu được cảm giác tù túng trong những ngôi nhà xây.

    Cuộc sống ở đây đơn giản, ăn uống thường chỉ là cơm tẻ với muối, rau rừng, bầu bí , đọt sắn, đôi khi có thêm chút cá hoặc thịt thú rừng.

    Phụ nữ Mạ mặc váy quấn, nam giới đóng khố. Về mùa nóng thường cởi trần, mùa đông choàng thêm tấm mền. Một số đàn ông lớn tuổi thích cà răng và xâu lỗ dái tai để đeo vòng cỡ lớn, có khi rách cả tai. Đàn bà thường mang ở cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc cùng với đôi vòng đồng ở cổ chân và cổ tay.

    Cuộc sống ở đây thân thiện, đơn giản, sự giàu nghèo được phân biệt qua những chiêng, ché. Tuy mỗi người có diện tích đất canh tác riêng nhưng nếu gia đình này khó khăn có thể đến gia đình kia lấy mà không đòi hỏi phải trả lại. Họ cũng không hay xoi mói cuộc sống của nhau. Hôn nhân trong dân tộc Mạ ngày càng xuất hiện nhiều gia đình nhỏ, đôi khi gia đình họ sống song phương. Tàn dư mẫu hệ và quần hôn vẫn chưa chấm dứt. Thuật ngữ nao ở vùng Mạ được dùng để phân biệt giữa các giòng họ. Người thuộc nao này kết hôn với người thuộc nao kia.

    Nói chuyện một lát bà An lăn ra ngủ khò. Bà Vân nói với bà Ngọc:

    - Con An nó vậy đó, dễ ăn mà dễ ngủ nữa.

    Bà Ngọc cười cười:

    - Người ta nói mấy người vậy sướng lắm đó chị.

    Bà Vân ậm ừ:

    - Chắc vậy đó. Có lo nghĩ gì đâu mà.

    Gần 3 giờ chiều, bà Ngọc vươn vai, nóng ruột:

    - Không biết ông già nhớ được cái gì rồi.

    Bà Lý đứng lên đi vô nhà. Một lát, bà trở ra gặp họ, bà nói:

    - Ông ngủ một giấc, tỉnh lại nói là ông không nhớ người nhưng ông nhớ đã gặp một người dân trong bản mặc bộ quần áo giống như mấy chị kể. Đặc biệt là do có cái cà vạt nên ông để ý. Hồi đó ở đây dân nghèo xác nghèo xơ, áo rách còn có người hổng có mặc lấy đâu ra bộ đồ đẹp đó. Ông nói muốn biết thêm thì hỏi người mặc bộ đồ đó coi họ lấy ở đâu.

    Cả 3 mừng rỡ, bà An hỏi:

    - Vậy người mặc bộ đồ đó là ai? Có còn ở đây không?

    Bà Lý nói:

    - Ông già nói người mặc bộ đồ đó tên Kva Đăng, nhưng bây giờ ông đó đi rẫy rồi, tối mới về.

    Bà An hỏi:

    - Ngày mai ông đó có nhà không?

    Bà Lý lắc đầu:

    - Không biết. Thường thì sáng họ lo đi làm rồi.

    Bà Vân thất vọng:

    - Không lẽ mình ngủ lại.

    Bà Ngọc suy nghĩ:

    - Lý vô nói giùm cụ, nhờ cụ tối nay kêu ai đó mời ông Kva Đăng trưa mai tới nhà cụ ăn cơm một bữa, tụi mình sẽ lo bữa tiệc này.

    Bà Lý gật đầu:

    - Tính vậy được, mấy người này cũng ưa nhậu lắm. Để mình nói cho.

    Bốn người quay về nhà bà Lý, bà Lý giữ bà Ngọc lại nhưng bà Ngọc hẹn ngày mai. Ra đến quốc lộ, bà Ngọc gọi điện về nhà rồi cùng ở lại nhà nghỉ với hai người kia.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #14
    MIỀN KÝ ỨC - Anchu



    Tối hôm đó bà Ngọc tìm một quán ăn, bà đặt sẵn một mâm cơm thịnh soạn, gần trưa hôm sau 2 chiếc xe chở thức ăn vào nhà bà Lý. Bà Lý đã chuẩn bị sẵn rượu, tô chén. Họ lại quay trở vào khu làng Thượng.

    Người đàn ông tên Kva Đăng da đen nhẽm, tóc tai quăn tít, đã trạc ngoài 50. Có vẻ hớn hở khi được dự một bữa tiệc thịnh soạn với các bà sang trọng người Kinh. Gần tàn buổi rượu, ông già mới lên tiếng hỏi (qua sự phiên dịch của bà Lý).

    - Kva Đăng nè, tao nhớ hồi sau giải phóng, mày có tham gia văn nghệ của bộ đội tổ chức phải không?

    Người đàn ông cười sảng khoái:

    - Già ơi, tui tham gia nhiều lắm, bộ đội khen tui là hát hay nhứt bản này đó.

    Ông già gật gù:

    - Phải phải, mày hát hay nhứt. Tao nhớ có mấy lần mày lên lãnh giải thưởng gì đó mà.

    Kva Đăng khoái chí:

    - Đúng rồi, già nhớ dai thiệt. Hồi đó có 3 lần tui lãnh giải thưởng huyện, 1 lần của tỉnh đó nghe.

    Ông già tiếp tục:

    - Hồi mày lãnh giải của tỉnh thì tao hổng được coi, mà máy lần mày lãnh giải huyện thì tao được Ủy ban mời đi. Tao nhớ có lần đó mày hát cái bài gì hay dữ lắm nè.

    Kva Đăng nói liền:

    - Lần trước tui hát Tiếng chày trên sóc Bombo, lần sau tui hát Người đi xây hồ Kẻ gỗ.

    Ông già vỗ đùi đánh bốp:

    - Phải rồi, hôm hát cái bài đó mày đẹp trai quá chừng, mày mặc bộ đồ người Kinh, đeo cái dây trên cổ, còn mang giày nữa chớ.

    Kva Đăng cười ha hả:

    - Già là nhớ dai nhứt bản này đó nghe, đúng là bữa đó tui mặc bộ đồ đó, con vợ tui bây giờ nó mê tui luôn từ bữa đó đó.

    Ông già bắt đầu cảnh giác:

    - Mà tao hỏi thiệt mày Kva Đăng, bộ đồ đó mày mượn của ai?

    Kva Đăng tròn mắt:

    - Của ai? Của tui chớ của ai?

    Ông già lăn ra cười:

    - Mày tưởng tao già rồi lẩm cẩm hả? Tao còn sáng suốt lắm, bộ đồ đó không mượn thì làm sao mà có?

    Kva Đăng cải:

    - Tui có.

    Ông già gặng lại:

    - Ở đâu mày có. Dân ở đây ai có bao nhiêu lúa tao còn biết nữa kìa. Cả bản này lúc đó có ai có nỗi hai bộ đồ lành lặn đâu, bộ đội thì chỉ có đồ lính thôi. Mày phải mượn một người nào đó hoặc quen biết ở ngoài thị xã, hoặc ở chỗ khác tới chớ làm gì cái mặt mày mà có.

    Thấy Kva Đăng sắp nổi giận, bà Ngọc lật đật nhờ bà Lý nói:

    - Tụi tui chỉ muốn tìm người mặc bộ đồ đó thôi chứ không có ý gì đâu. Anh biết hồi đó người đó ở đâu, hoặc sống chết ra sao thì làm ơn chỉ giùm tụi tui rồi tụi tui hậu tạ.

    Kva Đăng có vẻ dễ chịu hơn, anh ta nói:

    - Bộ đồ đó là của tui, nhưng hổng phải tui mượn hay ăn cắp, cũng hổng phải ai cho, mà người ta đổi thì tui lấy.

    Bà An hỏi vội:

    - Anh kể lại chuyện đó giùm tụi tui.

    Kva Đăng suy nghĩ một lúc rồi kể:

    Hồi đó Đăng làm mướn cho một người Kinh, công việc hằng ngày của anh là đánh xe trâu đi chở mướn cho chủ. Hồi đó anh nói tiếng Kinh giỏi hơn bây giờ. Bữa đó Đăng được chủ giao chở lúa ruộng cho người ta. Đáng lẽ chở xong Đăng phải quay lại nhà chủ nhưng anh ta đang có ý định dựng một căn nhà cho mình để cưới vợ nên khi ở ruộng anh đã ôm thêm rơm đặt lên xe trâu rồi mới để lúa lên trên. Giao lúa xong Đăng tính đánh xe chở rơm về bản mình trước rồi mới quay lại nhà chủ sau. Đi tới ngã ba thì Đăng thèm thuốc, rờ túi không thấy quẹt, anh nhìn thấy cái chòi gần đó nên lần mò vô xin chút lửa. Trong bếp không có ai, Đăng ngồi đó hút hết điếu thuốc rồi đi ra, mới đi được mấy bước thì đau bụng, anh lật đật kiếm bụi rậm giải quyết. Xong xuôi nhẹ bụng anh lật đật nhảy lên xe trâu cho chạy một mạch vô làng. Tới chòi của mình Đăng mới tá hỏa khi thấy trên xe một ông nằm co rúc lại. Đăng lôi dậy, tính đánh một trận thì thấy ông ta có vẻ bệnh hoạn nên thôi. Hỏi cái gì ông ta cũng không nói, không biết làm sao Đăng bỏ đó đánh xe trâu về nhà chủ, bữa sau thấy áy náy nên xin trở về bản. Tới chòi thấy ông ta còn ngồi trong đó, miệng nhai nhai mấy lá cây, thấy tội nghiệp Đăng nướng củ mì cho ăn. Tới chiều thì ông ta có vẻ khoẻ hơn, Đăng biểu ở lại vài bữa cho khoẻ rồi Đăng đưa về nhà. Mấy bữa sau tình hình chiến tranh bắt đầu bùng nổ lẻ tẻ, Đăng bỏ việc nhà chủ ở luôn trong chòi. Hai người bắt đầu đào hầm tránh đạn, rồi ở chung với nhau trong suốt thời gian chiến tranh thị xã. Do khu đất đó toàn người dân tộc nên không ai thèm quan tâm. Lúc có tiếng súng thì chui xuống hầm tránh đạn, yên ổn lại lần mò ra rẫy kiếm miếng ăn, lần hồi cho tới khi thị xã hoàn toàn giải phóng.

    Một thời gian ở chung với nhau, người đàn ông đó do phơi nắng phơi mưa nên cũng đã đen đúa đi nhiều, thêm mái tóc ông ta dài lâu ngày không cắt, lại loăn xoan nên không bao lâu đã hao hao giống người làng. Khi Ủy ban quân quản về làm việc, Đăng khai là anh mình tên Kva Kăng, lúc đó đâu có ai để ý coi có phải anh em thiệt không. Mới đầu Đăng cũng không định sống chung với anh ta nhưng anh ta không đi đâu, cả ngày lầm lũi trong rẫy, hỏi gì cũng không biết nên Đăng đành phải cho anh ta ở nhờ. Với lại dù sao anh ta cũng làm việc không công cho Đăng. Mấy tháng sau anh ta đột nhiên biến mất, từ đó đến giờ không biết đi đâu.

    Ông già hỏi:

    - Mày ở chung bao lâu mà sao tao không biết.

    Đăng trả lời:

    - Ổng ở trong chòi trong rẫy không, có đi ra ngoài đâu mà ai biết.

    - Vậy còn bộ đồ của ổng thì sao. Ông già hỏi lại.

    Kva Đăng cự nự:

    - Ổng ở với tui mấy tháng toàn mặc đồ tui không, lúc bỏ đi cũng mặc theo bộ đồ của tui vậy thì tui mặc lại là phải rồi.

    An khoát tay cắt ngang câu chuyện:

    - Anh ở chung với ổng lâu vậy, ổng có nói chuyện gì với anh không?

    Kva Đăng trả lời:

    - Tui hỏi mà ổng không có nói, hỏi gì ổng cũng nói không biết hết. Hỏi tên gì, nhà ở đâu cũng hổng biết, tui nói tui đưa ra đường đón xe về nhà cũng không biết đường đi.

    Bà Vân khóc nức nở. Bà Ngọc hỏi:

    - Anh ở chung với ổng có thấy ổng có đặc điểm gì không?

    Kva Đăng suy nghĩ:

    - Ổng hay lấy lá cây làm thuốc uống, với lại hay cầm cầm miếng gì đeo trước ngực. Có lần tui coi thử thấy có khắc chữ mà tui hổng biết chữ gì.

    Bà An lại hỏi:

    - Mấy ông quân quản gặp ổng có nói gì không?

    Kva Đăng lắc đầu:

    - Hồi mấy ông quân quản đi kiểm tra chòi thì thấy ổng đóng khố đeo gùi, tỉa lúa thì đâu có nói gì.

    Bà Ngọc hỏi tiếp:

    - Vậy khi anh trở về thấy ổng đi rồi, anh có thấy ổng đem theo cái gì của anh không?

    Kva Đăng suy nghĩ:

    - Ổng có lấy theo cái mền của tui thôi, còn quần áo của ổng thì ổng bỏ lại.

    Bà An chán nãn:

    - Vậy thì còn biết dựa vô cái gì mà kiếm đây trời.

    Đăng hồi tưởng lại một lúc rồi nói:

    - Ổng chỉ còn có cái tấm thẻ đeo trước ngực thôi, nếu mà mất luôn cái này thì khỏi kiếm luôn.

    Mọi người lặng đi trong đau xót. Một lát bà An hỏi:

    - Gần đây lúc đó còn có buôn làng gì nữa phải không?

    Bà Lý gật đầu, bà An lại hỏi:

    - Bây giờ làng đó còn không?

    Bà Lý nói:

    - Còn, nhưng mà họ nói tiếng Cho Ro, tui không dịch được.

    Mọi người trầm ngâm suy nghĩ. Sau cùng bà An quyết định:

    - Về nhà rồi tính tiếp.

    Bốn người chào ông già và Kva Đăng đi về. Trước khi đi, bà Vân dúi vào tay ông già mấy tờ giấy bạc và đưa riêng cho Kva Đăng một xấp. Khi xe sắp chuyển bánh, Kva Đăng chạy xuống cầu thang, nói với theo:

    - Ổng hái lá cây làm thuốc hay lắm đó nghen. Mà trên mặt có một vết thẹo lớn bằng ngón tay nằm sát lỗ tai trái.

    Bà Vân hỏi lại:

    - Ổng bị hồi nào ?

    Kva Đăng trả lời:

    - Hồi chiếm đánh thị xã, bị một miểng đạn xẹt qua.

    Sau khi thả bà Lý về nhà, ba người đàn bà chạy xe về nhà nghỉ. Bà An nói:

    - Chuẩn bị đi, về Sài Gòn.

    Cả bà Vân và bà Ngọc cùng ngạc nhiên, bà Vân phản đối:

    - Sao lại về, kiếm chưa ra mà.

    Bà An im lặng không đáp. Một lúc lâu sau, bà nói:

    - Liệu mình có kiếm được không? Càng lúc càng mù mù tăm tăm, dấu vết thì nhạt dần dần. Bây giờ biết dựa vào cái gì mà tìm anh Thành đây?

    Bà Vân khóc nức nở. Bà Ngọc mũi lòng:

    - Còn nước thì còn tát mà, ngày mai thử vô buôn Thượng bên trong đó coi.

    Bà An cắn môi:

    - Biết kiếm đâu ra phiên dịch đây?

    Bà Ngọc không trả lời. Bỗng di động của bà Vân reo lên, bà Vân cầm máy. Một lúc sau, bà nói với bà An:

    - Phải về thôi. Ngọc Lan nói ở Tri Tôn báo lên Công ty, chú Tư mất rồi.

    Bà An nhảy nhổm. Chú Tư là người lính già năm xưa đã từng giúp Vân trong khi hoạn nạn, sau này cũng nhờ ông mà Vân nhận lại được ngôi nhà. Để cảm tạ cái ơn ông, Công ty du lịch đã xây một ngôi nhà tặng ông khi ông về hưu và chu cấp tiền bạc cho ông suốt hơn mười năm qua. Bây giờ chú Tư mất, không những chỉ có Vân phải về mà ngay cả An cũng phải tham dự đám tang này. Bà không thể nào không đến chào lần cuối cùng ông Bụt hiền lành năm ấy. Bà An quay sang bà Ngọc.

