TIN TÀI TRỢ.

Giáng Sinh xưa (Chuyện tình cô gái Việt trên đất Mỹ) - Full truyện

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 5K Lượt đọc
  • 21 Trả lời

  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2

Bài học lớn đằng sau câu chuyện nhỏ

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #1
    CHƯƠNG 1: White Christmas

    Đêm xuống, tiệc Giáng Sinh tại phủ thống đốc bang cũng mở màn. Rượu bắt đầu chảy, nến thơm hương vanilla và quế phảng phất khắp phòng, tiếng nói tiếng cười râm ran, và ban nhạc thính phòng của hải quân cũng bắt đầu tấu lên vài bài nhạc nền Giáng Sinh. Nhìn quanh quất chẳng thấy người quen, cũng chẳng ai để ý đến tôi. Tốt, tôi tự nhủ. Làm khán giả thích hơn làm hơn diễn viên chính, lúc nào cũng bị áp lực dưới spot light, bị nhòm ngó, bị soi mói đến tận những ý nghĩ thầm kín. Làm khán giả, tôi được tự do gần như tuyệt đối. Và tôi thích cái ý nghĩ ấy.

    Đôi giày cao gót màu cam đất bắt đầu hoạnh họe đôi chân đáng thương của tôi, có lẽ vì nó bị bỏ bê quá lâu không được đụng đến nên giờ đây đang hờn trách tôi chăng? Tôi lặng lẽ mỉm cười bâng quơ …

    I’m dreaming of a white Christmas … just like the one I used to know …

    Tôi nhép miệng hát theo người nhạc công đang đánh đàn piano solo trên bục. Ly vang đỏ bắt đầu làm họng tôi nóng ran, tan chảy hết những buốt giá trong lời bài hát. Bỗng cả phòng tiệc ồ lên phấn khích, tôi đưa mắt nhìn quanh không biết việc gì đang xảy ra. “Tuyết bắt đầu rơi! Ah, bài hát có hiệu ứng rồi, well done!” – giọng một ai đó mừng rỡ vang lên như trả lời câu hỏi của tôi.

    “May your days be merry and bright … and may all your Christmases be white …”
    Ban nhạc bắt đầu chuyển sang những giai điệu hùng tráng của quân đội, ồn ào hơn, náo nhiệt hơn, khách mời cũng phải gào to hơn vào tai nhau, buổi tiệc đang đến cao trào. Tôi hơi nhức đầu, đôi chân cũng bắt đầu tê dại vì đôi giày hay quấy phá kia. Những gì chị phụ nữ đang trò chuyện cùng tôi đang nói, tôi hầu như không thể lĩnh hội được nữa. Đầu cứ choáng váng, mắt hơi hoa lên, tim đập loạn xạ. Đừng, đừng, không được xảy ra vào lúc này nhé. Nơi đây không có chỗ để nằm gác chân lên cao như ở nhà bạn trong lần tiệc tùng nọ đâu nhé … Rồi chị ấy cáo từ để đi gặp vài vị khách đặc biệt nào đó, tôi mừng rơn, lảo đảo lẻn ra ngoài. Hơi lạnh cuối năm phả vào mặt, vào tay và nhất là vào đôi chân lạnh cóng. Rùng mình. Mặc kệ, tôi cần tí không khí của tự do, của riêng tôi. Gió mơn man thấm đẫm vào từng hơi thở, mang theo hương vị quế, hồi, vanilla của đêm Giáng Sinh quyện cùng mùi gỗ mục và nhựa thông mộc mạc. Tôi nhắm mắt, hít một hơi thật dài …

    - Nhắm mắt trong khi đang chóng mặt và chót vót trên giày cao có thể bị ngã đấy!
    - ???
    - Xin chào, tôi là B.

    Một phút im lặng chết chóc.

    - Cám ơn anh đã cảnh báo! Tôi rất ổn.
    - Có thật không đấy?
    - !!!
    - Xin lỗi, tôi không có ý định làm phiền. Chào cô!

    Người đàn ông trong bộ quân phục hải quân trắng muốt, lưng quay về phía ánh đèn giở nón ra, hơi nghiêng mình, rồi quay lưng bước về phía khu nhà tiệc. Được vài bước, anh ta dừng lại.

    - Cô không có ý định giữ tôi lại à?
    - Tại sao tôi lại phải níu kéo kẻ phá rối nhỉ? Đùa thôi, anh không phải đi nếu không thích.
    - Nhưng cô có thích tôi ở lại không?
    - …
    - Im lặng nghĩa là đồng ý?
    - Tôi vẫn chưa nhìn thấy mặt anh, kẻ phá rối ạ.

    Tự nãy giờ, anh ta vẫn đứng ở phần tối của khu vườn, nhưng tôi hơi ngờ ngợ. Thôi đúng rồi, đó là tay nhạc công chơi piano trong ban nhạc. Anh ta trông cũng giống một người phục vụ ở trong ấy, hình như anh ta có mang hai ly champagne cho tôi và chị phụ nữ khi nãy.

    Một nhạc công hải quân kiêm phục vụ ẩm thực? Anh ta là ai nhỉ?

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #2
    CHƯƠNG 2: Life should be beautiful!

    Khuôn viên trường đại học J.H. nơi tôi cần tìm hoành tráng hơn sức tưởng tượng của tôi rất nhiều. Bước lộp cộp trên đôi giày cao gót, tôi lo quá vì đã gần đến giờ phỏng vấn mà vẫn bơ vơ không tìm được nơi cần đến, càng ngao ngán hơn trước viễn cảnh sẽ gặp ông giáo sư nghe nói là cực kỳ khó khăn cáu kỉnh, người sẽ phỏng vấn tôi chiều nay. Bọn sinh viên đi từng tốp cười nói huyên thuyên, thấy tôi lớ ngớ ra vẻ ma mới, một đứa tiến đến, vẻ thân thiện, hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không. Khi thấy tôi chìa ra mảnh giấy ghi tên số hiệu văn phòng, chúng hơi ngớ ra, hỏi tôi đến đấy làm gì. Thì ra, bọn chúng tưởng tôi cũng đi học!

    “Mời vào!”

    Một giọng nói sang sảng từ trong phòng vọng ra, tôi riu ríu, ngần ngại đẩy cửa bước vào. Một phụ nữ da đen trung niên to đậm, bề ngang to chừng gấp ba lần tôi và bề dài cũng cỡ hơn tôi một nửa, hạ cặp kính lão xuống dưới mũi để nhìn tôi cho rõ rồi ra hiệu mời ngồi. Rồi bà lặc lè bước đến mở một cánh cửa khác phía cuối phòng, hơi ngó nghiêng, rồi lại bước ra.

    “Cô Kim vẫn đang họp với giáo sư, nhưng sắp xong rồi. Khi nào xong, cô ấy sẽ ra gặp cô. Cô có cần uống gì không?”
    “Cho tôi xin ly nước ạ, cám ơn bà.”

    Tôi đảo mắt nhìn quanh một lượt khắp phòng. Thật ngạc nhiên. Tôi cứ tưởng văn phòng của ông giáo sư phải hoành tráng lắm, so với bề dày thâm niên kinh nghiệm giảng dạy và nhất là những đóng góp khoa học giá trị của ông. Ngược lại, ông thu mình trong một căn phòng khiêm tốn cuối dãy hành lang hơi tối tăm chật hẹp và vắng vẻ, và theo tôi, không xứng với chức vị và tiếng tăm của ông chút nào. Dù vậy, sau này tôi vẫn thích nơi đây hơn là dãy phòng đẹp đẽ ở sảnh chính, vốn lúc nào cũng đông đúc ồn ào. Kim họp với giáo sư xong thì ra gặp tôi. Cô ta hỏi tôi qua loa vài câu gần như chẳng liên quan gì đến công việc, rồi cho tôi biết đây là công việc tạm thời vài tháng, và hỏi khi nào tôi có thể bắt đầu. Tôi không tin vào tai mình. Người Mỹ tuyển người dễ đến thế sao?

    Hôm sau, tôi chính thức bắt đầu nhận việc. Là người đến sớm nhất, tôi bước vào, mở đèn, kéo rèm cửa sổ, nhìn quanh quất, không biết mình sẽ ngồi ở đâu. Bàn của Kim chất hàng đống giấy tờ, sách vở, vài tờ báo mở hờ hững, một cái bánh ngọt đang ăn dở, ly nước vẫn còn đầy chưa được động đến, máy vi tính vẫn chưa tắt. Tôi hơi bâng khuâng …

    Đó là một ngày thật dài, dài lê thê, ngao ngán, chán chường. Trời đẹp, tôi quyết định không bắt xe bus mà bách bộ về nhà, vừa đi vừa suy nghĩ về cái ngày đầy thảm hại và cả tương lai của tôi ở cái trường này. Té ra, người ta không thuê tôi làm trợ lý giáo sư, một công việc mới nghe qua đã thấy oách xì xằng và đầy quan trọng, mà là làm … trợ lý của trợ lý. Thay vì được mang ô cắp cặp đi theo giáo sư tham dự những buổi thuyết trình quan trọng, được làm việc với những nhà xuất bản đang tranh nhau độc quyền phát hành sách của ông ấy, được tìm tòi nghiên cứu những tài liệu mà ông cần, v.v. và v.v., toàn những công việc quan trọng, tôi đây phải làm những gì thừa thãi mà trợ lý không thích làm, chẳng hạn như đi giao giấy tờ sổ sách cho các phòng ban khác, hoặc ngồi đồng ở máy photocopy hoặc máy in hoặc máy fax khi được yêu cầu. Một sự chuyển giao sẽ có thể xảy ra nếu tôi làm tốt công việc để có thể thay thế Kim về sau này, nhưng đó chẳng phải là một cam kết cụ thể mà chỉ là một hứa hẹn mơ hồ.
    Công viên Wyman mới hôm qua còn đẹp đẽ thêu đầy hoa và ướp đầy nắng vàng, chim chóc ca hát líu lo và trẻ con thì chạy đùa râm ran khắp lối, hôm nay những thứ phù phiếm ấy chẳng còn mảy may tác động vào bất kỳ giác quan nào của tôi nữa. Chỉ có chừng đấy thôi, khi ấy tôi đã thấy tự ái chất cao thành núi. Bệnh sĩ thường không đi đôi với kiên nhẫn, vốn là đức tính cực kỳ quan trọng cho bất cứ sự thành công nào trong đời. Tôi còn nhiều thứ phải học lắm!

    .

    Tôi vẫn chưa có dịp được tiếp xúc trực tiếp với giáo sư Reynolds sau một tuần làm việc. Tính tôi hơi nhát, ngày xưa tôi hầu như chẳng bao giờ chủ động đến chào hỏi hay bắt chuyện với ai mà thường chỉ thích im lặng quan sát mọi người chung quanh, rồi chờ người ta đến bắt chuyện với mình trước. Tôi thích mình được như Kim. Cô rất vui vẻ hoạt bát, miệng lúc nào cũng cười tươi rói, nói chuyện với ai thì luôn làm cho người ấy cảm thấy mình đặc biệt và có hứng trò chuyện lại. Kim là mẫu người thân thiện, luôn niềm nở với bất cứ ai, tôi thích Kim nhưng có điều, suốt ngày tôi gần như phát điên vì tiếng lách cách của đôi gót giày cô nện liên tục trên nền gạch. Cô ta chẳng bao giờ ngồi yên được trên ghế quá mười phút, đó là quan sát đầu tiên của tôi về Kim. Còn về ông Reynolds, tôi hoàn toàn mù tịt. Dù nhát, tôi vẫn luôn mỉm cười xã giao và chào ông mỗi khi nhác thấy ông từ xa, nhưng đáp lại, ông chỉ hơi bạnh môi ra một tí cho giống như ông vừa mỉm cười đáp lại, hoặc có khi ông chỉ khẽ gật đầu, rồi ông, như thường lệ, sẽ đi thẳng vào phòng riêng và đóng cửa rồi ngồi lỳ trong ấy cho đến khi ông phải đi vệ sinh hoặc khi có khách.

    Dù thất vọng với công việc nhưng tôi đã suy nghĩ lại, cố gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực và nhất là cái sĩ hão của một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, nhất lại là đại học "xịn". Tôi chẳng là cái đinh gỉ gì trong cái trường đại học bao la này! Nghĩ đến đấy, tôi biết mình phải học cách vui vẻ với thực tế và tự nhủ, sẽ cố làm tốt công việc của mình, dù tầm thường đến đâu. Rồi tôi sẽ học được nhiều thứ, tôi còn nhiều thứ phải học trong đời lắm!
    Giáo sư Reynolds hơi giật mình khi nghe tiếng gõ cửa và ngước lên, tôi ngần ngại đứng yên chờ ông mở lời. Hôm nay tự dưng ông không đóng cửa phòng như thường lệ, nên tôi thu hết can đảm đến gõ cửa phòng ông để mang cho ông tách cà phê sáng. Ông trân trối nhìn tôi vài giây, rồi nhìn tách cà phê. Tôi nghĩ ông sẽ nói "cám ơn", mặt ông sẽ vui hơn thường lệ một hoặc hai bậc, và có khi, sẽ mời tôi vào và nhờ tôi mang tài liệu đi đâu đó, nhưng đáp lại, ông chỉ nói cộc lốc "Cô có thể đặt cà phê ở cái bàn con này này", rồi ông chỉ vào cái bàn con ở góc phòng, nơi có một bình hoa đã héo và nước bình đã gần bốc mùi. Tôi ngạc nhiên, định hỏi "Tại sao ông không dùng cà phê ngay khi nó còn nóng?" thì ông đã vội nói "Tôi sẽ uống ngay, chỉ vì bàn tôi có nhiều giấy tờ quan trọng, tôi không muốn lỡ tay làm vấy cà phê lên trên ấy". Rồi ông lại chúi mũi vào đám bản thảo giấy tờ trên bàn, có lẽ đã quên khuấy về sự có mặt của tôi. Tôi lén thở dài, bước đến cái bàn con, đặt tách cà phê xuống và tiện tay, cầm luôn cái bình hoa héo mang ra ngoài.

    “Cám ơn cô!”

    Tôi vừa kịp nghe ông nói lời cảm ơn khi đã bước ra khỏi phòng được vài bước.

    “Nhân tiện, phiền cô đóng cửa phòng giúp tôi.”

    Lần này thì không lén thở dài nữa, tôi không kịp che giấu sự chán nản của mình về thái độ lạnh lùng gần như bất lịch sự của ông ấy. Tôi đặt bình hoa đánh cộp xuống cái bàn của mình ở góc phòng (tôi đã có một cái bàn riêng!), rồi quay lại phòng ông, rất muốn đóng sập cửa cho thật mạnh rồi bỏ đi luôn không bao giờ quay trở lại nơi ấy nữa, nhưng có cái gì đó đã ngăn cản tôi và, việc ấy đã không xảy ra. Tôi bắt gặp cái nháy mắt đầy hàm ý của Kim ở góc phòng bên kia. Dường như nó ám chỉ lời nhắn nhủ "Thế giới thực là đây, xin chào!!".

    .

    Trời đã bắt đầu vào thu, lá cây đổi màu vàng cam đỏ trên nền thảm cỏ vẫn còn xanh muợt, tuyệt đẹp như tranh vẽ. Hết giờ làm việc, tôi thường mua một cốc nước táo hầm quế nóng và một cái bánh ngọt ưa thích, rồi ra công viên Wyman ngồi nhâm nhi và ngắm người qua lại, và dĩ nhiên, giương máy ảnh chụp khắp nơi. Đời tôi chưa bao giờ được tận mắt ngắm nhìn cảnh vật hữu tình như thế này. Cuối tuần, tôi cũng ra công viên ăn sáng và đọc sách cho đến khi nào đói thì bách bộ ra cái quán nhỏ gần đấy.

    Tina's cafe là nơi ưa thích của tôi. Quán nhỏ, décor toàn trắng đen và xám, trên bức tường dài giữa quán treo một bức tranh đầy màu sắc, to cỡ 1mx1.2m vẽ hình một nghệ sĩ da đen ôm cây saxophone và nền bức tranh là những ngọn đèn neon đủ màu sắc của đường phố New York. Và dĩ nhiên, quán chơi toàn nhạc jazz, một thể loại nhạc ưa thích của tôi. Những đêm cuối tuần thì có ban nhạc sống nhưng vé rất đắt và phải đặt chỗ trước, và dù tôi rất muốn đến nghe nhạc ở đấy, tôi phải dè dặt tính toán xem mình có đủ tiền không, và nhất là vì tôi chẳng có bạn đi cùng. Và tôi chưa bao giờ đặt chân đến đấy vào đêm cuối tuần.

    Công việc vẫn chẳng có gì mới mẻ, nhưng tôi đã tự dặn lòng rằng ai cũng phải bắt đầu từ nấc thang đầu tiên. Thật kỳ lạ, đúng là "đời thay đổi khi chúng ta thay đổi", tôi nhận thấy mình vui vẻ hơn, ăn mặc đẹp hơn, và trang điểm trở lại. Thậm chí, Kim đã hỏi đùa không biết có phải vì tôi đang yêu hay không! Tôi sắm một đôi giày thấp và mềm mại, vì lúc này tôi phải di chuyển rất nhiều. Tôi tăng cân, nhưng quần áo thì hơi rộng ra, có lẽ phần cân nặng ấy là do tăng cường cơ bắp do đi lại cả ngày. Thật tréo ngoe, Kim ước gì cô ta có thể di chuyển cả ngày như tôi, vì Kim là người rất năng động, trong khi tôi, vốn là người rất ngại va chạm và tiếp xúc, lại đảm nhiệm phần đi lại như con thoi. Thế nên, Kim đề nghị tôi "nhường" một ít việc giao liên và bù lại, tôi sẽ trực điện thoại trong khi cô ta đi vắng.

    Tôi phát hoảng với đề nghị ấy, mặc dù trong thâm tâm, tôi luôn ao ước được làm việc của Kim. Tôi cực ghét việc nói chuyện với người lạ qua điện thoại, ngại nói chuyện trước đám đông, vì tôi vốn là người hướng nội! Nhưng, tôi đã can đảm chấp nhận phi vụ đổi chác đầy quan trọng này. Tôi đã bị sức ỳ tâm lý quá lâu và, nhờ trời, nhờ Kim, tôi đã có được cú huých cần thiết để bắt đầu những chuỗi ngày phiêu lưu kỳ thú khó quên thời tuổi trẻ.
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #3
    CHƯƠNG 3: The French pianist

    "Alô? Làm ơn cho tôi gặp giáo sư Reynolds?"
    Giật mình, tôi không biết mình có nghe lầm không. Người Mỹ phải “hello” chứ sao lại “alô”, hay là ...
    "Cô nhắn ông ấy gọi lại cho tôi nhé. Jacqueline. Merci."
    Tôi chưa kịp hỏi số điện thoại thì bà ấy đã chào tạm biệt rồi cúp máy. Cú điện thoại đầu tiên của tôi!
    Về sau, Kim cười ngất và xin lỗi tôi vì quên dặn tôi rằng giáo sư Reynolds chả bao giờ gọi lại cho ai cả, ngoại trừ vài cái tên mà Kim phải thuộc lòng. Nhưng Kim sẽ không bao giờ biết rằng Jacqueline là một cái tên quan trọng mà giáo sư sẽ luôn gọi lại, dù ông bận rộn đến đâu!
    Jacqueline là một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn, với nước da trắng mịn như sứ, không tỳ vết, không cho người ta đoán nổi tuổi thật của bà. Sở hữu đôi mắt màu nâu sáng, tiệp với màu tóc nâu hạt dẻ búi cao kiểu Pháp, để lộ chiếc gáy trắng ngần và phơi bày chiếc cổ cao và mảnh, dáng đi khoan thai, tự tin và quý phái, bà là người có sức hút thật đặc biệt đối với bất cứ ai.
    Hôm ấy bà đến văn phòng như đã hẹn với giáo sư, nhưng ông vẫn chưa về kịp giờ hẹn. Kim thì nghỉ ốm, tôi đành phải miễn cưỡng tiếp chuyện với bà.
    "Tôi đã nghe nhiều về cô, hôm nay mới có dịp tiếp xúc. Cô thật dễ thương, và ngoài đời cô thân thiện hơn trên điện thoại. Mà có sao đâu, người ta cũng nhận xét y như thế về tôi đấy!"
    "Cám ơn bà. Tôi hy vọng Kim chỉ nói tốt về tôi!"
    Tôi ngần ngại cố nói một câu bông đùa để che bớt sự hồi hộp của mình.
    "Kim? Đâu có. Là từ miệng giáo sư Reynolds ấy chứ! Ông ta toàn nói những lời trìu mến về cô. Thế nên tôi cũng có chút tò mò."
    Tôi suýt buộc miệng hỏi bà có nhầm tôi với người khác không đấy, nhưng rồi thôi. Tôi muốn âm thầm khai thác thêm một chút chi tiết nhưng không biết phải mở lời như thế nào, thì bà đã nói tiếp.
    "Ông ta chẳng bao giờ khen chê gì ai cả, thế nên tôi hơi ngạc nhiên khi thấy ông ta khen cô."
    Rồi bà nhìn quanh quất khắp phòng và nói tiếp, "Mà thật, tôi có cảm giác phòng ốc gọn ghẽ tinh tươm hơn, và tràn đầy ánh sáng. Giáo sư Reynolds cũng có vẻ thân thiện hơn, vui vẻ hơn ..."
    Tôi cố điểm lại trong trí nhớ của mình, liệu có chi tiết nào cho thấy ông Reynolds thân thiện và vui vẻ hơn hồi tôi mới vào, nhưng tôi bó tay, chẳng thể nào tin rằng những gì Jacqueline vừa nói là sự thật, mặc dù tôi không hề nghĩ rằng bà nói dối. Mà bà việc gì phải tâng bốc tôi không cần thiết chứ?!
    "Tôi nghĩ cô đã mang đến luồng sinh khí mới cho văn phòng của ông ấy."
    Vừa nói, bà vừa bước thoăn thoắt đến trước cửa sổ phòng giáo sư Reynolds, liếc vào, rồi quay trở lại, ra vẻ hài lòng. Tôi đang suy nghĩ mình đã làm gì cho luồng sinh khí của văn phòng này thì bà đã nói tiếp.
    "Là hoa từ vườn nhà tôi đấy. Có lẽ cô rất ngạc nhiên khi thấy ông già khô khan ấy luôn mang hoa tươi vào văn phòng? Cám ơn cô đã chăm sóc chúng, trước đây, tôi hơi phật ý khi lần nào đến đây tôi cũng thấy chúng héo úa thảm hại."
    Lần này, không rõ bà ám chỉ giáo sư Reynolds hay Kim? Nên tôi cố nói đỡ cho cả hai.
    "Có lẽ là do ông ấy đi vắng dài ngày và Kim thì không có chìa khoá phòng ông ấy?"
    "Ô là la, tôi chả bận tâm đến lý do!" Bà khoát tay, vui vẻ. "Đằng nào thì hoa cũng đã chết, và ta không thể thay đổi tính khí của ai được cả! C'est la vie!"
    Tôi bắt đầu thấy mến người đàn bà Pháp này. Tôi có cảm giác bà cảm nhận được sự không thoải mái của tôi cách đây vài phút nên đã cố giúp tôi quên nó đi bằng chính sự thoải mái tự nhiên của bà.
    "Cô thuận tay trái à?"
    "Ồ không. Tại sao bà nghĩ thế?"
    "Vì tôi thấy cô đeo đồng hồ bên cổ tay phải, và điện thoại và con chuột máy tính thì đặt bên trái bàn làm việc. Nếu thế thì cô ắt hẳn phải là người thuận cả hai tay?"
    Thật là một sự quan sát thú vị. Tôi giật mình, nghĩ đến khả năng mình thuận hai tay, và có lẽ bà nói đúng. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy, nhưng rõ ràng, ngoài việc cầm viết và đũa bằng tay phải ra thì tôi tuần tự dùng cả hai tay cho những việc còn lại mà không nghĩ ngợi gì nhiều. Nhớ cả hồi còn nhỏ, chơi nhảy dây, tôi cũng nhảy ngược chân với đa số các bạn. Đạp xe, tôi cũng bắt đầu khi thì chân trái, lúc chân phải, cứ chân nào rảnh thì dùng thôi.
    "Cô có chơi dương cầm không? Người thuận hai tay sẽ có nhiều lợi thế lắm đấy."
    Khi tôi cho bà biết là tôi không biết chơi dương cầm nhưng đó là ước mơ, là khát khao của tôi từ tấm bé, thì bà sốt sắng, "Cô có muốn học không? Tôi từng dạy dương cầm và đang rảnh, tôi rất sẵn lòng dạy cho cô!"
    Tôi không tin vào tai mình, nhưng lòng thì lâng lâng vui sướng, một niềm hạnh phúc khó tả tràn ngập, đổ xô vào dòng cảm xúc đang nhào lộn tưng bừng trong tôi. Có thật không? Từ hồi bé, tôi đã có khả năng thẩm âm rất tốt. Hễ thấy bất cứ loại đàn nào là tôi phải thử, dù không biết nhạc lý nhưng cứ thử rồi ghi nhớ vị trí các nốt và "chơi" một đoạn bài hát mà tôi thích. Hồi đó mẹ tôi có cô học trò, chị học may và ở nhờ nhà tôi một thời gian. Bạn trai chị ấy cũng là thầy dạy tiếng Anh đầu tiên của tôi hồi tôi chín tuổi, anh chơi đàn guitar và khuyến khích tôi thử, thế là tôi thử. Sau một tuần thì đầu các ngón tay đau và tê buốt, bầm dập, thế là tôi lơ là với guitar. Nhưng với dương cầm thì không hề. Niềm đam mê học dương cầm vẫn còn ấp ủ trong tôi, chỉ bị tạm quên khi tôi phải bận rộn với những lo toan khác của một đứa con nhà nghèo, và rồi những kỳ thi, những biến cố gia đình ...
    Tôi chấp nhận lời mời hấp dẫn của bà không chút do dự hay khách sáo. Không nhớ mình đã nói những gì sau đó, nhưng dường như tôi có nói "Khi nào thì ta có thể bắt đầu, thưa bà?".
    "Ngay chiều nay, nếu cô muốn!" Jacqueline dịu dàng mỉm cười.
    .
    Đón tôi tại cổng là một gương mặt không mấy thiện cảm. Cô nàng mang hàm răng hô với chiếc cằm độn nhiều lớp che mất chiếc cổ to bè đặt trên thân hình đẫy đà chắc nịch như một bao tải gạo vừa bị thả phịch xuống đất. Tôi luống cuống, không biết phải làm gì thì cô ả lại càng chằm chằm nhìn tôi có vẻ hằn học khó chịu hơn. Về sau, tôi được biết cô tên là Daisy, con chó bulldog to bè lúc này vẫn gầm gừ quan sát tôi từ bên kia chiếc cổng sắt. Vừa may, Jacqueline kịp đi ra giải cứu tôi, trên tay bà vẫn còn đeo găng làm vườn và chân mang đôi ủng đi mưa đầy họa tiết sặc sỡ.
    “Xin lỗi cô nhé, tôi thường giữ Daisy trong cũi mỗi khi có khách lạ đến nhà nhưng hôm nay mải mê làm vườn nên tôi quên mất việc ấy. Suỵt, Daisy, im nào! Cô ả chỉ giả bộ thị uy với người mới đến nhà lần đầu thôi, nhưng nếu cô cho ả liếm tay và chơi với ả thì cô sẽ trở thành thượng khách trong những lần sau đấy!”
    Tôi buồn cười nhìn gương mặt của Daisy, nó làm tôi nhớ đến con chó bulldog trong phim hoạt họa Tom và Jerry, dáng cũng gồ ghề to bè và gương mặt thì như vừa bị Mike Tyson đấm cho một phát chí mạng khiến nó bẹp dúm và răng môi lẫn lộn như thế. Nghĩ đến vụ “răng môi lẫn lộn” thì tôi không nhịn được cười, không thể tìm từ nào tả đúng hơn sắc đẹp của Daisy!
    Buổi học dương cầm đầu tiên của tôi diễn ra êm ả. Jacqualine là người thực tế, bà dắt tôi đến ngay chiếc tiểu dương cầm (baby grand) đặt chễm chệ ngay giữa tiền sảnh, gọi tên những chi tiết của chiếc đàn để tôi làm quen với các khái niệm căn bản, dạy tôi tư thế ngồi với lưng thẳng và hai bàn chân đặt phẳng trong khi hai chân tạo thành góc vuông trên nền nhà, vai thả lỏng, v.v. Tôi lắng nghe không sót một chi tiết, lòng hồi hộp bồn chồn, chỉ mong được sớm chạm tay vào những phím đàn tinh tế ấy.
    “Cô là người đầu tiên đến đây học đàn mà không cần chỉnh ghế ngồi cho vừa tầm đấy. Học trò của tôi nếu là trẻ con thì tôi phải nâng ghế lên, và nếu là người lớn thì tôi lại hạ thấp xuống.”
    Tôi đang suy nghĩ xem ý bà đang nói gì, thì chợt hiểu ra. Tôi và Jacqueline có chiều cao tương đương nhau, và bà thích thú với điều ấy vì bà là người nhỏ nhắn, ít khi nào gặp được ai cũng bé như mình. Vậy là mình vừa ghi điểm với cô giáo … tôi tự nhủ, lòng vui vui.
    Tối hôm ấy, việc đầu tiên tôi làm khi vừa về đến nhà là cắt trụi móng tay đi. Mặc dù Jacqueline tế nhị không đề cập đến việc ấy nhưng khi bà nhắc đi nhắc lại là phải cúp bàn tay lại khi đàn và chạm phím đàn bằng đầu móng, thì tôi hiểu lời bà nói. Thảo nào tôi thấy móng tay bà rất ngắn, và không sơn sửa gì cả. Sau giờ học, bà mời tôi đi một vòng tham quan khu vườn hoa tuyệt đẹp do chính tay bà chăm sóc, rồi ngồi ăn bánh uống trà ngoài đấy và cuối cùng bà cắt tặng tôi một bó hoa đủ thể loại để mang về.
    Hôm ấy trời se lạnh nhưng vẫn còn nắng, cảnh vật êm đềm, lại vừa được ăn bánh uống trà trong khung cảnh kỳ hoa dị thảo sau khi vừa được học đàn dương cầm lần đầu tiên trong đời, tôi như người lên chín tầng mây, về đến trước cửa nhà vẫn còn ngẩn ngơ như vừa trải qua một giấc mộng đẹp. Đóa hoa Jacqueline vừa tặng quá đẹp, nhưng tôi chẳng có cái bình hoa nào cả, thế là tôi vơ lấy viên phấn, viết vội “bình hoa” lên tấm bảng đen trong bếp làm danh sách đi chợ cho ngày hôm sau.
    .
    Càng qua lại nhiều với Jacqueline, tôi càng cảm thấy nghẹt thở vì bà am hiểu nhiều thứ quá, mà bà lại rất thích trò chuyện mới chết đứa lơ ngơ như tôi. Chưa kể, thi thoảng bà còn hay mời tôi đi ăn trưa ăn tối, tiệc tùng linh tinh với hội bạn cầm kỳ thi họa vốn cũng rất ưa thích tranh luận, triết lý, đậm chất Pháp, như bà! Khổ thân tôi, vừa mới chân ướt chân ráo ra khỏi mái trường xã hội chủ nghĩa, thầy cô nói gì mình gật nấy, giờ phải tham gia với hội này, tôi cảm giác mình như đang rơi tự do cái toẹt xuống một môi trường nơi người ta cực thích tranh luận và bảo vệ quan điểm của mình đến mức sống chết như nơi đây. Thế là, trong những chuyến đi ra thư viện lấy sách cho sếp, tôi lại nhét túi thêm sách cho riêng mình. Ban đầu chỉ là sách về nhạc lý, vài cuốn tiểu thuyết kinh điển, cho đến lịch sử âm nhạc, sau nâng cấp lên một chút sang hội họa, tiểu sử của mấy ông già nổi tiếng trong lĩnh vực này. Bà thủ thư bắt đầu để ý khi thấy tôi cứ mượn hàng đống sách dày, và chỉ trong một tuần là đã mang sách đi trả. Kỳ thực, tôi làm sao đọc cho hết đám sách khô khan ấy! Tôi chỉ đọc tiểu thuyết thôi, để mơ mộng, chìm đắm, và giữa những lần cao trào của cảm xúc, tôi lại lôi mấy quyển sách chết tiệt kia ra mà ghi chép lại tên sách và tên tác giả, vài chi tiết trong phần giới thiệu sách, rồi quẳng chúng sang một bên và tiếp tục phiêu du vào thế giới huyền ảo của những tiểu thư, công tử quý tộc châu Âu cách đây vài thế kỷ. Tôi đang học để đối phó, và tôi cực ghét chuyện này, nó khiến tôi muốn nôn mửa. Ngặt nỗi, Jacqueline lại thường tỏ ra ngạc nhiên thích thú khi thấy tôi biết cái này cái kia, và tôi thì thường chỉ góp vài câu khi bắt buộc phải thế, chứ đa phần thời gian, tôi nhường cho những người thích nói kia được làm cái việc họ thích. Tôi lắng nghe, cũng là một cách để học hỏi.
    Và tôi bắt đầu chán cái nếp sống giả tạo này, nhưng không biết phải thoát ra khỏi nó bằng cách nào, cho đến một hôm …
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #4
    CHƯƠNG 4: The tough choice and the mysterious man


