Webtretho thử nghiệm phiên bản mới

TIN TÀI TRỢ.

Chuyện cảm động về cậu bé mồ côi

  • 0 Lượt chia sẻ
  • 705 Lượt đọc
  • 1 Trả lời

Bài học lớn đằng sau câu chuyện nhỏ

Đến trả lời mới nhất
    • Avatar của BeBiBo
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 16 năm
    • 2,252 Bài viết

    • 777 Được cảm ơn

    #1
    Chiến tranh đã kết thúc từ lâu, nhưng sự chết chóc, loạn lạc và ly tán thì vẫn còn là những ký ức đau buồn của bao gia đình Việt Nam. Câu chuyện về một cậu bé mồ côi, với hai người mẹ nuôi ở làng Ninh Cù, bắt đầu từ cách đây hơn nửa thế kỷ, đã vừa kết thúc có hậu như cổ tích, trong niềm vui đầy yêu thương và nước mắt...

    Chuyện buồn năm xưa

    Năm 1948, anh bộ đội Lê Chấn bị thương trong một trận chiến đấu, phải vào điều trị tại Bệnh xá Trung đoàn 42. Tại đây, chàng lính trẻ dũng cảm đã phải lòng cô y tá Lê Thị Ái, vừa xinh đẹp, lại vừa hát hay, biết chơi đàn măngđôluyn.

    Cùng năm ấy, họ tổ chức lễ cưới. Năm sau, vào đúng ngày kỷ niệm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người vợ trẻ đã sinh một bé trai kháu khỉnh, được đặt tên là Lê Dũng Tiến, với hy vọng cậu bé lớn lên sẽ dũng cảm và tiến bộ không ngừng…

    Sống với nhau chẳng được bao lâu, Lê Chấn phải tạm biệt người vợ trẻ và con trai bé bỏng để cùng đơn vị hành quân đi chiến đấu. Đó cũng chính là thời gian quân Pháp mở rộng chiến tranh ra đồng bằng Bắc Bộ. Chúng liên tục tổ chức các cuộc càn quét, bắn giết đẫm máu, sát hại đồng bào ta.

    Nhớ vợ, thương con, Lê Chấn đã nhờ người nhắn cho vợ mang con ra để đoàn tụ gia đình. Lúc đầu, chị Lê Thị Ái đã định không đi, vì đường sá xa xôi và nhiều nguy hiểm. Nhưng thương chồng đang mong chờ vợ con, chị đã bế con trai, hoà cùng đoàn cán bộ cơ quan tỉnh Hải Dương, giả làm dân tản cư tìm lên Đông Triều.

    Ngày 13/5 /1950, khi đoàn người tản cư từ Hải Dương đi tới khu vực Bến Tắm (Đông Triều, Quảng Ninh), thì gặp một trận càn dữ dội của quân Pháp và bị chặn lại, dồn lên núi Vắt Vai. Hàng trăm người không có vũ khí đã bị những tên lính Pháp súng lăm lăm trên tay, lục soát hành lý, tư trang. Hàng chục người đã bị bọn lính bắn chết tại chỗ.

    Một người phụ nữ đi bên cạnh chị Ái đã bị xả súng bắn chết, sau khi chúng phát hiện trong tay nải của chị có chiếc áo trấn thủ bộ đội. Một tên lính khác lục soát đồ đạc của mẹ con chị Ái, hắn kêu lên khi phát hiện ra một số vật dụng quân y. Một người lính da đen vừa kịp giằng bé Tiến mới 8 tháng tuổi thì mẹ cậu đã ngã gục xuống vì loạt đạn bắn gần.

    Hai người mẹ nuôi ở làng Ninh Cù...

    Nghi ngờ có bộ đội ta, nên toàn bộ núi Vắt Vai đã bị lính Pháp vây chặt, sẵn sàng xả súng không tiếc đạn, khiến cho mấy chục xác chết không được ai chôn cất trong mấy ngày liền.