    - Tụi em phải về. Cảm phiền chị ngày mai đến gặp chị Lý gởi lại giùm em chút đỉnh tiền công cho chị Lý. Tiện thể trong lúc tụi em phải đi đám tang, nhờ chị Lý tìm giùm em một người có thể nói được tiếng Cho Ro. Tiền bạc bao nhiêu xin chị đừng quan tâm.

    Bà Ngọc gật đầu ra về. Bà An thở dài, chuẩn bị quần áo đi tắm.

    Đám tang chú Tư cử hành trang trọng theo nghi thức Nhà nước. Dù sao chú cũng là một Trung tá về hưu. Chú Tư không có con, sống với vợ chồng người cháu ruột kêu bằng cậu. Bà Vân và An trong vai cháu gọi chú than khóc nức nở. Quả thật không họ hàng gì mà họ thương ông già như người thân. Người ta bảo tình cảm đến trong cơn hoạn nạn mới là đáng qúy. Chú Tư đã xuất hiện đúng lúc An và Vân tuyệt vọng nhất, cả hai cô gái nhỏ tuổi đang phải đối mặt trước một thử thách cực kỳ gay cấn và phần thua thì nắm chắc. Vậy mà chỉ một câu nói của ông, mọi sự đã thay đổi hoàn toàn. Sau đó nhiều lần Vân và An đến thăm ông, chú Tư đã tỏ vẻ rất thương yêu hai cô cháu bất đắc dĩ này, đặc biệt là với Vân, vì ông thương cô một thân lạc loài giữa cơn sóng lớn. Đã nhiều lần ông giúp đỡ về mặt kinh tế cho Vân khi thấy cô không làm gì ra tiền, sống hẩm hút chung với An một suất lương do chị Hạnh tài trợ. Thỉnh thoảng chú cũng giới thiệu cho Vân nhận viết thuê một số giấy tờ hành chính hoặc một vài công việc đơn giản thời ấy như dán hộp, tháo ruột xe, kéo sợi … Đồng lương người lính không nhiều, dù ông làm chức vụ cao đi nữa nhưng ông vẫn cố gắng nhín nhúc cho Vân, thỉnh thoảng có tiêu chuẩn lương thực không dùng đến, ông cũng sai người mang cho Vân. Ông thường nói đùa:

    - Con An có nhịn đói ba ngày cũng không chết, lo là lo cho con Vân kìa.

    Quả thật là An với sự tài trợ của chị Hạnh và một sức khoẻ bền bĩ cộng với một tinh thần sung mãn đã sống thật thoải mái trong cái thời gạo châu cũi quế đó. Mãi đến khi Vân bắt đầu nhận được hàng nước ngoài do mẹ gửi về thì chú Tư mới thôi không lo cho cô nữa. Nhưng không vì thế mà tình chú cháu phai nhạt. Ông vẫn thường đến thăm hai cô cháu nhỏ và coi họ như con. Ngược lại cả hai cũng rất qúy mến ông và để ý đến cái tuổi già của ông hơn.

    Có lần An hỏi chú Tư:

    - Sao hồi còn trẻ chú Tư không cưới vợ.

    Ông già cắc cớ hỏi:

    - Sao bây biết chú không cưới ?

    An cải:

    - Hồi nhỏ không cưới thì bây giờ mới không có.

    Ông già hỏi lại:

    - Tụi bây biết vậy sao không lo cưới đi.

    An gân cổ:

    - Con hỏi chú mà.

    Trong mắt ông già thoáng một nét buồn, Vân biết ý bấm tay An không hỏi nữa, cô xoay sang chuyện khác:

    - Chú ơi, hồi đó chú đi bộ đội hồi bao nhiêu tuổi.

    Ông già cười hỉ hả:

    - Từ cái hồi tụi bây còn ở trong đầu gối của ba bây.

    An phụng phịu:

    - Chú toàn nói gì đâu không.

    Hỏi vậy thôi chớ lần hồi họ cũng biết được gia đình chú qua lời kể của nhóm bộ đội trong doanh trại. Chú không còn vợ con, người vợ mang bầu của chú trong một lần bị tra khảo đã chết mang theo giọt máu của chú xuống tuyền đài. Chú ân hận vì cho rằng tại mình nên vợ con mới chết. Chú nói giá chú đừng về nhà đêm hôm ấy thì mẹ con nó đã không bị tra vấn đến chết. Chú ân hận vì cái quyết định thăm nhà của mình hôm đó làm mất đi người đàn bà yêu qúy nhất đời. Chú luôn dằn vặt mình mỗi khi ai đó nhắc nhở chú chuyện tìm người bạn đời thay thế. Và chú sống độc thân mãi cho đến cuối đời.

    Sau này, khi Vân đã bắt đầu mở được Công ty du lịch thì cũng là lúc chú nghĩ hưu về Tri Tôn ở. Vân và An lập tức về theo chú, bỏ tiền mua đất, xây nhà cho ông. Bà Vân còn gửi hằng tháng một số tiền để ông sống yên ổn lúc tuổi già. Mãi cho đến bây giờ, tám mươi tuổi ông mới vĩnh viễn ra đi.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #15
    Miền Ký ức 12

    Anchu



    Đám tang xong, Vân và An trở lại Sài Gòn, bà Vân hối bạn tiếp tục trở lại cuộc tìm kiếm nhưng An lần lữa chần chừ. Bà hẹn Vân vài hôm nữa rồi xách giỏ đi đâu mất biệt. Mấy hôm sau An trở lại, cùng lúc đó bà Vân đón tiếp gia đình Thành từ Mỹ bay qua. An hớn hở khoác vai thằng bạn mập ú năm nào cười cười nói nói. Công luôn miệng khen An đẹp gái hơn lúc trẻ. Hai người lại không ngớt nhắc chuyện ngày còn đi học.

    Bà Ánh Tuyết cùng đi trong chuyến này với Lệ Trinh và ông Đạt, Công. Sau ba mươi năm, từ một thiếu phụ thon thả thanh lịch, bà đã trở thành một mệnh phụ bệ vệ sang trọng. Ông Đạt giờ tóc đã bạc quá nửa, nhưng ông vẫn không mất đi vẻ hoạt bát dí dỏm ngày nào. Bà An trêu:

    - Anh Đạt trẻ mãi không già thế này chắc làm chị xã không yên tâm.

    Ông Đạt ngớ người ra vì từ chị xã mà bà An dùng, nhưng sau đó hiểu ra ngay, ông cười hóm hỉnh:

    - Bà xã tui nói chỉ cần đừng có để ý An là được rồi.

    Cả nhà cười ầm lên, bà An đỏ cả mặt, bà nhớ lại hồi xưa ông già Quốc Trung nghịch ngợm hay trêu bà là con dâu, là người yêu của Đạt. Công bênh bạn:

    - Em về kể lại nhỏ An nó nói anh năm phải nhổ hết tóc bạc đi nó mới ngó.

    Bà Trinh la:

    - Nè nè, gần năm mươi rồi còn nhỏ hả?

    Công cười hi hi:

    - Về đây gặp lại nó em thấy giống như hồi còn đi học.

    Bà Trinh làu bàu:

    - Lớp học nào mà dám chứa hai đứa bây.

    Cả nhà lại được dịp cười nghiêng ngửa.

    Tối hôm đó ăn cơm xong bà Ánh Tuyết đề nghị An và Vân kể lại tiến trình việc đi tìm kiếm Thành. Vân khóc nức nở, kể tiếng được tiếng mất. An phải đề nghị để An kể lại cho mọi người nghe. Mọi người lẳng lặng buồn xo khi nghe đến đoạn cuối cùng. Bà Trinh than:

    - Tưởng kiếm được tới đó là xong rồi, sao mà lại rắc rối vậy chớ.

    Công hừ mũi:

    - Chị tư lạc quan quá, nếu dễ như vậy sao anh hai hổng về mấy năm nay.

    Ông Đạt thẩn thờ:

    - Bây giờ biết dựa vào cái gì mà tìm tiếp đây?

    Bà Ánh Tuyết hỏi:

    - Giờ thì tính sao đây An?

    Bà An suy nghĩ rất lâu, sau cùng bà nói:

    - Điều này em muốn nói với Vân lâu rồi, mà sợ nó chịu không nổi nên em chưa nói. Bây giờ có mọi người đây, em nói ra ý kiến của em rồi mọi người bổ sung thêm.

    Ông Đạt gật đầu:

    - An là người ngoài, em bình tĩnh hơn Vân, anh tin em sẽ có ý kiến tốt hơn.

    Im lặng một lát, bà An hắng giọng:

    - Xâu chuỗi các sự kiện lại, em thấy người mà mình đang đi tìm đúng là anh Thành, dựa vào các dấu hiệu chị Ngọc đã cho biết trước lúc thất lạc. Theo em, anh Thành nhận được một chỉ thị bí mật nào đó phải mặc thường phục đi công tác. Không may chưa đến nơi thì anh bị tai nạn. Sau đó khi chị Ngọc đưa anh đi chữa trị thì hai người lại gặp bom đạn giữa đường, chị Ngọc bị ngất còn anh Thành vì cơ duyên nào đó mà chưa chết nhưng bị bên Cách mạng đem đi, vì đó mà sau này chị Ngọc và chú Đại không tìm thấy. Họ đem anh Thành đi giữa đường thì tưởng anh chết nên vất lại ngã ba. Ông già trong rẫy cứu chữa cho anh được hai ngày thì trong lúc ông đi vắng, anh Thành thấy chiếc xe trâu của Kva Đăng nên trèo lên nằm, rồi xe chở luôn anh vô buôn của người Châu Mạ, vô trong đó anh mắc kẹt lại do chiến tranh, rồi anh làm rẫy, sống luôn với họ, căn cứ vào bộ quần áo anh bỏ lại lúc ra đi. Nhưng em có 2 điều thắc mắc.

    Ngừng lại uống nước, một lát An tiếp:

    - Cái thắc mắc thứ nhất là theo lời Kva Đăng kể lại người đàn ông đó thường hay hái lá thuốc uống. Điều này làm cho em nghi ngờ, vì anh Thành là lính, em chắc là anh Thành không biết gì về thuốc Nam, vậy thì liệu người đàn ông này có phải là anh Thành không hay là một người đàn ông khác vì ngoài chị Ngọc ra đâu có ai nhìn thấy bộ quần áo anh Thành mặc lúc đó như thế nào đâu. Mà ba mươi năm sau, bộ quần áo đó không còn để chị Ngọc xác định xem có đúng hay không.

    Vẻ mặt mọi người tràn trề thất vọng. Suy nghĩ một lát An tiếp:

    - Còn một điều nữa, nếu là anh Thành, tại sao khi ông già ở ngã ba hỏi anh tên gì, ở đâu sao anh không nói. Em cứ đặt giả thuyết là vì anh lúc đó đang đau đớn nên không thể đi được, thì sau này khi đã ở trong rẫy với Kva Đăng, Đăng hỏi anh ở đâu để đưa về sao anh không cho Kva Đăng biết. Lý do gì mà anh không muốn về nhà? Lúc đó anh đã khoẻ mạnh, có thể cuốc rẫy làm vườn rồi mà. Liệu có phải là anh Thành hay là người khác?

    Vân khóc rưng rức không thôi, bà Trinh liên tục thở dài, hai người đàn ông ôm đầu suy nghĩ, chợt bà Ánh Tuyết lên tiếng:

    - Chị không biết người đàn ông đó có phải là anh hai hay không nhưng chị biết một chi tiết mà An nghi ngờ.

    Tất cả mọi người đều nhìn về bà Tuyết chờ đợi. Bà Tuyết nói chậm rãi:

    - Anh hai có biết về thuốc nam.

    Mọi người đều có vẻ bất ngờ, Đạt hỏi lại:

    - Chắc hông chị ba, sao em chưa biết.

    Bà Tuyết nghiêm mặt:

    - Các em đừng quên ông ngoại mình là thầy thuốc Nam. Hồi còn nhỏ anh hai sống ở Huế với ông bà ngoại trong vườn thuốc Nam.

    Ba bốn cái miệng cùng à lên. Mọi người có vẻ phấn khởi hơn. Bà An tiếp tục:

    - Coi như chuyện thứ nhất đã giải quyết xong. Còn chuyện thứ hai.

    Bà ngừng lại một lát rồi tiếp:

    - Từ hôm ở trên đó em đã đặt ra một giả thuyết rồi, nhưng em muốn về Sài Gòn kiểm chứng lại. Mấy bữa trước em có đi gặp một số bác sĩ về tâm lý, tâm thần để xin ý kiến của họ. Giả thuyết đó em xin trình bày như sau.

    Bà đi đến lấy trong giỏ xách ra một số tài liệu rồi để lên bàn, Công nhanh nhẹn cầm lấy đọc trước. Bà An nói chậm rãi:

    - Theo giả thuyết của em, anh Thành đã bị mất trí.

    Như một tiếng nổ vang lên, mọi người ngẩn ngơ nhìn An, bà chậm rãi tiếp:

    - Em đã hỏi ý kiến của các bác sĩ, dựa theo lời kể của nhân chứng, họ đều nói điều này không loại trừ đã xảy ra.

    Chờ cho mọi người bình tĩnh trở lại, bà tiếp tục:

    - Theo em, anh Thành bị mất trí vào một trong hai trường hợp. Một là khi bị lật xe, tuy mẹ chị Ngọc đã kiểm tra người anh Thành không có máu, nhưng điều đó không xác định được đầu anh có bị va dập hay không, ngoài ra chị Ngọc chỉ xác định anh chưa chết, còn uống được nước, còn nghe lời chị động đậy tay chân nhưng chị không nghe anh nói tiếng nào. Vậy thì ai biết được lúc đó anh đã bị mất trí hay chưa. Trường hợp thứ hai là khi có tiếng nổ, chị Ngọc bị sức ép văng đi xa, còn anh Thành thì sao? Anh không chết vì không có dấu máu trên xe nhưng ai biết anh có bị sức ép rơi từ võng xuống xe hoặc xuống đường không? Chị Ngọc nói có thấy vài vết máu nhỏ và tờ giấy có tên anh rơi trên đường nhưng có ai biết tình trạng anh lúc đó như thế nào đâu. Những người thấy anh lúc đó là những người khiêng anh đi nhưng bây giờ không ai biết họ là ai, đâu có ai chứng kiến tình hình thương tật của anh lúc đó để cho mình biết đâu. Vậy thì khả năng anh bị đập đầu xuống rồi mất trí là điều có thể xảy ra.

    Cả phòng chìm đi trong yên lặng, ngay cả Vân cũng ngừng khóc chăm chú nghe ý kiến của An. Bà tiếp tục:

    - Sau đó vì không biết mình là ai, ở đâu nên khi người khác hỏi anh Thành không thể trả lời được. Rồi cũng vì trí nhớ không chính xác nên thay vì nhờ người đưa về anh lại leo lên xe trâu. Từ đây càng ngày anh càng đi xa hơn. Không ai có thể giúp anh vì họ cũng đâu có biết gì về anh. Thay vì đi ngược ra đường thì anh càng lúc càng đi sâu vào trong nên anh không thể tìm được lối về.

    Một lúc lâu sau, Công là người có ý kiến đầu tiên:

    - Vậy theo ý An, bây giờ chúng ta nên làm gì?

    An trầm ngâm:

    - Em là người ngoài, tìm nữa hay không là do ý kiến của mọi người. Em chỉ muốn nói cho mọi người biết là từ nay cuộc tìm kiếm sẽ vô cùng khó khăn vì mọi dấu vết đều bị bỏ lại. Ngoài ra người mà ta kiếm hôm nay không còn là một thiếu tá trẻ tuổi đẹp trai như hình ảnh mọi người vẫn mang trong đầu, mà người chúng ta sẽ tìm thấy là một người dân tộc đen đủi, ngây ngô có khi còn tàn phế không biết chừng. Cũng không thể loại trừ là sau ba mươi năm người đó đã lấy vợ, có con rồi. Em cho rằng khả năng không nhìn ra người nhà cũng không thể không xảy ra. Đây là điều em muốn nói từ lâu nhưng sợ Vân chịu không nỗi nên cứ để trong lòng cho tới bây giờ.

    Vân bật khóc tức tửi, bây giờ bà mới hiểu tại sao An cứ nằng nặc bỏ dở cuộc tìm kiếm để về nhà. Thì ra An không muốn bà đau lòng nên mặc dù đã tiên lượng trước An cũng vẫn không nói.