    “Hai tuần sau tôi có hội thảo ở Boston, Kim bận việc nhà nên không đi được, cô có thích đi cùng không?”
    Tôi vừa nghe qua đã mừng rú lên, nhưng một chút mặc cảm vẫn len lỏi vào đầu. Đây không phải là thành tích cá nhân, mà là ân huệ tôi được ban phát, như thứ đồ ăn thừa thay vì vứt đi uổng phí thì người ta lại chiếu cố đến tôi. Đúng là cảm giác tự ti pha lẫn kiêu hãnh cố hữu của người nghèo, tôi thoáng nghĩ và cảm thấy mình thật vô duyên. Đang phân vân chưa kịp trả lời là “Dạ có, tôi thích đến chết đi được”, thì tôi chợt nhớ ra Jacqueline cũng có một buổi hòa nhạc vào cùng thời điểm ấy. Nếu không quen Jacqueline, có lẽ tôi đã tức tốc sắp xếp hành lý ngay vào đêm nay và đếm từng ngày cho đến lúc tôi đáp máy bay đi Boston, nhưng dạo này âm nhạc đã chiếm lĩnh trọn hồn tôi và tất cả mọi thứ còn lại bỗng trở nên thứ yếu, bao gồm cả mơ ước được làm việc như Kim ngày nào. Nhưng cơ hội được đi chơi miễn phí (tôi đã ngây thơ nghĩ như thế) này cũng có sức nặng vô cùng lớn, đang giằng xé sự so đo cân nhắc của tôi, và tôi vẫn đứng trơ ra không thể có câu trả lời chính thức.
    Như đọc được ý nghĩ ấy của tôi, giáo sư Reynolds tiếp lời. “Tôi biết là Jacqueline cũng có một buổi hòa nhạc với thành phố trong hai tuần tới, và tôi biết cô rất muốn tham dự. Sống là phải chọn lựa đúng không?” Rồi ông mỉm cười, vụ ấy làm tôi choáng sắp ngất!
    “Nhưng cô phải nhìn vào mặt tích cực của vấn đề. Khi cuộc sống đưa ta đến chỗ phải lựa chọn, nếu cả hai lựa chọn đều tốt, chằng phải đó là điều may mắn hay sao? Tính tham là căn nguyên của nỗi khổ con người, chắc cô cũng rõ giáo lý Đông phương này! Cô không cần phải trả lời ngay bây giờ, cứ suy nghĩ trong đêm nay rồi sáng mai hãy cho tôi câu trả lời chính thức.”
    Tôi vẫn cảm giác như hồn xiêu phách lạc, không biết ông giáo sư lạnh lùng này có bị ma nhập hay không. Thứ nhất là ông ta mỉm cười rất thật, rất tình cảm, thứ hai là chỉ trong vòng vài phút, ông ta đã nói một hơi thật dài, bằng tổng cộng những gì ông sẽ nói với tôi trong gần một tháng. Và toàn là những lời thân mật sâu sắc, như cách một người cha đang khuyên nhủ cô con gái của mình. Hay của người đi trước, từng trải, với một người trẻ con nông nổi.
    “Cám ơn giáo sư, ông thật tốt với tôi.”
    Đó là toàn bộ những lời tôi có thể thốt ra vào lúc ấy. Có gì đó khó tả đang diễn ra trong lòng, tôi cũng chẳng biết gọi tên nó là gì. Cảm động? Sốc? Biết ơn? Tôi muốn nói nhiều hơn, để bày tỏ cảm xúc của mình, để cho ông ấy biết tôi biết ơn vì ông đã nói những lời quan tâm đầy chân thành ấy. Nhưng cơ hội đã vụt qua, ông vừa ngồi xuống bên bàn làm việc, và tôi biết trong tích tắc ông đã ở trong một thế giới khác. Tôi hiểu ông nhiều đến thế ư?!
    Hít một hơi thật dài, tôi lẳng lặng đi ra, cảm thấy không cần chào tạm biệt. Lúc đang lúi húi dọn dẹp bàn làm việc và tắt máy tính, tôi cảm nhận có ai đang ở sau lưng mình. Ông Reynolds đã lặng lẽ đứng đó tự bao giờ, tôi cũng chẳng rõ, vì lưng tôi quay lại với cửa phòng ông. Tôi giật mình, nhìn trân trối vào gương mặt khắc khổ quen thuộc ấy, sao hôm nay có gì đó hơi khác lạ. Đôi mắt ấy như long lanh hơn, sáng hơn, các nếp nhăn như cũng giãn nở ra hơn, tôi cảm nhận được một sự ấm áp len lỏi giữa hai chúng tôi lúc ấy. Ông hắng giọng, vẻ bối rối, đầu các ngón tay chập vào nhau, giống như khi ông đang thuyết trình và gặp phải một câu hỏi khó từ phía thính giả.
    “Tôi có nghe nói là cô đang học đàn với Jacqueline?”
    “Dạ phải.”
    “Mọi việc thế nào?”
    “Dạ, cũng ổn.”

    “Cô có thể tập đàn ở bên khoa thanh nhạc sau giờ hành chính, nếu muốn. Tôi đã nói chuyện với bên ấy và họ bảo không thành vấn đề.”
    “Ôi, cám ơn ông, vô cùng!” (tôi suýt hét lên vì vui sướng!)

    “Và này …”
    “Vâng ạ?”
    “Có lẽ cô cũng nhận thấy tôi không phải là một người dễ mến …”
    “Ồ không đâu …” Tôi cố gắng chống chế một cách yếu ớt, vì tôi nói không thật lòng!
    “Nhưng sự thật là như thế! Tuy nhiên cũng có một số người rất quý tôi, vì họ hiểu tôi. Tôi không phải là kẻ dẻo miệng biết cách làm hài lòng người khác, và tôi cũng không muốn làm thế nếu có năng khiếu ấy … Điều tôi muốn nói ở đây là, tôi chẳng hề cố gắng gây ấn tượng với bất cứ ai. Một khi người ta thấy được thực tướng dù không hoàn hảo của mình và vẫn quý mến mình, đó là khi ta bắt đầu tìm thấy tri kỷ.”
    “??”
    Rồi, chẳng chút che đậy, ông liếc nhìn chồng sách dày cộp mà tôi đã cố ý để dưới gầm bàn và mỉm cười, nét mặt thật đôn hậu. Tôi xấu hổ, né tránh cái nhìn của ông. Thì ra dạo này ông đã không bỏ sót bất cứ hành tung bí ẩn nào của tôi, và tôi thì vẫn vô tư xem ông như “ông già khó tính” vốn chẳng bao giờ thèm để ý đến chuyện gì khác ngoài những gì nằm trên bàn làm việc và trong cặp của mình. Và ông cũng đã âm thầm quan tâm đến tôi? Chợt nhớ lại những điều Jacqueline đã kể cho tôi dạo nào, có lẽ đúng là ông ấy đánh giá tôi ở một bậc khác cao hơn mà tôi không biết. Đúng là tôi cũng đã cố gắng tạo tình cảm thân thiện và để ý xem ông có ưu ái tôi hơn hồi mới vào hay không, nhưng tuyệt nhiên không hề có một chút dấu hiệu nào chứng tỏ ông có mảy may nào quan tâm đến tôi cả. Nhưng tại sao ông có thể khéo che đậy cảm xúc của mình đến thế? Cảm xúc? Tại sao phải che đậy? Hay là ông ta có … gì với tôi?
    Nghĩ đến đó, tôi đỏ mặt và nổi gai ốc. Kim đã về sớm vì không khỏe, và trong văn phòng chỉ còn lại hai người. Quả thực, đây là lần đầu tiên ông nói nhiều với tôi đến thế, và toàn là những điều thân mật cá nhân vượt ngoài phạm vi giới hạn của quan hệ công việc. Tôi có đi ăn trưa với ông vài lần, nhưng là đi với vài người khác nữa, và tôi chẳng bao giờ ngồi gần ông, trò chuyện gì với ông cả. Tính tôi vốn nhát còn ông thì luôn lạnh như băng, thế nên trong vô thức tôi thường hay lảng tránh ông. Bất giác, tôi bước thụt lùi lại hai bước, mặc dù khi ấy giữa ông và tôi vẫn là một khoảng cách khá an toàn. Dường như ông cảm nhận được sự bất an của tôi.
    “Thôi cô về nhà đi, cũng đã muộn rồi.”
    Rồi ông thoăn thoắt bước về phòng riêng, đóng cửa lại. Tôi có cảm giác ông đang chạy trốn, nhưng nó vẫn rất hợp với tính cách của ông mà tôi đã quen thuộc. Kim đã từng bảo tôi rằng ông ta thuộc tuýp người “socially awkward”, tức là những người hơi bất thường trong xã giao, mà không nhất thiết là xấu. Chỉ là hơi bất thường. Thế là thế nào? Hôm nay ông giảng đạo cho tôi một tràng, lại tâm sự chuyện riêng tư, trong khi ngày thường ông như một pháo đài lạnh cóng chẳng ai có thể thâm nhập được? Có lẽ chỉ đơn giản là ông có quý mến tôi. Hoặc giả, ông thương hại cho cái đứa lơ ngơ lóng ngóng như tôi cũng không chừng, chứ quý mến vì cái gì thì tôi cũng không thể rõ được. Tôi chẳng phải cá nhân xuất sắc mà lại thường lặng lẽ như cái bóng trong văn phòng, đặc biệt từ dạo học đàn với Jacqueline thì tôi cứ ngày ngày nôn nóng cho hết giờ làm việc để được tập đàn hoặc về nhà ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ hoặc có khi hứng chí, leo cửa sổ ra nóc nhà mà đọc truyện.
    Tôi rón rén cho chồng sách dầy vào cái túi to khủng vừa tậu được ở chợ trời vào tuần trước, rồi lẳng lặng bước ra trạm xe bus. Những lúc tâm tư ngổn ngang xáo động, tôi rất thích được bách bộ, nhưng hôm nay tôi đang quảy một gánh sách nặng nề, không thể không đi bus. Gánh nặng! Thật là một so sánh ẩn dụ thú vị. Tôi quả đang bị gánh nặng của chồng sách này khiến mình không thể làm việc mình thích, là đi bộ qua công viên. Chính là gánh nặng của nhu cầu tăng cường kiến thức mà tôi cứ luôn trong tâm trạng bất an, lo sợ người ta đánh giá mình là ngu si lạc hậu. Nhưng rốt cuộc, trong cái đám người vốn luôn rất bận rộn lo nghĩ về những điều cao xa để thể hiện mình trong đám đông, có mấy ai quan tâm đến việc tôi là ai và tôi thông minh hay ngu dốt?
    Giờ tan tầm, giao thông dầy đặc, xe bus cũng vì thế chạy chầm chậm ngang công viên Wyman, tôi ngơ ngẩn nhìn những cành cây bắt đầu trụi lá, và thảm lá vàng ngày nào bây giờ đã chuyển sang nâu sồng, khô khan, già úa. Mùa đông đang đến gần. Bên kia công viên là khu nhà của Jacqueline, hôm nay vì lá cây đã rơi rụng gần hết nên tôi có thể nhìn tổng thể khu nhà ấy từ xe bus trên cao. Vài nhà đã sáng đèn, mặc dù trời chỉ vừa chập choạng còn hơi sáng. Tôi thoáng thấy hai người, một nam một nữ, đang bách bộ trong công viên. Chính là Jacqueline! Bà ấy mặc váy len đen dài chấm đất, tóc vẫn luôn búi cao thanh nhã như thường lệ, người đàn ông đi cùng thì mặc quân phục sĩ quan, và rất cao. Họ đang rất ung dung nhàn hạ, trò chuyện vui vẻ. Chốc chốc Jacqueline lại âu yếm vòng tay vào cánh tay anh chàng kia, hoặc anh kia cũng thi thoảng ôm vai Jacqualine rất thoải mái. So ra thì tuổi tác của họ khá chênh lệch, sự thân mật hơi bất thường ấy của họ khiến tôi cứ phân vân.
    Về đến nhà, trời đã nhá nhem tối. Tôi ở căn hộ mãi ở tầng trên cùng, tầng ba, nên phải leo cầu thang hai vòng mới đến nơi. Hôm nay lại phải quảy cái túi sách nặng cỡ chục cân trong khi bụng đang đánh trống và sôi sùng sục, tôi thở hổn hển, thả phịch túi sách xuống sàn trong khi tay thò vào giỏ tìm chìa khóa. Cả buổi chiều ngồi trên bus, kẹt xe hơn ba mươi phút, trong khi nếu đi bộ thì sẽ không quá mười lăm phút, đầu óc tôi không thể nghĩ gì khác hơn ngoài cuộc đối thoại kỳ quặc với giáo sư Reynolds trước đó. Rồi hình ảnh Jacqueline tay trong tay với một người trai trẻ ở công viên Wyman cũng khiến tôi hơi xáo trộn. Kim thì dạo này cứ cách vài ngày là nghỉ ốm. Rốt cuộc, chuyện gì đang xảy ra với những người chung quanh tôi thế này?
    Vì trời đã bắt đầu trở lạnh nên tôi không thể ngồi ở bậu cửa sổ như mọi khi mà phải đóng cửa sổ lại và bật sưởi. Thời tiết ở đây thật bất thường, một ngày có đủ bốn mùa, thật lạ. Buổi sáng là mùa xuân, trời mát; đến trưa là hè, hơi nóng; chiều chạng vạng là mùa thu, se lạnh; và đêm đến sẽ là mùa đông, lạnh cóng. Mệt mỏi, tôi ăn vội tô mì gói vừa nấu, đi tắm, pha cốc trà thảo mộc rồi leo lên giường, nhìn đống sách vừa mang về mà ngán ngẩm, trong đầu cứ âm vang những lời giáo sư Reynolds vừa nói khi nãy.
    “Tôi không phải cố gắng gây ấn tượng với bất cứ ai”.
    Nhưng ông ta ở vị trí khác, cao chất ngất, nên ông ta mới ngạo nghễ nói được câu đó. Còn tôi, ở hiện tại, liệu có đủ dũng cảm phát biểu như thế không? Mà kỳ thực, tôi chẳng hề có ý định gây ấn tượng cá nhân gì với ai cả. Đơn giản là tôi chỉ muốn mình hiểu những gì người ta đang nói, và để tham gia những cuộc trò chuyện như thế buộc tôi phải biết cái gì đó. Nhưng rốt cuộc, phía sau những cuộc trò chuyện này là gì? Có lợi lộc gì cho ai? Một đám trí thức gặp nhau tán gẫu, đấu láo, khi tan hàng thì ai cũng có cuộc sống riêng tư phải lo toan, có mấy ai còn vướng bận về việc của những người khác?
    Tôi giật mình. Thời gian này đúng là tôi cực kỳ xao lãng trong công việc, mà đây mới là điều có thật và có một tầm quan trọng nào đó trong cuộc sống của tôi. Giả sử, tôi lơ ngơ mù tịt không biết gì về thời Phục Hưng Châu Âu, họa sĩ nào theo trường phái ấn tượng, họa sĩ nào theo trường phái trừu tượng, ai đã sưu tập đa số các tác phẩm của họ, v.v. thì giá trị của tôi có vì thế mà sút giảm đi không? Hoặc sự kiện nhà văn lừng lẫy tiếng tăm Hemingway đã sống một thời gian ở Paris, đã làm gì, đã quen với danh họa Picasso tại đấy hay những người nổi tiếng nào khác, nếu tôi rành rọt mọi việc đến chân tơ kẽ tóc hoặc vui vẻ không biết gì cả, thì trái đất có vì thế mà ngừng quay không?
    Càng nghĩ, tôi càng thấy mọi việc trở nên sáng tỏ. Tôi rất thích Jacqueline và hội bạn của bà, nhưng có lẽ tôi không thuộc về thế giới ấy. Bản chất sinh hoạt của họ, thực ra một phần cũng là do bệnh nghề nghiệp. Đa số họ làm công tác giảng dạy, khảo cứu, biểu diễn, thế nên họ thích trao đổi, tranh luận, đó là lẽ đương nhiên vì đó thuộc chuyên môn của họ. Có thể họ cũng chẳng có nhu cầu phải chứng tỏ bản thân như tôi đã nghĩ mà đơn giản, họ thích làm những việc đó, như một thú tiêu khiển, thế thôi. Và nếu họ thích tranh luận, họ cứ làm điều mình thích, tôi không thích tranh luận, thì tôi không phải tham gia. Ai cũng có quyền sống theo bản chất và sở thích của mình, đây lại là xứ sở của tự do, như người Mỹ vẫn thường luôn tự hào về đất nước của mình, cớ sao tôi lại tự đặt gông cùm vào người rồi mệt mỏi vì nó?
    Đêm nay trăng sáng vằng vặc, bầu trời đêm trong vắt không một gợn mây. Tôi vui vẻ vớ lấy cuốn nhạc lý, ôn lại các ký hiệu nhạc, rồi với tay bật radio để nghe những bản giao hưởng đặc biệt về đêm. Hôm nay không có nhạc, mà lại có opera. “Le mariage de Figaro”, một vở opera kinh điển do thiên tài âm nhạc Mozart biên soạn. Phần overture thật dài, thật hoành tráng, tôi nghe mà sởn gai ốc, cảm giác lâng lâng như đang trôi nổi trong biển nhạc phản chiếu ánh trăng bạc ngoài kia. Lũ chim vốn thường tụ tập làm tổ và ríu rít suốt ngày trên cây sồi cạnh khung cửa sổ kia giờ đã bỏ đi đâu hết. Gió cũng như ngừng thổi, xe cộ thưa thớt rồi vắng hẳn. Không gian lúc này thật tịch mịch, tĩnh lặng gần như tuyệt đối, thế giới hiện tại hoàn toàn trống vắng, chỉ còn có tôi và Mozart và những đợt sóng nhạc hòa quyện cùng ánh trăng huyền ảo ngoài kia, cuộn trào miên man từng đợt, đổ xô, mời gọi, rộn rã. Nhạc của Mozart là thế, luôn làm cho người nghe phải rạo rực, bứt rứt không yên, mạnh mẽ nhưng lại du dương, trầm bổng, cảm giác cứ như đang phiêu lãng đâu đó trên những tầng mây tít tắp.
    Rồi ký ức những ngày thơ lại ùa về, với những buổi trưa vắng buồn chán chỉ có chiếc radio cũ kỹ làm bạn cùng những concerto cổ điển, hoặc thi thoảng những vở opera mà nghe chẳng hiểu gì ráo! Bây giờ tôi nghe vẫn chẳng hiểu gì, nhưng sự cảm thụ âm nhạc lại ở một cấp độ hoàn toàn mới … Mắt tôi díu lại, không gì cưỡng lại được cơn buồn ngủ đang ập đến. Tôi thiếp đi giữa những cao trào của vở diễn, trong mơ lại thấy mình đang ở nhà hát, mặc trang phục của người châu Âu thời Mozart, nhưng tôi lại không tài nào thấy được mặt của hai người bạn đi cùng lúc ấy. Mãi rất lâu về sau này, khi xem phim “Amadeus”, tôi bàng hoàng thấy cảnh tượng trong nhà hát khi đang diễn vở này sao rất giống giấc mơ đêm ấy, sống động đến từng chi tiết nhỏ. Phải chăng đó là tiền kiếp của tôi? Một dạng déjà vu thật khó diễn giải?
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #5
    CHƯƠNG 5: Is it me you're looking for?


    Đêm xuống, tiệc Giáng Sinh tại phủ thống đốc bang cũng mở màn. Rượu bắt đầu chảy, nến thơm hương vanilla và quế phảng phất khắp phòng, tiếng nói tiếng cười râm ran, và ban nhạc thính phòng của hải quân cũng bắt đầu tấu lên vài bài nhạc nền Giáng Sinh. Nhìn quanh quất chẳng thấy người quen, cũng chẳng ai để ý đến tôi. Tốt, tôi tự nhủ. Làm khán giả thích hơn làm hơn diễn viên chính, lúc nào cũng bị áp lực dưới đèn chiếu, bị nhòm ngó, bị soi mói đến tận cùng những ý nghĩ thầm kín. Làm khán giả, tôi được tự do gần như tuyệt đối. Và tôi thích cái ý nghĩ ấy.

    Đôi giày cao gót màu cam đất bắt đầu hoạnh họe đôi chân đáng thương của tôi, có lẽ vì chúng bị bỏ bê quá lâu không được đụng đến nên giờ đây đang hờn trách tôi chăng? Tôi lặng lẽ mỉm cười bâng quơ …
    I’m dreaming of a white Christmas … just like the one I used to know …

    Tôi nhép miệng hát theo người nhạc công đang đánh đàn piano một mình trên bục sân khấu. Ly vang đỏ bắt đầu làm họng tôi nóng ran, tan chảy hết những buốt giá trong lời bài hát. Cả phòng tiệc bỗng ồ lên phấn khích, tôi đưa mắt nhìn quanh không biết việc gì đang xảy ra. “Tuyết bắt đầu rơi! A, bài hát có hiệu ứng rồi, tuyệt vời!” – giọng một ai đó mừng rỡ vang lên như trả lời câu hỏi của tôi.

    “May your days be merry and bright … and may all your Christmases be white …”

    Ban nhạc bắt đầu chuyển sang những giai điệu hùng tráng của quân đội, ồn ào hơn, náo nhiệt hơn, khách mời cũng phải gào to hơn vào tai nhau, buổi tiệc đang đến cao trào. Tôi hơi nhức đầu, đôi chân cũng bắt đầu tê dại vì đôi giày hay quấy phá kia. Những gì chị phụ nữ đang trò chuyện cùng tôi đang nói, tôi hầu như không thể lĩnh hội được nữa. Đầu cứ choáng váng, mắt hơi hoa lên, tim đập loạn xạ. Đừng, đừng, tôi tự nhủ với chính mình, không được xảy ra vào lúc này nhé, nơi đây không có chỗ để nằm nghỉ như ở nhà bạn trong lần tiệc tùng nọ đâu nhé.

    Rồi chị ấy cáo từ để đi gặp vài vị khách đặc biệt nào đó, tôi mừng rơn, lảo đảo lẻn ra ngoài. Hơi lạnh cuối năm phả vào mặt, vào tay và nhất là vào đôi chân lạnh cóng. Rùng mình. Mặc kệ, tôi cần tí không khí của tự do, của riêng tôi. Gió mơn man thấm đẫm vào từng hơi thở, mang theo hương vị quế, hồi, vanilla của đêm Giáng Sinh quyện cùng hương gỗ mục và nhựa thông mộc mạc. Tôi nhắm mắt, hít một hơi thật dài …

    “Nhắm mắt trong khi đang chóng mặt và chót vót trên giày cao có thể bị ngã đấy!”
    “???”
    “Xin chào, tôi là B.”
    Một phút im lặng chết chóc.
    “Cám ơn anh đã cảnh báo! Tôi rất ổn.”
    “Có thật không đấy?”
    “!!!”
    “Xin lỗi, tôi không có ý định làm phiền. Chào em!”

    Người đàn ông trong bộ quân phục hải quân trắng muốt, lưng quay về phía ánh đèn giở nón ra, hơi nghiêng mình, rồi quay lưng bước về phía khu nhà tiệc. Được vài bước, anh ta dừng lại.

    “Em không có ý định giữ tôi lại à?”
    “Tại sao tôi lại phải níu kéo kẻ phá rối nhỉ? Đùa thôi, anh không phải đi nếu không thích.”
    “Nhưng em có thích tôi ở lại không?”

    “Im lặng nghĩa là đồng ý?”
    “Tôi vẫn chưa nhìn thấy mặt anh, kẻ phá rối ạ.”

    Tự nãy giờ, anh ta vẫn đứng ở phần tối của khu vườn, nhưng tôi hơi ngờ ngợ. Thôi đúng rồi, đó là tay nhạc công chơi piano trong ban nhạc. Anh ta trông cũng giống một người phục vụ ở trong ấy, hình như anh ta có mang hai ly champagne cho tôi và chị phụ nữ khi nãy.

    Một nhạc công hải quân kiêm phục vụ ẩm thực? Anh ta là ai nhỉ?


    “Ngoài trời lạnh quá, em ra đây làm gì?”
    “Thế còn anh thì sao? Anh ra đây để làm gì?”

    Anh ta mỉm cười không trả lời.

    “Thật ra tôi muốn cảm ơn em vì em là người duy nhất đã chiếu cố đến âm nhạc của tôi khi nãy!”
    “Anh có nói quá không đấy? Mọi người ai cũng vỗ tay tán thưởng mỗi khi anh và ban nhạc trình diễn xong một nhạc phẩm cơ mà?”
    “Nhưng đâu có ai nhép môi hát theo tôi đâu? Mọi người chỉ cố tranh thủ gây ấn tượng tốt với người đối diện, họ chỉ chợt tỉnh khi nhạc vừa dứt, rồi như cái máy, họ cứ vỗ tay chiếu lệ thôi!”

    Anh ta lại mỉm cười, đôi mắt nhìn tôi dò xét, còn tôi hơi phân vân. Tại sao anh ta biết tôi hát theo nhỉ? Kể ra, nơi tôi đứng khi nãy cũng không quá xa sân khấu, nhưng tôi chủ động chọn một góc hơi khuất, thế mà anh ta cũng nhìn thấy tôi à? Rồi anh ta đổi đề tài.

    “Bạn đi cùng của em đâu rồi?”
    “Ơ, ông ta không phải … bạn tôi!”
    “Tôi đâu có ý đó!” Anh ta hơi mím môi, có vẻ như cố nhịn cười, rồi định nói gì đấy, nhưng thôi.

    Một cơn gió thoảng nhẹ, mang theo một ít tuyết đang rơi lả tả hắt vào người, tôi gần như run bắn lên vì lạnh. Mặc dù nơi chúng tôi đứng có mái che nhưng thi thoảng vẫn có một ít tuyết bắn vào những lúc gió thổi mạnh.

    “Ta nên vào trong thôi. Tôi thì không sao, nhưng trông em nhợt nhạt lắm rồi, không khéo lại bị cảm lạnh đấy.”

    Mặc dù chẳng muốn tí nào, nhưng tôi không thể ở ngoài đấy thêm một tích tắc nào nữa. Tôi tò mò về anh ta quá, có bao nhiêu thắc mắc chưa được giải đáp. Nhưng vừa nhấc chân lên, bàn chân tôi đau điếng, phần vì đôi giày chết tiệt kia, phần vì đứng lâu và lạnh quá, chúng như bị đóng băng và tê dại, tôi có cảm giác chúng sẽ vỡ vụn ra mất. Thấy tôi tần ngần, anh ta như hiểu ý, bước đến gần, gập cánh tay phải và vòng về phía tôi:
    “Có vẻ như em cần được giúp đỡ, phải không?”

    Tôi hơi ngại, nhưng trong hoàn cảnh này như người chết đuối vớ được phao, tôi quắp luôn cánh tay cứng cáp của anh ta để đi vào trong đại sảnh, cố gắng hết sức để không bước khập khiễng. Tôi giật mình, hình ảnh này sao quen thuộc quá. Cái cách anh chàng vòng cánh tay làm chỗ vịn cho phụ nữ đi cùng, cách anh ta sải bước khoan thai, bộ quân phục sĩ quan, và … chiều cao ấy, trời đất ơi, chẳng lẽ? Trong lúc hoang mang, có lẽ tôi đã cấu mạnh vào cánh tay ấy khiến anh ta lên tiếng.

    “Này, nếu em làm tôi đau thì tôi không dắt em đi vào trong được đâu nhé! Cố lên đi, tôi sẽ đưa em đến chỗ có ghế ngồi kín đáo để em có thể tạm thời tuột giày ra … như em đã làm khi nãy ấy!”, anh ta lại cố nhịn cười, còn tôi thì mặt nóng ran lên vì xấu hổ, nhưng anh ta lại nói tiếp.
    “Em cứ yên tâm, tôi dám đảm bảo với em chẳng ai trong đám khách khứa ấy để ý đến người khác ngoài bản thân họ đâu, thế nên bí mật của em sẽ được giữ kín !”, anh ta ngưng lại vài giây, “trừ phi tôi lỡ miệng kể cho người khác nghe!”

    Đến lúc này thì anh ta không nhịn cười được nữa, phô diễn chiếc miệng rộng đầy nam tính và dưới khóe miệng lún sâu thêm mấy cái đồng điếu. Suýt chút nữa thì vẻ điển trai của anh ta đã khiến tôi quên mất về sự bực bội của mình lúc ấy, tôi chỉ kịp níu cánh tay anh lại và càu nhàu:
    “Anh làm gì mà theo dõi tôi sát nút vậy? Còn nữa, anh quan hệ thế nào với Jacqueline?”

    Tôi khoái trá, nghĩ rằng anh ta sẽ bị bất ngờ vì bí mật của mình đã bị tôi phát giác, nên anh ta đừng hòng trêu chọc tôi. Những tưởng anh ta sẽ sững lại, sẽ hỏi tại sao tôi biết, hay ít ra cũng phải có một chút phản ứng nào đấy, thì, hoàn toàn trái ngược với mong đợi của tôi, anh ta lại rất thong thả.

    “Mẹ tôi tệ thật, tôi không ngờ bà ấy chưa bao giờ nói với em về cậu con trai yêu quý của mình!”
    “Hả?”
    “Và em cũng vậy, chẳng hề hay biết tôi đã từng mất ngủ vì tiếng đàn của em!”