    Bà Ánh Tuyết thở dài não nuột:

    - Dù anh hai có như thế nào thì cũng vẫn là anh hai thôi.

    Ông Đạt mím môi:

    - Phải tìm thôi An à, dù bất cứ điều gì đi nữa cũng không thể không tìm.

    Công gật đầu:

    - Đúng vậy, thà là như bao nhiêu năm nay mình không hay biết gì, còn bây giờ đã có manh mối, không thể bỏ mặc anh hai được.

    Bà Trinh hỏi lại:

    - Vấn đề là bây giờ ai đi tìm đây, đâu phải là chuyện một ngày một bữa.

    Mọi người im lặng, sau cùng Vân nói:

    - Vân đi tìm.

    Bà Trinh lắc đầu:

    - Vân ốm yếu, lại hay xúc động. Chị em mình thì đi xa nhà quá lâu, đâu có biết đi tới đâu phải làm sao được.

    Công cãi:

    - Nhưng An là người ngoài, đâu phải mọi chuyện cứ giao phó cho An được. Đó là chưa nói An cũng phải đi làm vậy.

    Quả là một điều khó khăn cho mọi người. Ai cũng không muốn bỏ dở công việc của mình. Trong số này bà Trinh là rảnh rang nhất nhưng khả năng tìm kiếm của bà Trinh thì rất kém, ai cũng biết bà không có đủ kiên nhẫn cho cuộc tìm kiếm gian khổ này. Cuối cùng cũng vẫn là Vân lên tiếng:

    - Em sẽ đi.

    An lo ngại:

    - Không phải vài hôm đâu Vân. Còn công việc nữa.

    Vân quyết định:

    - Tạm thời giao lại cho Lan quản lý, nếu không làm được thì Vân đóng cửa luôn.

    Công ngăn lại:

    - Khoan đã chị Vân. Việc này Vân không cáng đáng một mình nổi đâu.

    Vân ngoan cố:

    - Coi như Vân quản lý dở, Công ty phá sản.

    Công lắc đầu:

    - Việc đó không quan trọng bằng nếu một mình Vân đi mà không có kết quả, coi như mọi việc đổ sông đổ biển.

    Vân ngoặc lại:

    - Không lẽ phải khoanh tay ngồi chờ anh Thành quay trở về như ba mươi năm nay.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #16
    Miền Ký ức 13

    Anchu


    Mọi người lại im lặng, không khí u buồn như lan khắp phòng. Ông Đạt sau cùng lên tiếng:

    - Anh nói thế này quả là không phải với An, nhưng nếu em không tham gia vô vụ này anh sợ gia đình anh không có cách gì tiếp tục được.

    Bà An không trả lời. Ông Đạt nói tiếp:

    - Anh biết An còn gia đình, công việc. Nhưng em nghĩ xem, chị Vân thì yếu đuối lại dễ bị xúc động. Chị lại là người trong cuộc, đâu có những ý kiến, những cái nhìn sáng suốt khách quan như em. Gia đình anh thì không thuộc phong thổ vùng này, lại đi xa quá lâu rồi, đâu có ai đủ kinh nghiệm sống ở đây bằng em. Em là người biết khá rõ về anh hai, em lại đủ sức khoẻ, đủ thông minh, tháo vác. Anh cho rằng nếu em bỏ cuộc thì chị Vân dù có đóng cửa Công ty vẫn không thể thực hiện nỗi cuộc tìm kiếm này.

    Bà An vẫn lặng im, ông Đạt đốt một hơi thuốc rồi nói tiếp:

    - Anh biết An còn đang đi làm, chưa đến tuổi nghỉ hưu nhưng anh muốn dàn xếp thế này. Em xin chuyển công tác về Công ty du lịch với chức vụ Phó Giám đốc cho Vân. Tiền lương của em anh trực tiếp chi trả, em muốn nhận một lần từ bây giờ cho tới năm về hưu hay nhận mỗi tháng là tùy em. Em sẽ phân bổ thời gian cho thích hợp để đi kiếm anh hai giùm gia đình. Trong lúc làm công tác đó em có thể thuê nhiều người để tìm, ngay cả như chị Ngọc, chị Lý gì đó để phụ giúp em. Chị Vân sẽ cùng với An đi nhưng khi nào thấy công việc quá khó khăn hoặc sức khoẻ chị Vân sút kém thì em nên dàn xếp để chị nghỉ ngơi, không nên để chị bị xúc động nhiều. Em nghĩ như thế nào?

    An trầm ngâm:

    - Em phải bàn lại với anh Bình.

    Ông Đạt đồng ý:

    - Anh tin là chồng em không phản đối.

    Rồi ông quay sang Vân:

    - Chị Vân, trước khi gia đình qua đây, đã chuyển vào tài khoản tên chị 100.000 đô la. Chị cứ dùng nó cho mục đích tìm kiếm anh hai, sau này còn thiếu bao nhiêu gia đình sẽ gửi tiếp.

    Vân không trả lời. Bà Ánh Tuyết thở ra:

    - Việc này quả thật là làm khó cho An, nhưng em ráng giúp gia đình chị. Đúng là như Đạt nói, nếu em buông tay thì khó có hy vọng tìm được anh hai.

    Tối hôm đó, sáu người trong nhà bà Vân ngủ trong 3 phòng, mỗi người một giường và mỗi một ý nghĩ khác nhau.

    Bà An tự hỏi mình có nên nhận lời với gia đình họ hay không? Nếu như không có Vân, chắc chắn bà sẽ chẳng thèm quan tâm chút nào. Cái gia đình đó ngoài Công ra, đối với bà tất cả mọi người cũng như nhau, đâu có ai thân thiết gì với bà. Mà cũng kỳ cục, người nhà họ họ không lo đi kiếm mà biểu mình đi, có ai kỳ vậy hông chớ. Nhưng còn nhỏ Vân thì biết ăn nói với nó sao đây nếu mình không nhận lời. Mình với nó hồi nào tới giờ cục kẹo cắn đôi mà cục muối cũng cắn đôi. Tới lúc nó cần mình thế này mà nỡ bỏ nó sao? Mặt mũi nào mà nói với nó: Thôi Vân đi một mình đi, An bỏ cuộc. Ngay cả lúc đói nghèo nhất , bữa cơm có chút bo bo, bột mì hai đứa còn chưa bỏ được nhau nữa là bây giờ tiền bạc rủng rỉnh. Mà nghĩ cho cùng nếu nhận lời mình cũng đâu có thiệt hại chút nào đâu. Vẫn đi làm, vẫn hưởng lương, vẫn muốn gì được nấy. Chỉ có điều là phải xa chồng xa con, nhưng mà chồng thì già con thì lớn rồi, có cần mình phải ở nhà quanh quẩn suốt ngày đâu. Chỉ không biết là anh Bình có bằng lòng không thôi.

    Công nằm cùng phòng với Đạt, ông không ngủ được vì lạ nhà, lại cứ thao thức về chuyện hồi tối. Rõ là bây giờ con bạn mình còn xinh đẹp hơn hồi trẻ nữa chớ, già thì dĩ nhiên là ai cũng già rồi, đẹp như Vân mà còn già đi thấy rõ nữa, sém 50 rồi còn gì mà trẻ chớ. Nhưng sao nhỏ An vẫn tưng tửng giỡn như hồi hai đứa còn đi học, hổng thấy nó có chút người lớn nào. Vậy mà tới lúc đụng chuyện nó nói năng bài bản y hệt như chị Ánh – vợ anh Đạt vậy, ai mà nghĩ nó mới giỡn như con nít tức thời. Hồi đó sao đầu óc mình bã đậu thiệt, sao lúc nhà mình sắp đi mình hổng chạy qua rủ nó đi luôn, có khi bây giờ hai đứa lấy nhau rồi cũng nên. Phải chi mình lấy nó chắc sống vui vẻ hơn sống với con vợ mình hiện giờ, cái bà tối ngày chỉ biết có tiền. Riết rồi mình xấu mặt vì vợ, đụng chuyện gì tới tiền là nó làm um trời. Chuyến này về Việt Nam nó có cho mình đồng nào đâu, toàn là chị ba chi hết. Còn anh năm biểu góp mỗi người hai chục ngàn để làm kinh phí tìm kiếm anh hai nó cũng hổng chịu, mình làm mình làm mẫy hết sức mới kiếm nỗi mười ngàn, anh năm phải chịu khúc còn lại cho mình. Thiệt là thứ đồ vợ con quả báo mà. Hổng biết kiếp trước mình ăn ở làm sao mà kiếp này mình khổ quá hổng biết. May là nhờ mấy chị em mình thương yêu đùm bọc nhau chớ nếu hổng như vậy mình sống sao nỗi với con vợ mình đây. Sự đời hổng biết đâu mà nói trước được, hồi đó cưới nó mình đâu có biết cái tánh nó vậy đâu, phải mà biết thì cho dù má có nói nó thuộc giòng Công tằng gì đó mình cũng hổng ham. Cưới một con vợ không thuộc giòng qúy tộc gì hết như con An có khi mà sướng, thoải mái vô tư khỏi phải lo nghĩ gì cho khổ. Qúy tộc như con vợ mình rồi mình có được gì đâu.

    Bà Trinh thì thao thức vì nhớ anh, trong mấy anh em bà thương anh hai nhứt. Cũng tại vì vậy nên hồi anh hai yêu Vân bà là người phản đối mạnh mẻ. Trong con mắt bà anh hai phải yêu một người đứng đắn lớn tuổi mới đủ sức làm chị hai của bà. Bà không ưa con nhỏ xinh đẹp mít ướt đó. Một con nhỏ thua bà tới sáu tuổi mà làm sao làm chị bà được chớ. Vậy mà anh hai thương Vân mới ác, dù bà đã nhiều lần làm mai anh hai cho một đống cô giáo bạn của bà. Trinh nghĩ chắc anh hai yêu Vân vì Vân nhỏ bé, mềm yếu mà bản tính đàn ông của anh hai thích che chở, bảo bọc. Mà cũng có khi do Vân cũng giống Yến Chi, mối tình đầu của anh hai nữa đó mà. Tội nghiệp anh hai, mối tình đầu của anh hai kết thúc đột ngột làm anh bị sốc trong một thời gian dài, tưởng đâu anh hai ở ế luôn để tưởng niệm mối tình đầu. Vậy mà sao này anh gặp Vân, rồi yêu Vân. Vân cũng có gương mặt đẹp như Yến Chi, có mái tóc dài đổ xuống lưng thanh thoát và làn da trắng ngần như vậy. Anh hai chắc bị chao đảo vì cái đẹp của Vân và cũng vì dư âm của mối tình đầu nên mặc dù lớn hơn Vân đến một giáp anh vẫn không ngại đến với Vân. Càng nghĩ bà Trinh càng thương anh. Tội nghiệp anh hai chuyện tình duyên lận đận. Hồi đó mới ra trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, lớ ngớ thế nào mà quen chị Yến Chi. Trong nhà mới biết phong phanh, má nói mới chỉ có mình Trinh với chị Tuyết là biết mặt nên anh hai hứa dắt về nhà. Hai người hẹn nhau ở đâu đó không biết mà anh hai chờ riết không thấy chị Chi đến, nóng ruột anh hai tìm tới nhà Chi thì mới tá hoả khi biết Chi mới vừa ra đường thì gặp tai nạn giao thông. Chị Chi ra đi vĩnh viễn còn anh hai như người mất hồn suốt một thời gian dài. Sau này khi anh hai yêu Vân, anh hai chiều chuộng Vân như với đứa trẻ nhỏ nên đôi khi làm cho Trinh bất bình. Trinh thấy như anh hai đổ dồn mọi tình cảm của anh hai dồn nén từ ngày chị Chi ra đi hết cho Vân. Trinh có cảm giác anh hai quên mất hai đứa em gái là mình với chị ba. Trinh giận dỗi anh hai, ghét bỏ Vân cho mãi tới sau này, khi mà thấy Vân một một, hai hai nhứt định đợi chờ người đi không về. Lúc đó Trinh mới thấy mình thật là xấu, thật là tệ hại. Như bữa nay đây, An phác một viễn ảnh về anh hai đủ làm cho mọi người giật mình, nhưng Vân vẫn cứ khăng khăng bỏ hết mọi thứ đi tìm anh. Trời ơi. Anh hai mà biết người yêu nhỏ xinh của mình như vậy thì chắc anh hai đứt từng đoạn ruột. Tội nghiệp anh hai, hổng biết có phải sự thật giống như An tưởng tượng không chớ sao thấy An nói sao mà rầu quá. Hổng lẽ anh hai mất trí thiệt, anh hai trở thành người Thượng, người mọi gì đó thiệt sao. Thấy ghê muốn chết, coi trong phim thấy họ nong hai cái lỗ tai ra bự bằng cái ly uống nước, còn răng thì không còn cái nào. Phải gọi là cà răng căng tai không hà? Anh hai mà như vậy thì làm sao ta? Mình có dám chạy tới ôm một ông già tóc tai bạc trắng, đen thủi đen thui, đeo cái vòng tai bự chảng, hút điếu thuốc bự như ngón cẳng cái vậy mà khóc la anh hai ơi anh hai hỡi không. Chắc không dám đâu. Trong tâm tư mình anh hai luôn luôn là người đàn ông bảnh trai lịch sự, ăn nói nhỏ nhẹ hiền lành, hơi dí dỏm nữa . Ngày anh hai ra đi anh hai ngó lại cả nhà, mình còn nhớ bữa đó anh hai mặc đồ lính ủi thẳng băng, đôi giày bốt đánh láng o, lính tâm lý chiến mà, ra trận mạc gì đâu mà bê bối. Anh hai còn cười với má, tính nói cái gì đó rồi thôi, dắt chiếc xe Sprint ra cửa, quay đầu lại nhìn cả nhà lần nữa mới đi. Anh hai thiệt là tội nghiệp gì đâu, có lẽ nào mà anh hai lại có thể biến thành một người Thượng được chớ.

    Giường bên kia bà Tuyết lại có những suy nghĩ khác. Bà nhớ anh, hồi tưởng lại những ký ức lúc anh em bà còn nhỏ. Hồi đó gia đình còn ở Huế, anh em bà thường chạy qua nhà mệ ngoại chơi trốn tìm. Lúc đó con Trinh còn nhỏ chút xíu mà hay khóc đòi bồng. Anh hai với bà thay nhau chơi với em, có khi lo chơi để con nhỏ té bầm mặt bị má đánh đòn. Sau này lúc gia đình dọn vô Sài Gòn, má nói bà lớn rồi vô phụ với mẹ coi em, còn anh hai để ở lại chăm sóc ông bà ngoại. Lúc đó nhà mệ ngoại còn vườn thuốc Nam, anh hai ở đó cũng biết được ít nhiều. Thi đậu tú tài hai, anh hai không học nữa mà vô trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt, ra trường rồi là về Sài Gòn ở luôn. Ngôi nhà ở Huế từ ngày ôn mệ ngoại qua đời thuộc về cậu út, vườn cây thuốc Nam cũng bị cậu phá đi để trồng cây kiểng nên về sau này tụi nhỏ không biết nhà mình có gốc thầy thuốc Nam. Có lẽ khi bị thất lạc vô rừng do bản năng sinh tồn mà anh hai có chút gì nhớ lại những giống cây cỏ đã từng quen thuộc với mình. Bộ óc con người ta lạ lắm, khi cần thì có thể chạy lại những đoạn phim đã bị quên đi trong một thời gian dài. Bà tin rằng người đàn ông được đề cập trong câu chuyện là anh hai, bà cũng không lạc quan đến mức tin là sẽ tìm được anh. Năm nay bà năm mươi tám tuổi, anh hai đã sáu mươi mốt, biết anh hai có còn sống đến giờ này không? Nhất là khi phải sống vất vưởng khổ sở với những con người giống như là chưa biết gì đến văn minh của nhân loại. Ngày ngày với một trí óc có thể là không bình thường anh hai phải cuốc rẫy, làm nương, thiếu thốn đủ mọi bề, lại còn phải đối đầu với ốm đau bệnh tật, côn trùng rắn rết; những thứ mà trong những ngày còn ở Sài Gòn anh em bà chỉ được trông thấy trên màn ảnh. Liệu sống như thế anh hai có sống đến tuổi này không?

    Bà Tuyết thở dài, trăn trở một mình. Bây giờ anh chị em ai cũng khá giả, như thằng Đạt còn giàu có phong lưu nữa; không lẽ bao nhiêu người mang tiếng Việt Kiều lại để cho ông anh mình chết mất tăm mất tích hay sao. Sống đem về đã đành, chết cũng phải biết mồ biết mã. Ít nhứt cũng đem được hài cốt về với mẹ cha. Ba mươi năm rồi anh đi lưu lạc, cũng tới lúc anh quay trở về nhà thôi. Rồi bà xót xa thương Vân. Tội nghiệp, tóc đã chớm sương rồi mà vẫn còn phải long đong chờ chồng. Cái chuyện này coi bộ còn thê thảm hơn Nguyệt Nga chờ Vân Tiên nữa. Sao mà cái số phận hai người này khổ dữ vậy không biết. Vân thì mới lớn lên gặp được người yêu chưa trọn một năm đã phải mòn mõi đợi chờ ba chục năm. Anh hai thì mối tình đầu chưa đi tới đâu đã phải tiễn người yêu ra mộ, qua mối tình thứ hai chưa kịp cưới hỏi gì thì lật đật ra đi biền biệt. Ai mà có nghĩ con người hào hoa phong nhã như anh lại phải chịu kiếp sống khổ sở của mấy mươi năm sau này. Ai mà đoán được người đẹp như Vân phải chịu cảnh cô đơn chiếc bóng. Tạo hoá khéo trêu người nên đặt để cho họ chịu kiếp éo le. Không biết lỡ như tìm thấy anh hai đã có vợ con đề huề thì Vân sẽ khổ như thế nào đây, quả thật bà không dám nghĩ tới.

    Bà Tuyết bỗng chợt nhớ đến chuyện một hôm cả Vân, An đều đến nhà chơi với Công. Lúc đó nhà bà đang có khách là cậu út và ba vợ cậu út ngoài Huế vô. Ông già đó là một thầy tướng số. Hồi đó ông Quốc Trung có nói giỡn là giới thiệu hai đứa con dâu, ý nói Vân và trêu chọc An với Đạt.

    Khi hai cô gái ra về ông già trầm trồ:

    - Cái tướng cô nớ đẹp chi là đẹp.

    Mọi người đều tưởng ông già khen Vân nhưng khi ông nói lại mới hay người ông khen là An. Ai cũng cười ông mắt kém nhưng ông nghiêm mặt:

    - Phải mô. Cô mặc áo trắng mới là đẹp. Tướng nớ là tướng có qúy nhân phù hộ, gặp dữ hoá lành. Chớ giàu có chi mô mà xui rủi cô độc thì được ích chi.

    Ngẩm lại mà thấy ông già nói đúng. Giàu có mà cô độc như Vân thì quả thật chẳng lấy gì làm sung sướng cả. Nếu trời cho Vân có được gia đình êm ấm như An có lẽ Vân còn hạnh phúc hơn nhiều.

    Suy tới nghĩ lui bà thấy cùng anh em mà mình thật là may mắn. Sanh ra trong gia đình giàu có, học hành thi cử tới đâu đậu đó, lấy chồng giỏi giang đẹp trai. Qua Mỹ chỉ có thời gian đầu hơi vất vả chút ít vì chưa quen, mấy năm sau đã yên ổn mọi bề. Người ta đi Mỹ kẻ còn người mất, còn nhà bà cả bên vợ bên chồng đều yên ổn vui vẻ đến nơi. Chỉ tội cho một mình anh hai, cùng anh em cha mẹ sanh ra mà sao anh hai lận đận quá không biết. Tuy hồi còn trẻ anh sung sướng nhưng ai biết được ba mươi năm nay anh sống thế nào. Cầu cho lời tiên đoán của An là sai hoàn toàn. Biết đâu anh hai đang sống vui vẻ với con với cháu, chỉ vì một lý do nào đó mà anh không thể trở về Sài Gòn chớ mà nghĩ đến viễn cảnh An vẽ ra sao bà thấy đau lòng cho Vân quá, ngay chỉ một chi tiết nếu anh hai đã có gia đình khác cũng đủ làm tan nát trái tim Vân. Mà biết sao bây giờ, ba mươi năm rồi. Vân có thể đợi chờ chớ người khác đâu ai cũng được như vậy. Anh hai không phải là trường hợp ngoại lệ.

    Bên kia ông Đạt cũng nằm trằn trọc không sao ngủ được. Phần ông lo chuyện làm ăn bên kia, phần lại lo chuyện bên này. Vợ ông là người giỏi giang, tạm thời chuyện bên đó bà có thể thay ông trong thời gian ngắn. Nhưng chuyện bên này ông thấy lúng túng quá. Thiệt là tệ, anh mình mà phải nhờ người khác đi tìm. Có phải anh em không có ai đâu. Nhưng lấy ai mà gánh vác đây. Liệu ông có dám bỏ công việc làm ăn của mình để đi tìm anh không? Chị ba thì già rồi, gần sáu mươi rồi, ngó bệ vệ thôi chớ sức khoẻ đâu có được gì đâu. Chị tư ăn nói không có khiếu, bình thường đã hay có chuyện với người này người nọ rồi. Gặp chị tư mà đi kiếm khỏi nói cũng biết về trắng tay, coi như canh bạc chưa đánh đã thua. Thằng út còn tệ hơn, con vợ nó mà chịu để nó về Việt Nam ở vài tháng chắc ông chết liền. Mà nó làm sao vác nổi cái thân một trăm ký vô chốn rừng thiêng nước độc. Có khi anh hai chưa kiếm ra đã mang họa với nó rồi. Vậy thì còn có mình ông, nhưng ông làm sao dám đi. Tiền bạc ông không thiếu, cần bao nhiêu ông chi bấy nhiêu. Nhưng chính cái sự không thiếu này nó kéo chân ông lại, nó kềm giữ ông từng ngày từng giờ. Đi đâu ông cũng nơm nớp muốn về, lo chỉ số này tuột, lo khu đất kia bị cấm. Đồng tiền quả thật là người đầy tớ trung thành mà cũng là người chủ khó tính, nó níu chân ông như một bà vợ ghen tuông đỏng đảnh, làm cho ông bức rức không rời. Hồi tối ông rất xấu hổ khi phải thú nhận sự bất lực của mình với An. Làm sao mà An không cười chê gia đình mình khi có bốn năm người mà không ai làm được cái điều chỉ mình An làm được. Quả thật như Công nói: xấu thì đi mỹ viện cho đẹp chớ ngốc thì làm sao cho hết ngốc đây. Cái sự sáng suốt trong con người qúy giá hơn vẻ đẹp bên ngoài nhiều lần.

    Đạt cũng cảm ơn đất trời đã ban cho ông một bà vợ thông minh sắc sảo mà lại rất biết điều. Không như vợ Công lúc nào cũng bo bo cái túi tiền, Ánh tỏ ra là một người đàn bà biết lùi, biết tiến. Hai mươi năm sống với nhau ông chưa phải than phiền về vợ điều gì, mà Ánh cũng chưa bao giờ có những xử chỉ khiếm nhã với chồng. Kể cả lần này cũng vậy, dù biết chồng chuyển đi một số tiền không nhỏ Ánh cũng vẫn coi như chuyện bình thường. Cũng nhờ thế mà Đạt mạnh dạn đặt vấn đề lâu dài với An, ông biết ở Việt Nam những người lớn tuổi như An khó mà xin việc. Đạt cũng biết mức sống của những người dân bình thường như vợ chồng An không phải là cao với đồng lương hiện tại. Thật là không biết điều nếu cứ bắt An phải lăn vào công việc gia đình ông rồi sau đó khi xong việc thì An phải thiệt thòi. Ông không thể đối xử bất công như vậy được. Nghĩ cho cùng thì An cũng đã sắp năm mươi, sáu năm nữa là đến tuổi về hưu của An. Ông trả cho An sáu năm lương thì trong đó An đã mất đi một nửa thời gian làm việc cho ông, còn lại một nửa là chỗ đền bù thiệt hại cho An chớ có thấm tháp gì đâu. Ông mong sao An chấp nhận lời đề nghị của mình, ông sẽ không biết như thế nào nếu để một mình Vân lao vào cuộc tìm kiếm. Ừ thì Vân là người yêu của anh hai, Vân tham gia là đúng rồi, nhưng cái sức vóc của Vân thì chịu được mấy hôm. Vân làm sao mà có được một sức khoẻ xốc vác, một cái đầu thông minh nhanh nhạy như An, một cái miệng lanh lợi giỏi giang như An được. Tất cả chỉ biết trông cậy ở An, lạy trời cho An nhận lời ông, lạy trời cho chồng An bằng lòng với quyết định của vợ, Đạt sẽ chi trả thẳng một lần tiền lương cho An cất vô ngân hàng, chắc ăn mà toàn tâm toàn ý trong việc đi tìm người thất lạc.

    Đạt lại nghĩ đến anh hai. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà anh hai ra đi một mạch không thèm quay đầu về nhà. Bỏ lại cha mẹ già, một đàn em đứa nào cũng yêu kính anh và cô nhân tình bé nhỏ. Anh không phải là người vô tình, anh lại còn đang trong giai đoạn tình cảm tha thiết với chị Vân. Nếu không có chuyện bất đắc dĩ anh không thể nào quay lưng đi biền biệt như vậy. Giả thuyết của An dù phủ phàng nhưng Đạt cũng đồng ý như thế. Chỉ có thể là anh hai đã mất đi trí nhớ mới không quay trở về nhà, ngoài ra không còn một lý do gì khác hơn cả. Vấn đề là bây giờ làm sao tìm ra anh giữa cái đống bụi mù hoảng loạn đó. Sợi dây và tấm thẻ bài anh đeo biết có còn không? Cái thẹo ở mặt anh theo người dân tộc kia mô tả biết có chính xác không? Nếu có thì nó có nhạt mờ đi không hay anh lại có thêm vài cái thẹo khác nữa đè lên vết cũ. Khó khăn cho người đi tìm lắm chớ đâu phải chuyện đùa. Giữa một đoàn người đen đủi cởi trần đóng khố dễ dàng gì mà tìm thấy một người có cái thẹo nhỏ trên mặt mà nhìn. Có khi lại như An nói, nhìn ra rồi mà anh hai không thèm nhận nữa là khác. Thật là khổ tâm nếu như thấy anh hai mà anh hai cứ lắc đầu quầy quậy, một hai nói mình là người Cho Ro, Ê đê gì đó. Nếu như vậy thà anh hai chết rồi còn hơn, anh hai chết rồi còn lấy được hài cốt mà đem về chớ nếu anh hai còn sống mà không chịu trở về thì lại sanh ra rắc rối tiếp. Nhất là nếu khi anh hai lại có đâu 2,3 bà vợ, cả chục đứa con và lít nhít cháu nữa thì bó tay. Ai mà đoán nỗi người dân tộc sống như thế nào? Chế độ đa thê hay mẫu hệ? Chỉ có trời mới biết nỗi. Nếu như vậy thì biết làm sao bây giờ hả trời? Không lẽ lại bỏ anh hai giữa buôn làng rồi quay về, hay không lẽ đem máy bay tới chở một binh đoàn Thượng hùng hậu về Mỹ.



    Sorry. Đưa lên một bài dài rồi mà không được , phải cắt bớt lại.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #17
    Miền Ký ức 14

    Anchu


    Bà Vân trằn trọc gần suốt đêm không ngủ trong khi giường bên cạnh An đã ngáy pho pho. Tính bà từ lâu vẫn thế. Mỗi khi có việc cần suy nghĩ là bà không ngủ được, càng về già thì bệnh càng nặng hơn. Chẳng bù cho An, chỉ một lát thôi là An đã có thể ngủ dễ dàng. Bà tin chắc là chưa khi nào trong đời An mất ngủ, cái người sao mà sướng vậy không biết, ăn vô tư, ngủ vô tư y hệt như hồi còn đi học. Mà lạ, người vậy mà sao bình tĩnh sáng suốt khôn ngoan quá chừng, đâu có gì nói An là người vô tâm vô tính đâu. Bạn bè thân thiết với nhau mấy chục năm Vân còn lạ gì An, không gặp chuyện gì thì cười vang thoải mái mà cần phải suy nghĩ thì đầu óc tự nhiên bén nhạy vô cùng, người khác vừa kịp hiểu một chuyện thì An đã hiểu hai, ứng biến lẹ làng kịp lúc. Như sự việc mấy ngày qua chẳng hạn, trong đầu óc Vân hỗn loạn vì những tin tức rời rạc lẫn lộn nhau thì An đã nhanh chóng kết nối thành một câu chuyện mạch lạc có đầu có đũa, đánh giá sự việc một cách khách quan và thật là thông suốt, làm cho Vân vừa cảm thấy chua xót và cũng vừa tin tưởng vào cái hy vọng mong manh đó.

    Nhưng nếu sự việc xảy ra đúng như An phác họa thì đau đớn biết bao nhiêu. Bà không thể nào dám hình dung ra một ngày kia tìm thấy ông Thành mà ông nỡ quay lưng lại với bà. Chẳng phải ba mươi năm nay bà đã héo hon, đã lãng phí cả một đời xuân sắc vì chờ mong ông đó sao. Có lẽ nào bà phải chấp nhận phủ phàng nếu tìm thấy ông trong một gia đình đông đúc hạnh phúc. Cả một quãng đời tuổi trẻ bà không lẽ được đền bồi bằng những điều cay nghiệt đó sao. Có công bằng cho bà không nếu người bà mong chờ bao nhiêu năm gặp lại chỉ để gật đầu chào hờ hững.

    Bà Vân tủi phận khóc thầm, đối với bà ông Thành là tất cả. Bà chấp nhận những viễn cảnh do An vẽ ra, ông Thành có thể bị tàn tật, bị đồng hoá với những con người lạc hậu quê mùa đó. Chắc chắn người mà bà sẽ gặp trong những ngày tới không phải là viên Thiếu tá trẻ tuổi đẹp trai của bà ngày nào. Có thể ông sẽ dơ bẩn đen đúa như Kva Đăng, mà tệ hơn có khi ông còn già lụ khụ, ho khùng khục, phun nước bọt phèo phèo như ông già Kva Can. Hoặc có thể ông chỉ còn một mắt, hoặc một tay, hay là một chân, chiến tranh đâu có từ chối người nào đâu. Hoặc có khi trên làn da đen đúa của ông sẹo chằn chịt khắp nơi hay là tai ông cũng đeo cái vòng đồng to tướng như người trong buôn. Điều gì cũng có thể xảy ra và điều gì bà cũng sẵn sàng chấp nhận. Bà sẽ chấp nhận ông trong mọi việc nhưng làm sao bà chịu nỗi đây nếu như gặp lại ông mà ông không nhìn ra bà, hờ hững quay đi như người xa lạ. Trái tim bà như bị nghiền nát khi nghĩ về điều đó. Không. Điều đó nhất định không thể xảy ra, ông không thể nào được phép quên bà, ông phải nhớ lại người yêu bé nhỏ của ông ngày nào, phải biết bà đã héo hon đợi chờ ông, từ chối hết mọi cơ hội sum họp với gia đình chỉ vì một lời hứa chắc chắn với ông: Dù thế nào em cũng chờ anh. Ôi một lời hứa chắc như đinh đóng vào cột và một tình yêu thần thánh đã trói buộc bà trong cô độc suốt ba mươi năm trời. Ôi làm sao mà ông có thể quên được người mà ông đã từng thề non hẹn biển, yêu thương nồng thắm được cơ chứ. Làm sao ông có thể quên đi lời ông đã dặn Vân trong giờ sắp ra đi: Em nhớ không. Em phải cố chờ anh. Anh ơi, chỉ vì một lời dặn của anh mà em đã đợi chờ trong tuyệt vọng bao nhiêu năm rồi anh biết không, đã phải nếm trải bao nhiêu đoạn trường rồi anh biết không?