    Trong một thoáng, tôi tưởng anh ta vừa nói những lời hoa mật để hòng cưa cẩm mình. Có lẽ cái miệng cười đầy chất hào sảng cùng chiếc cằm hơi vuông cộng với những lúm đồng tiền đồng xu ấy đã làm tôi có ý nghĩ này, rồi tôi chợt hiểu ra ý giễu cợt của hắn vài tích tắc sau đó. Cái gã vô duyên này, sao lại trêu tôi hết vụ này đến vụ khác như thế? Tự dưng tôi như mất hết thiện cảm với hắn, kể cả vài giây tôi bị xiêu lòng vì vẻ điển trai phong độ của hắn khi nãy cũng như vừa tan biến. Tôi muốn buông tay hắn ra để tự đi vào nhưng thật sự tôi không thể. Đôi giày quá cao, chân thì đau buốt, đầu thì vẫn còn hơi lâng lâng vì rượu vang, tôi chỉ ước gì mình có thể đi chân trần và tìm một cái ghế bành êm ái nào đó mà thả phịch người xuống. Tôi im lặng, muốn tìm cách trả miếng cho hả dạ, nhưng chẳng nghĩ ra được cái gì cả, cứ thế lầm lũi bước đi, cảm giác thật thảm hại. Gần đến cửa chính, anh ta đột ngột dừng lại.

    “Em có ổn không đấy?”
    “Tôi không sao, cảm ơn anh đã quan tâm!” Giọng tôi đầy hờn trách vu vơ.
    “Có cần tôi tìm giáo sư Reynolds cho em không?”
    “Hả?”

    Tôi giật mình. Té ra, anh ta đã biết tôi từ lâu, từ bao lâu thì tôi không rõ, nhưng rõ là anh ta đã biết khá nhiều về mình. Tôi định châm chọc trả miếng, rằng tôi không cần bất cứ sự trợ giúp nào của anh ta nữa, vì anh ta là một kẻ rình rập, nhưng khi cảm nhận được sự lo lắng chân thành trong giọng nói và nhất là trong ánh nhìn từ đôi mắt xanh sâu hun hút ấy, tôi lại mềm lòng. Mà kêu ông giáo sư ấy thì có ích gì cho tôi chứ? Bỗng tôi hắt hơi một phát, rồi hai, ba cái nữa, anh ta không nói gì thêm mà nhanh chóng đưa tôi vào trong, nơi có ghế ngồi, như anh ta đã hứa khi nãy!
    Bên trong đã bớt ồn, ban nhạc đã tạm nghỉ và khán phòng đang tràn ngập nhạc giao hưởng êm dịu thật dễ chịu. Tôi thích thú nhìn quanh và quả thật, đúng như lời Ben nhận xét, chẳng ai ngó ngàng gì đến tôi mà chỉ bận rộn với những cuộc đàm thoại thông minh uyên bác mà họ đang cố chứng tỏ. Một nhóm chừng ba bốn người đang nói chuyện và câu chuyện của họ có vẻ đang đến cao trào nên những cái đầu thi thoảng hơi chụm lại rồi cùng bật ra những tràng cười to và sảng khoái. Ben đi một lúc rồi quay lại, trên tay là một ly nước cam cho tôi khiến tôi cảm động, trong tích tắc đã tha thứ tất cả cho hắn. Nhưng tôi chưa kịp cám ơn thì đã nghe tiếng con gái nũng nịu.

    “Ôi kìa B, anh đi đâu tự nãy giờ thế này?!”

    Một cô gái xinh đẹp vừa bước đến, tóc vàng óng xõa đến ngang lưng, dáng đi uyển chuyển mềm mại, vóc người cân đối trong bộ váy ôm sát người trông rất gợi cảm. B vừa cúi người xuống đưa ly nước cam cho tôi, trong một thoáng, tôi thấy có vài gợn mây đen trong đôi mắt xanh tuyệt đẹp ấy. Anh ta nói nhỏ với tôi “Tôi sẽ quay lại ngay, em cứ ngồi nghỉ ở đây nhé!”. Rồi khi B vừa đứng thẳng lên, cô nàng đã quàng vai bá cổ anh ta thật thân thiết, tình tứ. Tôi gần như nín thở trước những gì đang xảy ra chóng vánh trước mắt mình.
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #6
    CHƯƠNG 6: Giáng Sinh xưa - The Asian gang


    Về sau, tôi mới được biết đối tượng khách mời của buổi tiệc tối hôm ấy đa phần là VIP, những người nổi tiếng trong giới chính trị, khoa học, nghệ thuật, và các doanh nhân thành đạt. Giáo sư Reynolds thì góa vợ, không ai tháp tùng nên ông mời tôi đi cùng. Sau này nghĩ lại, thấy ngày đó sao mà mình lơ ngơ lóng ngóng đến thế không biết. Nhưng ông ấy không giải thích chi tiết cũng có lý do. Tôi biết ông quý tôi, muốn giới thiệu tôi vào những nơi có những mối quan hệ có lợi cho tôi, và cũng giúp ích một phần cho công việc nữa. Nhưng ông biết tính tôi nhát, nếu biết trước sẽ gặp gỡ những nhân vật quan trọng thì tôi sẽ cư xử mất tự nhiên và không thoải mái. Nhưng đó là một trong những điều tốt đẹp về sự quan tâm chăm sóc giáo sư Reynolds dành cho tôi mà mãi về sau tôi mới biết. Còn đêm nay, trời ạ, thảo nào cũng đã có vài người nhìn tôi bằng cái nhìn khá hoài nghi pha lẫn xét nét khi thấy tôi bước vào phòng tiệc với một ông già đáng tuổi cha mình. Không biết những người này có lại nhìn thấy tôi biến mất, rồi lại bước trở vào với một chàng trai trẻ khác hay không?! À, té ra, khi nãy B hỏi tôi về “bạn đi cùng”, trong khi hắn đã biết tỏng mối quan hệ công việc của tôi với ông ấy, là cũng có ý châm chọc tôi nữa còn gì? Chỉ trong vòng mười lăm phút thôi, tình cảm của tôi với B như đang nhào lộn trên roller coaster, cứ vừa trồi lên thì lại bị đè bẹp xuống vì những lời trêu chọc có chủ ý của hắn. Giờ đây, nhìn B đi với cô gái kia, tôi lại càng ngán ngẩm, tự nhủ lòng đừng nên bận tâm gì đến hắn nữa, dù hắn có hòa nhã, chân thành đến đâu, đặc biệt là phải giữ thái độ dửng dưng mỗi khi hắn có thái độ hay lời nói khiếm nhã nào.

    - Nì hào!
    - ??
    - Xyz xyz blah blah blah …
    - Ah, tôi không biết nói tiếng Trung Quốc, xin lỗi!

    Gã kia hơi ngẩn người một chút, rồi vội vàng xin lỗi vì tưởng nhầm tôi là người Tàu! Anh chàng nhỏ thó, mặt choắt, mang kính cận, mặt tiu nghỉu vì tưởng bở vừa vớ được một cô gái trẻ, lại là đồng hương duy nhất trong đêm tiệc này. Rồi anh ta hỏi thăm tôi quen ai ở đây, làm nghề gì, từ đâu đến, đã và đang ở Mỹ được bao lâu … nói chung là những câu hỏi xã giao khách sáo, kiểu phải hỏi cho có lệ, và anh ta chuyển phắt sang đề tài khác, còn bảo rằng trông tôi rất giống Củng Lợi.

    Chợt nhớ đến hồi còn đi học, năm ấy Củng Lợi được bầu chọn vào bảng xếp hạng 50 người đẹp nhất thế giới, tôi và con bạn thân đã bình luận vụ ấy, nó bỉ bai không tiếc lời, bảo rằng Củng Lợi chỉ đẹp kiểu “Cũng Vậy” chứ có gì đặc biệt đâu! Hai đứa cười khúc khích và bị thầy giáo trừng mắt cảnh cáo. Nghĩ đến đó, tôi không kịp giữ kẽ, cười ngoác mồm. Khổ thân tôi, anh chàng kia có lẽ tưởng tôi đang sung sướng lắm vì được khen giống mỹ nhân đất nước của anh cũng không chừng! Nói chuyện với anh chàng này không gì chán hơn. Tôi cứ phải máy móc trả lời một lô một lốc những câu hỏi tra vấn khi trong lòng hiểu rằng mình đang bị chết dí nơi ấy không có cớ nào để thoát thân được. Chợt nghĩ đến B, thà bị bỡn cợt trêu chọc mà tôi lại cảm thấy thoải mái hơn so với việc phải gồng mình nói chuyện với ông cụ non chán phèo này.

    Lời khẩn cầu của tôi có hiệu lực tức thì, nhưng vị cứu tinh của tôi không phải là B, mà là một anh châu Á khác, có vẻ đang đi tìm anh chàng đang nói chuyện với tôi. Anh ta rất cao, có lẽ cao hơn cả B nữa, nhưng dáng của B thì hơi mảnh khảnh hơn anh này. Anh ta gật đầu chào tôi, cử chỉ tác phong rất lịch thiệp. Tôi vẫn ngồi, và nhớ một trong những bài học tiếng Anh ngày trước, bài viết về phép tắc xã giao, có nói rằng phụ nữ nếu đang ngồi thì không phải đứng lên khi gặp hay được giới thiệu với người (nam) mới đến, và nếu phụ nữ không chủ động đưa tay ra bắt thì đàn ông không nên tự ý chìa tay ra để bắt tay. Tuy nhiên những phép tắc này không phải là bất di bất dịch mà thay đổi theo sự chuyển biến của xã hội. Về sau khi nói chuyện với Jacqueline, tôi có mang vấn đề này ra hỏi thì bà ấy bảo rằng phép tắc xã giao thời đại đã thoải mái hơn và có thể bài học ngày ấy của tôi là được trích từ sách của thập niên 50 hoặc xưa hơn cũng không chừng, vì phụ nữ thời đại không còn kiểu cách như phụ nữ xưa mà thực tế và bình đẳng hơn với nam giới. Nhưng hôm ấy thì tôi chưa kịp hỏi Jacqueline, và vì chân đang đau mà tôi cũng chẳng màng đến phép tắc khỉ gió gì, tôi chủ động đưa tay ra cho anh chàng mới đến và giới thiệu tên mình, trong khi vẫn ngồi. Tôi muốn xem anh ta phản ứng ra sao! Anh ta là David, còn anh bạn kia là James. Nhìn hai người, tôi đoán họ là bạn của nhau, nhưng có vẻ như James hơi khúm núm trước David, chẳng biết tại sao. Buồn cười thật, nói chuyện với James một hồi mà tôi và anh ta vẫn chưa biết tên của nhau, chỉ đến khi David đến thì ai nấy đều có tên có tuổi. James lặng lẽ cáo từ, và David hỏi tôi có phiền không nếu anh ta ngồi cạnh và trò chuyện với tôi một chút. Tôi vốn không thích so sánh, nhưng quả thực David có tác phong rất lịch thiệp, nhã nhặn, bản lĩnh, trầm tĩnh, chứ không như James, bộp chộp hấp tấp, một dạng người dễ làm hỏng việc. Mà rõ là anh ta vừa làm hỏng một cơ hội làm quen phụ nữ còn gì! David quá lấn át James về ngoại hình bắt mắt và tác phong đĩnh đạc. Bất giác, tôi cảm thấy tội cho James, vì anh ta thực ra chỉ vụng về trong giao tiếp, chứ tôi cảm giác anh ta rất thật thà, có vẻ là người lương thiện.

    David nói tiếng Anh chuẩn như người Mỹ bản xứ, thi thoảng có phảng phất chút giọng Anh. Gương mặt anh ta đường nào ra nét đó, đôi mắt lá răm hơi xếch đặc trưng Đông Á nhưng lại không ti hí mà rất sáng, mũi cao, gọn và thẳng, xương hàm góc cạnh, mái tóc đen cắt gọn gàng và chải sớt về phía sau. Anh ta mang một vẻ bí ẩn nào đấy thật khó giải thích bằng lời mà chỉ có thể cảm nhận được khi tiếp xúc trực tiếp. Trò chuyện cùng David, tôi ngạc nhiên, thấy thời gian trôi qua rất nhanh. Anh ta có tài nói chuyện rất khéo nhưng không phải cái khéo của người mồm mép, mà là cái khéo của người thông minh điềm tĩnh, luôn biết cách làm chủ bản thân và lèo lái cuộc nói chuyện theo ý của mình một cách tinh vi và tế nhị. Rồi anh ta hỏi tôi khi nãy James nói gì khiến tôi cười vui đến thế, chợt nhớ đến vụ "Cũng Vậy", tôi lại bật cười, nhưng lần này mồm không ngoác ra như lúc nãy mà tế nhị, kín đáo hơn. Tôi chẳng muốn nhắc lại vụ ấy, chỉ nói bâng quơ là James bảo tôi giống diễn viên điện ảnh nào đấy, và David hỏi ngay "Củng Lợi?" Trời ạ! Hai ông Trung Quốc này chắc mê nàng ấy quá nên trông gà hóa cuốc chăng. Tôi là người phụ nữ châu Á duy nhất trong phòng tiệc đêm ấy, hai ông này cũng là hai nam nhân châu Á duy nhất, thế nên tôi bắt buộc trông phải giống Củng Lợi nhà ông thì hai ông mới vừa lòng? Nghĩ đến đấy, tôi lại bật cười. Thôi chết, tôi cứ cười vì những ý nghĩ quái vật trong đầu chứ không là hệ quả trực tiếp của lời khen hay lời nhận xét của họ, như thế thì không ổn chút nào. Khi nãy tôi không màng đến việc phải thanh minh với James, nhưng với David thì tôi lại cảm giác bị áp lực ấy.

    - Với lại … ,tôi nuốt nước bọt một cách khó khăn, cố giữ giọng sao cho được tự nhiên nhất, - tôi bật cười vì tự dưng nhớ lại những câu chuyện râu ria cá nhân có liên quan đến cô ấy … Hy vọng anh đừng hiểu lầm!

    David mỉm cười ra chiều thông cảm.

    - Ồ, không sao! Tôi chỉ hơi ngạc nhiên không biết làm thế nào James biết làm cho phụ nữ cười vui như khi nãy ấy mà.
    - Tôi nghĩ James thật thà, tốt bụng. Anh ấy không phải cố tình làm ra vẻ hài hước để lấy lòng phụ nữ … theo ý riêng của tôi là như thế.
    - Em cũng tốt bụng mới có những suy nghĩ tốt đẹp như thế về James. Hắn đúng là người thật thà đấy, nhưng phụ nữ thường coi thường hắn chứ ít ai thông cảm với hắn được như em.

    Tôi hơi xấu hổ, cảm thấy mình không xứng đáng với lời khen này. Tôi có tốt tính như lời anh ta nói không nhỉ? Khi nãy ít nhiều tôi cũng đã coi thường James còn gì, nhưng vì tôi giấu kỹ trong lòng chứ không thể hiện ra cho nên anh chàng tội nghiệp cứ thế thừa thắng xông lên. Suy tư một lát, tôi chợt nhận ra họng mình đang nóng ran và ly nước cam vẫn đang cầm trong tay chưa kịp uống. B đang ở đâu và làm gì nhỉ? Còn ả tóc vàng xinh đẹp lẳng lơ kia là ai mà quấn quít tình tứ với anh ta như thế? Mặc dù đang vui thích trong cuộc trò chuyện với David nhưng tâm trí tôi vẫn loáng thoáng nghĩ đến B. Khi nãy bị B chòng ghẹo thì tôi khó chịu, nhưng bây giờ nói chuyện với một David điềm đạm lịch sự thì tôi lại nhơ nhớ cái thói láu lỉnh của B. Thế là nghĩa làm sao?

    https://baglady007.blogspot.com/2016...ong-khach.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #7
    CHƯƠNG 7: Jazz it up!

    Tôi gặp lại David ở hiệu giặt gần trường. Sau vài ngày nằm nhà đọc truyện và xem phim chán chê, hôm nay tôi đã đỡ hơn và quyết định mang áo gối và ga giường đi giặt để đón năm mới. Thoáng thấy tôi, David bỏ dở quyển tạp chí đang đọc và vui mừng bước đến chào tôi, nhân tiện đỡ lấy giỏ đồ nặng nề tôi đang khệ nệ kéo vào. Anh ta có vẻ hơi mệt, nhưng không giấu nổi sự hân hoan khi gặp tôi, đó là điều đầu tiên tôi cảm nhận khi vừa gặp lại anh. Mặc dù hôm nay tôi đã tươi tỉnh hơn rất nhiều so với vài ngày trước nhưng vẫn còn húng hắng ho, mũi còn đỏ lựng vì hắt hơi sổ mũi tưng bừng những ngày vừa qua. Anh có vẻ ái ngại và hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi. Mùa cuối năm, trường đã vắng hoe vì bọn sinh viên đã về nhà nghỉ Giáng Sinh gần hết, chỉ còn lại đám sinh viên quốc tế tụm năm tụm ba tổ chức tiệc tùng với nhau và do đó, tôi không gặp phải cảnh chờ đợi như mọi khi vì hiệu giặt ngày thường lúc nào cũng đông nườm nượp.

    Gặp lại David, tôi cũng vui. Những ngày qua tôi cảm thấy cô đơn vô cùng vì vừa bệnh lại vừa không có gia đình bè bạn bên cạnh, trời lại lạnh buốt và xám xịt, dễ làm người ta phát sinh trầm cảm. David hơi hắng giọng và hỏi tôi:

    - Hôm nay là ngày cuối năm, em có chương trình gì để đón năm mới không?
    - Có, đống đồ giặt này đây! Tôi vừa mỉm cười vừa chỉ tay vào mớ đồ đang nhào lộn trong máy giặt.
    - Thế thì tệ quá!, David cũng cười với câu nói bông đùa của tôi, rồi anh nói tiếp – Tôi vốn sinh trưởng ở vùng New England, sau này vì công việc nên chuyển xuống đây, và do đó tôi cũng chẳng có bạn bè gì ở đây cả.

    David bỗng đột ngột im lặng, rồi anh nói tiếp.


    - Thế, em không đi chơi với Kim à?
    - Không, năm nay cô ấy bận rộn vì hôn phu rồi!
    - Có một quán cà phê nhạc jazz rất hay, tối nay họ có chương trình đặc biệt mừng năm mới, không biết em có muốn đến đó chơi không?

    Nghe nói đến nhạc jazz là tôi đã thấy thích. Kể ra, ngày cuối năm mà đi chơi một mình hoặc nằm nhà xem pháo hoa trên TV một mình thì cũng tệ thật. David lại đàng hoàng, mặc dù tôi chỉ gặp anh ta hai lần nhưng ít nhiều tôi cũng có thể nhận xét được anh ta là người tốt và tôi có thể tin tưởng, yên tâm đi chơi cùng.

    Tôi chợt nhớ đến ông bảo vệ già ở tầng trệt, lúc nào cũng tươi cười vui vẻ và tôi và vợ chồng ông đã trở thành bạn của nhau tự lúc nào. Hai vợ chồng ông sống ở tầng hầm tòa nhà tôi ở và vợ ông nấu ăn cho canteen của trường. Thi thoảng tôi có dịp đi nhờ xe của ông bà từ trường về nhà trong những ngày mưa bão, và nhân tiện, bà sẽ san sẻ một ít thức ăn không bán hết trong ngày cho tôi. Những lúc như thế này, tôi lại nhớ đến những ngày thơ ấu, thời má còn bán chè để kiếm cơm cho gia đình. Những ngày mưa, ế ẩm, chị em tôi lại được ăn chè thỏa thích vào buổi tối, và tôi rất khoái những đêm như thế, đâu biết rằng người lớn phải rầu rĩ tính toán xem có đủ tiền đi chợ mua hàng cho ngày hôm sau hay không! Ông bà quý tôi lắm, gần như xem tôi như con gái. Biết tôi sống một mình, xa nhà, ông bà thường hay thủ thỉ dạy tôi những điều quan trọng để phòng thân, và một trong những “quy tắc vàng” mà tôi phải hứa với ông bà sẽ tuân thủ tuyệt đối, là nếu có đi chơi riêng với bạn trai, thì phải gọi cho một người quen nào đó và cho người ấy biết tôi đi với ai và đi đâu - một quy tắc bất di bất dịch mà bất cứ người cha nào cũng áp dụng cho con gái của mình. Ông kể cho tôi nghe vài câu chuyện rùng rợn về việc có những cô gái bị bức hại khi đi chơi với đàn ông xa lạ, thậm chí là người quen, cho nên các cô gái lúc nào cũng phải luôn đề cao cảnh giác, đừng quá ham chơi mà thiệt thân, có khi thiệt mạng. Tôi hơi rùng mình khi chợt nhớ lại những câu chuyện ấy, mặc dù biết rằng người già thường hay lo xa, và đôi khi cũng phóng đại tình hình.

    - Em có ổn không đấy?

    Tôi giật mình, rơi trở về hiện tại ở hiệu giặt và anh bạn mới quen đang chờ tôi hồi đáp cho lời mời đi chơi tối nay. Không biết tôi đã trôi miên man trong suy nghĩ mất bao lâu, và nét mặt của tôi trông ra làm sao mà David lại hỏi tôi như thế. Tôi bối rối, chẳng biết phải trả lời thế nào. Anh ta dịu dàng nhìn tôi và mỉm cười.

    - Xin lỗi vì tôi hơi đường đột với lời mời ấy. Em không quen biết tôi, có lẽ em cũng e ngại … như thế cũng dễ hiểu. Không sao đâu, nếu em không cảm thấy thoải mái thì tôi phải chờ thêm một thời gian vậy!

    Tôi vẫn câm như hến, chẳng biết phải nói gì. Tôi thèm được đi chơi. Lâu lắm rồi, tôi nhớ không khí ấm cúng của cafe, của nhạc sống. Nhưng tôi cũng muốn tuân thủ “quy tắc vàng” mà ông bạn già của tôi đã bắt tôi hứa phải giữ.

    - Thật ra, không phải tôi … không tin anh. Nhưng có điều, biết nói thế nào nhỉ …

    Tôi không muốn kể cho David nghe về lời dặn dò của ông “Bear” (tên gọi thân mật của “bố già” của tôi), nhưng tôi cảm thấy mình phải có một lời giải thích cho thỏa đáng. Cuối cùng, tôi quyết định nói thật, một đức tính hay của người Mỹ mà tôi từ từ vừa học được.

    - Tôi trân trọng điều đó. Em là một cô gái ngoan, và thông minh, em đã hành xử hoàn toàn hợp lý trong tình huống như thế này. Thật ra, em hoàn toàn có quyền không tin tưởng tôi cho đến khi em biết tôi nhiều hơn …

    David nhìn tôi thật lâu, trìu mến, ấm áp. Đôi mắt lá răm của anh dịu lại trong khi lòng tôi thì cuộn trào, xốn xang …

    .

    “Hai đứa định đi đâu chơi tối nay đấy?”

    Giọng nói khàn khàn quen thuộc của bố Bear âm vang hết cả không gian khi chúng tôi vừa bước vào tiền sảnh. David và tôi đã có một cuộc trò chuyện thú vị ở hiệu giặt và may trời, anh không hề đề cập gì đến chuyện đi chơi tối nay trong khi tôi vẫn chưa hoàn toàn chính thức chấp nhận lời mời của anh. Đây là một nét tính cách rất đàn ông của David mà tôi rất thích. Thời còn đi học, bao nhiêu gã trai trẻ đã bị tôi cắt đuôi chỉ vì cái tính nói nhiều và nói dai. Anh chàng này thì cực kỳ lịch sự nhã nhặn nhưng cũng rất dứt khoát, nói đâu phải ra đó, và câu chữ luôn rõ ràng minh bạch khiến người khác luôn có cảm giác phải tuân phục. Một dạng “alpha male”. Anh ngỏ ý muốn xách hộ tôi đống đồ vừa giặt xong về nhà, tôi không nhớ anh đã nói như thế nào, nhưng tôi cảm giác mình không thể từ chối. Mà thật sự, tôi cũng chẳng muốn từ chối.

    Câu hỏi đột ngột của bố Bear khiến cả tôi và David hơi ngẩn ra mất vài giây. Ông già Bear này quả là tinh tướng, nhưng cũng đáng yêu vô cùng. Tôi biết ông cố tình hỏi như thế để “quy tắc vàng” kia được thực thi hiệu quả. David nhìn tôi, chờ đợi.

    - Bố Bear à, tối nay chúng con sẽ đi nghe nhạc ở “Le Chat Noir”. Đây là David.

    David bước đến chào hỏi và bắt tay bố Bear. Ông già cười to, nét mặt đôn hậu, hiền hòa. Ông nháy mắt với David.

    - Cậu phải hứa với tôi sẽ chăm sóc cô con gái cưng của tôi cho thật tốt nhé - Rồi ông như giật mình tỉnh giấc - Mà con nói cái gì? Le Chat Noir? Ôi, ngày xưa ta và bà xã đã từng chơi nhạc ở nơi ấy đấy. Cũng là nơi ta gặp nàng lần đầu và bị tiếng sét ái tình đánh trúng và kết quả là bây giờ hai ta vẫn còn yêu nhau như điếu đổ!

    Rồi ông lại cười to, lớp nọng cằm rung bần bật và cả người ông như cũng rung lắc mạnh theo tần số tiếng cười ấy. Tôi yêu bố Bear vì nhiều lẽ, nhưng tôi yêu nhất là những lúc như thế này. Trông ông như một con gấu vĩ đại, nhưng là một con gấu hiền lành đáng kính nhất trên đời. Rồi ông bước đến ôm choàng ngang vai và hôn đánh chụt lên má tôi. David vẫn im lặng quan sát chúng tôi, hơi gật đầu với bố Bear và mỉm cười với tôi.

    - Cô cậu rảnh chứ? Vào đây vào đây, tôi sẽ cho cô cậu xem cái này.
    .

    “Cái này” mà ông muốn khoe là cây đàn saxophone sáng bóng và một cuốn album ảnh đồ sộ đã cũ sờn và đóng bụi. Ông mân mê cây đàn và nhẹ nhàng lật từng tờ album ảnh như thể chúng làm bằng pha lê, chỉ cần một chút sơ sót là sẽ vỡ vụn. Vừa lật ảnh cho chúng tôi xem, ông vừa kể chuyện đời ông bà cùng tiểu sử quán cà phê Le Chat Noir danh tiếng này.

    Ngày xưa, vào đầu những năm 1950s, có một người da đen gốc New Orleans đến lập nghiệp ở vùng này. Ông ấy là thợ sơn, và cũng là một nhạc sĩ tài ba nhưng không gặp thời. Ông thuê một căn nhà nhỏ, cũ kỹ, với căn gác xép làm nơi ở và tầng trệt được dùng làm nơi họp mặt với hội nghệ sĩ trong thành phố. Tối đến, họ sẽ gặp gỡ, thảo luận về các vấn đề chính trị xã hội, và quan trọng hơn hết, chơi nhạc cùng nhau. Ông Charles gặp khó khăn về tài chính và có khả năng phải dọn đi nơi khác vì không thể tiếp tục đóng tiền nhà, thế là hội nghệ sĩ bắt đầu quyên góp tài chính để giúp ông Charles. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, vì ông cần có nguồn thu nhập chứ không thể sống nhờ vào tài trợ mãi như thế này. Thế là ý tưởng thành lập quán cà phê jazz hình thành. Các nghệ sĩ đến đấy biểu diễn không công, và thu nhập của quán dùng để trang trải tiền nhà và các chi phí của quán. New Orleans vốn là thủ phủ của nhạc jazz, và cũng là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa châu Âu khác nhau, trong đó có khu Pháp, là nơi Charles đã sinh trưởng. Có lẽ ông đặt tên Pháp cho quán cà phê của mình là do lòng hoài cổ và tưởng nhớ vùng đất mà ông đã nặng tình ấp ủ yêu thương từ trong máu thịt.

    Bố Bear ngừng kể, nét mặt ông dâng tràn sự xúc động cao trào.

    “Đây, ngày xưa quán trông như thế này đây”, vừa nói, ông vừa trỏ ngón tay to bè vào một tấm ảnh. “Hồi đó chúng tôi đã gặp vô vàn khó khăn, nhưng đó là những tháng ngày đẹp nhất, hoành tráng nhất đời của chúng tôi.” Giọng ông hơi run run, tôi cũng xúc động khi nhìn những tấm ảnh đen trắng chuyên chở cả một lịch sử oai hùng thời trai trẻ của những nhạc sĩ da đen thời ấy. Tôi bắt gặp một tấm ảnh rất quen thuộc chụp một nghệ sĩ đang say sưa biểu diễn với cây saxophone.

    “Có phải là bố đấy không?” Vừa dứt lời, tôi đã biết mình hỏi thừa. Ông thật đẹp trai trong bộ veston và chân thì đi giày bóng lộn. Tôi say sưa ngắm nghía bức ảnh, trí óc tôi phiêu bạt về thập niên 50s, thời mà người ta luôn ăn mặc chỉnh tề mỗi khi ra đường, luôn ngả nón chào nhau và nói những lời lịch sự nhã nhặn với nhau. Hai người đàn ông kia dường như cũng có cùng tâm trạng như tôi, tất cả cùng chìm trong im lặng suy tư, hoài cổ.

    Tôi phá vỡ sự im lặng ngột ngạt bằng một câu nói đùa. “Có vẻ như ngày ấy bố mang ít gánh nặng trên người hơn bây giờ thì phải?!”, thế là ông già cười phá lên, người lại rung bần bật theo từng tràng cười. Tôi âu yếm nhìn ông, cảm giác yêu thương tràn ngập. Ông là người đơn giản, thật thà, quý trọng phẩm cách đạo đức của con người hơn là tiền bạc và địa vị của người đó. Tôi chưa bao giờ gặp ai với một thái độ sống nhẹ nhàng thanh thản và luôn lạc quan như ông. Đời ông đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố, nhưng tôi đồ rằng ông chẳng bao giờ than van mà luôn mạnh mẽ chấp nhận sự thật và biết nhận trách nhiệm về mình.

    “Còn đây là nàng Juliet xinh đẹp của tôi”, ông tự hào cho chúng tôi xem một tấm ảnh khác. Một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn, đang đứng trên bục sân khấu với cây microphone trước mặt. “Nàng có giọng hát thánh thót như chim hoàng yến, và dáng đi thanh thoát như thể chân nàng chẳng bao giờ chạm đất! Nữ hoàng foxtrot một thời đấy!” Đôi mắt bố Bear mơ màng, phiêu du về một quá khứ huy hoàng xa xăm. Khi mới mở quán, hội nhạc sĩ chỉ chơi hòa tấu, và khi quán bắt đầu đông khách, họ nhận thấy nhu cầu cấp bách phải có ca sĩ và thế là một ngày đẹp trời nọ, bà Rosalyn xuất hiện với tư cách một người đi xin việc.


    “Vừa thấy nàng, tôi cảm giác nghẹt thở và tim đập loạn xạ. Lạ lắm, ngay giây phút ấy, tôi hiểu tôi đã thuộc về nàng!”, ông Bear hào hứng kể tiếp, tôi nhận thấy ông ném nhanh cho David một cái nhìn đầy hàm ý nào đấy tôi không rõ. “Đời tôi chưa bao giờ gặp một sinh linh đẹp đẽ thánh thiện hơn thế! Nhưng nàng thì chẳng đoái hoài gì đến tôi …”

    “Anh lại tra tấn người khác về câu chuyện tình sến sẩm của mình phải không?”, một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên sau lưng chúng tôi. Bà Rosalyn vừa cười vừa bước vào phòng khách, trên tay là một khay trà nóng và bánh ngọt, cũng vừa lúc bụng tôi đang kêu ộp oạp và sôi lục bục vì đói. May mà tiếng cười giòn giã của bố Bear đã lấn át những âm thanh không hay ấy. Tôi nhìn hai vợ chồng già, tình tứ ôm hôn nhau rồi ông dịu dàng đỡ bà ngồi xuống, và, tự dưng tôi muốn khóc. Vì sao, tôi cũng không rõ. Sự đói khát thương yêu là một năng lượng tàn phá ghê gớm có thể âm ỉ nhỏ giọt gặm nhấm người ta suốt cả cuộc đời. Đôi khi, nó tấn công người ta nhanh gọn, dữ dội như những trận động đất hay sóng thần, rồi nhanh chóng rút đi, để lại một thân thể rách bươm với một tinh thần nhàu nát. Có lẽ tôi đang liên tưởng mình giống tuýp nạn nhân trong vế thứ nhất thì phải.