    Bà Vân trở mình nhìn lên trần nhà. Hai con thạch sùng rượt đuổi nhau chạy lăng quăng trên tường. Tấm ảnh ông Thành treo trên vách nhìn bà cười tươi tắn. Vân làm sao có thể nghĩ đến một ngày nụ cười đó xa rời mình, bà đã sống với nụ cười này trọn một tuổi xuân. Từ khi còn là cô gái mười tám đầy mộng mơ cho đến bây giờ tóc đã điểm sương. Ruột bà quặn thắt vì nhớ Thành. Vì anh mà bà đã từ chối lên tàu vượt biên cùng cha mẹ anh em. Vì Thành mà một mình thân gái bà đã chống chọi lại với những năm tháng bão táp nghiệt ngã trong đời. Cũng vì Thành mà bà đã từ chối bao nhiêu người đàn ông từ xấu xí, thô kệch cho đến phong lưu hào nhoáng. Vì Thành mà bà đã gắng công gắng sức cương quyết bảo vệ và giữ lại ngôi nhà này, chỉ để cho Thành có nơi tìm được khi trở về. Ôi bao nhiêu năm nay trái tim nhỏ bé của bà đã phải cố gắng quá nhiều, cái thân thể gầy guộc héo hon của bà đã mõi mòn mong đợi, cái đầu óc minh mẫn trong bà bỗng như lạc vào vùng khí gió hỗn mang nào đó, cơ hồ như bà sắp gục ngã sau ba mươi năm tưởng nhớ người đã ra đi không thấy quay về. Bà như trái cam đã bị người vắt kiệt nước, chỉ còn chờ quăng vào đống rác. Cái ngày mà An báo trước, sẽ gặp Thành trong sự hờ hững nhạt nhòa có lẽ là lúc cái vỏ cam khô héo này phải vĩnh viễn ra đi. Trước đây bà sống chỉ với một mục đích duy nhất là chờ đợi ông Thành. Nhưng nếu như lời An tiên đoán thì cái sự mong chờ của bà có kết quả gì đây. Có khác gì như treo sẵn cho bà một bản án tử hình, chỉ chờ tới ngày là đem ra bắn bỏ. Sao mà cuộc đời bà lại bất hạnh như vậy? Cha mẹ bà chắc chắn đã không ngờ được đứa con gái yêu của họ lại có thể có cái kết cục thê lương thế này đâu.

    Bà Vân nhớ lại gia đình mình hồi bà còn trẻ. Lúc đó bà như con chim sáo nhỏ tung tăng trong cái mái ấm hạnh phúc của mình. Ba mẹ bà là một nhà buôn trung bình nhưng vẫn tạo được cho con cái một cuộc sống sung túc mỹ mãn. Những tháng ngày còn đi học của bà mới tuyệt vời làm sao, ba mẹ bà yêu qúy cô con gái rượu thông minh ngoan ngoãn hiền lành, học tuy không xuất sắc nhưng cũng không phải hạng xoàng. Lớn lên một chút bà trổ mã xinh đẹp và trang nhã như một bông hoa bách hợp. Bà luôn bị những anh chàng trồng cây si trước cổng trường, cổng nhà. Có những anh sinh viên đứng trước cửa trường chỉ chờ bà đến để chào một câu rồi lại buơn bã về Trường Đại học. Không như những cô gái khác lên mặt kiêu căng khi biết mình đẹp. Vân lại càng co mình lại như sợ sự chú ý của người khác sẽ làm đau đớn mình. Cho đến ngày An rủ Vân và Thúy đến nhà Công ăn mừng thi đậu thì Vân mới choáng ngợp trước cái nhìn của người anh cả trong gia đình đó. Từ giây phút đầu tiên bắt gặp ánh mắt của Thành, Vân đã hiểu rằng cuộc đời mình không thể nào có được người thứ hai. Vân đã như trúng phải tiếng sét ái tình hoặc như mũi tên của thần Cupic trong huyền thoại. Trong phút chốc cô như lớn vượt hẳn lên, thoát ra khỏi cái vỏ ốc bao bọc cô từ những năm qua, hoá thân thành nàng tiên cá xinh đẹp chờ người trong mộng. Và Vân đã không nhầm, cũng trong bữa tiệc đó Thành cũng đã yêu Vân ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy cô, anh cũng ngơ ngẩn như bị ai cướp mất hồn đến nỗi mà mọi người trong bàn tiệc cùng nhìn thấy. Và như đoạn cuối của một cuốn phim kết thúc có hậu, sau bữa tiệc Thành đưa cô về nhà, và khi cánh cổng nhà Vân khép lại, cả hai người cùng đứng thẩn thờ như đã đánh mất một điều gì thân thương lắm.

    Những tháng ngày sau đó của Vân là cả một thảm hoa hồng trải xuống. Thành đưa đón, chăm sóc chiều chuộng cô như bất cứ trong một câu chuyện tình cảm cảm động nào. Tuy là Thiếu tá nhưng lính Tâm lý chiến thời đó ở Sài Gòn thuộc vào dạng lính mà người ganh ghét thường gọi là lính cậu – không phải ra chiến trường đã đành mà thời gian thì không mấy bó buộc. Nên trong suốt thời gian yêu nhau, Vân như được che chở trong bóng cây rậm mát, nắng gió không xâm phạm đến. Hơn cô mười hai tuổi, Thành đã là một người đàn ông trưởng thành trong tất cả mọi vấn đề từ công việc cho tới kinh nghiệm sống. Bạn bè Vân thường ganh tỵ cô được sung sướng đủ mọi bề. Đối với Vân, Thành không chỉ là người yêu, anh còn là anh, là cha, là thầy của cô nữa. Anh chăm sóc cô, chiều chuộng cô, che chở giúp đỡ cô từ việc to cho tới việc nhỏ. Đến nỗi mà Vân nghĩ rằng cuộc đời này chỉ cần có Thành ở bên mà cô có thể đi đến bất cứ nơi nào, dù trên núi cao hay tận đáy biển sâu, dù giữa thành phố hoa lệ hay trong hang cũng ngõ hẻm. Cô bệnh đã có Thành đút từng muỗng cháo, ho đã có anh kéo cổ áo kín, quấn lại khăn. Đi với anh thì bàn tay anh đã dìu cô những bước dài vững chãi, mưa nắng thì anh đã chuẩn bị sẵn áo, dù. Bài cô học có anh nhắc nhở, toán giải không ra thì cũng đã có anh, cô không phải nhờ An như trước. Cứ như anh đã chờ cô đến tận tuổi đó để yêu thương chăm sóc cho cô, còn cô thì chỉ việc ngoan ngoãn nghe lời anh dặn dò. Họ là một đôi lứa làm nhiều người thèm thuồng và họ chỉ còn chờ đến khi cô thi đậu tú tài xong là cưới, hai bên cha mẹ đã đồng ý như vậy rồi, dù rằng người em thứ tư của Thành, Lệ Trinh luôn phản đối rằng với anh cô còn quá trẻ.

    Nhưng ngày mà cả hai gia đình mong đợi đã không bao giờ tới, ít nhất là ba mươi năm qua nó đã không tới. Thành đột nhiên ra đi biền biệt chỉ để lại cho cô một lời dặn dò duy nhất. Vân nhớ hôm đó là sáng thứ sáu, cô đang bước ra khỏi nhà đi học thì gặp Thành đứng trước cửa. Anh chở cô đến trường bằng chiếc xe quen thuộc của anh. Trên đường đi anh không nói chuyện với Vân như mọi lần, chỉ khi đến trước cổng trường, dừng xe cho Vân xuống anh mới nói:

    - Em vô học đi, bữa nay anh đi công tác.

    Vân đang hờn anh vì suốt đoạn đường anh không hỏi cô câu nào, nhưng nghe anh nói vậy thì cô ngước nhìn anh hỏi:

    - Chừng nào anh về.

    Thành nhìn Vân chăm chú. Một lúc anh nói:

    - Anh chưa biết, nhưng dù sao em cũng cố đợi anh về.

    Vân ngẩn người nhìn anh, cô gật đầu:

    - Dù có thế nào em cũng sẽ chờ anh.

    Quay xe rồi, Thành vẫn quay lại dặn:

    - Em nhớ không. Dù sao em cũng phải cố chờ anh.

    Chỉ bấy nhiêu thôi. Rồi từ đó Thành biến đi khỏi cái Sài Gòn hoa lệ này suốt ba mươi năm nay. Rồi từ đó Thành như bị cuốn mất vào một cơn hút vòi rồng nào đó, cuốn tung anh lên trời cao thẳm. Rồi cũng từ đó Vân dằn vặt mình sao cô mãi giận hờn không hỏi anh đi đâu, về đâu, để anh ra đi xa xôi biền biệt mãi.

    Vân lại thở dài. Bà biết phải làm sao trong những ngày kế tiếp đây. Nếu An không bằng lòng giúp, một mình bà biết có gánh vác nỗi trọng trách này không? Bà biết đi hướng nào? Hỏi ai để tìm được Thành đây? Dấu vết của Thành ngày càng nhạt mờ mà nước non thì mênh mông vời vợi. Biết tìm nơi đâu đây giữa muôn triệu con ngừơi cái vết sẹo gì đó mù mờ trên mặt và tấm thẻ bài có thể mất đi bất cứ lúc nào. Núi rừng mênh mông bạt ngàn kia có thể ẩn giấu Thành nơi nào? Trong 54 dân tộc có biết bao nhiêu buôn làng, liệu ai đó có thể đủ ngôn ngữ để nghe họ trình bày, kể lể. Rồi còn bao nhiêu khó khăn trước mắt chưa lường nỗi đến. Tìm một con người mờ mờ ảo ảo giữa hơn tám mươi hai triệu con người có phải là một việc mò kim đáy biển không? Liệu còn phải mất thời gian bao lâu, mất bao nhiêu công sức nữa để lần mò ra được thêm một dấu vết? Còn phải gặp gỡ bao nhiêu người, đi qua bao nhiêu thôn làng ngõ xóm nữa để tìm đây? Liệu bà có còn đủ hơi sức để lần theo những dấu vết đó không? Ở tuổi này lực đã bất tòng tâm, với người có sức khoẻ giới hạn như bà còn trụ được bao lâu nữa. Dù trong tâm tư bà biết bà không thể không kiếm tìm, nhưng bà tự hỏi ông trời có cho phép bà tiếp tục tìm kiếm nữa hay không, hay trời già cố tình trêu người, Thành thì không thấy mà bà đã gục ngã trước rồi. Liệu tiền bạc có cho phép người ta làm mọi điều mình ước muốn không? Có ai đó đã từng nói rằng: “Đồng tiền có thể đem lại một gia đình nhưng không đem lại một mái ấm, đồng tiền có thể mang lại sức khoẻ nhưng không cứu được mạng sống”. Vậy thì những đồng tiền mà bà hiện có đây sẽ giúp ích được bao nhiêu trong cuộc tìm kiếm gay go này.

    Bà Vân cứ nằm thao thức mãi cho đến khi trời gần sáng, bà thầm cầu mong đất trời cho bà thêm sức mạnh để bà làm tốt công việc kiếm tìm này. Bà cầu mong cho An nghĩ đến bà, thương bà mà chấp thuận đi với bà. Bà lại càng cầu mong cho cuộc kiếm tìm đạt được kết quả. Mặc kệ cho ông Thành có trở thành người thế nào. Già nua, xấu xí hay tàn tật , điên khùng gì cũng vẫn là ông Thành. Mặc kệ cho ông Thành có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con cũng thế thôi, với bà ông Thành vẫn là người đàn ông bà yêu qúy. Bà chấp nhận hết. Chỉ cầu mong cho ông Thành đừng quên bà, chỉ cầu mong cho ông Thành nhớ lại người con gái trước đây ông đã từng yêu say đắm. Chỉ cầu mong rằng trong trí nhớ của ông còn sót lại chút gì tình cảm của hai người, cầu mong ông đừng xoá bỏ hết mọi điều trong bộ nhớ. Bà sẽ đưa ông về, sẽ chu cấp cho những người vợ, người con của ông, đem ông về với đất Sài Gòn hoa lệ này, giúp ông thoát khỏi những tháng ngày tối tăm cực khổ. Để ông lại tiếp tục là ông Thành hào hoa phong độ trong tâm tưởng bà, để ngày ngày ông lại đưa bà đến những nơi đầy ắp kỷ niệm xưa, để những tháng ngày tuổi trẻ lại trở về với họ sau ba mươi năm xa cách. Ôi mong ước của bà chỉ bấy nhiêu thôi mà, có lẽ nào bà lại không xứng đáng được hưởng chút hạnh phúc muộn màng đó sao? Không lẽ nào chỉ một mái ấm tầm thường như những người đàn bà khác mà bà lại không có thể sao? Không có lẽ nào ông trời bắt tội bà phải cô lẽ cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, còi cõi đơn độc một mình như chiếc lá khô cành lững lờ trôi theo giòng đời nghiệt ngã. Không, không có lẽ nào, không có lẽ nào ông trời lại có thể khắc nghiệt với bà đến thế đâu.

    Sáng hôm đó bà An quay về nhà, bà đã xa nhà hơn hai tuần nay rồi, bà muốn trở lại cái gia đình yên ấm của mình. Ôi sao mà cái con nhỏ Vân nó khổ dữ vậy không biết, bà chẳng biết phải trả lời cái việc đó như thế nào đây. Thôi thì may rủi coi như tùy ông Bình quyết định đi.

    Buổi tối ăn cơm bà kể lại mọi chuyện cho chồng nghe, thằng con trai đi học ở Đại học Đà Lạt mỗi tháng mới về một lần cũng ngồi nghe chuyện. Ông Bình uống ly nước con trai rót , hỏi vợ:

    - Rồi bây giờ bên đó tính sao?

    Bà An ngần ngừ:

    - Vậy em mới về đây kể cho anh nghe, họ nói em chuyển công tác về Công ty du lịch, trả mức lương Phó Giám đốc nhưng lại phụ trách việc kiếm người nhà cho họ. Em thì anh biết rồi, khả năng thích ứng của em tốt, làm gì cũng không ngại, nhưng em muốn nghe ý kiến của anh.

    Ông Bình chần chừ:

    - Em lớn tuổi rồi, đi lăn lóc vô mấy vùng đó anh không yên tâm, với lại bỏ nhà đi hoài cũng buồn.

    Đứa con trai trêu ba:

    - Ý là ba hổng muốn mẹ rời ba đó mà.

    Ba nó vênh mặt:

    - Mẹ mày rời ba ai nấu cơm cho ba ăn.

    Bà An cười:

    - Có ai đi luôn đâu, nếu em đi thì tuần đi tuần về nhà chớ sức đâu mà lặn lội trong rừng miết được.

    Đứa con trai nghiêm chỉnh:

    - Xét về mặt kinh tế thì gia đình mình không thiệt hại gì. Nếu tính đến khía cạnh đóng bảo hiểm xã hội thì mẹ được an toàn cho tới lúc nghỉ hưu, mà mẹ thì cũng gần hưu rồi. Giả như mẹ làm ở đây lương tháng ba triệu, chắc chắn lương Phó Giám đốc phải cao hơn. Mẹ lại không tốn tiền ăn ở, đi lại, mỗi tháng được về nhà tùy thích. Rõ ràng là kinh tế nâng lên rồi. Nhưng khuyết điểm là mẹ phải đi đến nơi rừng thiêng nước độc, chưa kể tới nguy hiểm dọc đường. Còn xét về mặt tình cảm thì mẹ không thể bỏ dì Vân lúc này, thà rằng sau vài tháng tìm kiếm không có dấu vết gì thì mẹ có thể bỏ cuộc, còn bây giờ bỏ dì Vân một mình là bất nghĩa với bạn bè.

    Bà An cười cười với chồng:

    - Xem cậu đi học Đại học về phân tích nghe rõ ràng ý tứ quá hở?

    Ông Bình trầm ngâm một lúc, sau cùng ông nói:

    - Em suy nghĩ đi, con mình nói đúng đó. Bỏ Vân lúc này là không phải với bạn bè đâu.

    Bà An im lặng. Trong đầu bà tất nhiên đã có ý rồi, nhưng bà muốn nghe ý kiến của chồng con, bà không muốn tự quyết định một mình, tính nết bà lúc nào cũng thế, luôn luôn dân chủ.

    Ba hôm sau bà An chuẩn bị về Sài Gòn, con trai bà trước khi lên trường đã nhắc đi nhắc lại bà ý kiến của nó. Cái thằng, đàn ông mà tình cảm như con gái. Ông Bình cũng bảo bà nên tham gia cuộc kiếm tìm một thời gian chớ không nên bỏ cuộc dễ dàng như thế. Bà An ngại ngần:

    - Em đi cả tuần ai lo cơm nước cho anh.

    Ông Bình cười:

    - Siêng thì anh đặt nồi cơm, làm biếng thì anh ra quán.

    Bà An nhéo cánh tay chồng:

    - Đừng có kiếm cớ nghe chưa?

    Ông Bình tròn mắt trêu vợ:

    - Ôi trời ơi. Bộ em tưởng em hiền lắm hả? Anh mà dám chọc em sao?

    Bà An lườm chồng:

    - Ai mà biết được.

    Ông Bình tưng tửng:

    - Vậy thì đừng đi.

    Rồi ông nghiêm mặt:

    - Nói cho vui thôi chớ em không thể không đi, mặt mũi nào em từ chối Vân. Còn mình thì già rồi em, anh đâu phải là người ham vui. Với lại một hai tuần em cũng phải về nhà chớ có bỏ đi luôn cả năm đâu mà.

    Bà An không nói, bà biết tính ông Bình, ông chỉ tếu táo cho vui thôi chớ chưa bao giờ ông phải để cho bà ghen tuông gì trong suốt mấy mươi năm qua. Bà cứ phơi phới như đứa trẻ trong cái gia đình ấm êm hoà thuận này. Anh Phúc của bà hay đùa là An có số qúy nhân phù hộ, hồi nhỏ thì chị Hạnh phù hộ, lớn lên thì chồng phù hộ. Không giàu có, quan to quan nhỏ gì mà mọi việc cứ thong thả êm xuôi như nước chảy, chẳng bù cho Vân mọi việc cứ lận đận như thế nào đâu. Bà than thầm cho Vân, đến tuổi này rồi mà mọi việc vẫn cứ rối như canh hẹ. Giá như Vân đừng có tìm được chút tin tức gì của Thành lại còn hay hơn. Đó là bà nghĩ như vậy. Thà là Thành cứ bặt tăm như ba mươi năm trước đây. Để tất cả mọi người đều nghĩ rằng anh đã chết, để cho sự mõi mòn trông đợi của Vân cứ êm ả trôi qua ngày ngày cho đến cuối đời. Thà nó như một điều gì đó quen thuộc làm cho người ta không lúng túng. Để như bây giờ đây, có được một chút tăm hơi rồi lại khó xử biết bao nhiêu. Bà không biết điều gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới. Bà mường tượng người mà mình tìm được sẽ lạ hoắc lạ huơ, sẽ nhăn nheo, phun nước bọt phì phì như ông già hôm nọ, hoặc đen đủi bẩn thỉu, nốc rượu tì tì như Kva Đăng. Bà không biết mình sẽ làm thế nào nếu dắt được một ông dân tộc như thế về Sài Gòn mà chỉ vào đó nói là Thành. Liệu gia đình họ có chấp nhận nỗi một cú sốc tâm lý như thế không? Trong ký ức của họ là một anh hai thông minh lịch lãm, hào hoa phong nhã chớ đâu phải là một người như thế. Mặc dù đã tiên liệu trước cho họ nhưng những con người sang giàu đến từ nước Mỹ xa hoa hào nhoáng đó có chấp nhận nỗi không, Họ có chịu đựng được rằng đó là người anh thần tượng của họ không? Ôi trời ơi sao mà điên cái đầu chớ phải không đâu.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #18
    Miền Ký ức 15

    Anchu



    Gia đình ông Đạt quay trở về Mỹ đã một tuần nay. Sau khi được sự đồng ý của An, ông Đạt gọi điện thoại cho vợ chuyển ngay vào tài khoản cho An một số tiền tương đương với mức lương Phó Giám đốc trong 6 năm. Bà An biết họ làm vậy để buộc bà không bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng kệ, đằng nào thì bà cũng chấp nhận làm, vả lại có một khoảng tiền lớn trong ngân hàng là điều chắc ăn rồi, ai mà không đồng ý. Vả lại có ai buộc bà phải nhất thiết tìm cho bằng được ông Thành đâu. Chuyện tìm là vẫn tìm còn có tìm được hay không lại là chuyện khác. Có khi đến nơi chỉ còn là một nắm đất không biết chừng. Nghĩ như vậy nên bà An ung dung thoải mái. Đã biểu là con người bà vốn lạc quan mà, có gì làm cho bà phải lo lắng đâu.

    Lần đi này bà An chuẩn bị khá bài bản, bà lên kế hoạch đàng hoàng chớ không thuận đâu tìm đó như lần trước. Vì bà Vân cương quyết đi theo nên hai người lấy chiếc xe nhỏ của bà Vân đi, chiếc xe máy lần trước đã để lại nhà bà Ngọc rồi. Tối hôm qua sau khi gọi điện thoại cho bà Ngọc, bà An cho Vân biết bà Lý đã tìm được người nói tiếng Cho Ro. Bà An bảo bà Vân chuẩn bị mang theo nhiều quần áo và mùng mền. Bà Vân ngạc nhiên hỏi:

    - Quần áo thôi chớ mùng mền chi vậy An?

    Bà An thở dài:

    - Vân tưởng ở đâu cũng có khách sạn cho Vân ngủ sao?

    Bà Vân ngẩn ngơ. Phải rồi, đâu phải chỗ nào cũng có nhà nghỉ mà trọ, biết đâu họ phải ngủ nhờ nhà ai đó. Bà An nhắc:

    - Không đem theo nhiều tiền, chỉ cần đừng quên cái thẻ rút tiền là được rồi.

    Hai người cuốn theo một mớ đồ lỉnh kỉnh mà bà Vân cho rằng do bà An quá cẩn thận. Bà An nói:

    - Xe chở chớ mình có chở đâu. Có còn hơn không.

    Bà Vân phục lăn bạn mình, thực là An càng già càng kinh nghiệm, ngay cả thuốc uống của Vân mà An còn nhắc mang theo. Bà nói:

    - Ai mà biết giữa buôn giữa làng có đau ốm gì không chớ.

    Bà Vân lý sự:

    - Đau ốm thì đã có xe.

    Bà An làu bàu:

    - An chưa đi học lái xe hơi đâu.

    Té ra An vẫn còn thua Vân cái chuyện này, mà phải thôi, An có xe đâu mà cần học lái, chớ nếu có cũng chẳng ai ngăn nỗi An đâu. Nhưng Vân thì khác, Giám đốc Công ty du lịch mà không tự lái xe cho mình được thì ai coi ra gì. Vân cười:

    - Đi chuyến này về An phải học lái xe thôi.

    An bỉu môi:

    - An chưa mua được xe.

    Vân cười:

    - Hôm nay có người là Phó Giám đốc công ty du lịch rồi, không biết lái xe thì ai đưa khách đi chơi đây.

    An không trả lời, bà nghĩ bạn mình nói cũng không sai, nhất định bà phải làm được chuyện này. Dễ thôi, Vân đã làm được thì An không có cớ gì không làm được.

    Đường đi loành quành khúc khuỷu. Vân nói:

    - Sao lần trước đi Vân không thấy nó khó như lần này.

    An cười:

    - Lần trước Vân đang trong khí thế hừng hực mà. Đâu có quan tâm đến đường xa đường gần. Lần sau thì lại đi xe taxi, có lái đâu mà biết.

    Quả thực trong buổi đi tìm ông Thành trước nhất lòng Vân nôn nao như cô gái trong lần hẹn đầu tiên. Bà chỉ nghĩ đơn giản tìm được người đàn bà tên Ngọc là sẽ kiếm ngay ra được nơi ông Thành ở. Bà không hề nghĩ đến chuyện chiến tranh hay mất mát xảy ra cho ông. Trong đầu bà lúc đó chỉ vẽ ra cái cảnh ông mừng rỡ khi gặp được gia đình và sau đó mọi người cùng quay về sum họp. Bà không hề nghĩ cuộc kiếm tìm lại gian nan khổ ải như thế này, đừng nói đến chuyện phác họa ra những viễn ảnh chua xót như An nghĩ. Sao mà lúc đó bà ngây thơ vậy không biết. Chắc do nỗi vui biết được tin sau ba mươi năm làm cho bà thiếu sáng suốt, thiếu khôn ngoan, suy luận như An. Bà thầm cảm ơn trời đã cho mình một qúy nhân như An để phò hộ bà trong những cơn hoạn nạn suốt bao nhiêu năm dài. Thật lòng, An chính là chỗ dựa tinh thần duy nhất của bà.

    Họ đến nhà bà Ngọc cũng đã gần trưa. An bảo Vân tìm một quán cơm ăn trước khi đến thăm Ngọc, bà không muốn người khác phải phiền hà vì những chuyện không đáng có. Bà Ngọc đón tiếp hai người vui vẻ. Hôm qua khi nghe điện thoại của An bà đã đoán trước hôm nay họ sẽ lên. An hỏi:

    - Lúc này chị Ngọc có rảnh không?

    Bà Ngọc trả lời.

    - Đang mùa nghỉ hè, cũng không buôn bán nhộn nhịp lắm.

    Bà Vân ngỏ lời:

    - Chị Ngọc giao tạm cái tiệm này cho ai đó, làm việc cho Vân vài tháng được không?

    Bà Ngọc bối rối:

    - Để em bàn lại với nhà em.

    Bà Vân mạnh dạn:

    - Em cần chị và chị Lý để tham gia trong việc tìm kiếm này. Em thuê mỗi chị 5 triệu một tháng, không tính đến ăn ở cơm nước xăng xe. Hai chị có thể trích lại một phần để thuê người làm công việc của mình hiện nay thì cũng vẫn còn dư.

    Bà Ngọc suy nghĩ:

    - Chị trả vậy là cao so với mặt bằng lương ở đây rồi, em có buôn bán giỏi lắm cũng chỉ kiếm được trên dưới 2 triệu mỗi tháng; nếu em thuê người thì chỉ khoảng hơn triệu là cùng. Nhưng đi xa nhà biền biệt thì em không làm được.

    An xua tay:

    - Không phải đi luôn đâu, An cũng như chị thôi. Đi một tuần hay mười ngày thì phải trở về nhà chớ.

    Bà Ngọc bằng lòng:

    - Vậy thì để em nói với Lý.

    Chiều hôm đó họ lên nhà bà Lý, sau khi nghe bà An thuyết phục, bà Lý bằng lòng ngay vì bà Lý còn chưa lập gia đình, xem ra còn dễ dàng hơn bà An và Ngọc.

    Bà An nhắc bà Lý đưa đi gặp người phiên dịch. Bà Lý cười khì khì:

    - Phiên dịch nỗi gì, thằng này nó hay vô trong đó buôn bán đổi chác nên nó nói được tiếng Cho ro thôi mà, để em đi kiếm nó.

    Bà bươn bã dắt xe đi. Bà Vân hỏi bà An:

    - Còn mình đi bằng cái gì?

    Bà An nhăn nhó:

    - Chờ hỏi thử coi đường đi có chạy xe hơi vô được không, nếu không phải để xe lại nhà chị Ngọc thôi.

    Người phiên dịch cỡ chừng ba mươi tuổi, cũng đen đủi và tóc xoăn như những người dân tộc ít người khác. Anh ta hỏi:

    - Mấy chị kiếm ai ?

    Bà An mô tả theo sự tường thuật của Kva Đăng, anh phiên dịch lắc đầu:

    - Tui hổng biết. Để chiều tui dắt vô trỏng coi.

    Bà An vội hỏi:

    - Đường đi ở đó có chạy xe hơi vô được không?

    Anh ta lắc đầu:

    - Vô sao được. Phải đi xe máy hay xe đạp thôi. Mà phải cứng tay lái mới chịu nỗi nghe.

    Rồi anh ta sực nhớ:

    - Xe máy kéo cũng được đó.

    Bà Lý lập tức đi thuê một chiếc máy kéo nhỏ, và họ nhanh chóng lên xe đi vào trong buôn.

    Đường xá ở đây quả thật còn khó khăn hơn buôn của người Châu Mạ, chiếc xe máy kéo lắc lư qua lại như thuyền tròng trành trên nước. Bà An than thầm cho bà Vân nhưng may mắn thay là suốt đoạn đường đó bà Vân không có vẻ gì là mệt mõi. Tới trong buôn cũng hơn 3 giờ chiều. Kva Y – người phiên dịch mà họ thuê dắt tới từng nhà mà Y quen biết để hỏi chuyện .

    Điều làm mọi người không ngờ là có khá nhiều người trẻ ở đây biết tiếng Kinh, Kva Y chỉ phiên dịch cho họ khi gặp phải những ông, bà cụ già. Nhà cửa ở đây xây cất còn khá hơn ở bản Châu Mạ, có nhiều ngôi nhà hao hao giống nhà người Việt, có ba gian và chái bếp để nông cụ, cửa ra vào mở về phía mái. Có một số nhà ngói và nhà xây có vẻ còn mới, nét truyền thống còn được giữ lại qua cái sạp nằm làm bằng tre nứa, chạy dọc suốt chiều dài của ngôi nhà.

    Người dân ở đây đàn ông cũng như đàn bà, khi ra ngoài làng ai cũng mang một chiếc gùi bằng lồ ô sau lưng. Họ cũng đeo các loại đồ trang sức như vòng đồng, vòng bạc, các cô gái còn mang cả kiềng, dây chuyền, cà rá. Trong đường làng có nhiều xe máy chạy vèo vèo, cuộc sống có vẻ sung túc chớ không ảm đạm như bà An, bà Vân suy nghĩ.

    Cả buổi chiều đó họ đi gần một nửa buôn, vì có nhiều người biết tiếng Kinh nên họ chia nhau ra hai nhóm để hỏi thăm cho nhanh, nhưng đến khi nắng đã tắt, gặp lại nhau trên mặt bốn người đàn bà ai cũng ỉu xìu rõ nét.

    Họ quay lại nhà bà Lý lấy xe, bà Ngọc rủ về nhà nhưng An và Vân từ chối, họ muốn ngủ lại nhà trọ. Bà Ngọc đành quay về hẹn ngày mai lên tiếp.

    Ngày hôm sau cũng không có vẻ gì khá hơn, đi đến đâu họ cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Đến 4 giờ chiều hôm đó thì mọi nhà trong buôn đều được bọn họ ghé vào hỏi chuyện, nhưng kết quả thu được cũng vẫn thật thảm hại. Bà An ngồi mệt mõi thở ra, bà không còn biết phải đi hướng nào bây giờ, không ngờ thất bại lại đến với bà sớm vậy. Khi bà Vân gọi lên xe về bà An chợt nghĩ ra một chuyện, bà hỏi Kva Y.

    - Anh có biết thôn làng này thành lập hồi năm nào không?

    Kva Y ngớ người ra, anh ta nói:

    - Phải hỏi già làng chớ. Tui sao biết được.

    Bà Lý chen vào:

    - Tui biết hồi trước ở gần bản tui là làng của người Cho ro mà.

    Bà Ngọc không đồng ý:

    - Phải hỏi lại thôi. Biết đâu có sự thay đổi nào đó.

    Bà kéo Kva Y đến một ngôi nhà gần đó, mấy người kia lục tục đi theo. Kva Y hỏi một bà cụ già mồm miệng móm mém. Bà già kia gục gặc cái đầu. Kva Y nói:

    - Bả nói buôn này có lâu rồi, từ năm 82 lận.

    Bà An mừng rỡ:

    - Anh hỏi bã coi trước năm 75 bả có ở đây không?

    Kva Y hỏi xong, trả lời:

    - Bã nói buôn này Nhà nước lập từ năm 82 còn trước đây không có.

    Bà Ngọc hỏi :

    - Anh hỏi bã coi bã có biết buôn làng Cho ro nào ở gần đây mà có trước buôn này không.

    Kva Y trả lời:

    - Bã nghe nói hồi trước có một buôn ở cách đây một khoảng nhưng mà bây giờ không có ai ở đó nữa.

    An hỏi:

    - Cậu hỏi xem bã có biết tại sao không?

    Người phiên dịch trả lời:

    - Bã nói nghe nói hồi đó buôn làng bị ma bắt nhiều lắm nên họ đốt làng dọn đi. Sau đó Nhà Nước mới lập buôn này cho dân ở chỗ khác tới.

    An lại hỏi:

    - Anh hỏi thử coi bã có biết bản làng kia dọn đi đâu không?

    Trả lời:

    - Bã nói nghe đâu dọn lên cái đèo trên Bảo Lộc – Lâm Đồng gì đó.

    An vội vàng cảm ơn rồi bảo mọi người đi về. Vân quay lại nhét vào túi bà già một tờ bạc. Lên xe mọi người tranh nhau bàn luận. Bà Ngọc nói:

    - Bản mới hèn chi mà tui thấy nhà cửa giống của người Kinh quá chừng.

    Bà An gãi đầu:

    - Đáng lẽ hôm qua mình phải để ý thấy là họ nói tiếng Kinh rất giỏi. Nếu là một bản xưa như Châu Mạ thì đã không được thế.