    Bà Rosalyn dịu dàng vuốt tóc tôi, đẩy tách trà và chiếc đĩa bên trên có vài chiếc bánh ngọt cho tôi. “Ăn đi, con gái. Hôm nay trông cô đỡ nhiều rồi đó.” Tôi nuốt vội ngụm trà, như đang cố gắng nuốt trôi những kỷ niệm buồn đang mắc nghẹn nơi vòm họng. Và cả một sự biết ơn cao độ tôi dành cho hai vợ chồng già phúc hậu này. David vẫn im lặng, như thường lệ, và quan sát vở tuồng yêu thương của ba chúng tôi với một thái độ thú vị.

    Chúng tôi trò chuyện thêm một hồi, chủ yếu về Le Chat Noir, rồi cáo từ hai vợ chồng già tốt bụng. Tiễn chúng tôi ra đến tận đầu cầu thang, bố Bear vỗ vai David, dặn dò thêm gì đấy, rồi David gật đầu và họ bắt tay.

    Sáu giờ tối nay, David sẽ đến đón tôi đi chơi. Anh sẽ chờ tôi ở tiền sảnh sau khi đã ý tứ không đưa tôi đến tận cửa căn hộ mà chỉ mang giúp tôi đống quần áo vừa giặt xong lên hai tầng lầu mà thôi. Tôi thầm cảm ơn điều ấy. Tôi không muốn phát sinh quá nhiều sự thân mật chưa cần thiết giữa chúng tôi vào lúc này.

    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #8
    CHƯƠNG 8: Happy New Year!
    RY19sZuYNTPQOzxnPc7ySA_BmKYTHO5U9ugLUkWdDLoXq55VLEgDduzVxU4St0B-tOUIzkKQEd3zrczndjflEpG1HgxZ


    Le Chat Noir quả thật không hổ danh là địa chỉ quen thuộc của người sành jazz, và là nơi mà một khi đã đặt chân đến thì ta sẽ quyến luyến chẳng muốn rời. Tôi thì không sành jazz, nhưng chẳng hiểu sao jazz luôn gợi cho tôi cảm giác gần gũi thân quen rất khó diễn tả. Ngày trước, mỗi khi có dịp ở nhà một mình, tôi thích tắt hết đèn, chỉ đốt một cây nến nhỏ leo lét và thưởng thức jazz trong không gian âm u cô quạnh. Tôi hay mường tượng đến toàn cảnh phòng trà, nơi có cô ca sĩ da diết thả hồn theo bài hát, bên cạnh một nghệ sĩ dương cầm mắt lim dim và tay thì lướt phím, thi thoảng lại có âm thanh réo rắt của saxophone hòa quyện vào, tổng hợp thành một hợp âm trầm bổng du dương mê hoặc người nghe. Đêm nay, được tận mắt chứng kiến những điều tôi từng mơ tưởng, ở một cafe jazz chính hiệu, có lúc tôi xúc động gần như thẫn thờ.


    Quán trông rất khác so với tấm ảnh bố Bear cho chúng tôi xem vào ban sáng. Sau bao nhiêu lần đổi chủ, quán đã thay da đổi thịt gần như hoàn toàn. Tôi hăm hở khi xem vài bức ảnh trắng đen treo trên tường về lịch sử của quán với hy vọng được thấy bố Bear hay bà Rosalyn để có chuyện về kể cho họ nghe, nhưng hoàn toàn thất vọng khi chẳng thu hoạch được gì. Những tấm ảnh ấy không xưa như ảnh của bố Bear, có lẽ nó được chụp sau khi bố đã thôi không biểu diễn ở nơi ấy nữa. Thế là tôi nảy ra một ý nghĩ. Tôi tìm gặp quản lý quán, kể cho họ nghe về bố Bear và bà Rosalyn, ngỏ ý xem họ có muốn treo ảnh hai người không, và tôi thất vọng vô cùng khi ông ấy không biết hai người này, mà cũng có vẻ chẳng quan tâm lắm. David nói rằng chúng tôi nên tìm gặp chủ nhân của quán, bà ta có thể sẽ có cái nhìn rất khác với người quản lý, nhưng chúng tôi nên đợi cho đến khi quán bớt đông khách thì việc nói chuyện sẽ thuận tiện hơn.


    .


    Cả buổi chiều tôi loay hoay suy nghĩ đến việc chọn trang phục cho tối nay. Vấn đề là tôi chỉ có mỗi một chiếc váy đẹp và đủ ấm « nhất y nhất quởn » dành cho tiệc đêm, mà tôi đã mặc hôm tiệc Giáng Sinh tuần trước rồi. Tôi không thể mặc lại cái váy ấy cho tối nay, mà ngoài nó ra thì tôi không biết phải mặc gì khác để vừa đủ ấm vừa thích hợp cho buổi tối. Mà tôi lại cũng chẳng muốn mình trông có vẻ cố gắng quá, chải chuốt quá, như thể tôi đang hò hẹn chính thức với David vậy. Loay hoay thế nào thì tôi nghe tiếng gõ cửa, và bà Rosalyn xuất hiện với một cái váy nhung trên tay. Đó là chiếc váy mà bà cất giữ bao nhiêu năm qua sau lần mặc đầu tiên vào « ngày cưới » của bà. Thời đó ông bà không có điều kiện làm lễ cưới theo đúng nghi thức ở nhà thờ, nhưng họ đã có một buổi tiệc nhỏ, ấm cúng tại Le Chat Noir với sự chứng kiến của gia đình và bạn bè. Bà trân quý nó trong suốt mấy chục năm qua, hy vọng một ngày nào đó sẽ được ngắm con gái mình trong chiếc váy đầy kỷ niệm ấy. Trớ trêu thay, ông bà lại hiếm muộn, bao nhiêu nỗ lực, trông mong đợi chờ qua nhiều năm tháng đều trở thành hoài công vô ích. Đã vài lần bà muốn mang nó cho từ thiện, cũng đã có người ngỏ ý muốn mua vì nó là hàng « vintage » chính hiệu mà chất lượng thì vẫn còn mới tinh như vừa mang ở hiệu may về, nhưng bà cứ lần lữa không nỡ xa lìa.


    - Nhưng đây là món kỷ vật vô giá của bà, cháu không thể nhận được! - Tôi thoái thác vì phát hoảng khi thấy chiếc váy ấy có vẻ lộng lẫy quá.


    Bà cười buồn. « Kỷ vật có ý nghĩa gì nữa đâu nếu nó bị giam hãm thêm mươi mười năm nữa cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay?! Nếu cháu không thích thì thôi, ta không ép, nhưng mà tự dưng sáng nay khi nhắc đến Le Chat Noir, ta lại nhớ đến chiếc váy và chợt nghĩ không biết cháu có thích nó không. Ta nghĩ cháu mặc sẽ vừa và đẹp! Thế tối nay cháu định mặc gì đấy? »


    Khi tôi cho bà biết tôi sẽ mặc quần jeans và áo len cổ lọ, bà giãy nãy lên.


    - Không, không, cháu không nói đùa chứ! Đó là nơi sang trọng, ờ thì ở thời của ta nó chưa sang như bây giờ, nhưng nếu ăn mặc như thế đến đấy thì cháu sẽ trở nên lạc lõng lắm đấy. Khi ấy thì đừng trách là ta không báo trước cho cháu biết! Với lại – bà mỉm cười – David có vẻ là người rất tinh tế, cậu ta sẽ mặc đẹp còn cháu thì bình thường như thế … ta thấy không ổn!


    Khi tôi cố giải thích cho bà biết rằng chúng tôi không phải đang hẹn hò, và rằng một lời mời bâng quơ trong một lần tình cờ gặp gỡ như thế, theo tôi chưa có gì nghiêm trọng, và do đó tôi chẳng muốn ăn diện quá đáng cho đêm nay và có lẽ David cũng thế thì bà tiếp tục lên lớp tôi.


    - Đối tượng khách của Le Chat Noir là những người thanh lịch, cậu ta mời cháu đến đó tức là cậu ta cũng có gu thẩm mỹ cao. Đó cũng là một nơi khá đặc biệt, người ta thường có kế hoạch đi đến đấy chứ không phải chỉ vô tình nghĩ đến việc ấy, nhất là vào dịp cuối năm như thế này. Với lại thứ hai, đàn ông làm gì cũng có lý do, nhất là khi họ phải mất công mất của vì đàn bà, cháu không được ngây thơ khi nghĩ cậu ta chẳng có dụng ý gì khi mời cháu đi chơi tối nay nhé. Dĩ nhiên, ta không nghĩ xấu cho cậu ta, ý ta là …nếu không thích cháu, không có tình ý gì với cháu thì cậu ta sẽ chẳng mất công với cháu. Ý ta là thế.
    - Nhưng anh ta ở cùng hoàn cảnh như cháu, sống xa nhà, không bạn bè, nên mới …
    - Thế là cháu tin cậu ta liền à?! - bà vội vã cắt ngang lời tôi - Đừng hiểu lầm, ta rất thích cậu ấy, nhưng ý ta là … biết nói thế nào nhỉ … một khi đã nhận lời đi chơi với đàn ông tức là cháu đã bật đèn xanh cho cậu ta, và rồi cháu sẽ liên tục bị tấn công cho đến khi cháu gục ngã và một ngày đẹp trời nào đó, cháu sẽ thức giấc với chiếc nhẫn đính hôn trên tay mà vẫn chưa hoàn hồn!


    Bà nói liền một hơi, còn tôi thì ngớ người ra vì nhận thấy bà không phải là không có lý. Trời đất! Nghe bà nói đến từ « đính hôn » mà tôi hoảng. Thời đại này, nam nữ đi chơi với nhau một vài lần vẫn chưa đủ nói lên điều gì đặc biệt cả, nhưng bà là người của thế hệ khác … khác nhiều, đẹp hơn nhiều so với thế hệ của tôi bây giờ. Biết rằng có giải thích với bà thì cũng hoài công vô ích, tôi quyết định chẳng nói gì thêm, chỉ cảm ơn bà đã thật lòng nhắn nhủ những lời tâm huyết với tôi.


    - Thôi ta phải về, cháu cũng phải nghỉ ngơi một chút rồi chuẩn bị cho buổi tối nay phải không. Ta để lại chiếc váy nhé, cháu cứ mặc thử, nếu cháu thích, nó là của cháu!


    Tôi lí nhí cảm ơn bà rồi quay lại nhìn chiếc váy một hồi lâu, tâm trạng hơi xáo trộn vì những lời tôi vừa nghe. Thực sự, tôi không rõ mình muốn gì nữa. Chiếc váy nhung màu xanh thủy quân sẫm màu, cổ thuyền, tay dài, ôm sát thân trên, chân váy hơi mở ra khi chạy dài xuống gót chân, và nhấn eo bằng dải ruy băng màu kem bản rộng chừng bốn centimet, cột thắt bên hông và kéo dài đến tận chân váy. Đơn giản nhưng cũng thanh lịch, quý phái vô cùng. Suy nghĩ lan man một hồi thì tôi cũng hơi hoảng khi nghĩ đến việc nếu David sẽ ăn mặc giản dị trong khi tôi lại tướng vào người chiếc váy kiểu dạ hội này thì trông sẽ chẳng giống ai. Mà tôi lại càng chẳng muốn có tình huống ngược lại!


    Tôi trang điểm thật nhạt, tóc búi cao và xoắn hai bên kiểu Pháp giống Jacqueline, và không đeo đồ trang sức. Suy đi nghĩ lại, tôi vẫn nhất quyết đeo đuổi chí hướng « không cố gắng quá sức », mặc cho bà Rosalyn phản đối kịch liệt, nhất là màu son môi hồng nhạt tự nhiên của tôi vì theo bà, son nhạt chỉ đẹp trên làn da nâu sậm như bà chứ da trắng như tôi nên chọn màu sẫm và tươi hơn. Cuối cùng, tôi đã chọn son màu san hô để làm bà vui lòng.


    David đến sớm gần mười lăm phút. Và đúng như bà Rosalyn dự đoán, trông anh như vừa bước ra từ một tạp chí thời trang với tiêu điểm Ralph Lauren: quần Âu màu xám lông chuột với đường cắt rất vừa vặn và khéo, sơ mi trắng bên trong áo len màu xanh sẫm, và khoác ngoài cùng là chiếc áo khoác bằng dạ đen với khăn choàng cổ màu xám nhạt quàng sau gáy và thả dài xuống hai bên chứ không quấn cổ. Và giày da đen chì. Nếu anh mà đội mũ dạ đen nữa thì tôi đồ rằng tối nay thể nào cũng có người đến mời anh làm người mẫu cho hãng thời trang của họ hoặc sẽ mời anh gia nhập Hollywood cũng không chừng!


    .


    Chúng tôi là « cặp đôi » duy nhất không hôn nhau sau khi mọi người vừa xong màn đếm ngược cho đến thời khắc giao thừa và champagne đã nổ lốp bốp khắp nơi. Cảnh tượng này tôi chỉ được xem trên phim ảnh, lúc này đứng ngay giữa lòng của nó, lòng tôi bồi hồi xao xuyến, trong tâm tư bất chợt vang lên bài hát Happy New Year quen thuộc và bất hủ của ABBA mà tôi từng thường nghe với chúng bạn. Thời trung học, tôi có cậu bạn thân chơi trống cho ban văn nghệ của lớp, sau này lên đại học cũng chơi trống cho trường đại học. Năm ấy tôi sang chơi khi ban nhạc của cậu ấy đang tập tành cho kỳ thi hát tiếng Anh trong trường, gặp phải hôm « ca sĩ » bận rộn không đến tập được, cậu ấy nhờ tôi hát giúp để ban nhạc tập với nhau. Tôi nhận lời, cả bọn tập dượt rất vui vẻ, cuối cùng bọn chúng mưu mô đưa tôi làm ca sĩ chính cho kỳ thi chính thức luôn, và thật bất ngờ, tiết mục tốp ca Happy New Year năm ấy của bọn tôi đoạt giải nhất toàn trường. May mà không ai phát hiện tôi hát «chui», vì tôi không phải là sinh viên trong trường! Ngoài ra, chiến thắng ấy cũng chẳng có gì vẻ vang cho lắm, vì cả trường chỉ có lèo tèo vài tiết mục tốp ca, còn lại chủ yếu là đơn ca hoặc song ca mà thôi.


    David nâng ly champagne về phía tôi, mỉm cười với tôi rồi nói khẽ « Chúc mừng năm mới !», tôi cũng đáp lại « Chúc mừng năm mới!», cố xua đi sự khó xử và bối rối giữa hai chúng tôi trong thời khắc giao thừa vừa qua. Rồi mọi người kéo nhau túa ra đường để xem pháo hoa, một số người chạy về hướng cầu cảng để xem cho rõ. David hỏi tôi có thích ra ấy xem pháo hoa hay không, và tôi gật đầu ngay! Anh luôn hào hoa phong nhã và đúng mực như trong suy nghĩ của tôi. Chúng tôi đi ăn tối ở một nhà hàng Pháp gần đấy trước khi sang Le Chat Noir nghe nhạc. Anh kéo ghế cho tôi ngồi và cả khi tôi đứng lên, giúp tôi mặc áo khoác trước khi bước ra ngoài. Tôi chợt nhận ra, David luôn hỏi ý tôi muốn gì cho tất cả mọi việc, thậm chí những việc linh tinh như nhiệt độ trong xe có thoải mái không, có quá nóng / quá lạnh không. Anh tinh tế chọn chỗ ngồi khuất và xa cửa ra vào để tôi không bị lạnh khi có người mở cửa. Đời tôi chưa bao giờ được đối xử như một bà hoàng như thế.


    Một cô gái tươi cười bước về phía chúng tôi, và David dường như nhận ra người quen, anh nhanh chóng giới thiệu tôi với cô gái ấy. Tên cô ta là Linda, và họ là bạn của nhau từ thời thơ ấu. Bố mẹ David và bố mẹ Linda là bạn thân và cũng là hàng xóm của nhau, nhưng khi David được tám tuổi thì gia đình Linda chuyển sang Cali và liên lạc giữa hai gia đình cũng thưa thớt dần. Linda là một cô gái dễ thương, cô ta có vẻ khá thân thiện và cởi mở, nên tôi cũng cảm thấy thoải mái.


    - Để tôi chụp hình hai người nhé!


    Rồi Linda lôi trong túi xách ra chiếc máy ảnh Polaroid, nhìn chúng tôi và sẵn sàng bấm nút.


    - Em cho phép chứ ? – David lại hỏi tôi, và tôi máy móc gật đầu. « Dĩ nhiên rồi!»


    Lại một thoáng khó xử giữa hai chúng tôi khi Linda yêu cầu chúng tôi đứng sát vào nhau hơn.


    - Hai người trông căng thẳng quá, để tôi chụp lại! – Linda nói khi cô ta xem xét tấm ảnh vừa được in ra và tỏ vẻ không hài lòng.
    - Đây, tấm thứ hai này trông hay hơn nhiều!


    Quả thật hai tấm ảnh khác nhau một trời một vực. Cả hai trông hơi gượng gạo trong tấm đầu tiên và trong tấm ảnh thứ hai thì chúng tôi trông như một cặp rất hạnh phúc. Rồi Linda chào tạm biệt để không phá rối sự « riêng tư » của chúng tôi, cô kiễng chân lên hôn nhẹ vào một bên má của David khiến anh trông có vẻ hơi mất tự nhiên trong một vài giây. Đó là lần đầu tiên tôi thấy anh lúng túng và hơi mất tự tin kể từ khi tôi biết anh. Tôi quyết định giữ tấm ảnh gượng gạo và cho David giữ tấm đẹp hơn kia, khiến anh có vẻ hơi ngạc nhiên. Bản thân tôi rất không ăn ảnh, nên tôi thà để anh giữ tấm ảnh đẹp hơn kia của tôi, nhưng dĩ nhiên tôi không cho anh biết sự thật đằng sau quyết định ấy!

    https://baglady007.blogspot.com/2017...nh-xua-12.html

    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #9
    test test
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #10
    CHƯƠNG 9: No more champagne …


    David không uống rượu, đó là điều tôi nhận biết về anh sau đêm ấy. Cầm ly champagne trong tay nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không uống, và ở nhà hàng anh cũng không gọi rượu. Trên đường về nhà, tôi hỏi anh về điều đó, thì anh bảo rằng vì lái xe nên anh không được phép uống rượu, đêm giao thừa là đêm mà cảnh sát đi tuần tra rầm rộ ngoài đường vì đó là đêm người ta tiệc tùng bù khú nhiều nhất trong năm. Ngoài ra thì bình thường bản thân anh cũng gần như không uống rượu.


    - Công việc khiến tôi không được uống rượu, lâu ngày thành thói quen, tôi cũng chẳng thiết tha với rượu bia nữa. Thi thoảng đi bar với mấy cậu bạn thì tôi cũng chỉ uống một chai bia rồi thôi.
    - Việc gì mà gắt gao thế, nếu anh không phiền về câu hỏi của tôi?
    - Tôi làm tư vấn cho một công ty sản xuất thiết bị an ninh - David hơi mỉm cười - khi say xỉn thì an ninh khó được bảo đảm, phải không?
    - Nhưng đó là trong phạm trù công việc. Còn trong đời tư, anh cũng phải có được tự do chứ nhỉ? - Tôi thắc mắc.
    - Đúng là như thế, nhưng công việc đôi khi cũng bất chợt khó đoán lắm. Và khi nghỉ phép thì chúng tôi vẫn không được tắt điện thoại liên lạc, vì khi cần thì họ vẫn có thể gọi chúng tôi bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại sao chúng tôi được khuyến cáo không nên uống rượu bất cứ khi nào có thể.
    - “Họ” là ai mà quyền uy đến thế? Tôi tưởng ở phương Tây, quyền riêng tư được tôn trọng triệt để chứ!
    - Nói hay đấy - David lại mỉm cười - nhưng ở đâu cũng có một vài ngoại lệ. Luật chơi là như thế, một khi đã chấp nhận thì mình phải thi hành triệt để!
    - Thế anh có bao giờ cảm thấy gò bó vì “luật chơi” này không?


    Một thoáng im lặng.


    - Có và không. Tôi thích sự kỷ cương ngăn nắp, đó là đức tính cần thiết và quan trọng. Là tôi nghĩ như thế thôi. Đôi khi, ta cũng nên thả lỏng một chút, nhỉ?


    David quay sang liếc nhìn tôi khi dừng đèn đỏ.


    - Thế, anh nghĩ sao khi thấy tôi cầm ly rượu trên tay? - Tôi hỏi thăm dò.
    - Không nghĩ gì cả! - Anh lại quay sang liếc nhanh tôi - Thật đấy. Hình như rượu vang cũng tốt cho sức khỏe nếu uống có chừng mực phải không. - Anh lại mỉm cười - Mà trông em không có vẻ thuộc tuýp người bù khú tiệc tùng, nếu tôi đoán không lầm.
    - Không, anh lầm to rồi! Tôi hư lắm, say xỉn suốt đấy! - Tôi trêu anh.
    - Nếu thế thì đây sẽ là lần đầu tôi nhìn lầm người! David cười, thật hiền.


    .


    Về gần đến nhà cũng đã hơn một giờ sáng, nhưng sao con đường nhỏ ngày thường vốn vắng vẻ và yên tĩnh lại ồn ào náo nhiệt đến thế này. Rồi chúng tôi thấy vài chiếc xe cảnh sát bật đèn sáng đến nhức mắt ngay trước mặt, dường như đường bị chặn rồi. Quái, việc gì thế này? Hay là đêm giao thừa nên người ta xuống đường đông đúc?


    David đậu xe ở con đường kế cận vốn còn thông xe, rồi mở cửa xe cho tôi. Chỉ còn cách một ngã tư nữa là tôi đã có thể về nhà, đường lại bị ngăn thế này nên chúng tôi quyết định đi bộ. Nét mặt của David có gì đó không được thoải mái, anh luôn đảo mắt nhìn chung quanh đầy cảnh giác, anh bước đi hơi nhanh hơn bình thường khiến tôi phải đi gần như chạy mới đuổi kịp anh. Tôi cũng cảm nhận không khí ngột ngạt trên đường, có cái gì đó không ổn đang diễn ra đâu đây. Đang đi thì tôi có cảm giác sau lưng mình có gì đó chạm vào, rồi nửa thân trên của tôi gần như bị nhấc bổng lên. Mọi việc xảy ra quá nhanh, nhưng David vừa cứu tôi khỏi ngã vào một vũng nước nhơm nhớp dưới chân mà tôi không thấy.


    - Không uống rượu quả thật là một điều rất tốt phải không? Anh phản xạ nhanh như vệ sĩ chuyên nghiệp vậy! - Tôi cố bông đùa khi vừa hoàn hồn.
    - Đoán như thần! Em ổn chứ? - David hỏi khi nghe giọng nói hơi run run của tôi.


    Một cảnh tượng khủng khiếp của khu nhà tôi ở dần hiện ra khiến tôi không thể tin vào mắt mình. Đường sá ướt nhẹp đầy bùn, rác rến khắp nơi và mùi cháy khét vẫn còn nồng nặc vương vẩn trong không khí. Sân trước thì lố nhố kẻ đứng người ngồi chật như nêm, nét mặt hoảng loạn, một số người còn đang mặc đồ ngủ và choàng chăn khắp người, chân vẫn còn đi dép lông trong nhà. Khu chung cư tôi ở được xây như chữ U, hai bên là hai tòa nhà chung cư còn dãy nhà nối ngang là những doanh nghiệp nhỏ như dịch vụ photocopy và in ấn, dịch vụ vi tính, một cửa hàng văn phòng phẩm, một hiệu thức ăn nhanh, và một hiệu sách mini. Trong tích tắc, tim tôi thót lại. Tôi nhìn David, lắp bắp, “Ồ không, bố Bear, và bà Rosalyn, họ …” David đảo mắt nhìn nhanh qua khu nhà của tôi và nét mặt anh giãn ra.


    - Họ an toàn rồi, em yên tâm.


    Anh chậm rãi chạm tay lên vai tôi, xiết nhẹ, mắt anh nhìn tôi thật dịu dàng. Lúc này đây, một cảm giác bình an lẻn nhẹ vào người và tôi biết mình không phải lo lắng về bất cứ việc gì trên đời nữa. May mắn thay, lửa chỉ bén bên khu bên kia, chưa kịp lan sang các cửa hàng mini này và do đó, khu nhà bên tôi cũng vẫn còn an toàn. Mọi người bắt đầu lục tục kéo nhau trở vào nhà bên khu tôi. Ở đường bên kia nơi David đậu xe bắt đầu loáng thoáng có vài chiếc taxi vừa trờ tới, có lẽ sẽ đưa những người bị mất nhà trong đêm nay đi đâu đó để ngủ tạm qua đêm. Chúng tôi đợi đến khi đám đông giãn bớt mới đi vào, và việc đầu tiên tôi có thể nghĩ đến là vội vã gõ cửa nhà bố Bear. Cửa đóng im ỉm, bên trong nhà tối đen. Tim tôi lại đập mạnh và nhìn David cầu cứu.


    - Họ có đậu xe ở một chỗ nhất định nào không? - Anh hỏi.
    - Hình như họ có một chỗ đậu được dành riêng cho họ trong nhà xe.


    Tôi mừng rỡ, nói như reo vì đã hiểu ý anh. Chúng tôi đi như chạy sang khu nhà xe và trước mắt tôi, chiếc xe màu ô liu quen thuộc của bố Bear không có ở đấy. Họ đã đi đâu chơi và có lẽ sẽ ngủ lại ở đấy tối nay, chúng tôi đặt giả thuyết như vậy và thầm cầu mong đó là sự thật.


    - Cám ơn anh nhé, David. Về mọi việc.
    - Không có chi. Lâu rồi tôi mới được vui như thế, tôi cũng phải cám ơn em nữa!


    .


    Đêm ấy tôi trăn trở liên tục mà không tài nào ngủ được, mặc dù tôi mệt bã người ra sau những biến cố trước đó. Nếu không có David bên cạnh trong đêm nay thì mọi việc sẽ ra sao nhỉ? Tôi sẽ phải thu dọn đồ đạc, chuẩn bị tẩu tán phòng khi đám cháy không được dập tắt kịp thời, nếu may mà tôi không đang say ngủ. Ông bà Bear cũng không có ở đây để hỗ trợ tinh thần cho tôi, và rồi tôi sẽ đi đâu tá túc trong đêm nay nếu căn hộ bị cháy? Thật là một ý nghĩ đáng sợ. Tôi điểm qua trong đầu những người tôi có thể nhờ cậy. Kim sẽ là người tôi gọi đầu tiên, có lẽ thế. Rồi ai nữa? Jacqueline thì đang ở Pháp chưa về, chỉ còn ông Reynolds. Nhưng ông ta là đàn ông góa vợ, sống độc thân, có lẽ tôi sẽ không thể sang đấy được. Jacqueline không có ở nhà, chắc chắn B sẽ sẵn lòng giúp tôi? Không, không được, sẽ rất bất tiện cho cả hai chúng tôi. Hoặc, nếu tôi đi chơi về và phát hiện căn hộ mình đã bị cháy thì sao? Có lẽ tôi phải tá túc ở nhà David thôi, và tôi cảm giác mình đang đỏ mặt trong đêm khi nghĩ đến điều ấy. Anh ta nghiêm túc, đạo mạo như thế, lúc nào cũng hành xử đúng mực với phụ nữ, à, ít ra là với tôi, thì tôi có thể yên tâm với sự giúp đỡ của anh. Rồi tôi bực bội với chính mình vì những ý nghĩ lung tung vô căn cứ ấy. Tôi đã an toàn, căn hộ của tôi vẫn an toàn, tôi đang nằm trên giường của mình, dưới lớp chăn ấm mềm mại, tôi vẫn may mắn có một số người sẽ sẵn lòng giúp tôi trong hoạn nạn, nếu như việc ấy có thể xảy ra. Rồi tôi điểm lại những sự việc đã xảy ra trong ngày, hầu như cả ngày nay tôi đã ở bên cạnh David! Anh có vẻ là người am hiểu nhiều lĩnh vực, nhưng rất khiêm tốn, ít bao giờ nói về mình. Đó là một điều khiến tôi cứ băn khoăn về David … có phải do đó là cá tính của anh, hay anh có lý do nào đó không muốn tiết lộ nhiều chi tiết cá nhân cho người khác biết?

    https://baglady007.blogspot.com/2017/03/giang-sinh-xua-13.html
    • 1 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #11
    truyên này làm gì có trẻ nào ngồi đọc
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #12
    Cảm ơn góp ý của bạn. Bạn có thể giải thích giúp mình tại sao bạn nghĩ như thế không ạ?
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #13
    CHƯƠNG 10: The girl from Ipa-Nema



    Tôi thức giấc trong một mớ âm thanh ồn ào hỗn tạp ngoài hành lang và dưới tiền sảnh. Trời đất ơi, lại gì nữa đây? Tiếng gót giày nện cồm cộp trên nền gạch đá, tiếng bíp bíp của xe chuyên dụng bên dưới đường, tiếng ầm ầm của đồ đạc bị vứt từ trên cao xuống đất … thật khó mà ngủ nướng trong mớ âm thanh kinh khủng như thế này. Nhìn đồng hồ, đã gần chín giờ sáng! Vậy mà tôi có cảm giác mình chỉ vừa chợp mắt. Tôi ngái ngủ, cố gắng bước ra khỏi giường, rồi ghé mắt nhìn ra cửa sổ và được chứng kiến lần đầu tiên toàn cảnh khu nhà bị cháy đêm qua. Nhìn bề ngoài cũng không có gì ghê gớm, chỉ có những ô cửa sổ bị ám khói đen và dường như chỉ có tầng trên cùng là bị cháy, hai tầng còn lại có vẻ vô can, nhưng có lẽ cũng bị hư hại ít nhiều và hư hại chủ yếu vì nước hơn là vì lửa. Toàn bộ cư dân bên ấy đã phải sơ tán chờ hội đồng xây dựng và kiến trúc thành phố thẩm định độ an toàn xong thì mới có thể vào ở lại được, mà có lẽ sẽ còn lâu lắm, vì người ta phải xây lại tầng bị cháy và kiên cố hóa toàn bộ khu nhà cho an toàn. Sáng nay cư dân được phép trở vào nhà để thu dọn đồ đạc, và tiếng ầm ầm mà tôi nghe thấy là từ những món đồ nội thất bị cháy hoặc hư hại bị quẳng ra từ những ô cửa sổ thẳng xuống chiếc dumpster bằng sắt to đùng bên dưới. Rất may, không có thiệt hại về nhân mạng hay thương tích gì.