    Bà Lý phân trần:

    - Tui đâu biết bản cũ bị đốt rồi đi như vậy. Chỉ biết ở trong đó là buôn người Cho ro thôi.

    Bà Ngọc đỡ cho bạn:

    - Lý nói không sai nhưng do họ chuyển đi nên bạn đâu có biết.

    Bà Vân an ủi:

    - Ít ra mình cũng còn biết họ dọn đi đâu mà lần theo.

    Bà Ngọc trầm ngâm:

    - Bây giờ mới khó đây, vì theo tôi biết người Cho ro hầu hết ở địa phận Đồng Nai, còn Lâm Đồng lại là nơi có nhiều dân tộc khác sống. Mình lại phải tìm trong một mớ hỗn loạn nữa đây.

    Bà An cũng đồng ý:

    - Em cũng nghĩ như Ngọc. Lâm Đồng có tới khoảng 10 dân tộc khác nhau sống ở đó, rãi rác trong nhiều vùng. Địa bàn Lâm Đồng lại không chỉ hạn hẹp như từ trước đến nay mình vẫn tìm. Nhưng dù sao đó là địa phương của em, em cũng tìm được cách dễ hơn.

    Họ quay lại nhà bà Lý để lấy xe. An trả tiền cho người phiên dịch rồi hẹn Ngọc ngày giờ đi tiếp. Họ chia tay.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #19
    Miền Ký ức - 16

    Anchu


    Nhà bà An không xa thị trấn Bảo Lộc là mấy, sau một ngày nghỉ lại, bà An vạch ra một kế hoạch kiếm tìm. Vì cái địa chỉ người đàn bà trong bản Cho ro cho biết quá mù mờ, nên An phải nhờ đến sự giúp đỡ của một người trong Ủy ban phụ trách về người dân tộc ở vùng này.

    Sau mấy giờ đồng hồ tra cứu, ông ta đọc cho bà An ghi lại tên và những dân tộc có đăng ký sống tại tỉnh Lâm Đồng, bắt đầu từ giáp ranh tỉnh Đồng Nai lên đến giáp ranh hai tỉnh Đắc Lắc và Khánh Hòa, bao gồm các dân tộc: Tày, Thái, Nùng, Cơ ho, Mnông, Mạ, Chu ru. Mỗi một dân tộc lại chia thành nhiều tên gọi khác nhau, Thí dụ như người Mạ bao gồm: Châu Mạ, Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung. Người Cơ ho thì có Tulop (còn gọi là Xre Nôp), Cơ don, Lạt, Trinh. Địa bàn rộng lớn, sắc dân thì nhiều nhưng tìm mãi mà không thấy buôn làng nào của người Chơ ro cả.

    Vị chức sắc có ý kiến:
    - Hầu hết người Chơ ro đều sinh sống tại tỉnh Đồng Nai, nếu có trôi dạt lên đây chỉ là một nhóm nhỏ, có thể vì thế mà họ đăng ký cùng với các nhóm khác. Thí dụ người Chik là một nhóm địa phương của dân tộc Mnông. Nhưng một bộ phận lớn của họ di cư xuống phía Nam, cư trú lẫn với người Cơ ho, tự khai báo là người Cơ ho. Còn bộ phận ở lại quê hương cũ của người Mnông vẫn tự nhận mình là người Mnông.

    An bất lực:
    - Thế thì biết tìm cách nào đây.

    Viên chức sắc tỏ vẻ thương hại.
    - Phải chịu vất vả thôi, phải đến từng nơi, sau đó hỏi thăm hễ xem trước đây họ ở đâu, thuộc dân tộc gì. Chắc là chị phải mất nhiều thời gian, nhiều công sức lắm đây.

    An băn khoăn:
    - Họ có biết nói tiếng Việt không?

    Viên chức sắc trầm ngâm:
    - Có một số bản làng hay qua lại buôn bán với người Việt thì nói được, nhưng cũng có nơi rất ít người biết. Nhưng thực tế thì những người dân tộc ở tỉnh này ngoài người Chu ru nói ngôn ngữ Malayo – Polinexia thuộc dòng Nam đảo là khác biệt thôi, còn lại đều sử dụng ngôn ngữ Môn Khơ me thuộc dòng Nam Á. Tất nhiên cũng có khác nhau những không phải là quá cách biệt, nếu sử dụng được ngôn ngữ này thì cũng tàm tạm hiểu được ngôn ngữ kia. Chị nên tìm một người có thể biết được chút ít loại tiếng này.

    An gật đầu:
    - Trong chúng tôi có một người Châu Mạ.

    Viên chức sắc nói:
    - Vậy là tốt rồi. Chỉ khi nào chị tìm đến người Chu ru ở gần giáp ranh vùng Khánh Hoà thì mới gặp khó khăn thôi.

    Giã từ viên chức tốt bụng, An về nhà kể lại cho mọi người nghe. Bà Ngọc hỏi:
    - Vậy bây giờ mình phải đi hết các bản theo địa chỉ này à?

    Vân gật đầu:
    - Phải thế thôi.

    An thương hại:
    - Cuộc tìm kiếm này vất vả lắm mà lại chưa chắc gì gặp được ngày. Theo An thì Vân nên về Công ty làm việc, giao lại tất cả cho An, chị Ngọc và chị Lý. Khi nào có tin tức gì chính xác An sẽ gọi Vân lên.

    Bà Vân phản đối:
    - Mọi người đi được thì Vân đi cũng được mà.

    An gật gù:
    - Biết rồi. Nhưng đây chỉ mới là đi tìm dấu vết của buôn làng Chơ ro trôi dạt, đâu phải là đã tìm được dấu vết anh Thành. Sau khi xác định đã tìm được đúng buôn làng rồi mới nói đến chuyện tìm Thành sau. An lo rằng kiếm kiểu này một năm cũng chưa xong. Nếu bây giờ Vân đi theo mà không đủ sức khoẻ, mai mốt ngã bệnh thì đến lúc tìm ra lại không có để mà gặp đâu.

    Nghe bà An dọa ghê quá, bà Vân ngần ngại một lúc rồi đồng ý lên xe quay về Sài Gòn. Trên đường về bà ghé lại nhà bà Lý yêu cầu bà lên cùng với An và Ngọc, sau đó lại đến nhà Ngọc báo tin Ngọc đi đến tuần sau mới về. Mọi việc có vẻ đã chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc kiếm tìm gay go và gian khổ, một cuộc kiếm tìm mà như bà Ngọc ví von: cứ như là mò kim đáy bể.

    Ba người đàn bà đã bỏ ra gần một năm trời để lùng sục khắp các bản làng của tỉnh Lâm Đồng. Họ đã vất vả leo lên ngọn Langbiang cao vút, vào Thung lũng trăm năm để tìm người Lạt, đến giáp ranh heo hút của Đắc Lắc – Lâm Đồng, quần nát khu vực Đơn Dương, Di Linh, Đức Trọng, đi bộ khắp vùng Đămri, Đănkia, Tà Nung, K’Long.

    Ở những nơi, như K’Long chẳng hạn, họ vào tận cuối cùng thôn bản của người K’Ho, nơi còn có tên gọi là làng Gà, nơi định cư chủ yếu của người K’Ho trên núi rừng Tây Nguyên, vì theo suy nghĩ có chút ngây thơ của bà An, là bản làng ra đi sẽ tìm đến những nơi có đông người dân tộc của họ. Ở đây, người dân sống yên bình với công việc chủ yếu là lên nương và dệt thổ cẩm. Theo lời người địa phương kể lại, làng Gà được bắt nguồn từ một câu chuyện tình yêu cảm động của một đôi trai gái K’Ho, lúc đó còn mang trên mình nặng nề chế độ mẫu hệ thiêng liêng. Để có lễ vật cưới chồng theo đòi hỏi của nhà trai, cô gái K’Ho đã không tiếc thân mình đi tìm cho bằng được chú gà có chín cựa. Kiếm tìm trong vô vọng với tình yêu nung nấu, mỗi ngày cô gái đi vào rừng một sâu hơn, và khi thất vọng kiệt lực mõi mòn, người con gái gục chết bên sườn núi.

    Cảm động trước tình yêu sắc đá, dân làng dựng lên một con gà chín cựa bằng đá khổng lồ để tưởng nhớ và cũng để nhắc nhở những bậc trưởng thượng trong làng giảm thiểu những thủ tục hà khắc để đôi lứa dễ dàng đến với nhau, xây dựng nên những cuộc đời êm ả. Chuyện đã lan truyền từ đời này qua đời khác, từ làng nọ đến làng kia và trở thành một trong những truyền thuyết đẹp ở đây.

    Hằng năm sau khi thu hoạch xong vụ mùa dân làng thường tổ chức lễ hội, mọi người tập trung dưới pho tượng Gà đánh cồng chiêng, uống rượu cần và cầu nguyện cho dân lành sống trong bình yên mưa thuận gió hòa, cầu nguyện cho tình yêu đôi lứa mãi mãi không xa cách.

    Không chỉ ở K’Long, người K’Ho còn tập trung ở xã La Dạ, đoạn nối 2 tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận, nhưng ở đây do được khai phá bằng những cung đường mới nối tiếp, người dân K’Ho La Dạ mất dần những căn nhà gỗ truyền thống, thay vào đó là nhà xây mái tôn. Dù đổi thay nhiều nhưng La Dạ vẫn còn những nét văn hóa độc đáo, một bề dày lịch sử truyền thống. Vào dịp tết của đồng bào K’Ho, thường kéo dài 7 – 10 ngày vào tháng 12 dương lịch, khi mùa màng đã thu hoạch xong, lễ hội đâm trâu được tổ chức. Tiếng ca hát rộn ràng hòa với âm thanh của bộ cồng chiêng 6 chiếc, kèn ống bầu (kơmbuat), đàn ống tre (kơrla), trống (sơgơr) vốn là những nhạc cụ truyền thống của người K’Ho làm cho cuộc sống người dân ở đây thêm phong phú.

    Dù sao, cái mà những người đàn bà vất vả này cảm thấy mãn nguyện là họ được đắm mình trong thiên nhiên, được ngắm cảnh mây núi quấn quýt hữu tình, những khúc đường ngoằn nghèo uốn lượn, những con thác nhỏ xinh xinh bên đường tung bọt trắng xóa. Đôi khi họ cũng thót tim khi xe đi qua những khúc cua nguy hiểm, những đoạn đường ghập ghềnh ổ voi, ổ cá sấu. Rồi họ cũng đã lãng mạn ngẩn ngơ trước màu sắc hương thơm của nhiều loại hoa rừng hoang sơ mà lộng lẫy, những hình ảnh cây khô xinh đẹp tự nhiên. Cứ như là thiên nhiên bù đắp lại những gian khổ, những thất vọng mà họ gặp phải trên con đường kiếm tìm vô vọng ấy.

    Quần nát gần hết cái tỉnh Lâm Đồng, ba người phụ nữ ngày một mõi mòn dù rằng Lâm Đồng là một thành phố đẹp, với thành phố Đà Lạt huyền thoại sương mù, với các thác, hồ nổi tiếng từ bao nhiêu năm nay. Đà Lạt còn đẹp rạng rở với hơn một ngàn năm trăm loại hoa, trong đó có những loài nổi tiếng và lãng mạn như : Đỗ Quyên, Anh Đào, Mimosa, Păngse’, Cẩm tú cầu, Forget me not, Lưu ly và muôn trùng các loại Cúc, Hồng, Huệ, Thược Dược. Đà Lạt còn là nơi chập chùng bạt ngàn thông, ở đâu họ cũng nhìn thấy thông cũng như ở đâu họ cũng thấy bông Mâm Xôi nở rộ ven đường và khi mùa đông sắp đến màu vàng của Dã Qùy rực rở như tô thêm vẻ lộng lẫy cho rừng thông Đà Lạt.

    Nhưng họ không có thời giờ để dạo cảnh xem hoa, ba người đàn bà rất thèm được đủng đỉnh dạo chơi như những người khác du lịch mà họ gặp, rốt cuộc cái mà họ nhận được chỉ là những từ lơ lớ: Không có, không biết và những cái lắc đầu quầy quậy.

    Xuôi ngược hầu như không còn nơi nào để tìm, An chán nãn muốn bỏ cuộc cho xong, cả Ngọc và Lý cũng thế. Tuy mỗi tháng họ đều về thăm nhà một tuần nhưng tâm lý phụ nữ mấy ai thích cứ đi lang thang mãi như vậy. Ngoài ra họ còn phải gặp những khó khăn không lường trước được như đi vào những vùng buổi tối phải ngủ lại vì ban ngày người dân đi vào trong nương hết không còn ai, họ phải chịu lạnh lẽo, rét mướt mà cái lạnh ở Lâm Đồng thì chẳng dễ chịu chút nào, mặc dù An đã cẩn thận bắt mọi người phải trang bị đồ ngủ nhưng có lẽ với khí hậu như thế thì không ăn thua gì. Họ lại còn vấp phải những cái nhìn nghi ngờ, những ánh mắt thiếu thiện cảm và côn trùng độc đe doạ.
    • Avatar của Anchu
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 10 năm
    • 861 Bài viết

    • 608 Được cảm ơn

    Thành viên tích cực 2018
    #20
    Miền Ký ức - 17

    Anchu



    Một hôm, An chán nãn quá, bà nghĩ ra cách bày trò tiêu khiển, bà rủ Ngọc và Lý:
    - Lâu nay mình toàn đi làm không. Hay là mình tổ chức đi chơi đi.

    Lý lắc đầu quầy quậy:
    - Chơi bời gì, đi kiếm thì kiếm, không thì về nhà.

    Ngọc giảng hòa:
    - Vừa đi chơi vừa đi kiếm có sao đâu.

    Họ gọi một chiếc taxi, Lý hỏi:
    - Tính đi đâu?

    An trả lời:
    - Đi thác .

    Ngọc hỏi:
    - Mà thác nào, gần trăm cái lớn nhỏ lận nghe.

    Người tài xế taxi góp ý:
    - Mấy cô đi chơi thác Pongour đi, ở đó đẹp lắm, có chỗ ngủ trưa, chỗ tắm, chụp hình đẹp lắm.

    Bà An ngần ngừ một chút rồi đồng ý kéo nhau ra đi. Thật ra bà cũng đã từng nghe qua thác này nhưng theo sự chỉ dẫn của viên chức dân tộc hôm trước thì đây không có nhiều người dân tộc ở nên họ không vào trong thác mà chỉ tìm đến bản làng gần đó thôi.

    Theo kiến thức của bà An thì thác Pongour còn có tên là thác Thiên Thai, là ngọn thác hùng vĩ còn giữ được nhiều nét hoang dã, nằm trên địa bàn xã Tân Thành huyện Đức Trọng. Hằng năm vào rằm tháng giêng một số các dân tộc ở các huyện gần đó tập trung tổ chức lễ hội. Tập tục này được bắt đầu từ những năm sau khi vua Bảo Đại xuống ngôi, khoảng năm 60 có lẽ. Khởi đầu do một số người Hoa ở vùng Tùng Nghĩa Đức Trọng kết hợp với phong tục của một thiểu số dân trong vùng như K’Ho, Thái, Thổ, Tày, Nùng xung quanh đặt ra lễ hội Pongour.

    Nhưng người tài xế taxi nói đúng, thác Pongour là ngọn thác rất đẹp, chả trách mà ngày xưa vua Bảo Đại đã giành nó làm của riêng mình. Điều này được chứng minh bởi gian nhà thủy tạ be bé xinh xinh được cất phía trên ngọn thác. Một tấm bảng ghi rõ ràng cho người đời sau thấy rằng nơi đây là một cảnh quan kỳ tú đã được thiên tử nước nam một thời chọn làm nơi vui chơi giải trí, thỏa thích vui đùa với các cô gái có tên trong các bộ phim nói về vị hoàng đế cuối cùng của nước Việt. Thác có 2 đường lên xuống, một bằng những bậc thang xây uốn khúc có tay vịn và một là con đường thoai thoải mà người đi xe máy có thể đến tận chân thác. Ba người đàn bà sau khi đọc đi đọc lại tấm bảng ở nhà thủy tạ, hùng hồn kéo nhau đi xuống bằng con đường bậc thang. Bà An nói:

    - Bây giờ còn khỏe, mình xuống đường này, lát nữa đi lên mệt rồi, lên bằng đường kia cho dễ.