    Ngày đầu năm, các cửa hiệu hàng quán đều đóng cửa, tự dưng tôi thèm đến chết chiếc bánh quế nóng của Tina’s cafe cho buổi sáng hôm nay. Buồn chán chẳng biết đi đâu, tôi đành nướng một lát bánh mì rồi phết bơ và mứt lên ăn tạm, rồi hì hụi dọn dẹp nhà và thay ga giường mới. Cầm tấm khăn trải giường thơm thoảng hương chanh vừa giặt hôm trước, tôi điểm lại trong đầu những sự kiện vừa xảy ra trong vòng hai mươi bốn giờ qua. Mọi việc xảy ra nhanh quá, tôi cảm giác như mình vừa trải qua một cuộc phiêu lưu thật dài với đầy đủ hương vị mà tiếc thay, nó lại kết thúc bằng một sự kiện kinh hoàng như tối qua. Tôi nghĩ lan man đến những người sống ở tầng trên cùng bên khu bị cháy, cảm thấy tội cho họ vô cùng. Cư dân ở đây chủ yếu là sinh viên, sống xa gia đình như thế chẳng biết đêm qua chúng nó ngủ nhờ nơi đâu?

    Tôi quyết định đi xuống nhà bố Bear xem họ đã về chưa. Cửa vẫn đóng, nhưng xe của ông bà thì đã quay trở lại khiến tôi mừng rỡ. Nhưng họ lại đi đâu nữa rồi nhỉ? Khu sân trước chẳng mấy chốc đã được dọn sạch gần hết, đường lại được thông, sinh hoạt hàng ngày dần trở lại bình thường. Tôi bước ra đường, nhòm ngó bọn sinh viên đang bận rộn khuân vác đồ đạc ra vào tấp nập, rồi quyết định ngỏ lời giúp đỡ với một con bé đang tự dọn dẹp một mình mà dường như chẳng có ai giúp.

    - Xin lỗi! Tôi có thể giúp em một tay được không? Tôi sống ở khu đối diện bên kia - vừa nói tôi vừa chỉ tay về hướng căn hộ của mình.
    - Nếu thế thì hay quá, mình đang rất cần người giúp đây ạ. Mình cần tìm nơi cất tạm những bức họa này và dụng cụ vẽ … Nếu không quá phiền, nhờ bạn giữ tạm giúp cho đến khi mình ổn định chỗ ở được không?
    - Đâu có gì mà phiền! Thế em sống ở tầng mấy?
    - Mình ở tầng hai. May mà hôm trước mình dọn dẹp và cất chúng vào bao bọc nhựa cẩn thận nên chúng vẫn còn nguyên vẹn, nếu không thì … - giọng con bé gần như nấc nghẹn.
    - Thật mừng vì chúng vẫn được an toàn - tôi thầm thì. Em vẫn bình an, việc ấy còn quan trọng hơn phải không?
    - Đúng rồi …

    Con bé là sinh viên năm hai của Đại học Mỹ thuật, tóc nhuộm đủ màu, mũi xỏ khoen, kẻ mắt đen đậm, mặc quần áo giống kiểu các vũ nữ flamenco và chân đi bốt. Trông nó có vẻ nổi loạn bất cần đời nhưng nói chuyện thì cực kỳ lịch sự lễ phép. Cái tên Vivien Lee của nó khiến tôi liên tưởng đến kiều nữ Vivien Leigh trong vai nàng Scarlett O’Hara bất hủ, và tôi thầm cười trong bụng khi nghĩ đến hai hình ảnh trái ngược nhau cho hai cô gái có cái tên gần trùng nhau như thế. Tôi hì hục vác đồ đạc của nó sang căn hộ của mình, và khi quay lại và leo cầu thang đến lần thứ ba thì tôi bắt đầu cởi bớt khăn choàng cổ cùng chiếc áo khoác mùa đông dày cộp ra mà thay bằng áo khoác mỏng hơn vì người đã bắt đầu nóng lên. Khiếp, dân mỹ thuật sao mà hành trang lỉnh kỉnh thế này không biết. Nào là giá vẽ, giấy cuộn, vải canvas cuộn, hộp màu và bột màu, cọ vẽ, chai lọ … Nghệ thuật sáng tạo đúng là vô giá, người họa sĩ đã bỏ biết bao công sức, tâm tư tình cảm, hoài bão, ước mong … vào trong tác phẩm của mình, mà có mấy ai thông hiểu và đồng cảm với họ? Và đời họa sĩ thường nghèo khó, đó là điều thật cay đắng cho một đời nhọc nhằn sáng tạo và làm đẹp cho đời.

    Thấy hai đứa con gái gầy liêu xiêu mang vác vất vả quá nên anh chàng thợ điện đang làm việc gần đó quyết định bước ra giúp một tay. Đêm trước có hỏa hoạn nên đường dây điện đã bị cúp, hôm nay thợ điện đến để đi dây trở lại cho các doanh nghiệp ở đấy. Còn khu bên tôi, may trời, hoàn toàn vô can và không mất điện. Con bé này chẳng biết căn hộ nó to cỡ nào mà đồ đạc của nó nhiều quá thể, may mà có anh chàng tốt bụng kia giúp đỡ, chẳng mấy chốc chúng tôi cũng đã khuân hết đồ đạc ra đường chờ người ta mang đi. Tôi mời Vivien vào nhà ngồi nghỉ ngơi, hai đứa trò chuyện một hồi và tôi cảm giác rất tâm đầu ý hợp với con bé. Gia đình nó sống không xa trường lắm, cách chừng bốn mươi lăm phút lái xe, nhưng nó quyết định ở đây để tiết kiệm chín mươi phút đi lại mỗi ngày, và cũng để được tự do hơn. Bây giờ nó lại dọn về nhà bố mẹ và đồng thời đi tìm nơi ở mới gần trường. Nhìn bề ngoài của Vivien, thật khó mà đoán nó là một người khá sâu sắc và chín chắn, tôi lại học được bài học chớ trông mặt mà bắt hình dong. Thật mừng vì tôi đã vượt qua được rào cản định kiến khi mới gặp con bé lần đầu mà đã ngỏ lời giúp nó.

    - Cái gì? Chị không phải sinh viên ở đây à? Chị lớn tuổi hơn em à??

    Con bé tròn xoe mắt khi phát hiện sự thật “động trời” ấy! Làm người châu Á lang thang ở trời Tây cũng có cái thú vị vì chẳng ai đoán được tuổi thật của mình, và họ luôn đoán rằng ta trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Vivien còn bảo tôi trông như nữ sinh trung học, nó cứ nghĩ tôi trẻ hơn nó.

    - Chị làm cách nào mà trẻ lâu thế? Chắc chị tập thể dục và ăn uống lành mạnh phải không?

    Tôi phì cười trước câu hỏi thật thà của nó. Chẳng lẽ phải nói toạc ra với nó rằng tôi chẳng có bí quyết gì, chỉ vô tình là người mang gene châu Á thôi?! Rồi tôi mời nó ăn trưa với tôi, vẫn là mì gói muôn năm cho những ngày mùa đông lạnh lẽo lê thê như thế này. Nó cầm đũa rất sành điệu, và trút đầy gói ớt vào tô mì của nó. Rồi con bé vừa ăn vừa xuýt xoa khen lấy khen để món mì của tôi, hỏi tôi “công thức” nấu mì. Tôi chỉ cho thêm vào mì vài con tôm nhí và rau củ thái mỏng, bí quyết chỉ có thế!

    Ăn xong được vài phút thì bố mẹ và anh trai Vivien đến giúp con bé dọn đồ mang về nhà. Trước khi đi, con bé nhờ tôi mở giúp những lớp bọc của các bức họa ra cho thoáng khí, nhưng việc ấy không gấp lắm, khi nào tôi có thời gian cũng được. Rồi bố mẹ con bé cảm ơn rối rít khiến tôi phát ngại. Tôi nhìn Vivien tay trong tay với cả bố lẫn mẹ, liếng thoắng nói chuyện với ông bà, rồi ông bố ôm chầm lấy con bé và hôn lên tóc nó khiến mắt tôi cay cay. Chiều đã đến lúc nào không hay, tôi cứ đứng sau tấm rèm cửa sổ ngẩn ngơ nhìn gia đình Vivien khuân vác đồ đạc chất lên xe cho đến khi thùng đồ cuối cùng đã được mang đi. Cơn buồn ngủ và mệt mỏi bỗng ập đến khiến tôi không thể cưỡng lại chiếc giường êm ái và ấm áp đang mời gọi đằng kia.

    Ngày đầu năm của tôi kể ra cũng không quá tệ!

    https://baglady007.blogspot.com/2017/03/giang-sinh-xua-14.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #14
    CHƯƠNG 11: Were we lovers in a past life?

    Tôi nhớ Jacqueline và chất giọng Pháp của bà, cùng với vài từ Pháp mà thi thoảng bà lại chêm vào lời thoại, chẳng hiểu sao tôi cảm giác nó tao nhã và quý phái thế nào. Ngày xưa ba tôi từng học “trường Tây”, và tôi nhớ trong những câu chuyện của người lớn, khi ba nói chuyện với mấy ông bạn xưa, lâu lâu tôi lại nghe vài từ “tiếng Tây”. Tôi vốn hay tò mò, sau khi họ về thì tôi lại hỏi ông những từ “lạ” mà tôi hóng hớt được có nghĩa gì, và mặc dù ba đã nghiêm mặt dạy tôi rằng con nít không được hóng hớt khi người lớn nói chuyện, nhưng vẫn giải nghĩa những từ tôi hỏi để thỏa trí tò mò cho tôi. Về sau, ba thấy tôi có vẻ thích ngoại ngữ nên ông bắt đầu dạy tiếng Pháp cho tôi, và khuyến khích tôi đọc nhiều sách. Trong đời thường, tôi để ý ông cũng hay dùng một số từ vựng Pháp khi nói chuyện với người khác. Tôi nghĩ đó là do thói quen lâu ngày chứ không phải ông thuộc dạng người thích chứng tỏ ta đây, ông không xưng hô “toa” và “moa” như một số trí thức cùng thời, và cũng chẳng cố tình chêm tiếng Tây khi nói chuyện để phân biệt bản thân mình với những người thất học. Và tôi nghĩ Jacqueline cũng vậy, bà chêm tiếng Pháp theo thói quen, chứ chẳng phải để làm màu mè gì.


    Jacqueline về Pháp hai tuần vì lý do đột xuất, bố của bà không khỏe nên bà phải vội vã về thăm, và tôi đã chẳng tập tành gì trong hơn một tuần nghỉ Giáng Sinh và năm mới. Lý do là trường đóng cửa, và Jacqueline thì không có ở nhà, thế nên tôi cũng chẳng có nơi để tập đàn. Bà rất không hài lòng khi nghe tin này, nhưng không phải bà bực tôi, mà là bực ông con trai của bà.


    - Tôi đã bảo nó nhắn với cháu cứ sang nhà tôi tập đàn trong thời gian tôi đi vắng, và chỉ bảo thêm cho cháu, thế mà nó lại quên. Thà rằng cháu chỉ tập mười lăm hai mươi phút mỗi ngày, như thế vẫn tốt hơn nhiều so với việc bỏ dở vài ngày rồi lại tập dồn dập mấy tiếng trong một ngày. Tôi thấy cháu tiến bộ rất nhanh, ngoài một con bé mười tuổi khác mà tôi từng dạy thì cháu là người học nhanh nhất mà tôi từng biết đấy.


    Tình huống này khá bất thường, thứ nhất là Jacqueline chưa bao giờ nhắc đến B với tôi, thứ hai, tôi nghĩ có lẽ B có lý do riêng. Tôi thoáng nghĩ đến cô gái tóc vàng trong đêm tiệc Giáng Sinh hôm nọ và suýt buộc miệng nói việc ấy với Jacqueline, nhưng rồi tôi quyết định không nói gì. Tôi không muốn xáo trộn đời tư của ai cả, và nhất là khi việc ấy có liên quan đến mình, tôi cũng muốn bình yên cho bản thân, sau khi vừa xong một cuộc sóng gió khiến tôi vô cùng mỏi mệt. Và nếu nói việc của B ra thì trông tôi sẽ rất vô duyên. Không, cũng may tôi đã quyết định đúng đắn. Rồi bà hỏi thăm tôi về đêm giao thừa khi khu chung cư tôi ở bị cháy, và nói thêm.


    - Đêm ấy B cãi nhau với Jessie, vì con kia muốn đi hộp đêm đón năm mới trong khi B lại thích một nơi thanh tịnh ấm cúng. Cuối cùng hai đứa nó chẳng đi đâu với nhau và B ở nhà một mình. Đêm xảy ra hỏa hoạn, B có mặt trong đội chữa cháy đấy. Nó là tình nguyện viên trong trạm cứu hỏa từ thời còn ở Học viện Hải quân, khi nào đi công tác xa nhà thì thôi, chứ khi về lại thành phố thì nó vẫn phục vụ trong trạm cứu hỏa.


    À, thì ra cô nàng cũng có một cái tên! Tôi lẩm bẩm trong đầu, mừng vì đã không phải nhắc đến cô ta trước. Jacqueline tạm ngừng và nhìn tôi bằng ánh mắt hơi khác lạ khiến tôi không thoải mái.


    - Nó đã rất lo cho cháu trong đêm ấy. Vì chẳng biết căn hộ của cháu ở khu nào, nó đã chạy quáng quàng hỏi khắp nơi …
    - Ôi thế à … - tôi chỉ biết nói thế - hy vọng B không sao …
    - Nó bị bỏng trong khi … - Jacqueline đột ngột chuyển sang ý khác - nó chỉ biết cháu sống ở tầng trên cùng, mà đêm ấy tầng ba lại là tầng bị cháy, thế nên nó đã rất sợ.
    - Cháu cảm kích việc ấy …


    Tự dưng tôi cảm giác mình và Jacqueline như đang dùng mật mã để nói chuyện với nhau vì cả hai đều như đang cố tránh nói thẳng hoặc thừa nhận một sự thật nào đó.


    - Thế, anh ấy đã kể mọi việc cho cô rồi …
    - Hai mẹ con tôi rất thân nhau - Jacqueline mỉm cười hồn hậu - từ lúc bốn, năm tuổi, nó đã luôn thắc mắc tại sao nó không thể cưới tôi, và bảo nếu không cưới được mẹ thì nó cũng chẳng muốn cưới ai hết!


    Tôi ngắm kỹ gương mặt Jacqueline, và nhìn thấy đôi mắt của B trên ấy. Anh có đôi mắt rất giống mẹ, mặc dù màu mắt rất khác nhau nhưng sự biểu cảm trong ấy thì không sai đi đâu được, cộng với cái nhướn mày mỗi khi họ thích thú một điều gì đấy khiến cho gương mặt họ trông có vẻ gì đó hơi tinh nghịch và hài hước. Tôi cố hình dung lại ngoại hình của B thì thấy anh chẳng giống mẹ chút nào, chỉ giống có đôi mắt ướt át ấy thôi. Hay là anh ta giống bố? Tôi chợt nhận ra, Jacqueline chưa bao giờ nói gì về chồng mình, và tôi cũng chưa bao giờ gặp ông ấy.


    - Thế, cháu đi chơi ở đâu vào đêm ấy?


    Trời, câu hỏi mà tôi sợ nhất giờ đây đã rơi phịch trước mặt, bắt tôi phải đối diện và giải quyết. Tôi lí nhí trả lời, gần như không nghe tiếng của chính mình.


    - Cháu đi nghe nhạc ở Le Chat Noir.
    - Ô là la, cháu đã đến đấy thì chắc chắn sẽ không phí thời gian? Tôi là bạn của bà chủ nơi ấy đấy.


    Đến lượt tôi hào hứng.


    - Cô có hay gặp bà ấy không? Vì cháu có một việc nhỏ muốn nhờ cô giúp.
    - Dạo này thì chúng tôi ít gặp, vì dịp cuối năm, nhưng giờ đây có lẽ sẽ gặp nhau thường xuyên hơn. Trong những lần gặp mặt với các bạn của tôi, lẽ ra cháu đã có dịp gặp bà ấy đấy, nhưng bà ấy bận rộn suốt nên đã chẳng tham gia được. Thế cháu muốn nhờ việc gì?


    Tôi kể cho Jacqueline nghe về bố Bear và bà Rosalyn, và mong bà chủ Le Chat Noir cho treo ảnh hai ông bà như những nghệ sĩ đầu đàn trong lịch sử của quán, ngoài ra, ông bà còn có rất nhiều ảnh mang tính tư liệu quý giá khác về quán mà họ sẽ rất thích. Jacqueline có vẻ rất phấn khởi, bà gật đầu tán thành ngay.


    - Việc ấy thì tôi ủng hộ hoàn toàn! Cháu thấy đấy, tôi rất thích lịch sử nghệ thuật. Đây là việc nên làm, để nhắc nhở các thế hệ nghệ sĩ sau này về những con người tuyệt vời của thế hệ trước.


    Tôi mừng quá, cảm giác chỉ muốn ba chân bốn cẳng chạy về nhà và báo tin cho ông bà Bear biết, rồi chợt nhớ ra rằng mình vẫn chưa gặp bà chủ quán kia.


    - Hay là cháu nói chuyện trước với ông bà ấy, nếu họ chấp thuận thì cháu sẽ cho cô biết để hẹn gặp bà bạn của cô?
    - Thế cũng tốt, đúng ra phải hỏi ý kiến của họ trước. Tôi cũng nôn được xem những bức ảnh quý giá ấy!


    May mà Jacqueline không hỏi gì thêm về bạn đi cùng của tôi trong đêm giao thừa ấy, vì tôi có cảm giác bà đang ám chỉ cái gì đấy giữa tôi và B. Hoặc có lẽ chẳng có gì đặc biệt cả, vì tính bà ấy thẳng thắn và nồng nhiệt, bà ấy quý tôi nên muốn cho tôi biết rằng mẹ con bà đã lo lắng thế nào về sự an toàn của tôi mà thôi. Nghĩ đến việc hai mẹ con Jacqueline rất thân nhau khiến định kiến của tôi về B rơi rụng đi một ít. Anh ta trông có vẻ phong trần lãng tử, bất cần đời và chẳng biết sợ là gì, nhưng đàn ông biết yêu kính mẹ là đàn ông tốt và đáng tin cậy. Tự dưng tôi cứ nghĩ bâng quơ về B, đã bao lâu rồi kể từ lần chạm mặt đầu tiên hơi bất thường ấy nhỉ?


    .


    Phyllis là một phụ nữ to đậm, người cao và to béo nhưng không phục phịch mà da thịt bà có vẻ rất chắc. Tuy dáng người không có gì xuất sắc nhưng gương mặt bà rất đẹp, tôi cứ thầm nghĩ không biết hồi trẻ trông bà như thế nào, bà có từng thon thả hay không? Nếu thế thì bà chắc cũng phải từng là giai nhân tầm cỡ chứ chẳng chơi! Bà xuất hiện y như trong suy nghĩ của tôi, một phụ nữ nhiều son phấn, trang phục có phần cầu kỳ hơi khác người, và là loại người mà ta có thể ngửi được mùi nước hoa từ người họ khi họ còn ở khoảng cách khá xa. Tôi nhìn Jacqueline và Phyllis khi hai người ôm hôn xã giao mà thấy lo cho Jacqueline vì ngộ nhỡ Phyllis trượt chân và ngã lên người Jacqueline thì chắc chắn bà bạn nhỏ nhắn của tôi sẽ bị đè đến bẹp dúm. Rồi tôi lại cố xua đi suy nghĩ tinh quái không hay ấy của mình đi mà cố tập trung vào mục đích của cuộc gặp hôm nay.


    - Ôi, tôi không ngờ được gặp một người trẻ thế này và đã thích jazz. Thế cơ duyên nào đưa cô đến với jazz thế?


    Phyllis vui vẻ hỏi tôi trong khi hai bàn tay bà chắp vào nhau, mắt nhìn thẳng vào tôi, miệng cười tươi và người hơi rướn về phía trước, một ngôn ngữ cơ thể cho biết rằng người hỏi đang thật sự quan tâm và thích thú. Điều ấy khiến tôi phải cố suy nghĩ vì tôi không thật sự có câu trả lời chính thức. Ngoài ra, câu hỏi của bà khiến tôi có cảm giác rằng bà đánh giá trình độ âm nhạc của tôi hơi cao so với thực tế của tôi!


    - Gọi là cơ duyên thì chẳng biết có đúng hay không, nhưng có một lần khi còn ở trung học, cháu tình cờ nghe một cô bạn kể về bộ phim cô ấy vừa xem và nói rằng nhân vật chính là một nghệ sĩ nhạc jazz. Có lẽ đó là lần đầu cháu nghe đến khái niệm ấy, và bắt đầu tò mò, thế là cháu ra tiệm bán băng đĩa, tìm mua đĩa nhạc jazz về nghe thử xem sao, và tự dưng cháu thích và cảm thấy gần gũi với nó vô cùng, chẳng biết phải giải thích thế nào.
    - Cô có tin vào tiền kiếp không?


    Tôi hơi ngớ ra vì câu hỏi có vẻ “lạc quẻ” này, chẳng hiểu tại sao bà lại hỏi như thế.


    - Khi còn bé thì cháu thường nghe người lớn nói về tiền kiếp, về đầu thai, nên có lẽ cháu đã tin vào việc ấy từ trong tâm thức một đứa trẻ, nhưng khi lớn lên thì cháu hoang mang về việc ấy, vì …
    - .. vì không có chứng cứ khoa học phải không? - Phyllis vui vẻ tiếp lời tôi.


    Tôi gật đầu tán thành ý ấy của bà.


    - Tôi hỏi cô câu ấy, vì tôi tin vào tiền kiếp. - Phyllis nói tiếp. - Việc cô yêu thích jazz vốn chỉ xuất phát từ tò mò và từ lần nghe đầu tiên khiến tôi liên tưởng đến việc ấy, rằng cô có “duyên” với jazz. Cô thấy đấy, jazz rất đặc biệt vì nó đòi hỏi một trình độ cảm thụ âm nhạc nhất định. Cô có nhớ những giấc mơ mà trong đó cô đang ở một nơi hoàn toàn xa lạ nhưng trong tâm thức trong mơ, cô lại thấy nó rất quen thuộc và cảm giác mình đã từng đến đấy không?


    Câu hỏi của bà lại khiến tôi liên tưởng đến những giấc mơ hay lập đi lập lại của tôi, và đúng là tôi thường thấy những nơi như Phyllis vừa nói.


    - Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi ta gặp một người lạ trên đường nhưng ta cứ có cảm giác đã quen biết người đó từ thuở nào. Cô có từng gặp ai như thế chưa?


    Tôi nghĩ đến B, dường như tôi đã có cảm giác ấy khi gặp anh lần đầu. Còn David thì thế nào nhỉ? Không, tôi không hề có cảm giác ấy với David, mặc dù tôi gặp David nhiều hơn. Ngoài ra, trong thâm tâm, tôi cảm giác mình rất thoải mái khi nói chuyện với B mà không phải màu mè khách sáo gì, như thể tôi đã quen anh từ lâu. Với David thì tôi cứ luôn phải giữ kẽ, để ý lời ăn tiếng nói, từng điệu bộ cử chỉ của mình. Tôi bắt đầu chìm vào suy nghĩ mông lung …

    https://baglady007.blogspot.com/2017/04/giang-sinh-xua-16.html


    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #15
    CHƯƠNG 12 - Can’t take you off my mind (17)

    Đêm ấy tôi lại trăn trở. Sau cuộc nói chuyện với Jacqueline và Phyllis, cảm xúc phức tạp cứ cuồn cuộn dâng trào trong lòng. Tôi cảm thấy áy náy khi B đã lăn xả vào đám cháy mong cứu tôi và đã lo lắng cho tôi rất nhiều, trong khi tôi đang tận hưởng những điều đẹp đẽ thanh tao nhất, chìm ngập trong niềm hân hoan náo nhiệt khi thời khắc giao thừa đang đến gần. Và nhất là ở bên một người khác trong một không khí thân mật hơi bất thường đêm ấy. Nhưng nếu vào một hoàn cảnh khác, khi Jessie đồng ý đi chơi với B ở nơi anh thích thì liệu việc ấy có cân bằng được tâm trạng của tôi lúc này không? Tôi nhận thấy mình không vui khi tưởng tượng đến phiên bản ấy, và tự hỏi lòng mình có đang tự mâu thuẫn hay không, rồi tôi cố suy diễn để tự ngụy biện cho những suy nghĩ đang chồng chéo xoắn xéo trong đầu. Rất có thể, việc anh lo lắng về sự an nguy của tôi cũng rất bình thường. Bất kỳ người lính cứu hỏa nào cũng đặt công tác cứu người lên hàng đầu, tôi lại là người anh quen biết nên anh mới đặc biệt chạy đi tìm tôi trước mà thôi? Nhưng tại sao trong đêm tiệc Giáng Sinh ấy khi Jessie đến và kéo anh đi, trong đôi mắt anh như có mây đen báo hiệu một cơn giông tố sắp đến? Tôi xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau để cố giải mã một điều gì đó nhưng càng cố thì lòng tôi càng rối bời vì mọi việc chẳng ăn nhập gì với nhau cả. Cả Jacqueline nữa, sau bao ngày chẳng hề đề cập đến B thì nay lại kể cho tôi nhiều chi tiết về anh đến thế?


    Rồi tôi nghĩ đến người đàn bà phúc hậu Phyllis. Bà ấy trông rất lành, một mẫu người dễ chịu và luôn tạo thiện cảm cho người mới gặp lần đầu một cách chân thành. Theo lời Jacqueline, họ quen nhau ở một hội sinh hoạt của người Pháp, và mặc dù Phyllis không phải người Pháp nhưng bà từng du học ở đấy và rất yêu thích ngôn ngữ và văn hóa của đất nước này. Ngoài Le Chat Noir, bà còn sở hữu một cửa hiệu bé xinh bán giày, phụ kiện thời trang, và … sô cô la từ Pháp. Tôi nghĩ đến điều bà hỏi tôi ban sáng, và lại trăn trở. Tôi là người tâm linh, đó là điều có thật, thế nên tôi hiểu rất rõ khi bà hỏi tôi những điều có liên quan đến tâm linh như thế. Có một dạo, thời còn học trung học, hễ đêm nào tôi nằm mơ thấy ai thì y như rằng đó sẽ là người tôi gặp đầu tiên vào buổi sáng. Nhưng khi tôi thích thú cố gắng nghĩ đến người tôi đang thầm yêu trộm nhớ và muốn mơ thấy người ấy để sáng sớm có thể gặp người ấy ngay thì chẳng bao giờ thành công! Trời bất dung gian, cứ mỗi khi tôi cố “ép” giấc mơ đi theo ý muốn của mình thì tôi lại nằm mơ thấy người tôi không ưa, và dĩ nhiên, đó sẽ là người tôi chạm mặt trước hết vào khởi điểm của một ngày mới. Sáng nay khi đang cao hứng nói chuyện về đề tài tâm linh với hai người phụ nữ ấy, tôi suýt kể cho họ nghe chuyện những giấc mơ kỳ quái của tôi, nhưng rồi lại quyết định không kể. Tính tôi rất riêng tư, ít khi tâm sự chuyện cá nhân của mình với người khác, thậm chí với bạn thân thì tôi cũng rất chọn lọc việc nào kể việc nào không. Về vấn đề tâm linh này, tôi không thể chối cãi cảm nhận rất rõ của mình khi lần đầu tôi chạm mặt với B, thậm chí khi anh đang đứng khuất trong bóng cây và lúc chưa kịp nhìn rõ mặt anh thì tôi đã cảm nhận một sự thân quen nào đó rất dễ chịu. Dĩ nhiên khi ấy tôi đã chẳng nghĩ gì đến tiền kiếp hay hậu kiếp, nhưng sau khi gặp Phyllis xong thì chỉ biết dùng khái niệm này để định nghĩa cảm giác của mình lúc ấy mà thôi.


    .


    Cuộc gặp sáng nay với bố Bear diễn ra trôi chảy trong không khí thân mật và ấm cúng, tôi rất thích được nhìn ông thật tự hào khi khoe những tấm ảnh ấy với hai người đàn bà mới gặp như lần ông cho tôi và David xem hôm trước Tết nọ. Rồi khi đang ngon trớn kể chuyện xưa, cũng là những câu chuyện tôi đã được nghe hôm ấy, ông lại quay sang tôi và bô bô hỏi về David, về đêm giao thừa ở Le Chat Noir khiến tôi có cảm giác như kẻ ăn vụng vừa bị bắt quả tang và nhột nhạt khắp toàn thân. Tôi đâm bực bội với mặc cảm tội lỗi vô duyên vô căn cứ này, bởi vì việc tôi đi chơi với người tôi thích là chuyện cá nhân của tôi, cớ sao tôi cứ mãi lo lắng về việc người khác nghĩ về tôi như thế nào? Vả lại, cách Jacqueline nói về B và Jessie khiến tôi có cảm giác họ quen nhau đã lâu lắm, ở một mức thân mật đã liên quan đến gia đình hai bên cũng không chừng. Thế là tôi rũ bỏ tất cả những suy nghĩ đang khiến lòng rối như tơ vò mà mạnh dạn trả lời bố Bear, nhân tiện tôi cũng không quên ca tụng quán thật nhiệt tình để nói càng ít về David càng tốt, và cố lờ đi cái nhướn mày đầy thắc mắc của Jacqueline. Nhưng bà ấy chẳng nhận xét gì, và tôi mừng thầm trong lòng, cảm ơn bà đã tế nhị tránh cho tôi thêm một việc khó xử. Tôi cũng vừa kết thêm một người bạn mới là Phyllis. Tôi không ngờ bà hạnh phúc đến thế khi nghe những lời tốt đẹp về Le Chat Noir, khi ấy tôi lờ mờ hiểu rằng niềm đam mê quan trọng đến mức nào trong việc góp phần to lớn cho thành công trong cuộc sống, và cũng đủ để người ta sống chết vì một nghề nghiệp, sở thích, hay lý tưởng nào đó trong đời.


    .


    Phyllis ăn chay và theo đạo Phật. Từ khi quen biết tôi, bà tỏ rõ sự quan tâm ưu ái đặc biệt cho tôi khiến tôi phát ngại. Tôi quen sống sâu kín với bản thân, ít biểu lộ cảm xúc nên người mới gặp tôi thường có cảm giác tôi hơi lạnh lùng và không thân thiện lắm, nhất là gặp trên điện thoại thì thôi rồi, họ không thấy được ngôn ngữ cơ thể thì họ càng tin vào điều ấy hơn nữa! Tôi quen nhiều người nhưng lại ít bạn, mà một khi đã là bạn thì thường là bạn ở tầm tri kỷ, là những người hợp cạ với tôi và đủ tin cậy để tôi trải lòng cùng. Dường như tôi và Phyllis có sự kết nối tâm linh nào đó, là bà tin và cảm nhận như thế, nên bà có vẻ rất thích tôi và hay khuyến khích tôi trò chuyện về những đề tài sâu sắc, vốn không dễ cho những người mới quen sơ như chúng tôi. Có thể chúng tôi cũng đã quen nhau trong tiền kiếp rồi cũng nên, thế nên hôm nay bà mới tự nhiên và quý mến người mới gặp lần đầu lại là đứa hay giữ kẽ như tôi. Việc một người phương Tây lại ăn chay và theo đạo Phật như Phyllis là điều tôi chưa bao giờ nghĩ đến, cho nên tôi khá ngạc nhiên, và nhất là trong khi tôi đến từ một xứ sở giàu truyền thống Phật giáo lại chẳng mảy may quan tâm gì đến nó cả. Jacqueline có gốc Công giáo La Mã, nhưng bà bị ảnh hưởng bởi Phyllis và đã bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về Phật giáo và đã cùng tập thiền với Phyllis khá đều đặn.