    Họ dắt díu nhau trên từng bậc cấp, dù sao … cũng đã chớm gió heo may, lại thêm những tháng ngày qua phiêu bạt qua nên sức khỏe ai cũng giảm sút trầm trọng. Nhưng dù sao (lại dù sao), họ không như bà Vân, không phải là những người phụ nữ trang đài qúy tộc nên cũng dễ dàng thích nghi được với mọi hoàn cảnh đưa đẩy. Thỉnh thoảng lại làm như ngừng lại ngắm cảnh, thực chất là để ổn định tim mạch vậy mà.

    Thác rộng mênh mông, nước trong văng vắt, nước đẹp man dại, nước làm lan tỏa cái dịu dàng mát mẻ xung quanh khu vực đó. Hình như ít có cái thác nào lạ như thác này. Nước chảy từ trên cao xuống, chia làm 2 bên, phía trong ngọn thác đổ ào ạt hùng vĩ trắng xóa như bất kỳ ngọn thác nào khác trên đời. Phía ngoài đẹp như một bức tranh – nước đổ xuống từng bậc đá, mà có phải ít bậc đâu, những 7 bậc. Qua 7 tầng thang ngăn lại, nước chảy ríu ríu dịu dàng ỏn ẻn như bước chân nàng thị nữ cung đình tay bưng chén ngọc bình vàng rót trà dâng cho thiên tử. Nước róc rách nhẹ nhàng uốn lượn qua 7 bậc thang, xuống bậc cuối xòe trắng xóa như những vòi rồng tung tóe, làm thành những vòi nước tắm. 3 người đàn bà không dám xuống tắm nhưng lại rất phấn khởi nhìn bọn trai trẻ rủ nhau trèo lên tầng cấp cao nhất, và một số khác quanh quẩn tắm gội thoải mái ở bậc cuối cùng.

    Bà Ngọc cao hứng hát nho nhỏ:

    “Người hẹn cùng ta đứng bên bờ suối,
    Rừng chiều mù sương ánh trăng mờ chiếu”

    Bà Lý cười hăng hắc:
    - Trăng đâu mà trăng, mặt trời chiếu xuống chói chang đây nè.

    Ba người phụ nữ lớn tuổi bỗng cười như trẻ con, phút chốc họ quên đi những mệt nhọc, buồn bã, thất vọng.

    Phía bên kia, băng qua một chiếc cầu nhỏ là một trảng đá rộng lớn, sức chứa đủ mấy trăm người nếu như tổ chức một cuộc cắm trại ở đó. Nước từ thác đổ xuống chỉ đủ ướt láng mặt đá, vừa để mát mẻ sạch sẽ vừa đủ để làm chỗ ngồi chơi, cắm trại. Thiên nhiên ban phát quá hào phóng, cảnh vật đẹp như một bài thơ. Chẳng trách ngày xưa vua Bảo Đại đặt tên cho cảnh quan này là bãi Tiên sa. Không hiểu khi đặt tên ông vua hào hoa phong nhã này mơ thấy tiên trên trần giáng xuống hay đặt để khen ngợi các thứ phi ái thiếp vua mang theo đắm chìm hoan lạc. Chỉ biết là người đời sau gọi luôn cái tên vua đặt, viết cái chữ rõ ràng trên tảng đá to đùng. Bà An súyt xoa:

    - Đẹp thiệt há, cảnh quan tự nhiên mà giống y như ai đục đẽo không bằng.

    Bà Lý lắc đầu:
    - Ai đục cho nỗi, cả một lòng chảo đá như vậy, hồi đó làm gì mà có mìn hay thuốc nổ đâu.

    Bà Ngọc xen vô:
    - Mà giả như có thì cũng nổ tung tóe, làm gì mà tròn trịa bóng láng xinh xắn như vậy. Rõ thiệt là ….

    Bà An hỏi:
    - Thiệt là sao?

    Bà Ngọc cười:
    - Là ông vua thì sướng quá chớ sao, bao nhiêu cái gì đẹp trong thiên hạ thì giữ làm của riêng hết sạch. May là bây giờ hổng còn ổng, chớ nếu còn làm gì dân đen như mình biết được cái thác đẹp cỡ này chớ.

    Bà Lý tấm tắc:
    - Đúng thiệt là đẹp quá chừng, bỏ công mình thuê taxi đi xuống đây ngắm cảnh.

    Bà An đùa:
    - Hay ba con mụ già tụi mình nhảy xuống tắm đi.

    Bà Ngọc ré ra cười:
    - Quần áo đâu thay? Đó là chưa nói đá nước trơn trợn, dắt díu nhau đi té cái rầm chấn thương sọ não mất công kêu taxi chở đi Chợ Rẫy.

    Một lát, sau khi dạo quanh ngọn thác đã đời, họ kéo nhau đến ngồi tại một gốc cây gần thác. Ở đây người ta bày bán các loại thức ăn, một số là thức ăn đặc sản của vùng này. Cô bé người dân tộc mời chào:
    - Mấy dì ăn cu đất nướng ngon lắm.

    An gọi xâu chim và 3 ổ bánh mì, nước khoáng. Ngọc gật gù:
    - Đồ ăn khéo quá, không đến nỗi tệ.

    Cô bé bán hàng cười tươi tắn:
    - Học theo người Kinh mà.

    Bà Lý hỏi:
    - Cháu là người gì vậy?

    Cô bé trả lời:
    - Dạ, người Mạ – Mạ Tô.

    Bà Lý vui vẻ:
    - Cô cũng là người Mạ, Mạ Krung.

    Rồi bà hỏi:
    - Buôn làng có gần đây không?

    Cô bé gật đầu:
    - Dạ gần đây, ở phía ngoài đường.

    An nhắc Lý:
    - Chỗ phía trước có lần mình ghé vô hỏi thăm đó.

    Bà Lý hỏi:
    - Sao đi bán xa vậy.

    Cô bé cười lỏn lẻn:
    - Đi vậy mới có tiền.

    Bà An thắc mắc:
    - Con đi bán một mình sao.

    Cô bé trả lời:
    - Bà nội bán bắp đằng kia. Anh thì đi bắt chim cu đất.

    Bà Ngọc trêu:
    - Má thì luộc bắp. Ba thì làm thịt chim.

    Cả bốn người đều cười vui vẻ. Bà Ngọc hỏi:
    - Ở đây toàn là người Châu Mạ bán hàng không hả con?

    Cô bé gật đầu:
    - Dạ.

    Rồi như sực nhớ ra, cô nói:
    - Đằng kia có một bà già người Chơ ro bán khoai nướng đó.

    Ba người đàn bà cùng giật mình, bà An hỏi:
    - Ở đây có người Chơ ro sống hả?

    Cô bé lắc đầu:
    - Không phải, có mình bả thôi.

    Ba người nhìn nhau. Ăn xong, họ kéo nhau đến hàng khoai, bà già bán khoai quấn quanh cổ một chùm sợi cườm đủ màu, tóc tai bạc trắng. Bà An đến mua khoai rồi hỏi:
    - Ở đây có ai người Chơ ro không vậy?

    Bà già ngước đôi mắt đục ngầu nhìn họ không trả lời. Bà Ngọc đến mua mấy trái bắp, giả vờ hỏi người bán bắp:
    - Bà già phải người Chơ ro không?

    Bà già bán bắp lắc đầu:
    - Không phải, tui người Mạ.

    Rồi bà chỉ qua người bán khoai:
    - Hỏi nó, nó người Chơ ro đó.

    Bà Lý nói một tràng tiếng Mạ, hai bà già có vẻ ưng cái bụng, An và Ngọc tiếp tục lựa thêm khoai, thêm bắp. Bà Lý làm nốt cái công việc đặc biệt của mình. Bà già Cho ro bây giờ cũng bắt đầu trả lời bằng tiếng gì An và Ngọc chịu thua, chỉ thấy bà Lý gật gù và hỏi thêm liên tục.

    Cả ba đã lựa gần hết rổ khoai, thúng bắp. Lý nói nhỏ:
    - Về đi, không thì ăn khoai ăn bắp tới cuối tuần luôn.

    Bà An trả tiền rồi kéo nhau đi. Lên chiếc taxi còn chờ phía ngoài, bà Ngọc hỏi:
    - Lý thu thập được gì rồi.

    Bà Lý cười tủm tỉm:
    - Đi mòn chân cuối cùng cũng phải gặp chớ.

    An vội hỏi:
    - Ở đâu vậy?

    Bà Lý thủng thẳng:
    - Bà già đó đúng là người Chơ ro đốt bản lên đây, nhưng lâu quá rồi bả không nhớ có ai như mình mô tả hay không. Bả nói bả già yếu quá nên không đi, chớ dân bản đã dời về Lộc Châu sống lâu lắm rồi.

    Ngọc hỏi:
    - Vậy là mình về Lộc Châu bây giờ luôn hả?

    An nói:
    - Lộc Châu gần nhà mình. Bữa nay mình trở lại nhà nghỉ lấy đồ đạc đàng hoàng rồi ngày mai đón xe đò đi cũng chưa muộn.

    Lộc Châu là một xã nhỏ, không cách xa cầu Đại Lào bao nhiêu. Trước đây họ đã từng đến Đại Lào nhưng lại không biết có một nhóm người sống phía trong Lộc Châu.

    Cách đường khoảng 5 cây số, ở đây người dân tộc và người Kinh sống lẫn lộn nhau, do đó mà An không thể tìm ra họ vì số lượng quá ít. Hỏi thăm một lúc, người ta dẫn ba người đến gặp già làng. Già đã quá già, da dẻ nhăn nhúm, tóc trắng xoá, đôi mắt mờ đục nằm co người trên sạp tre giữa nhà. An lo ngại không biết ông già này có nhớ nỗi chuyện của mấy mươi năm trước không?

    Nhưng sự thực chứng minh là An quá lo xa, ông già nói tiếng Kinh khá tốt, đôi khi dùng lẫn tiếng Chơ ro pha trộn tiếng Mạ. Khi nghe bà An hỏi ông có phải từ vùng Định Quán di dân lên đây không thì ông gật đầu ngay. Ba người đàn bà mừng như bắt được của. An lại hỏi thăm có người đàn ông đàn ông nào lạc vào bản trong thời gian đó với sợi dây đeo cổ bằng Inox và cái sẹo gần tai trái không thì ông không nhớ được. Mãi đến khi bà Ngọc nhớ thêm một chi tiết khác là Thành thường hay hái lá rừng làm thuốc thì ông à lên một tiếng. Ông nói:
    - Tui biết rồi. Mấy người muốn hỏi H’Rêng.

    Rồi ông kể lại H’Rêng lạc vào bản làng Chơ ro vào khoảng các năm đó, anh ta ngơ ngẩn, hỏi gì cũng không biết, tối ngày đi hái lá thuốc và đào khoai củ ăn. Người Chơ ro không làm khó kẻ đói ăn, họ cho anh ăn, dựng lều cho anh ở và đặt cho anh tên H’Rêng. H’Rêng hái lá thuốc giỏi lắm, trị được nhiều thứ bệnh. Nhưng có một năm trời hành dân bản, con ma sốt rét bắt đi nhiều người quá. Thầy mo cúng cũng không ưng, mà lá thuốc của H’Rêng cũng không trị được. Ông già là trưởng làng lúc đó, quyết định đốt bản ra đi. Mới đầu họ đến Dambri, gần chân đèo Bảo Lộc nhưng gặp phải nhiều bản khác không cho ở, có nhiều lần bản Chơ ro đã phải có người mất mạng vì tranh giành thú rừng. Ông già quyết định đưa bản đến nơi khác. Họ tìm đến thác Pongua, ở đó được vài năm yên ổn nhưng có một bản người Mnông hung dữ kéo đến tranh giành. Dân Chơ ro qua nhiều lần bệnh dịch đã yếu thế rất nhiều nên lẳng lặng kéo nhau về Dambri, đến Lộc Châu thấy ở đây yên ổn, người Kinh hiền lành nên họ ở lại, Mới đầu ở tuốt trong sâu dần dần xích ra phía ngoài, thậm chí còn có người lấy vợ Kinh, sinh con đẻ cái theo phong tục người Kinh. Vì dân số ít quá nên họ khai với chính quyền là người Châu Mạ, bản dân ở gần với họ nhất. Đó cũng là lý do mà cả năm nay ba người đàn bà không sao tìm ra được trên bản đồ chỉ dẫn.

    Khi An hỏi ông già bây giờ H’Rêng hiện sống ở đâu thì lại có sự trục trặc xảy ra. Ông già nói H’Rêng đã đi khỏi bản lâu rồi. Mọi người lại một phen thất vọng não nề. Bà An hỏi:
    - Ông có biết H’Rêng đi đâu không ông?

    Ông già lắc đầu:
    - Không biết, phải hỏi người khác thôi.

    Bà An năn nỉ:
    - Ông làm ơn chỉ giùm phải hỏi ai mới biết.

    Ông già trả lời:
    - Hỏi nhà H’Siêng. H’Siêng là cha của H’Mai vợ thằng H’Rêng.

    Hậu tạ ông già xong mọi người lại tiếp tục đi tìm nhà H’Siêng. Trước khi đi ông già dặn:
    - Thấy cái nhà gạch bán đủ thứ đồ đằng cái cây kia hông? Đừng có lại cái nhà đó mà hỏi. Thằng H’Bao nó ghét nó chém thấy mẹ.

    Mọi người không ai hiểu ông già nói gì. Họ tìm được nhà H’Siêng không khó khăn gì. Đó là một ngôi nhà sàn còn khá tốt, trong nhà có nhiều chiêng ché chứng tỏ mức độ khá giả của gia đình.

    Khi nghe mọi người hỏi thăm về H’Rêng, hai người đàn bà không còn trẻ nhưng cũng chưa già lắm nhìn nhau, sau cùng một người nói:
    - Hai đứa nó bỏ bản đi lâu rồi, tại vì thằng H’Bao đòi chém chết H’Rêng đó, thầy Mo cũng đuổi tụi nó đi.

    An khẩn khoảng:
    - Vậy có ai trong nhà biết họ đi đâu không?

    Người đàn bà còn lại lấm lét nhìn ra ngoài rồi nói nhỏ:
    - Đừng có để cha tui nghe, hai đứa nó lên Đắc Lắc ở mười mấy năm nay rồi không có về.

    Bà Ngọc than:
    - Đắc Lắc còn rộng hơn Lâm Đồng, người dân tộc lại đông hơn, biết tìm tới chừng nào đây trời.

    Người đàn bà dân tộc thương hại nhìn họ, bà nói:
    - Nghe nói tụi nó ở gần cái nhà thờ nào đó của người Ba Na.

    Người còn lại cũng nói:
    - Thằng K’Rêng bị cha chém cụt ngón tay giữa bàn tay bên trái. Con H’Mai đứt một bên lỗ tai.

    Họ chào ra đi, người đàn bà nói với theo:
    - Đừng có ghé vô nhà thằng H’Bao mà hỏi thăm nghen. Coi chừng nó còn tức lắm nghen.

    Họ quay trở về nhà bà An. Bà Ngọc than:
    - Hết Lâm Đồng lại tới Đắc Lắc. Tụi mình đúng là mò kim đáy biển.

    Bà Lý an ủi:
    - Lần này dù sao mình cũng biết họ ở gần một nhà thờ của người Ba na.

    Bà An nhún vai:
    - Vấn đề là có bao nhiêu cái nhà thờ như vậy ở Đắc Lắc chớ.

    Bà Ngọc hưởng ứng:
    - Đó là còn chưa biết có thay đổi chỗ ở không nữa.

    Lý cũng đồng tình:
    - Kiếm bản làng Chơ ro đã mất cả năm, bây giờ kiếm hai người lại còn khó hơn gấp mấy lần nữa.

    Cả ba cùng thấy ngao ngán, mệt mõi. Còn gì chán bằng cứ phải đi làm một việc vô vọng mãi như thế này. Vốn không bà con thân thích, chỉ vì một lời hứa và khoản lương hậu hỉnh mà họ phải bỏ nhà bỏ cửa lặn lội khắp nơi, quả thật ai cũng thấy ngán tận cổ. May là gia đình Thành trả công cao lại còn được chu cấp hết mọi chi phí trên đường mới đủ sức lôi họ đi đến những nơi mà họ chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ đến, nhưng không biết họ chịu nỗi tình trạng này đến bao giờ. Sau cùng An quyết định:
    - Thôi cứ về nhà nghỉ một tuần cái đã.
    Thế nào mình cũng bị khóa nick cho mà coi
  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3