    - Từ khi tập thiền, tôi thấy mình kiên nhẫn hơn, tư duy rõ ràng mạch lạc hơn, và nhất là bệnh đau nửa đầu cũng giảm hẳn. - Jacqueline hào hứng kể - nếu cháu rảnh thì hãy tham gia cùng chúng tôi, biết đâu cháu sẽ thích.


    Hồi đó, khi nghe đến thiền là tôi cứ mường tượng mấy ông già râu tóc bạc phơ ngồi xếp bằng bất động trong nhiều giờ liền, như trong mấy phim võ hiệp cổ trang tôi từng xem hồi mới lớn. Thế nên khi nghe họ rủ rê là tôi đâm hoảng! Làm sao tôi có thể ngồi yên bất động trong nhiều giờ liền như thế được.


    - Ô là la, làm gì có chuyện ngồi yên mấy tiếng đồng hồ! - Jacqueline cười lớn - có lớp học hẳn hòi đấy, cháu yên tâm. Người mới tập thì sẽ học kỹ thuật trước, rồi bắt đầu chừng mười lăm phút thôi, sau sẽ tăng dần. Mai chúng ta đi nhé?


    Tôi thích cách Jacqueline dẫn dụ người khác một cách hơi bất ngờ nhưng luôn thuyết phục như thế này, giống như lần bà bắt đầu dạy dương cầm cho tôi vào cùng ngày chúng tôi vừa bàn đến việc ấy, và ngay lần đầu gặp gỡ. Tôi đang suy nghĩ có nên bỏ buổi tập yoga với Kim để đi thiền với hai người phụ nữ đặc biệt này hay không thì Phyllis đã tiếp lời Jacqueline.


    - Lớp cũng có vài người trẻ đấy, cháu sẽ thích. Và thầy hướng dẫn cũng rất nhiệt tình. Ở đấy cũng có lớp yoga trước buổi tập cho thiền sinh mới, cháu có thể đến sớm để tập yoga với Jacqueline.


    .


    Dậy sớm vào sáng sớm mùa đông, lại vào ngày cuối tuần, đối với tôi thật không dễ, nếu không muốn nói là cực hình. Tôi vốn là con cú đêm, cho nên thường có xu hướng ngủ nướng vào buổi sáng mới đủ giấc, nhưng tôi đã nhận lời đi tập yoga cùng Jacqueline nên đành ép mình đi ngủ sớm vào buổi tối hôm trước. Lớp yoga khá vắng, vì bắt đầu từ sáu giờ ba mươi sáng, và Jacqueline đến đón tôi lúc sáu giờ. Đường vắng nên chúng tôi đi chỉ mất mười phút đã đến nơi. Jacqueline chu đáo mang theo hai cái bánh sừng trâu và hai quả chuối, bà chia cho tôi một nửa, và chúng tôi uống cà phê mà nhân viên phòng tập đã pha sẵn trong máy cho khách. Ăn uống xong thì tôi cũng vừa tỉnh ngủ, nhưng vẫn không tránh khỏi việc vừa tập vừa ngáp sái quai hàm khiến Jacqueline phải bật cười.


    Phòng tập thiền thuộc về một ngôi chùa của Phật giáo Tây Tạng vừa được xây vài năm trước. Chùa được xây bằng gạch đỏ, thiếp vàng ở các đường viền, đây cũng là hai màu đặc trưng của các chùa và trang phục tu sĩ của hệ phái này. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy chùa không được xây theo kiến trúc đặc trưng của Tây Tạng mà lại mô phỏng kiểu nhà thờ Thiên Chúa giáo, với chóp nhọn cao ở đỉnh và nội thất hiện đại. Nhập gia tùy tục, có lẽ muốn truyền đạo ở nơi Thiên Chúa giáo thống lĩnh như thế này thì phải ứng dụng những hình ảnh quen mắt với đại đa số người dân rồi mới từ từ thuyết giảng giáo pháp vốn vẫn còn được xem là xa lạ và mới mẻ này. Trụ trì chùa là một ni cô người Mỹ, tuổi chừng ngoài năm mươi, dáng người nhỏ nhắn linh hoạt, gương mặt hiền lành phúc hậu và đôi mắt như luôn mỉm cười. Bà là đệ tử của một vị lạt ma người Tây Tạng, người đã làm việc không ngưng nghỉ để vận động thuyết pháp và truyền giáo trong nhiều năm, và cuối cùng đã thành công trong việc xây dựng ngôi chùa bé xinh và khang trang như hiện tại. Ông đã trụ trì chùa trong vài năm đầu và cuối cùng bàn giao lại cho ni cô này, vì theo ông, đã đến lúc ông phải đến những vùng đất khác để tiếp tục sứ mệnh truyền giáo sau khi đã hoàn tất công việc tại đây.


    Tôi thật ngỡ ngàng vì thứ nhất, tôi không ngờ mình lại có duyên bước vào một ngôi chùa Phật giáo ở trời Tây như thế này; thứ hai, tôi cảm thấy các bức tượng Phật tại đây thật xa lạ, rất khác với hình ảnh các vị Phật tôi từng quen thuộc khi đi chùa với má ngày trước. Nhưng tôi đã quen với việc chắp tay để vái chào các vị ni sư và tôi tự nhiên làm việc ấy khi gặp bà ni cô trụ trì khiến bà có vẻ rất vui và cũng chắp tay chào tôi lại. Phyllis nhìn tôi thích thú, mỉm cười hồn hậu rồi khẽ gật đầu như thể tôi vừa đạt mức yêu cầu trong một cuộc trắc nghiệm nhỏ trước khi bước vào kỳ thi chính thức.


    Sau khi tập yoga xong, người tôi giãn ra rất sảng khoái nên việc ngồi yên trong một thời gian dài không có gì khó khăn lắm. Phòng tập thiền nằm tại góc khuất ở mặt sau của chùa, và cửa ra vào ăn thông với sân vườn vốn sẽ xanh rờn và đầy hoa vào những ngày xuân sắp tới. Phyllis khuyên tôi nên mặc thêm áo khoác nhẹ và trải một tấm chăn mỏng lên chân để giữ ấm khi ngồi thiền, và tôi thật biết ơn bà đã chu đáo như thế với tôi vì việc này vô cùng cần thiết khi ngồi yên bất động trong mùa đông như thế này. Chúng tôi ngồi xếp bằng trên một tấm đệm mỏng, hai tay thả lỏng và nghỉ trên gối, lưng thẳng, mắt cụp xuống sàn và lắng nghe lời thầy hướng dẫn. Vào đây học mới biết bản thân thiền cũng có nhiều hệ phái khác nhau với cách thức và mục tiêu thực tập khác nhau, và nơi đây dạy thiền vipassana - thiền minh sát - cũng quán chiếu hơi thở nhưng lại theo dõi chuyển động lên xuống của vùng bụng khi thở ra và hít vào, và từ đấy theo dõi các cảm nhận và cảm xúc của thân và tâm để rồi cuối cùng, quán chiếu về lẽ vô thường của đời sống và từ đó đạt đến ngưỡng nhập định và giải thoát. Tôi không có tham vọng đạt đến các cảnh giới cao xa như thế qua thiền định, nhưng lại có một ước vọng nho nhỏ là thông qua thực tập thiền, tôi sẽ có khả năng tập trung tốt hơn, trí nhớ được tăng cường hơn và do đó, suy nghĩ cũng sáng suốt hơn.


    Sau khi nghe qua phần lý thuyết ngắn gọn, các thiền sinh mới bắt đầu nhắm mắt lại và thực hành. Không gian tĩnh mịch hòa quyện với hương trầm thoang thoảng trong gian phòng gợi nhớ trong tôi những ngày đi chùa thắp nhang bái Phật với má, và cứ thế tâm tôi lại lan man nhớ lại những tháng ngày ấy mà quên mất nhiệm vụ chính lúc này là theo dõi hơi thở và theo dõi thân tâm. Rồi khi giật mình trở về hiện tại, tôi lại nghĩ đến vùng bụng, nơi hơi thở ra vào khiến nó nâng lên hạ xuống, tôi thấy mình chẳng quán chiếu gì được cả và bắt đầu cảm thấy chán, lại muốn nghĩ đến những chuyện khác làm cho tôi vui và thích thú hơn. Cứ thế, tôi cứ tự chơi trò đuổi bắt với tâm, mỗi khi nó đi đâu lan man thì tôi vui vẻ với việc ấy một chút, rồi lại kéo nó về, bắt nó phải theo dõi hơi thở như đã được chỉ dẫn.


    Tiếng chuông đồng âm vang nhè nhẹ báo hiệu mười lăm phút đầu vừa qua, các thiền sinh mới có thể ngưng tập vào lúc này nhưng khi tôi liếc mắt nhìn sang hai bên thì thấy hai người bạn của tôi vẫn ngồi im bất động, thế là tôi quyết định ngồi tiếp mười lăm phút nữa xem thế nào. Lần này, tâm tôi còn dao động mạnh hơn cả lần trước, vì tôi không còn nhớ những ngày đi chùa xưa mà tôi lại nghĩ B. Tôi chẳng hề mảy may có ý muốn nghĩ đến anh ấy nhưng tâm tôi đã dao động đến mức mất kiểm soát, và khi nó bắt đầu nghĩ đến B thì tôi như có cảm giác như đang lạc vào một cái lưới nhện mềm mại như lụa và êm ái như tơ, nơi ta chỉ muốn dừng chân nghỉ và tạm quên hết mọi sự trên đời, rồi chỉ biết tiếp tục phiêu du bất định vào chốn bồng lai tiên cảnh mà nó vẽ vời, giăng bẫy …


    https://baglady007.blogspot.com/2017...ou-off-my.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #16
    CHƯƠNG 13 - The Phantom of the opera



    Đi chợ về, tôi đang tay xách nách mang đủ thứ trên người, vừa mở được cửa thì có một mảnh giấy rơi ra, có ai đó đã nhét nó vào kẹt cửa khi tôi đi vắng. Đó là tin nhắn của Vivien. Tôi phải căng mắt ra mới đọc nổi những dòng chữ nguệch ngoạc của nó, đại để ý nó muốn gặp tôi vào buổi chiều để bàn với tôi “một việc”. Tôi đóng cửa lại và đi vào bếp, rửa rau củ và sắp xếp đồ ăn vào tủ lạnh, rồi với tay khoác lại vào người chiếc áo khoác thể thao để chạy bộ khi trời còn đang nắng. Và tôi không hề thấy một mảnh giấy khác có lẽ cũng đã được chêm vào kẹt cửa và rơi ra rồi lọt vào khe hở dưới sàn nhà. Mảnh giấy ấy chỉ được khám phá một thời gian sau, và làm xáo trộn đời tôi một lần nữa.

    Ngoài công viên lác đác có vài người khác cũng đang chạy bộ, một số thong thả dắt chó đi dạo, còn tôi thì khi ấy đã thấm mệt nên bắt đầu chạy chậm lại rồi đi bộ và tìm băng ghế ngồi nghỉ. Tinh thần tôi đang rất sảng khoái, thể chất cũng đang hồi phục tốt sau lần cảm nặng trong kỳ nghỉ Giáng Sinh và thêm một lần cảm nhẹ sau Tết, đây là lần đầu tôi có thể chạy bộ một mạch từ nhà ra công viên kể từ lúc lập đông.

    Đã gần hai tuần kể từ lần cuối tôi gặp David và tôi không hề nghe ngóng gì từ anh trong những ngày này. Tôi có nghĩ đến David nhưng không hiểu sao kể từ khi Jacqueline đi Pháp về và chúng tôi nối liên lạc trở lại thì tôi có cảm giác những lần tôi nghĩ đến David cũng thưa dần và tình cảm với anh có thể đặt ở mức độ trung tính. Tôi nghĩ mình thích David, đó là điều không thể chối cãi. Anh chẳng có gì để tôi phải phàn nàn, quá hoàn hảo là đằng khác. Chúng tôi chỉ mới gặp vài lần, và khi ở bên anh, tôi luôn có cảm giác bình an. Điều khiến tôi hơi lăn tăn trong cảm xúc của mình là tôi có cảm giác mình thường phải giữ kẽ, cảm giác hơi “gồng” khi tiếp xúc với anh và phải “diễn” hơi nhiều, tức là ở một mức nào đó, đôi lúc tôi nhận thấy mình hơi phóng đại bản thân trong khi thực lòng tôi không hề muốn thế. Anh có thói quen khơi gợi một đề tài và để người đối diện nói về nó, và do đó tôi thường ở cái thế phải nói nhiều hơn anh cho nên để cho cuộc nói chuyện được trôi chảy thì tôi cứ luôn phải ba hoa chích chòe nói đủ thứ chuyện trên đời. Tôi thầm nghĩ, khi ở bên David tôi trở thành một người rất khác với bản chất của mình. Tính tôi vốn ít nói, nhưng David cũng là người kiệm lời mà lại biết khơi mào cho người khác nói và tôi lại trở thành diễn giả bất đắc dĩ khi ở bên anh. Nhưng như thế cũng có cái thú vì nhờ anh mà tôi nhận ra khả năng đàm thoại của mình cũng không đến nỗi tồi như mình vẫn thường nghĩ. Một điều khác nữa về anh mà tôi hơi băn khoăn là anh nói rất ít về bản thân, và cho đến nay thì dường như tôi chẳng biết gì về anh hết. Tất cả là một tổng thể rất mơ hồ, như thể anh có một bí mật nào đó không thể tiết lộ cho bất cứ ai.

    Tôi thở dài, cố xua đi những ý nghĩ và hình ảnh hay quấy rối ấy đi và cố thả lỏng, hưởng thụ một buổi sáng an lành của một ngày cuối tuần như thế này. Tôi còn trẻ, phải tập trung ưu tiên phát triển sự nghiệp hay theo đuổi những sở thích mà ngày trước tôi không có điều kiện thực hiện. Tình yêu là một thứ xa xỉ, đừng đi tìm mà cũng đừng chạy trốn. Hãy để nó đến một cách tự nhiên và nếu nó mang lại cảm giác ngọt ngào, cứ nhẹ nhàng đón nhận nó, như một trong những lộc trời đã ban tặng cho cuộc sống; và nếu nó mang đến quá nhiều phiền toái, thì cũng phải học cách vui lòng tống tiễn nó đi, như tôi đã dũng cảm làm được một đôi lần. Đời cũng đơn giản thế thôi, nhưng khi ta mới bước qua tuổi hai mươi được vài năm thì việc nào cũng hệ trọng đến mức sống còn như nhau cả! Nhắm mắt, hít một hơi thật dài tràn đầy buồng phổi, tôi mỉm cười vu vơ và cảm thấy lòng mình thư thái hơn bao giờ hết.

    .

    Con bé Vivien chẳng nói cụ thể giờ giấc khiến tôi chẳng dám đi đâu vào buổi chiều mà phải ru rú ở nhà chờ nó. Nhưng nói thế thôi, tôi cũng chẳng biết đi đâu và đi với ai khi trời lại trở lạnh về chiều. Tôi cuộn tròn người trên ghế bành, quấn chăn khắp người và ôm cuốn “Kiêu hãnh và Định kiến” của Jane Austen rồi thả hồn đi rong trong một thế giới mang đến cho tôi rất nhiều niềm vui và say mê ấy. Mr. Darcy vẫn thế, khi mới gặp đã gợi trong lòng người đọc một ấn tượng không hay, dù cố lịch thiệp đến đâu thì anh ta vẫn không thể giấu đi đâu được sự khô khan lạnh lùng đầy kiêu hãnh ấy. Dĩ nhiên, chàng phải đẹp trai, giàu có, hào hoa, và không thể thiếu khoản phớt tỉnh đúng kiểu quý tộc Ăng-lê, và phải pha lẫn cả một tí nhẫn tâm nữa mới khiến các cô điêu đứng được. Xưa nay vẫn thế, bản chất loài người vẫn chẳng có gì thay đổi, đàn bà vẫn cứ ngu ngốc trong tình yêu dưới lớp vỏ bọc của cái được gọi là “lãng mạn”, vẫn cứ luôn tin rằng những con ếch đội vương miện sẽ một ngày nào đó trở thành hoàng tử và do đó, không hề ngần ngại chìa môi mà hôn đám ếch gớm ghiếc ấy. Những nhân vật nam chính trong các câu chuyện tình lãng mạn như thế này không nhiều thì ít, luôn sở hữu những tính cách na ná gần giống nhau: tính khí thất thường, độc đoán, thiếu chính chắn, đôi khi hung bạo và tất cả đều kiêu hãnh, xem mình là trung tâm của vũ trụ, và dĩ nhiên, đây là những đặc điểm tạo nên tính chất “bad boy” mà các cô gái luôn bị đốn ngã xưa nay. Tôi có cảm giác mình cũng đi lạc vào ma trận phức hợp của cảm xúc ấy, nhưng lại rất mừng vì Elizabeth Bennett vẫn còn đủ tỉnh táo và đủ lý trí để đối phó với thể loại đàn ông như Mr. Darcy, và đó là điều khó, rất khó làm, cho một cô gái trẻ không có nhiều chọn lựa thời ấy.

    .

    - Ah, chị cũng đang đọc Jane Austen à? - Vivien không giấu được sự thích thú cao độ khi thấy tôi đang đọc cuốn sách ấy - câu lạc bộ đọc sách của em cũng đang đọc và bình luận sách của bà ấy. Đúng dịp quá, em đang muốn bàn với chị một việc có liên quan đến vụ đọc sách này đây, nhưng đó chỉ là việc phụ, còn việc chính là, bọn em đang tổ chức vũ hội hóa trang ở trường và em đang cần người giúp vì bọn em phải hoàn tất mọi việc trong vòng hơn một tuần mà vẫn còn rất nhiều việc phải làm. - Vivien hơi hắng giọng - Em hy vọng chị có thể giúp em một tay, và bọn em sẽ tặng chị một cặp vé VIP.
    - Dĩ nhiên rồi, rất vui lòng! Nhưng tôi không rõ mình có đi chơi được không …
    - Trời, sự kiện lớn nhất trong năm của trường em đấy, vé đã bán sạch veo từ tuần lễ đầu tiên!
    - Nghe cũng thích nhỉ, nhưng … tôi không biết phải ăn bận ra làm sao, cái đoạn hóa trang ấy.
    - À không, chị chỉ cần mang mặt nạ thôi. Em chắc chắn sẽ tìm được một cái cho chị, khỏi phải mua. Chị thích màu gì?

    Tôi hơi phân vân. Con bé có vẻ nhiệt tình đến thế, tôi không nỡ cứ tìm cách thoái thác, mà tôi chẳng biết phải đi đứng ra làm sao vì không có bạn đi cùng.

    - Ai mà “hot” vậy chị?

    Vivien vừa hỏi vừa nháy mắt với tôi, trong khi tôi hơi ngớ ra không hiểu lắm ý nó. Rồi khi dò theo ánh mắt của Vivien, tôi chợt hiểu ra. Con bé đang săm soi tấm ảnh chụp tôi và David trong đêm giao thừa hôm nọ vừa cười tủm tỉm.

    - Một người bạn. - Tôi nói bâng quơ và biết rằng Vivien chẳng hề bị thuyết phục tí nào.
    - Chị sẽ mời anh ta đi chơi với bọn em chứ?
    - Chẳng biết nữa … lâu rồi anh ta không gọi …
    - Hừ … nếu thế thì đã đến lúc chị phải chủ động gọi người ta rồi đấy. Đàn ông rất thích việc ấy, họ cảm giác cái sự quan trọng của họ là có thật.
    - Giống như Mr. Darcy? - Tôi bật cười, thích thú khi có một nhân vật nam điển hình để lôi ra đối chiếu với cái ý ấy của Vivien.
    - Ôi, thời nào thì bọn chúng cũng như nhau cả thôi chị ạ. Em nghĩ một trong những điều tốt đẹp nhất mà thế kỷ hai mươi mang đến cho loài người là việc giải phóng tình dục cho phụ nữ!

    Nó lại ngắm nghía bức ảnh và cười cười.

    - Trai đẹp thế này đừng bỏ phí chị nhé! Anh ta trông có vẻ rất hay, nhưng chắc không hợp với em. - Nó lại cười to, và nháy mắt. - Ý em là, anh ta sẽ thích mẫu người như chị hơn, nhẹ nhàng kín đáo, chứ không phải lúc nào cũng phang ngang bổ củi như em. Mà nói thật, phụ nữ như chị mới khiến đàn ông tò mò, càng tìm hiểu càng thích, chứ với thể loại ham vui như em thì chúng nó sẽ mau chán lắm, ha ha. Nhưng mặc kệ, em cũng cóc cần vì em đã xác định sẽ không lấy chồng mà chỉ sống độc thân để được tự do theo ý mình mà không vướng bận ai cả.

    Tôi bật cười trước sự thẳng thắn vô tư của Vivien, và nghĩ ít ra trong đám đàn bà nhẹ dạ chúng ta cũng có được một đứa sáng suốt như nó. Rõ là nó thích bad boys đấy, nhưng có vẻ như nó sẽ không yêu đương mơ mộng rồi lại vỡ mộng thất tình như đại đa số đám phụ nữ thường mắc phải. Tôi chẳng bình luận gì, chỉ mỉm cười và giữ kín những ý nghĩ ấy cho riêng mình, như thường lệ. Bắt đầu vào sáng sớm ngày mai, chúng tôi sẽ bắt tay vào việc chuẩn bị cho vũ hội masquerade vốn được hứa hẹn sẽ rất đông vui và náo nhiệt.

    .

    Hôm đầu tiên khi tôi đến thì bàn ghế vẫn còn ngổn ngang, màn che còn nằm trong thùng chưa được mở, và tranh ảnh cũng như những món đồ trang trí theo kiểu nhà hát cho canteen và các khu lân cận vẫn còn “nguyên đai nguyên kiện”, tôi thầm lo không hiểu làm thế nào mà trong vòng vài ngày chúng tôi có thể hoàn tất mọi việc cho kịp. Đám con trai hối hả khiêng các món đồ nặng và thang xếp để đám con gái treo màn và trang trí tường. Tôi được phân công “cắt dán nghệ thuật”, là hình những nốt nhạc thật to, các hình mặt nạ được phết đầy kim tuyến đủ màu sặc sỡ, hoặc hình ảnh trăng sao dát bạc … rồi dán chúng lên những tấm màn đen. Thế mà đến cuối ngày, chúng tôi đã giăng màn che phủ toàn bộ những bức tường của các khu vực dành cho dạ tiệc, và ngày hôm sau sẽ có thợ điện đến để gắn đèn chiếu cho những tấm màn đen lóng lánh trăng sao, mặt nạ và những nốt nhạc này.

    Tôi thầm nể phục tác phong làm việc của bọn sinh viên tại đây. Chúng nó làm việc thật khoa học, bài bản, phân nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm phụ trách một công tác, có những nhóm hoàn thành sớm thì lại quay sang giúp đỡ những nhóm chưa làm xong. Thế là chỉ trong vài ngày bọn tôi đã sẵn sàng.

    Đêm tiệc thật hoành tráng ngoài sức tưởng tượng của tôi, đông như kiến cỏ, và tôi mừng vì có vé đặc biệt để được vào khu vực VIP, vốn chủ yếu dành cho những người đã tình nguyện làm việc để chuẩn bị cho đêm nay, cùng với một vài nhân vật VIP thật sự. Tôi vẫn mặc chiếc váy đen đã mặc những khi đi tiệc đêm lần trước, và đeo mặt nạ đen viền những hạt đá đủ màu sáng lóng lánh dưới ánh đèn. Vivien giúp tôi đánh rối tóc rồi búi cao và thả vài lọn xoắn lòa xòa hai bên mặt, và cho tôi mượn cây chì kẻ mắt đen cùng thỏi son đỏ. Đây có lẽ là lần đầu tôi kẻ mắt đen đến thế.

    Gọi là masquerade nhưng thực ra phần ballroom cũng khá nhẹ. Người Mỹ không mặn mà lắm với ballroom mà văn hóa khiêu vũ của họ thiên về disco và hip-hop là chính. Tôi cũng có học ballroom, nhưng chỉ biết những bước cơ bản, và vì đêm nay tôi không có bạn nhảy nên đành đứng đực mặt ra và nhìn ngắm mọi người. Đang đứng lớ ngớ thì có ai đó nắm tay tôi và kéo nhẹ về phòng khiêu vũ.

    - Xin phép được mời em điệu tango nhé?

    Tôi hoảng hốt nhìn người lạ trong chiếc mặt nạ nửa mặt kiểu “phantom” trong vở tuồng "The Phantom of the opera" mà rối trí chẳng biết phải làm thế nào. Từ chối lời mời khiêu vũ ở một đêm hội khiêu vũ là một điều khá bất lịch sự, dĩ nhiên cô gái có quyền từ chối, nhưng phải có một lý do thật sự chính đáng. Nhưng cái cách anh ta dạn dĩ nắm tay và kéo tôi đi trong một sự thể đã rồi như thế này cũng khá bất thường. Tôi thoáng thấy Vivien đâu đó và nó đưa tay vẫy, dường như là với cả hai chúng tôi khi ấy …

    https://baglady007.blogspot.com/2017/04/giang-sinh-xua-18.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #17
    CHƯƠNG 14 - Will you tango with me?

    Vivien chạy đến “cứu bồ” tôi, nó vừa líu lo chào anh bạn lạ mặt kia vừa giới thiệu chúng tôi với nhau. Luís là một trong những khách mời đặc biệt của đêm hội, cậu ta vốn là học viên bên trường múa - một chi nhánh của Học viện Mỹ thuật nơi Vivien đang học - và sau khi tốt nghiệp, cậu ta được trường giữ lại làm vũ sư vì nhiều thành tích khiêu vũ xuất sắc trong các kỳ thi lớn tầm quốc gia. Cho đến lúc này, Luís vẫn nắm tay tôi và chưa chịu buông. Vivien lại cười to.

    “Anh buông chị ấy ra đi nào, đừng làm người ta sợ đến thế chứ!”
    “Để tôi hỏi xem cô ấy có sợ hay không! Này, em có sợ không?” Anh ta cười và khều nhẹ ngón tay vào lòng bàn tay tôi khiến tôi nhột nhạt.
    “Có, sợ lắm!” Tôi nói nhanh và rút tay lại.
    “Thôi đi nào, Luís!” Vivien nhăn mặt, “Đừng bỡn cợt nữa, chị ấy là người nghiêm túc, anh phải cư xử cho đàng hoàng!”
    “Thôi, cho tôi xin lỗi!” Luís cố tỏ vẻ nghiêm túc rồi lại chìa tay ra trước mặt tôi, người hơi cúi xuống và nói, “Tôi xin hân hạnh được mời em một vũ điệu tango nhé?”
    “Đừng hăm hở thái quá!”, tôi cũng cố làm mặt nghiêm túc dù trong lòng chẳng cảm thấy khó chịu gì cả. Ngoài ra, chiếc mặt nạ dù chỉ che phần mắt nhưng cũng đủ không thể cho tôi biểu hiện bất cứ cảm xúc nào nên tôi cũng khó ra vẻ “thị uy” gì với anh ta được. “Đã lâu rồi tôi không nhảy tango, nên anh đừng cố biểu diễn quá trớn sẽ có cơ hội bị tôi giẫm lên chân đấy,” vừa nói tôi vừa chìa gót giày ra để minh họa.
    “Ôi, nếu em có giẫm nát cả tim tôi thì tôi cũng rất vui lòng!”

    Luís nở một nụ cười rạng rỡ, khoe hàm răng trắng đều tăm tắp, nổi bật trên nền da nâu đồng đặc trưng Nam Mỹ. Sau này theo lời Vivien kể, tôi được biết cậu ta người gốc Brazil và Argentina, thảo nào cậu ta nhảy tango điêu luyện đến thế. Luís mặc sơ mi đen hơi hở ngực đúng kiểu đàn ông Nam Mỹ, quần tây cũng đen và giày da đen bóng loáng. Dáng Luís không quá cao, một trong những đặc điểm lý tưởng và thuận lợi đối với vũ công chuyên nghiệp vì người cao quá mà lại phải di chuyển nhanh và liên tục thì sẽ dễ lộ khuyết điểm vướng víu lều khuều, còn người lùn quá thì các bước nhảy lại có vẻ lạch bạch không thanh thoát. Tôi chỉ nhìn được nửa mặt của Luís thôi nhưng vẫn có thể mô tả một đôi mắt to và sâu dưới hàng mi dày và cong vút, đôi mày đen rậm rất nam tính và khi cậu ta cười thì đôi mắt ấy như biết nói, cộng với chiếc cằm chẻ và hai lúm đồng tiền trên má nữa thì dù là bà lão tám mươi cũng khó khỏi động lòng. Nhưng chẳng hiểu sao tôi chẳng động đậy gì cả, có lẽ vì sự vồ vập quá trớn đã khiến tôi cảnh giác cao độ, mà đàn bà thường yêu bằng tai, dù không động lòng nhưng tôi vẫn thích thú khi nghe anh ta mở lời sến sẩm như lời thoại trong kịch Shakespeare vậy!

    Tôi nhớ những ngày học khiêu vũ vài năm trước. Cô giáo tuổi chừng bốn mươi, rất tự hào khoe với chúng tôi rằng con gái cô đã mười tám tuổi và tôi vẫn còn nhớ trông cô rất trẻ và dáng đẹp đến hoàn hảo, không thể ngờ cô có con cùng trang lứa với chúng tôi thời ấy. Cô rất trang nhã, không chỉ dạy chúng tôi những bước nhảy mà còn dạy nhiều thứ về văn hóa ballroom. Các cô gái được dạy không nên bấu chặt tay trái lên vai bạn nhảy trông sẽ rất “bám víu” và thô, thay vào đấy chỉ nên chạm hờ hững mà thôi, và các chàng trai khi nắm tay phải của cô gái thì không nên nắm cả bàn mà chỉ nắm ba ngón giữa (đoạn này các cô cũng phải biết và chỉ nên đặt ba ngón ấy lên tay bạn nhảy), như thế vừa trông thanh thoát, vừa dễ dàng khi cần buông tay ra và xoay người các cô. Các anh cũng phải để ý đặt tay phải ở ngay giữa lưng bạn nhảy và cao hơn eo cô gái chừng năm centimet, tránh “đi sai vị trí” vì khi di chuyển sẽ dễ có “tai nạn” khi bàn tay chàng trai trượt lên chạm vào chỗ không được chạm trên cơ thể người kia. Và cô dạy đám con gái rằng chỉ cần biết căn bản là đủ, vì gánh nặng thuộc về người nam bởi vì anh ta là người “lead”, ta chỉ cần đi theo các bước dẫn của anh ta thôi, và cứ thế tùy cơ ứng biến.

    Tôi cố nghĩ đến điều này để tự trấn an mình khi bước ra sàn nhảy cùng Luís, nhưng vẫn có cảm giác như người mộng du vì hồi hộp, may phước tôi đã kịp nốc một ít rượu vang trước đấy để xua đi sự căng thẳng khi bước ra chốn đông người như thế này. Nhưng cũng có cái may, sàn nhảy khá mờ ảo, và khá đông, đủ để tôi yên tâm lẩn vào đó mà không ngại bị phơi bày. Luís thì thầm vào tai tôi “Cứ thả lỏng nhé, chỉ là một cuộc dạo chơi thôi mà!” Đầu óc tinh quái của tôi lại bắt đầu vận hành, tôi hỏi luôn “Thế hoa hồng cho tôi đâu? Chẳng phải người ta hay ngậm một nhánh hoa hồng đỏ khi nhảy tango sao?” Luís hơi ngớ ra rồi chợt hiểu ý tôi, anh ta phàn nàn ngay “Đó là do Hollywood tự chế ra đấy chứ dân Argentina chúng tôi không hề bày trò ấy đâu! Nào, em sẵn sàng chưa?”

    Tôi gật đầu, mỉm cười. Nhạc vừa trỗi lên, tiếng vĩ cầm réo rắt dìu dặt, mời gọi những đôi chân thôi thúc, tôi ngạc nhiên khi thấy mình bước đi cũng không kém phần lả lướt với sự dìu dắt tài tình của Luís, và may trời cậu ta không xoay tôi quá nhiều, vì tôi dễ bị chóng mặt. Có đôi lần, cậu ta kề sát vào mặt tôi như đặc trưng của vũ điệu khiêu gợi này khiến tôi cảm nhận được cả hơi ấm từ hơi thở của cậu ta phà nhẹ lên má. Nhưng tôi đang vui nên chẳng câu nệ gì, và thật sự, đây là lần đầu tôi được khiêu vũ đúng nghĩa vì trước đó tôi chưa bao giờ có bạn nhảy tài tình và điêu luyện đến thế này, và đặc biệt hơn cả là cậu ta đến từ xứ sở đã sản sinh ra điệu nhảy tuyệt vời.

    Tango có một lịch sử khá đặc biệt. Từ những năm 1800s, người châu Âu di cư rất nhiều sang châu Mỹ, đa số đi lên bắc Mỹ nhưng cũng có một bộ phận khá đông đi xuống phía Nam, tập trung vào hai cảng lớn là Montevideo thuộc Uruguay và Buenos Aires, Argentina. Đa số là dân Ý và Tây Ban Nha, và họ mang theo cả âm nhạc đến vùng đất mới với chiếc vĩ cầm của người Ý và cây guitar Flamenco của người Tây Ban Nha, và dĩ nhiên, cả những vũ điệu của họ nữa: valse, mazurka, polka và hòa quyện chúng cùng nhạc cổ truyền của Argentina. Thời ấy nam nhiều nữ ít, bởi vì chỉ có đàn ông mới dám liều vượt biển đi tìm vùng đất hứa, thế nên nam giới phải khá vất vả tìm mọi cách thu hút sự chú ý của phụ nữ, dần dà vũ điệu tango được hình thành như một điệu nhảy tìm bạn tình trong giới bình dân của những thành phố cảng này. Tuy nhiên giới trung lưu và thượng lưu thì lại rất xem thường tango và xem nó như một văn hóa hạ cấp. Nam giới bình dân thường luyện tập những bước nhảy tango với nhau để “đủ trình” nhằm thu hút sự chú ý của giới nữ. Người mới tập phải đi bước nữ từ sáu tháng đến một năm trước khi được dạy cách dìu trong vai trò nam giới. Dần dà, khi Argentina bắt đầu trở nên thịnh vượng, các cậu ấm trong những gia đình giàu có ở đây bắt đầu đi tìm cảm giác mạnh và phiêu lưu ở những khu dân cư có nhiều băng đảng và học nhảy tango ở đấy như một cách để thể hiện mình và để đi tìm tự do mới. Một số thanh niên trong nhóm này đã mang tango đi giới thiệu với Paris, vốn là thủ đô văn hóa của cả thế giới thời ấy. Dân Paris vô cùng sửng sốt và sốc nặng với điệu nhảy bốc lửa và khêu gợi này, từ đấy cơn sốt tango lan tỏa đến toàn châu Âu và cuối cùng lan truyền sang bắc Mỹ. Điệu nhảy tango truyền thống vốn rất nóng bỏng, nếu không muốn nói là gợi dục nên khó được chấp nhận ngay trong giới thượng lưu thời ấy, nhưng không ai có thể chối cãi sự hấp dẫn mê hoặc của nó và cuối cùng, người ta đã chế tác ra một phiên bản khác của tango, lượt bớt đi rất nhiều những động tác được xem là “không đứng đắn” và tango đã đường hoàng tìm được chỗ đứng trong các trường dạy khiêu vũ chính thống ở châu Âu và bắc Mỹ.

    Nhạc vừa kết thúc, Luís cũng vừa kịp kéo tôi thật sát vào người cậu ta ở vị trí mặt gần chạm mặt, cậu ta ghì chặt người tôi và giữ yên tư thế ấy trong vài giây liền khiến tôi vừa thở hổn hển vì vừa xong một điệu nhảy “căng thẳng” vừa vì cảm giác nóng bỏng của sự tiếp xúc liên tục trong những phút vừa qua. Luís lại cười, dường như vẫn chưa chịu buông tôi ra cho đến khi tôi đẩy nhẹ cậu ấy thì mới thôi. Vivien vỗ tay nồng nhiệt, miệng không ngớt “bravo” khi chúng tôi bước ra khỏi sàn nhảy.

    “Ôi, em không ngờ chị biết nhảy tango, mà lại rất điệu nghệ nữa chứ!”
    “Cám ơn em, nhưng mà tất cả là nhờ Luís. It takes two to tango, nếu không có cậu ấy thì chị sẽ chẳng biết làm gì cả!”
    “Em quá khen, và cũng quá khiêm tốn. Khi nãy tôi thử đưa ra vài bước khó, nhưng em xử lý được hết. Tôi nghĩ em rất có năng khiếu, em có muốn học thêm không, tôi sẽ rất vui lòng chỉ bảo!” Luís lại nhìn tôi mơn trớn khiến tôi muốn nổi gai ốc.

    Đây là lần thứ hai có người tự động đề xướng việc dạy học cho tôi khiến tôi không khỏi nghĩ mình khá may mắn. Nhưng Luís quá vồ vập, mặc dù tôi sẽ rất thích học với một vũ sư tuyệt vời như cậu ta nhưng thật lòng, có cho kẹo tôi cũng không dám học riêng với cậu ta được.

    Luís thật là trung tâm điểm của đám đông, tôi có cảm giác bất cứ nơi nào cậu ta có mặt thì nơi ấy sẽ trở nên ồn ào, náo nhiệt. Nhìn cách cậu ta chào hỏi mọi người, dù quen hay lạ, và cách mọi người đáp lại khiến tôi không khỏi không liên tưởng đến những chính trị gia mồm mép khi đang đi vận động tranh cử. Họ sẽ nói những gì đám đông muốn nghe, họ biết cách làm đẹp lòng mọi người và nụ cười không bao giờ tắt trên môi họ. Luís cũng giống như thế, nhưng có cái khác giữa cậu ta và một chính trị gia, đó là sự thật lòng. Cậu ta thật sự thích đám đông, thích trò chuyện, và thích làm cho người khác được hài lòng, được vui vẻ, và cậu ta cũng chẳng được lợi lộc gì nếu phải cố làm ra vẻ như thế. Cái cách cậu ta vồ vập đụng chạm khiến tôi không được thoải mái cho lắm, nhưng tôi lại chẳng hề bực bội mà chỉ nghĩ đó là cá tính của cậu ta, rất đặc trưng trai Nam Mỹ, chứ không hề có ý tà dâm nào cả. Khi nhảy với tôi, cậu ta cũng chẳng lợi dụng sờ mó gì tôi, tôi để ý cách cậu ta nhảy với các cô gái khác cũng như thế.

    Tôi bắt đầu cảm thấy mệt, mấy ngày nay tôi luôn hùi hụi làm việc chân tay với Vivien cho đêm hội này đến tận tối mịt và giờ đây tôi bắt đầu thấm. Lót tót đi vào khu VIP, tôi vui vẻ thả phịch người xuống ghế bành để nghỉ ngơi, tránh xa tiếng ồn ở sàn nhảy chính. Chiếc mặt nạ masquerade cũng bắt đầu khiến tôi khó chịu vì nó cứ cấn vào sống mũi, tôi tiện tay gỡ nó ra luôn và massage quanh vùng mắt. Khu VIP này vốn là tiền sảnh của thư viện, chúng tôi đã giăng màn khắp nơi để che đi những dãy sách đồ sộ nhằm mang lại cảm giác ấm cúng thật sự của một “lounge”. Ghế bành và sofa đã có sẵn, chúng tôi chỉ việc di dời một chiếc bàn tròn to ở ngay chính giữa, nơi trưng bày các sách mới và các tờ rơi chương trình đặc biệt của thư viện, và kéo thêm ghế từ canteen vào. Nơi đây có một minibar, một sàn nhảy mini, và một số bàn con có chân cao. Cậu bartender đang ngáp ruồi vì vắng khách, tất cả mọi người đều đã đổ xô ra khu vực chính, chỉ có đứa sợ tiếng ồn như tôi là lủi vào đây sớm nhất để phục hồi.

    Đang thiêm thiếp sắp ngủ thì tôi đã nghe tiếng nói cười của đám “VIPs”, Vivien và Luís đã tìm ra tôi, và như thường lệ, nơi đâu có Luís là nơi ấy có tiếng ồn! Thôi rồi, tạm biệt không khí yên bình của VIP lounge! Chúng nó túa vào phòng và bu đen lấy quầy minibar khiến cậu bartender sung sướng lại được phục vụ khách hàng.

    “A, nãy giờ em đi đâu mất mà tôi tìm mãi không thấy!” Luís vui mừng nói như reo khi nhìn thấy tôi. “Đừng có nói là em chạy trốn tôi đấy nhé!” Nói đến đây, cậu ta gỡ mặt nạ ra và vuốt mái tóc đen dầy và gợn sóng.
    “Nếu cậu hứa sẽ không động chạm đến tôi thì bảo đảm tôi sẽ không chạy trốn nữa!”

    Tôi nói nửa đùa nửa thật với Luís, khi trong lòng tự động xác nhận những gì tôi đã tưởng tượng về gương mặt của Luís khi cậu ta vẫn còn mang mặt nạ khi nãy là hoàn toàn chính xác một trăm phần trăm. Râu quai nón được tỉa tót công phu chỉ chừa lại một hàng mảnh chạy dọc theo xương hàm cho đến cằm, râu mép cũng thế, một hàng rất mảnh vắt ngang và chạy xuống nối liền với râu quai nón. Tôi thích đàn ông “mày râu nhẵn nhụi” hơn, nhưng đàn ông để râu kiểu Luís như thế này thì tôi chưa từng thấy bao giờ, và tôi thấy nó hay hay thế nào. Cậu ta giả vờ thất vọng khi nghe tôi không cho phép cậu ta động chạm gì đến tôi nữa, rồi bước đến quầy bar gọi đồ uống.

    “Em uống gì? Soda hay nước quả?” Luís hỏi tôi.
    “Ha ha, người ta đủ tuổi uống rượu rồi đấy anh ạ!” Vivien vui vẻ tiếp lời.
    “Cái gì?” Luís mở tròn mắt. “Đừng có đùa nhé, tôi không thể mua rượu cho người chưa đủ tuổi được.”
    “Thì em đâu có đùa!” Vivien lại cố tình ra vẻ ỡm ờ.

    Tôi đưa cổ tay lên cho Luís thấy chiếc vòng bằng giấy nhựa mà ban tổ chức đã đeo cho khi vừa vào cổng chính. Chúng tôi phải trình giấy tờ tùy thân cho thấy mình đã đủ hai mươi mốt tuổi thì họ sẽ đeo cho cái vòng này, để khi muốn gọi rượu thì người bartender sẽ chỉ cần nhìn vào đó là phục vụ luôn, khỏi phải kiểm tra tới lui mất thời gian. Khi nãy tranh tối tranh sáng, có lẽ cậu ta không để ý cái vòng tôi đang đeo. Luís đứng khuỵu một chân, nhìn tôi từ đầu đến chân như thể đang suy xét xem bằng cách nào mà tôi lại đủ tuổi uống rượu.

    “Vang nhé? Đỏ hay trắng?” Cậu ta hỏi tôi.
    “Cám ơn cậu, tôi chỉ muốn một ly nước lọc.” Tôi đáp.
    “Cái gì? Em không đùa chứ?” Luís lại mở tròn xoe mắt. “Em không định uống nước lọc cả buổi tối nay chứ?”
    “Chưa biết nữa, cũng tùy!” Tôi nháy mắt.

    Rồi cả bọn túm tụm ngồi quanh sofa và tán hươu tán vượn, trong phút chốc, Luís đã được cả đám con gái bao bọc và có lẽ, đã quên mất sự có mặt của tôi trên đời.

    https://baglady007.blogspot.com/2017/04/giang-sinh-xua-19.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #18
    CHƯƠNG 15: Dancing Queen



    Vivien quả thật là đứa rất có óc tổ chức. Nó rất biết nhìn xa trông rộng, lường trước những việc có thể xảy ra hoặc có thể cần thiết cho đêm hội lớn như thế này. Luís là vũ sư chuyên nghiệp, cũng là bạn của Viviven, và nó nhìn thấy ngay khả năng âm thịnh dương suy ở những sự kiện khiêu vũ ballroom, thế là nó mời luôn cậu ta cùng thêm vài nam sinh viên bên trường múa để “tiếp tế” cho sự kiện. Học viện Mỹ thuật này đa phần quy tụ con nhà giàu, và nữ nhiều hơn nam, thế nên khi có một vũ sư tài tình và lại đẹp trai như Luís xuất hiện thì cậu ta nghiễm nhiên trở thành trung tâm điểm ngay lập tức, và như thế cũng đỡ cho tôi, khỏi phải gồng mình trước sự tấn công ồ ạt của cậu ta. Những cậu học trò kia của Luís cũng ăn theo thầy mình, cũng được bọn con gái “chăm sóc” rất chu đáo. Tôi thú vị quan sát bọn chúng, thi thoảng nói vài việc linh tinh với một con bé ngồi gần và cũng có vẻ ít nói giống tôi, cho đến khi chúng tôi nói đến đề tài sách thì hai đứa bắt đầu cởi mở với nhau hẳn ra và bắt đầu nói chuyện rôm rả.

    Ngồi nghỉ được một lúc thì bọn nó lại hăng sức và nhao nhao yêu cầu Luís dạy chúng nó thêm vài vũ điệu Latin. Luís ưỡn ngực như chú gà trống sắp xung trận, trông có vẻ rất hài lòng.

    “Nếu muốn khiêu vũ như người Nam Mỹ, các cô buộc phải học salsa!” Rồi cậu ta nháy mắt với một con bé tóc nhuộm đỏ tía, lúc này đang óng ánh dưới ánh đèn vì lớp xịt kim tuyến trên ấy. Con bé ấy, cùng với cả đám con gái, rú lên vì hứng khởi, vội vã đứng lên và lúc này đây, Luís đã kịp bắt gặp tôi đang ngồi hơi cách xa với hội của cậu ấy. Tôi ngó lơ và giả vờ tiếp tục trò chuyện với cô bé mới quen, nhưng Luís vẫn chẳng chịu cho tôi yên.

    “Mọi người đứng thành hàng ngang nhé, hai cô em kia cũng thế, xin mời!”

    Tôi và con bé nhìn nhau tủm tỉm cười và, trong một sự thể đã rồi, bất đắc dĩ phải đứng lên và gia nhập đám đông ấy. Luís nắm tay một con bé dáng rất cao, thanh mảnh nhưng vẫn lộ một ít cơ bắp ở tay, tôi đoán nó cũng là sinh viên trường múa, ra biểu diễn làm mẫu. Cả đám huýt sáo và reo hò mỗi khi Luís ngoáy mông và biểu diễn những động tác khơi gợi nhục dục, tôi đâm hoảng khi nhìn bàn tay Luís như đang mơn trớn trên người con bé, rồi tự chế giễu mình khi cứ quan trọng hóa vấn đề. Đúng như tôi dự đoán, con bé ấy là dân múa chuyên nghiệp, nó vẫn còn đi học ở trường của Luís nhưng đã đi biểu diễn chuyên nghiệp nhiều lần, thảo nào người nó trông tuy mảnh dẻ nhưng lại khá săn chắc vì nhảy múa thường xuyên. Tôi cảm thấy vui vẻ, người lâng lâng vì rượu, hăng hái tập những bước nhảy salsa ban đầu với hội gà mái nhặng xị trong VIP lounge đêm ấy.

    Về sau, tôi biết Luís đã lầm, hoặc tôi đã không hiểu đúng ý Luís khi cậu ấy nói về salsa. Thực ra, salsa bắt nguồn từ Bắc Mỹ chứ không phải Nam Mỹ, là một thể loại vũ điệu được ưa chuộng ở các night club, và hình như nó bắt nguồn từ thành phố New York trong thập niên sáu mươi. Khi bắt đầu tập nhảy thường xuyên hơn với nhóm bạn mới thì tôi đã mon men về thư viện và tiếp tục đọc lịch sử âm nhạc. Lần trở lại này, tôi cảm thấy rất hứng thú, đọc vì thực sự ưa thích chứ không còn cảm giác đối phó như hồi còn chơi với hội của Jacqueline ngày trước. Nói về salsa, tuy được “chế tác” tại Bắc Mỹ nhưng đặc biệt chủ yếu mang âm hưởng Nam Mỹ, nó là một tổng thể của âm nhạc Cuba, trống vỗ Phi châu, guitar Tây Ban Nha, và một ít lai tạp của jazz Bắc Mỹ. Nhờ những con người châu Âu can đảm thời xưa đã quyết tâm giong buồm đi tìm vùng đất mới mà nhân loại đã có những đợt giao thoa văn hóa quan trọng và sản sinh ra nhiều thể loại âm nhạc tuyệt vời cho hậu thế. “Một, hai, ba”, tôi vui vẻ quay cuồng trong tiếng bập bùng của trống, tiếng saxophone lanh lảnh, và tiếng nói cười râm ran, tiếng váy áo cọ xát vào nhau sàn sạt, mùi nước hoa cologne mạnh mẽ như cá tính của Luís và hương hoa thoang thoảng nhẹ nhàng từ người các cô gái … tất cả bỗng hòa quyện thành một thứ âm thanh và mùi hương đầy huyễn hoặc ma quái, cô đặc, bao trùm lấy người tôi, chầm chậm vuốt ve rồi từ từ siết chặt toàn thân cho đến khi thế giới chung quanh tôi trở nên tối sầm, đóng sập lại, và tắt nghỉm.

    .

    Sau đêm hội nhớ đời ấy, tôi đã tự nhủ phải cẩn thận hơn với rượu. Đêm ấy tôi hầu như không ăn gì, người lại mệt vì những ngày làm việc chân tay miệt mài, lại ngu ngốc uống rượu trong khi dạ dày gần như trống rỗng, thế nên sau khi nhảy nhót loạn xạ, tôi bắt đầu chóng mặt, đường huyết tụt nhanh, và ngất xỉu lần đầu tiên trong đời. Tôi ngủ nướng thật lâu vào sáng hôm sau, và thức giấc trong khi đầu đau như búa bổ. Nằm im trên giường, mắt mở to nhìn lên trần nhà, tôi điểm lại những gì đã xảy ra trong đêm trước, trong đầu vẫn âm vang tiếng nhạc và phản chiếu lại hình ảnh các nam thanh nữ tú xúng xính trong váy áo lụa là với những chiếc mặt nạ đủ màu, lấp lánh khắp nơi trên nền đen của màn che như sao đêm. Rồi tự dưng tôi nghĩ đến David, anh ta đã đi đâu mất tăm hơn ba tuần này nhỉ. Nghe lời Vivien, tôi đã thử gọi điện cho anh và mời anh đi chơi trong đêm hội hóa trang với tôi, nhưng điện thoại hoàn toàn tắt im ỉm, thậm chí cũng không buồn chuyển ngay đến hộp voice mail như lệ thường. Tôi với tay cầm tấm ảnh chụp chúng tôi vào đêm giao thừa hôm ấy, trông tôi cười gượng gạo làm sao, còn David thì hơi mím môi nhưng đôi mắt lại vui. Tôi suy nghĩ mông lung, cố tìm một lời giải thích thỏa đáng nhằm biện hộ cho anh nhưng càng nghĩ thì tôi càng bực bội vì như thường lệ, tôi chẳng thể khai thác gì thêm được về David. Anh ta như một bức tường thành kiên cố nhưng lại phẳng phiu một cách vô hại, tôi không tìm ra được một tì vết nào về anh để ít ra, tôi cũng có cớ để mà hờn dỗi hay giận dữ. Mà suy cho cùng, quan hệ giữa chúng tôi vẫn chỉ mới ở mức sơ giao, và tôi cũng không muốn quen ai như một bạn trai chính thức vào lúc này. Thế nhưng cớ sao tôi lại nổi giận? Có phải vì cái tôi hay lòng kiêu hãnh bị tổn thương và giày vò, một sự mâu thuẫn rất thường tình, rất “con gái”?

    Chiều hôm ấy Vivien lại đến thăm tôi. Nó đến để mang đi vài bức họa đã gởi nhờ tôi vào ngày đầu năm hôm nọ và đồng thời mang vài bức mới đến “xin ở nhờ” vì tạm thời nó sẽ ở nhà bố mẹ. Chúng tôi bách bộ ra công viên, hít thở không khí trong lành và trò chuyện về mỹ thuật. Vivien giải thích cho tôi một vài thuật ngữ trong nghề, những kỹ thuật pha màu và phối màu mà tôi cố gắng tỏ vẻ quan tâm khi trong lòng chẳng hiểu gì cả nên rất chán. Trường Vivien sắp tổ chức một cuộc triển lãm các tác phẩm của sinh viên mỹ thuật nhằm gây quỹ giúp trẻ em bị ung thư và con bé có hai bức được chọn nên nó rất hồi hộp và đồng thời phấn khích, thảo nào nó cứ liến thoắng nói về đề tài này trong suốt cuộc đi dạo của hai đứa.

    “Chương trình gây quỹ của bọn em ngoài triển lãm tranh còn có chương trình văn nghệ, lớp em chọn tiết mục nhảy can-can, em thấy chị cũng có năng khiếu nhảy nhót, chị tham gia với bọn em cho vui nhé?”

    Tôi hơi hoảng khi nghe đến mùi biểu diễn trên sân khấu, và cố lựa lời giải thích cho nó, rằng việc ấy không thích hợp với tôi, rằng tôi rất sợ phải biểu diễn trước đám đông, nhưng nó đã gạt phắt đi.

    “Khi lên sân khấu, đèn sẽ rọi thẳng vào chúng ta làm chúng ta lóa mắt và sẽ không nhìn thấy khán giả bên dưới, đặc biệt là bên dưới sẽ tối om khiến chúng ta có cảm giác đó là một khoảng không vắng lặng. Ngoài ra, chị sẽ biểu diễn chung với cả đám, sẽ không bị lạc lõng và nhạc thì rất nhanh, rất vui nhộn, chị sẽ rất hào hứng mà quên đi tất cả!”

    Thật ra, đây sẽ không phải là lần đầu tôi biểu diễn trên sân khấu. Từ hồi học mẫu giáo cho đến đại học, gần hai mươi năm chẳng có năm nào tôi không hát hoặc múa trong ban văn nghệ của lớp, cộng với vài lần đi thi cấp quận và cả một lần, cấp thành phố. Và dù đã có thành tích “dày dạn” về mặt biểu diễn, tôi vẫn chưa một lần vượt qua được “stage fright”, một triệu chứng tâm lý thường gặp ở bất cứ ai mỗi khi phải đối diện với đám đông khán giả. Tôi biết nó nói cứng như thế để thuyết phục tôi, và vì tôi đang trên đà làm cách mạng với bản thân, muốn thử thách mình xem giới hạn cuối là ở đâu nên cuối cùng đã miễn cưỡng nhận lời khiến nó rất vui.

    “Tốt quá! Đi cho vui chị ạ.” Nó im lặng và nhìn tôi vài giây. “Em rất quý chị, em vẫn hay nhắc đến lần chị chủ động đến giúp em dọn đồ với gia đình em, khiến mọi người cũng muốn gặp chị đấy!” Rồi nó mỉm cười. “Sắp tới chỉ cần tìm thêm người đánh đàn dương cầm cho ban nhạc là xong. Luís sẽ làm biên đạo múa, bọn em đang suy nghĩ có nên mời anh ấy nhảy cùng nhóm hay không, nhưng tạm thời là không vì chưa chắc anh ấy sẽ đồng ý.”

    Tôi nghĩ ngay đến Jacqueline, tôi biết chắc bà sẽ rất sẵn lòng giúp Vivien, và cũng vì bà quen rất nhiều người bên bảo tàng mỹ thuật, nơi sẽ diễn ra cuộc triển lãm và biểu diễn nên bà sẽ là một trợ thủ đắc lực cho công tác chuẩn bị. Nhưng tôi chưa vội nói gì với Vivien cả, tôi muốn gặp Jacqueline trước.

    .

    Chiều muộn, tắm xong, tôi nghêu ngao hát và khi mở tủ quần áo thì chợt nhìn thấy chiếc váy nhung xanh quý phái mà bà Rosalyn mang tặng hôm nào vẫn còn nằm im ỉm trong ấy chưa hề được động đến. Tôi đưa tay vuốt ve làn vải mềm mại rồi cảm giác không cưỡng lại nổi ý định muốn mặc thử xem sao. Đã đôi lần tôi muốn làm điều ấy nhưng chẳng hiểu sao có cái gì đó cứ ngăn tôi lại, như thể đó là một kỷ vật thiêng liêng mà tôi cần trân trọng và sợ sẽ vô ý làm hư hại. Lau vội tóc và chẳng buồn chải, tôi tìm bài “Dancing Queen” của ABBA, vặn nhạc thật to rồi mặc váy vào, ngắm nghía săm soi trước gương và hát theo nhạc, đồng thời nắm hai bên váy xoay người sang phải sang trái như cách các cô gái đang đong đưa trong clip nhạc. Chiếc váy thật vừa vặn, tôi không ngờ mình mặc vừa vì bà Rosalyn là người rất đầy đặn trong khi người tôi “trước sau như một”, đúng là “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”, ngày xưa người bà còn rất bé nên dù có đầy đặn thì vẫn nhỏ bề ngang, người tôi lại hơi dẹt nên bù qua sớt lại thế nào tôi lại mặc vừa.

    Tôi giật mình, dường như có tiếng gõ cửa. Giờ này thì chỉ có ông bà Bear, nhưng họ rất ít khi đến tìm tôi muộn như thế này, hoặc có thể là người bảo trì tòa nhà? Nhưng ai lại làm việc giờ này? Liếc vội ra cửa chính, tôi hơi tần ngần rồi mon men bước ra nhìn qua lỗ nhòm xem ai lại gõ cửa vào giờ này. Tôi rất ưng cái lỗ nhòm ấy, mặc dù khu vực tôi ở rất an ninh nhưng sống ở thành phố lớn thì phải đề cao cảnh giác, không thể lơ là. Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi nhìn thấy dáng vẻ quen thuộc của người đứng bên kia cửa chính, chỉ cách tôi có hai bước. Cố nhíu mắt nhìn thêm lần nữa để chắc chắn mình nhìn không lầm, thì tôi lại nghe có tiếng thình thịch trên nền nhà, dường như người ấy đang nhảy tưng tưng ngoài ấy! Cái quỷ gì thế này? Tôi chưa kịp hỏi thì lại nghe tiếng gõ cửa, lần này có vẻ hơi gấp rút.

    “Tôi biết em có ở nhà và đang đứng nấp sau cửa! Làm ơn mở cửa đi nào, tôi sắp chết cóng bên ngoài rồi đây này!”

    Lần này thì dự đoán của tôi đã đúng, đúng là người ấy, không lẫn vào đâu được. Tôi đưa tay lên chốt cửa, rồi thụt tay lại vì chợt nhớ ra là mình đang mặc váy dạ hội dài quét đất, nếu chạy đi thay quần áo thì lại chẳng còn thời gian vì chiếc váy liễu yếu đào tơ ấy nếu cởi vội ra sẽ có khả năng bị trầy xước, thế là tôi rón rén đi nhanh vào phòng tắm, vội vã khoác vào người chiếc áo choàng tắm, làm ướt thêm tóc, và cuối cùng, chạy sầm sập ra cửa chính …
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #19
    CHƯƠNG 16: Baby it's cold outside! (21)



    “Xin lỗi đã làm phiền em vào lúc trời muộn như thế này, ngại lắm, nhưng thật tình tôi chẳng còn cách nào khác … ”

    B đứng đấy, cao sừng sững và có vẻ bớt gầy hơn hồi tôi gặp lần đầu, nụ cười hơi gượng gạo có chút ít hối lỗi và tím tái trông rất tội. Anh phong phanh trong trang phục thể thao, quần ngắn, áo ngắn tay với khoác mỏng, và đôi giày chạy bộ.

    “Không có chi … mời anh vào nhà.”

    Trời bỗng đổ mưa lất phất, gió thổi mạnh khiến anh rùng mình, tôi cũng hắt hơi vì lạnh bất ngờ và chợt nhận ra mình vẫn đang đứng ngáng gần ngạch cửa. Tôi vội vã lùi ra sau để có lối cho anh vào.

    “Cám ơn em …”
    “Không có chi …”

    B bước vào, hai tay vẫn đang xoa vào nhau và tôi nhận thấy cổ tay phải của anh được quấn một lớp gạc mỏng. Tôi ngần ngại khi nhìn vẻ thảm hại của anh.

    “Anh muốn uống chút gì nóng cho đỡ lạnh không? Trà hay sô cô la nóng?”
    “Phiền em quá … nếu có thể, em vui lòng cho tôi một cốc sô cô la nóng.”
    “Chẳng phiền đâu, anh chờ vài phút nhé.” Tôi lúng túng trả lời anh, rồi chợt nhớ ra, tôi lại nói tiếp, “Phòng vệ sinh ở đây, anh cứ tự nhiên!”, vừa nói tôi vừa chỉ hướng.
    “Cám ơn …”. Anh nói khẽ, đôi mắt trông thật mỏi mệt nhưng lại ánh lên một chút ấm áp, bình an.
    “Không có chi …”

    Tôi biến nhanh vào bếp nấu nước sôi, rồi lẻn vào phòng ngủ để thay quần áo, trong đầu đang lo không biết phòng vệ sinh có đủ sạch và ngăn nắp không, có còn quần áo bẩn nằm vương vãi trong ấy không, nhưng đã quá muộn vì tôi vừa kịp nghe tiếng đóng cửa. Tôi thở dài, đằng nào thì mọi sự cũng đã rồi, chẳng nên lăn tăn nữa làm gì cho rắc rối cuộc đời. Ấm nước đã sôi và réo ầm ĩ trong bếp, tôi nhanh chóng pha một cốc sô cô la cho anh và một cốc trà gừng cho mình, rồi mang ra phòng khách.

    “Sự thật là, tôi vừa đi công tác về nhà đêm qua. Chưa quen lại với giờ địa phương nên tôi không ngủ được cho đến sáng, thế nên mới sáng sớm tôi đã ra ngoài chạy bộ cho tỉnh người, khi về nhà thì cửa đã khóa, mà đã lâu tôi không có thói quen khóa cửa, vì luôn đi công tác xa nhà nên chẳng cầm chìa khóa theo mình, thế là tôi đành bị nhốt bên ngoài cả ngày!”

    Anh vội giải thích cho sự đường đột của mình rồi đón lấy cốc sô cô la nóng từ tay tôi, lại cám ơn, và chẳng chút khách sáo, anh ấp hai bàn tay lạnh cóng vòng quanh cốc để làm ấm bàn tay rồi bắt đầu uống. Tôi kéo chiếc quạt sưởi đến gần anh hơn, và bật cao lên vài nấc khiến anh có vẻ cảm động. Nhưng lần này anh chẳng nói gì, chỉ im lặng thưởng thức món sô cô la nóng thơm lừng trong khi tôi nhấp nhổm trên ghế đối diện chờ nghe tiếp câu chuyện. Nhưng anh chẳng nói gì cả, cứ im lặng uống sô cô la, nét mặt đăm chiêu nghiêm túc rất khác lần đầu gặp gỡ. Chẳng hiểu tại sao tôi lại cảm giác ngột ngạt vì sự nghiêm túc của anh.

    “Tôi ngạc nhiên vì anh không tìm cách trèo cửa sổ vào nhà. Vườn hoa của Jacqueline có cây sồi cao với nhiều nhánh to vươn ngay đến phòng của anh …” Tôi chợt im bặt vì lỡ lời, chẳng muốn anh thích thú với cái ý nghĩ tôi quan tâm đến phòng ốc của anh ở nhà bên ấy, nhưng đã quá muộn, lời nói của tôi đã có tác dụng tức thì
    đến sự lặng lẽ bất thường của B như lúc này.

    “A, tôi hy vọng bà ấy chưa đưa em đi tham quan phòng của tôi, có nhiều thứ em không nên thấy …”
    “Vì việc ấy sẽ làm anh xấu hổ chứ gì …” Tôi cướp lời ngay.
    “Ha ha, không đâu, là tôi lo em sẽ xấu hổ đấy chứ!” Anh nháy mắt với tôi, tiếp tục nhấp một ngụm sô cô la, còn tôi thì vừa bực bội vừa vui vì anh đã hiện nguyện hình trở lại là một B mà tôi đã quen và đã có lẽ, đã thích.

    “Hừ, có vẻ như anh rất giàu óc tưởng tượng nhỉ! Thế cả ngày nay anh đã đi đâu và làm gì?” Tôi cố làm ra giọng bất cần khi trong lòng đang tò mò đến chết đi được.
    “Ngày hôm nay ấy hả? Là cả một câu chuyện dài!” Anh làm vẻ mặt đau khổ, còn tôi thì phải cố lắm mới giữ để không toét miệng ra cười. “Đúng là tôi có tìm cách leo trèo vào phòng mình qua đường cửa sổ, nhưng tôi thề có trời là chẳng biết ai đã khóa nó lại, vì đời tôi chẳng bao giờ khóa cửa sổ cả. Vừa trèo xuống sân thì xe cảnh sát cũng đã kịp đậu trước vỉa hè. Tôi cố giải thích với cậu cảnh sát trẻ rằng tôi sống ở đấy, thậm chí còn dọa cậu ấy rằng tôi là quân nhân tại ngũ, nhưng cậu ấy chẳng buồn nghe, còn gọi tiếp viện đến. May sao khi ấy tôi chợt nhớ đến bà hàng xóm vẫn thường sang chơi bài với mẹ tôi vào mỗi tối thứ Năm và yêu cầu cậu cảnh sát đưa tôi sang đấy đối chất, cậu ta hơi chần chừ rồi yêu cầu tôi ở yên đấy, và gọi yêu cầu tiếp viện đến nhà bà hàng xóm trong khi cậu ta vẫn đứng chặn ở cổng, chắc là sợ tôi chạy mất …,” nói đến đây, B cười vang rồi nháy mắt, “và may trời, bà hàng xóm tốt bụng đã làm chứng và bảo lãnh cho nên tôi mới thoát!”
    “Hừ, cậu cảnh sát thông minh thật.” Tôi khoái trá châm chọc vào tai nạn của B nhưng tôi biết anh chẳng màng, chỉ nhìn tôi trong vài giây bằng ánh mắt như muốn nói “liệu hồn đấy!”.
    “Sau đó thì tôi cứ chạy lòng vòng cho đỡ lạnh, rồi đến khi không chạy nổi nữa thì đi ra nhà sách để có chỗ dung thân, bước đến cafe định gọi mộc cốc sô cô la nóng thì chợt nhớ ra mình đang không một xu dính túi, thế là tôi đành lê la ở đấy và đọc sách để giết thời gian trong khi chờ mẹ về! Đấy, cả ngày nay tôi như kẻ vô gia cư lang thang đói khát ngoài trời lạnh, nếu đó là điều khiến em thích thú!”

    Tôi cười khi nghe anh pha trò với đoạn “chờ mẹ về”, chợt nhớ ra hôm nay là ngày học dương cầm của tôi nhưng bà đã hủy vì có việc. Nhưng bà đã đi đâu từ sáng đến giờ nhỉ?

    “Người đàng hoàng như anh mà không ai cho tá túc à? Thế bà hàng xóm tốt bụng ấy sao không mở cửa mời anh vào?” Tôi vẫn chưa chịu buông.
    “Bà ấy …”, anh hắng giọng, “đúng là bà ấy có mời, nhưng tôi … không dám”. Nói đến đây, anh ngưng bặt và nháy mắt một cách bí hiểm. Tôi chẳng muốn hỏi vặn vẹo thêm nữa, vì sẽ rất ghét nếu anh lại có cơ hội ghi điểm trong cuộc “đấu đá” gần như đã trở nên quen thuộc giữa hai chúng tôi.

    “Còn Santa Baby thì sao?”
    “???”

    Chẳng là trong buổi tiệc Giáng Sinh đêm ấy, khi anh quay lại sân khấu với ban nhạc thì Jessie đã gây bất ngờ cho khán giả bằng bài hát“Santa Baby” trong trang phục Santa rất khêu gợi với áo khoác đỏ và nón đỏ viền trắng đúng kiểu Santa nhưng xẻ ngực thật sâu và vớ (tất) lưới thay cho … cái quần thụng của ông già Noel. Thật ra chiếc áo khoác hơi dài và che gần nửa đùi, đúng kiểu của các cô vũ nữ “The Rockettes” nổi tiếng của Broadway, nhưng tôi cảm thấy việc diện trang phục biểu diễn như thế trong hoàn cảnh đêm tiệc ấy thì có gì đó hơi bất ổn, không hợp tình hợp cảnh cho lắm. Tôi vẫn nhớ những đôi mắt mở to khoái trá của các ông chồng và nét nhăn mặt khó chịu của một số bà vợ, người kín đáo kẻ ra mặt, khi Jessie xuất hiện trong trang phục hớ hênh không cần thiết ấy. Khi ấy tôi vẫn đang nói chuyện với David và ước gì mình có một đứa bạn gái bên cạnh để bình luận về cô nàng kia theo đúng kiểu nhi nữ thường tình. Tôi vẫn nhớ mình đã nhận xét bâng quơ với David rằng đó là một màn diễn khá lý thú để lén lút hỏi dò thái độ của anh nhưng David đã trả lời rất thản nhiên “cô ấy có giọng hát vui nhộn”. Tôi biết David chẳng bị ấn tượng lắm, anh có thái độ rất trung tính trong suốt cuộc biểu diễn, và về sau, khi đã gặp gỡ và tiếp xúc nhiều hơn, tôi biết loại phụ nữ ồn ào thích gây chú ý không hợp gu của anh lắm. Tuy nhiên anh vẫn phải khen Jessie một cách khách quan như thế, và tôi nghĩ anh thật khéo và tế nhị.

    B hơi châu mày lại, ra chiều suy nghĩ trong vài giây rồi như chợt hiểu ra điều gì, nét tươi cười trên mặt anh vụt tắt trong chớp mắt. Anh im lặng một lúc, hai đầu mày càng châu sát vào nhau hơn, tôi nghĩ việc ấy chỉ một thoáng thôi, nhưng khi ấy thời gian sao mà trôi chậm chạp khiến bầu không khí đang vui vẻ thoáng chốc đã chuyển sang nặng trĩu và xám xịt.

    “Sau này nếu hoàn cảnh cho phép, và nếu em còn quan tâm, thì tôi sẽ nói thêm về … về Santa Baby, nhưng bây giờ tạm thời chúng ta không nhắc đến cô ta nhé?”

    Tôi gật đầu, ra vẻ hiểu ý và thông cảm, lòng không buồn cũng chẳng vui. Nội dung bài hát ấy là một cô bồ nhí trẻ đẹp vòi vĩnh những món quà đắt tiền từ anh người tình (chắc là hơi già) nhiều tiền lắm của, và những cô ca sĩ biểu diễn bài này thường có những động tác rất đa tình nóng bỏng. Jessie biểu diễn y hệt như thế khiến ban đầu thì tôi hơi xem thường cô ta, nhưng khi liếc nhanh chung quanh và bắt gặp vài ánh mắt không thiện cảm cho lắm thì tôi lại thấy tội. Cô ta rất đẹp, chỉ cần ăn mặc kín đáo là đàn ông đã phải ngoáy cổ lại nhìn, chẳng hiểu tại sao Jessie lại phải gây chú ý một cách không cần thiết như thế. Vài giây im lặng nặng nề trôi qua, rồi B lại mỉm cười, nhìn tôi soi mói.

    “Em cũng ghê thật đấy, không hiền như tôi vẫn tưởng. Sau này tôi phải cẩn thận hơn với em mới được!”
    “Thì con mèo ngoan ngoãn cũng có lúc phải sử dụng móng vuốt khi cần, phải không?”
    “Đùa thôi, em tinh nghịch nhưng lành tính và vô hại …”

    Lần này ánh mắt anh tự dưng trở nên nghiêm túc đến lạ kỳ khiến tôi hồi hộp, không dám đùa nữa. Trong vô thức, tay tôi vụng về đưa tách trà lên miệng, giả vờ uống trà thật lâu để che mặt lại và né tránh cái nhìn của B. Anh đặt cốc sô cô la lên bàn, hơi dựa người ra sau và khoanh tay trước ngực, đầu hơi nghiêng, lại nhìn tôi một hồi, nhưng lần này, cái nhìn của anh rất nhẹ nhàng mặc dù anh vẫn không che giấu được một sự thích thú nhất định nào đó.

    “Này, em uống trà xong chưa đấy?” Anh hỏi bất chợt khiến tôi giật mình, chẳng biết mình đã đưa tách trà lên che mặt trong bao lâu.
    “Trông em có vẻ không thoải mái cho lắm … không biết tôi đã làm gì hay nói gì khiến em không vui?”
    “À không, không có gì …” Tôi lúng túng tìm cách trả lời qua loa cho xong chuyện, lại giật mình chẳng hiểu vì sao anh ta nhanh nhạy gần như có thể nhìn thấu tim gan tôi như thế. “Mà tại sao anh lại nghĩ thế? Nghĩ rằng tôi không vui hay … không thoải mái?”
    “Tôi đâu có ‘nghĩ’, tôi ‘đọc’ cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể của em đấy
    chứ!”

    Tôi bực bội với cái ý nghĩ anh ta ‘đọc’ được những điều thầm kín trong suy nghĩ của mình và chẳng muốn tin vào điều ấy chút nào nên vội nói “Anh vui tính đấy, thế thì anh hãy cho tôi biết xem tôi đang nghĩ gì trong đầu vào lúc này?”

    “À, để tôi xem …” B vẫn khoanh tay trước ngực, người hơi nghiêng về phía trước rồi nói tiếp, “Em đang rất không vui vì có người nói với em họ đọc được suy nghĩ của mình, và dù bực bội nhưng em lại rất khâm phục người ấy và hy vọng người ấy sẽ chỉ cho em vài mánh khóe về khả năng này. Tôi nói thế có đúng không?” Anh ngừng nói, môi hơi mím lại, chẳng biết là vì đang cố nhịn cười, như anh vẫn thường làm trước mặt tôi, hay chỉ đơn giản đang theo dõi phản ứng của tôi.
    “Thất vọng quá, tôi lại nghĩ rằng anh đang nói đùa, và đang tìm cách trêu chọc tôi. Xin lỗi nhé, anh chẳng đọc được gì trong trí tôi cả!” Tôi nói nhanh, sợ mình quên mất ý nghĩ hay ho ấy. Anh ta nói đúng, nhưng tôi chẳng thấy có gì xuất sắc trong cách anh “đọc” ý nghĩ của người khác. Tôi cho rằng anh đoán già đoán non thì đúng hơn, thì anh đã nói tiếp dòng suy nghĩ của tôi.
    “Đoán suy nghĩ người khác không phải là một trò đồng cốt hay nhờ may mắn gì cả, mà là suy luận khoa học dựa trên khả năng phân tích nhanh thái độ cử chỉ của người đối diện rồi tổng hợp thành một kết luận tạm thời. Việc ấy không bảo đảm chính xác một trăm phần trăm, vì nó chỉ là suy đoán, nhưng chỉ cần chính xác trên năm mươi phần trăm thì xem như đã thành công, bởi vì thông thường sẽ có một chuỗi những phản ứng khác từ người đối diện khiến ta có thêm dữ liệu để quyết định xem suy đoán ban đầu là đúng hay sai, từ đó có sự điều chỉnh thích hợp. Đấy đấy, em cứ ngồi yên thì ai mà đoán già đoán non gì được, đằng này em cứ vặn vẹo các ngón tay và vai thì co lại thế kia …”

    B phì cười khi nói đến ấy, còn tôi cũng cảm thấy mình đang tự phản bội bản thân khi thể hiện quá nhiều ngôn ngữ cơ thể ra ngoài như thế. Nhưng tôi lại mừng vì anh đã không giỏi như tôi đã tưởng, lỡ anh biết tôi rúm ró người lại thế kia chỉ vì ánh mắt của anh thì chắc tôi xấu hổ đến độn thổ mất. Mà nếu anh biết thì … thì anh sẽ làm gì nhỉ? Tôi biết mình đang đỏ mặt với suy nghĩ lung tung trong đầu, và phát hoảng khi nghĩ rằng anh sẽ lại quan sát tôi, chó ngáp phải ruồi thế nào lại đoán biết tôi đang đỏ mặt vì anh, thế là tôi giả vờ đi vào bếp để châm thêm nước sôi vào tách trà, tự rủa mình vì sao lại lóng ngóng như thế trước một tình huống hết sức bình thường thế này. Mà tình huống hiện tại của chúng tôi có bình thường không nhỉ?

    Mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn, gió quất mạnh vào cửa sổ kéo theo những hạt mưa băng nghe lạt rạt trên kính. Đường phố đã lên đèn tự bao giờ, trời mùa đông tối đi thật nhanh, và ấm nước lại réo inh ỏi trong bếp khiến tôi có thêm cớ để lại đi vào trong ấy một lần nữa.

    https://baglady007.blogspot.com/2017...nh-xua-21.html
    • Avatar của BagLady
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 1 năm
    • 63 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #20
    CHƯƠNG 17 - Do you feel my heart beating?

    Gặp lại B, tôi rất vui. Ở bên cạnh anh, tôi vừa cảm thấy mình thường trong tư thế “sẵn sàng chiến đấu” nhưng lại vừa thoải mái dễ chịu, một sự mâu thuẫn thật khó giải thích. Tôi có cảm giác mình chẳng bị áp lực phải “thể hiện” gì cả khi nói chuyện với anh, nhưng tôi chỉ ước gì anh bớt đùa cợt một tý, nhưng rồi lại giật mình, liệu tôi có thích không khi anh đột nhiên trở nên quá nghiêm túc? Rõ ràng mỗi khi anh có vẻ nghiêm túc là tôi lại hồi hộp và cảm giác thoải mái lại biến đi đâu mất. Nhưng chẳng lẽ cứ phải đấu khẩu với anh suốt thì mới tìm thấy niềm vui gặp gỡ được?

    Nhìn ấm nước sôi, bụng tôi cũng bắt đầu sôi lên, và chợt nhớ ra rằng B có lẽ chưa ăn gì cả ngày nay, và tôi chẳng biết sẽ làm gì cho bữa tối khi tủ lạnh gần như trống trơn vì ngày mai mới là ngày đi chợ. Chẳng lẽ lại nấu mỳ gói?! Tôi với tay mở tủ đựng mỳ ra xem thì trong ấy chỉ còn một gói duy nhất!

    “Này B, tôi muốn chia sẻ với anh hai việc, một tin xấu và một tin tốt. Anh muốn nghe tin nào trước?”
    “Tin xấu từ em thì chắc cũng không tệ lắm! Em nói tin không hay trước đi!”
    “Tin chẳng lành là hiện nay cả hai chúng ta đều đang đói, và trong nhà chỉ còn một gói mỳ ăn liền duy nhất!” Tôi khoái trá thông báo việc ấy.
    “Ồ không!” B mỉm cười. “Thế, tôi thật may mắn được em mời ăn tối à?” Anh xoa hai tay vào nhau chờ đợi khiến tôi cảm thấy buồn cười vì trông anh thật ngô nghê đầy giả tạo. “Thế thì tin tốt lành sẽ còn trên cả tuyệt vời phải không?”
    “Hà hà, anh đừng đặt nhiều hy vọng vào tin thứ hai này! Tuy ít mì nhưng chúng ta còn vài quả trứng, ba lát bánh mỳ cũ, một quả táo héo, và vài chiếc bánh ngọt sắp lên mốc.”
    “Tuyệt vời!” B reo lên. “Nghe hấp dẫn đấy!”
    “Anh có ăn cay được không?”
    “Được chứ! I like hot stuff” Vừa nói B vừa nháy mắt khiến tôi chỉ biết lắc đầu thở dài.
    “Xin lỗi vì trong nhà chỉ có chừng ấy những thứ được gọi là thức ăn,” tôi vừa nói vừa sắp những lát táo vừa cắt và những chiếc bánh ngọt vào đĩa. “Anh dùng tạm táo và bánh ngọt cho đỡ đói nhé, bữa tối sẽ được phục vụ trong vòng mười lăm phút!”
    “Cám ơn em thật nhiều … Hay là tôi vào bếp giúp em chiên trứng nhé?”
    “Ồ … không sao đâu, nhưng cám ơn anh đã ngỏ ý giúp. Cái bếp bé thế kia, chỉ cần một người bước vào là đã chật chội rồi!”

    Tôi chợt nhớ ra tóc mình vẫn còn ướt và chưa kịp chải, thế là tôi lủi nhanh vào phòng ngủ tìm máy sấy tóc và lược. Mọi việc diễn ra quá nhanh và quá nhiều, có lẽ chưa đến hai mươi phút từ khi anh bước vào nhà, nhưng tôi có cảm giác anh đã ở đấy cả buổi chiều nay. Anh chiếm lĩnh và khuấy động cả không gian yên ắng quen thuộc trong căn hộ nơi tôi ở một mình, và tối nay, lẽ ra, như thường lệ, tôi lại ăn uống qua loa cho xong rồi sẽ ôm sách đọc cho đến khi mắt mở không lên thì tiếp theo sẽ là với tay tắt đèn rồi chìm vào giấc ngủ. Thôi rồi, nói đến sách tôi lại nhớ mình vẫn chưa kịp giấu đi cuốn “Kiêu hãnh và Định kiến” đang đọc dở còn đặt trên chiếc bàn con gần sofa. Tôi chẳng muốn anh biết tôi đang đọc truyện tìm cảm lãng mạn, để anh lại có đề tài này nọ về tôi. Nhưng thôi, tôi phải học cách lờ anh đi, như tôi đã tự nhủ một lần vào đêm tiệc Giáng Sinh hôm nào.

    Rồi tôi nhanh chóng luộc mỳ, chiên trứng, nướng bánh mỳ, thái mỏng rau cải, cố không nghĩ đến B và tự nhủ trong lòng không nên quan trọng hóa vấn đề làm gì cho đời thêm phức tạp. Tôi ngạc nhiên khi thấy lòng mình nhẹ bâng, trong vài phút, dường như tôi đã quên mất sự có mặt của vị khách đặc biệt này mà chỉ chuyên tâm nấu nướng, thoáng chốc, bữa tối đã sẵn sàng. Tôi vui vẻ chuẩn bị mang đồ ăn ra bàn ăn thì thấy B đã ngủ thiếp đi từ đời nào trên sofa, thảo nào trong suốt thời gian tôi nấu ăn chẳng nghe anh ta nói năng nhận xét gì cả. Cứ tưởng tượng cả đêm trước anh chẳng ngủ nghê gì được, rồi cả ngày nay lang thang ngoài đường trong khi trời thì lạnh cóng, chẳng ăn uống gì, tự dưng tôi cảm nhận một sự xót xa dâng trào trong lòng. Anh hít thở nhẹ nhàng, ngực phập phồng dâng lên hạ xuống theo một nhịp điệu đều đặn, mặt anh hết tím tái mà đã hồng hào trở lại, hai gò má hơi ửng đỏ vì bị phơi ngoài trời lạnh cả ngày, môi anh cũng đỏ và thật mềm, thật đầy, và căng mọng một cách kỳ lạ … trông anh như một cậu bé con vừa thiếp ngủ sau khi đã chạy rông và chơi đùa ngoài đường cả ngày. Khi ngủ, người ta quên hết mọi sự đấu đá với đời trong lúc còn tỉnh thức, thế nên nét mặt thường hiền hòa, bình an, tôi ngắm nhìn anh, lòng thanh thản kỳ lạ. Lần trước tôi gặp anh, khi ấy tóc anh húi cua rất cao theo đúng chuẩn quân đội nhưng giờ đây tóc anh đã dài ra nhiều, có lẽ chưa hề cắt kể từ lần ấy, vài lọn xoắn rơi lòa xòa trên trán thật đáng yêu khiến tôi gần như không cưỡng lại nổi sự thôi thúc phải đưa tay ra vén chúng sang một bên. Tôi cứ đứng yên bất động ngắm nhìn anh như thế, trong bao lâu tôi cũng không rõ, không gian yên ắng trở lại trong khi anh ngủ, tôi nghe trống ngực mình bỗng đập nhanh hơn, ồn ào hơn.

    Trong một thoáng, tôi không tin vào tai mình khi ngoài kia lại có tiếng gõ cửa. Có lẽ là tiếng vọng từ căn hộ kế cận? Mưa gió vẫn đang vần vũ gào rít bên ngoài nên tôi không chắc lắm, nhưng tiếng gõ cửa lại thật rõ, thật gần. Tôi bước ra nhìn qua lỗ nhòm thì thấy bà Rosalyn đang đứng ngoài đấy, trên tay là một chiếc khay có bọc giấy bạc. Tôi mở cửa mời bà vào, và cách bà nhanh chóng liếc nhìn khắp phòng khiến tôi sinh nghi về động cơ thăm viếng của bà tối nay.

    “Hôm nay ông già Bear tự dưng lại thèm ngọt, nên ta đã nướng hai ổ bánh mỳ và hai tá bánh ngọt. Trời mưa gió và lạnh thế này nên ta lại nghĩ đến cháu, thế là ta phải mang biếu cháu một ít khi bánh còn nóng và thơm”. Ánh mắt bà dừng lại trên sofa, nơi có một người đàn ông lạ mặt vẫn đang say sưa ngủ khiến tôi buồn cười vì sự khôi hài của tình huống hiện tại trong nhà tôi.

    “Cháu có khách à? Ai đấy?” Bà hỏi ngay, chẳng rào trước đón sau.

    À há, tôi đồ rằng lão già Bear đã cử bà lên đây để thám thính tình hình đây mà! Tôi muốn trêu ông bà một chút, nhưng từ bỏ ý định ấy. Họ là những con người chất phác hiền lành, một lời nói đùa vô ý có thể làm cho họ lo lắng thật sự.

    “Đó là B, anh ấy là con trai của Jacqueline đấy. B bị nhốt ngoài đường cả ngày vì không có chìa khóa vào nhà, thế nên anh ấy đến đây trú lạnh tạm thời.”
    “Thế à? Một phụ nữ khả ái. Hôm nọ sau khi cô đã về nhà, tôi có nói chuyện thêm một chút với Jacqueline và tôi có nghe chị ấy nói về B. Thế thì cậu ta sẽ ở lại đây cả đêm à?”
    “Hy vọng là không!” Tôi cười vui vẻ, cố làm ra vẻ tỉnh bơ chứ thực lòng tôi cũng hơi lo và chẳng biết phải làm gì với anh ta nếu tối nay anh không có chỗ ngủ. Bà Rosalyn hơi nhướn mắt, có vẻ chẳng tin tưởng gì lắm vào câu trả lời nửa vời của tôi, định nói gì nữa đấy, nhưng lại thôi. Tôi cám ơn bà khi đỡ lấy khay bánh còn ấm nóng và thơm lừng, cố làm ra vẻ bình thường để bà đừng hỏi lung tung nữa. Rồi bà cáo từ ra về vì tôi đã né tránh không mời bà ở lại ăn bánh uống trà như mọi khi, bà bước ra ngoài, không quên dặn tôi cứ tự nhiên đến gõ cửa nhà ông bà nếu “có việc cần giúp đỡ”.

    Khay bánh nóng và thơm lừng của bà Rosalyn đến thật đúng lúc, tôi đang suy nghĩ xem có nên để B ngủ thêm một chút hay gọi anh dậy thì anh đã cựa quậy trên sofa rồi mở mắt và ngồi choàng dậy.

    “Ôi, xin lỗi, tôi đã ngủ thiếp đi bao lâu rồi nhỉ?” Anh hỏi, mặt mày vẫn còn hơi ngỡ ngàng vì chưa hoàn toàn tỉnh ngủ.

    “Không lâu lắm đâu, chỉ vừa đủ thời gian để tôi nướng một mẻ bánh!” Vừa nói, tôi vừa hé mở lớp bọc giấy bạc, một làn khói mỏng và thơm lừng mùi bánh nướng mới ra lò luồn theo khe hở bay ra khắp phòng. B mở to mắt, có lẽ không tin vào các giác quan của anh khi ấy, còn tôi khoái trá nháy mắt với anh rồi đi vào bếp. Anh đứng dậy rồi đi theo tôi, nằng nặc yêu cầu cho anh được giúp tôi mang đồ ăn ra bàn, và lần này tôi chẳng từ chối nữa. Chúng tôi ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn tròn nhỏ, ở giữa là hai tô mì đang nghi ngút khói, và ổ bánh mỳ vẫn còn nóng, cùng món trứng tráng đặt gần kề. Anh nhìn đôi đũa rồi nhìn tôi, mỉm cười không nói gì khiến tôi cảm thấy mình phải giải thích điều gì đó.

    “Tôi dọn đũa là có ý tôn trọng anh đấy, vì tôi nhớ có lần đi ăn tối ở ngoài, một vị khách Mỹ tỏ ý không vui khi cô chủ quán mì dọn đũa cho mọi người và riêng anh ta thì được tặng một cái nĩa (dĩa), dĩ nhiên anh ta là người da trắng duy nhất trong đám bạn gốc Á châu đi cùng hôm ấy!”
    “Cám ơn thành ý của em!” B vẫn nhìn tôi và mỉm cười. Có trời mà biết anh ta đang nghĩ gì trong đầu lúc này, và tôi ước gì mình học được kỹ thuật “đọc” ý nghĩ của người khác như anh đã khoe khoang với tôi khi nãy.
    “Bon appétit!”

    Kể ra bữa tối của chúng tôi cũng không quá tệ như tôi đã lo lắng. Ổ bánh mì thơm nức mũi được chúng tôi “xử lý” ngay lập tức. May trời trong tủ lạnh của tôi thường có bơ sữa và bơ đậu phộng, và tôi loáng thoáng nghĩ đến ẩm thực nhà Jacqueline, vốn là người Pháp, có lẽ bánh mì phết bơ là món không thể thiếu trong bất kỳ bữa tối nào trên bàn ăn bên ấy. Và tôi mỉm cười khi thấy B thật sung sướng được bẻ bánh mì nóng và phết thật nhiều bơ lên. Anh vẫn nghĩ rằng tôi đã nướng ổ bánh ấy, khen không tiếc lời, và tôi thì khoái trá ỉm đi sự thật. Đằng nào thì việc ấy nào có quan trọng gì, khi nào “thuận tiện”, tôi lại cho anh biết “sự thật”, như anh vẫn đang nợ tôi một câu chuyện to đùng về “Santa Baby” còn gì.

    Chúng tôi im lặng ăn tối và trò chuyện về phi vụ học đàn của tôi, về Jacqueline, về giáo sư Reynolds, và về Kim. Có vẻ như anh biết khá nhiều về những người tôi làm việc cùng, có lẽ là từ Jacqueline. Dường như giữa hai mẹ con họ không hề có bí mật gì cả, có lẽ vì thế mà anh đã biết về tôi từ lâu, trước khi anh gặp tôi lần đầu ở đêm tiệc Giáng Sinh ấy.

    “Thật ra, trong những lần công tác xa nhà và trò chuyện với mẹ tôi trên điện thoại, tôi đã được nghe kể bà vừa có cô học trò mới. Cứ tưởng lại là một trong những học trò mới như những lần khác, nhưng lần này tôi cảm giác có gì đó hơi khác lạ, lần nào bà cũng hào hứng nói về em. Bà nói nhiều quá, khiến tôi đâm ra tò mò! Tôi biết bà chỉ thích nói về những người bà yêu quý, nên tôi nghĩ chắc em phải đặc biệt lắm.”
    “Thế nên trong đêm tiệc ấy anh đã cố tình đóng vai phục vụ mang thức uống đến cho tôi đúng không?” Tôi chợt nhớ ra việc ấy và hỏi luôn. Anh hơi nhướn mắt lên, tỏ vẻ ngạc nhiên thích thú, rồi lại tủm tỉm cười.
    “Khi ấy không may lại có một phụ nữ khác vừa bước đến và nói chuyện với em, nên tôi đành lảng ra chờ cơ hội khác …”
    “Và theo dõi tôi cho đến khi tôi bước ra ngoài …”
    “A, cái đoạn ấy thì chỉ là tình cờ, thề đấy! Đúng là tôi có để ý đến em khi em còn đang ở bên trong tòa nhà, nhưng mà thật sự khi tôi bắt đầu cảm thấy ngột ngạt và bước ra ngoài rồi nhìn thấy em ở đấy là hoàn toàn không có chủ ý nhé!” Anh mỉm cười, uống một ngụm nước, rồi im lặng suy nghĩ.

    Tôi mơ màng nhớ lại chi tiết lần gặp gỡ bất chợt và chóng vánh ấy. Thảo nào nhất cử nhất động của tôi trong đêm ấy đều bị anh thâu tóm cả, nhất là chi tiết đáng xấu hổ là tôi phải cởi giày ra để cứu nguy đôi chân tội nghiệp của tôi! Tôi mỉm cười khi nhớ lại lần ấy. Mới hơn một tháng trôi qua, nhưng tôi có cảm giác nó đã xảy ra lâu lắm rồi.

    “Đây là tô mì ngon nhất đời mà tôi từng được ăn, nói thật lòng đấy!” Anh bỗng đột ngột đổi đề tài. Tôi thích thú nghĩ đến Vivien và vài đứa bạn của nó, lần nào được tôi đãi món mì này đều khen nức nở!
    “Cám ơn anh, nhưng có lẽ tại anh đang đói quá nên ăn gì cũng thấy ngon như sơn hào hải vị đấy thôi!”
    “Cũng có thể, nhưng tôi thấy gia vị rất khác lạ, em đã cho gì vào mì thế?”
    “Gia vị này bắt chước món lẩu của Thái Lan, có lẽ là me chua, ớt cay, và sả cùng vài thứ gia vị linh tinh khác nào đấy.”

    Chúng tôi vừa ăn mì vừa hít hà vì cay và nóng, rồi nhìn nhau cười ra chiều rất thông cảm cho nhau. Thoáng chốc, chúng tôi đã ăn xong, rồi B lại yêu cầu được rửa bát đĩa, và tôi có cảm giác mình không thể nói không với anh một lần nữa.




    Full truyện: https://www.webtretho.com/forum/f115...ruyen-2705078/

    Blog cá nhân: https://www.blogger.com/blogger.g?bl...59463#allposts
  • Trang 1/2

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2