    Bé Tiến đã bò quanh xác mẹ đầy máu, khóc khản tiếng vì khát sữa. Hơn một ngày sau, bé gần như đã đói lả, một người phụ nữ tốt bụng nấp gần đó, đã liều bế cậu mang về nuôi.

    Người phụ nữ ấy tên là Bưởi, là người quê ở Quảng Yên, về làm dâu ở làng Ninh Cù, thuộc Tổng Vân, chồng tên là Hải làm lính ngụy. Chị này từng có đứa con trai cùng trạc tuổi với bé Tiến, nhưng đã chết. Bản thân chị bị mắc bệnh hậu sản, nên không thể sinh con được nữa. Để giữ gìn hạnh phúc cho mình, chị đã giấu gia đình nhà chồng, bằng cách mang Tiến về nuôi và coi cậu bé như con đẻ…

    Thông tin trên được một người làng cùng đi trong đoàn tản cư, bí mật báo lại cho bà Lang Chờ, bà ngoại của bé Tiến biết. Thương cháu mồ côi, một mình bà đã giả làm người đi ăn xin, hỏi thăm đường và tìm kiếm khắp nơi, hy vọng gặp được gia đình người mẹ nuôi của Tiến, với mục đích xin lại đứa cháu ngoại về nuôi.

    Nhưng khi bà Lang Chờ tìm được đứa cháu mồ côi đang ở cùng với vợ chồng người ngụy binh trong một bót giặc, chưa kịp mừng thì chị Bưởi đã khóc lóc van nài và nói thẳng với bà Lang Chờ: Nếu để lộ chuyện ra, thì chẳng những hạnh phúc của chị không còn, mà cháu bà cũng nguy hiểm đến tính mạng. Nghĩ lại thấy có lý, bà Lang Chờ đã chấp nhận ở lại gia đình vợ người lính ngụy một thời gian, để vừa làm người ở, vừa làm vú nuôi chăm sóc cho đứa cháu ngoại sớm mồ côi mẹ.

    Một năm sau, chị Bưởi ốm nặng, rồi qua đời. Người lính ngụy binh tên là Hải kia đã mang bé Tiến về quê ở làng Ninh Cù lấy vợ kế tên là Thắm. Cũng như chồng, người phụ nữ này không hề biết “lai lịch” của cậu bé Tiến, nên cũng chăm sóc cậu như con đẻ của mình.

    Hồi nhỏ, Tiến không được khỏe, thường ốm đau quặt quẹo, lại bị bệnh chốc đầu mãi không khỏi. Người mẹ nuôi thứ hai này đã nhiều đêm thức trắng chăm sóc bé, không ngại tanh hôi, đun từng nồi lá thuốc gội đầu cho cậu.

    Như vậy, có thể nói không quá rằng: Lê Dũng Tiến sống sót và tồn tại được là nhờ hai người mẹ nuôi.

    Được gia đình “chuộc” về sống ở quê


    Bút tích một trang thư của cụ Lang Chờ viết năm 1955
    Sau ngày Kháng chiến chống Pháp thành công, hòa bình lập lại, từ mặt trận trở về, anh bộ đội Lê Chấn tìm đâu cũng không thấy vợ con. Sau có người kể lại câu chuyện buồn kể trên, anh đã hỏi thăm nhiều người, nhưng không ai biết làng Ninh Cù ở nơi nào.

    Tưởng đã hết hy vọng thì Lê Chấn bất ngờ nhận được thư của mẹ vợ báo tin đã tìm thấy làng Ninh Cù và gia đình người lính ngụy binh đã nuôi con trai anh. Trong thư, mẹ vợ anh đã kể rất kỹ về hoàn cảnh gia đình người ngụy binh tên là Hải, đề nghị được gặp trực tiếp anh để bàn việc sớm đón cháu Tiến về.

    Vì yêu cầu nhiệm vụ quân sự, Lê Chấn đã viết thư về quê, nhờ một người em ruột cùng mẹ vợ anh về Thái Bình đón con trai.

    Sau này, Lê Chấn đã nghe người em trai kể lại: Khi họ tìm vào được nhà thì thấy một thằng bé gày còm, mặc áo nâu, quần cộc, đang bế em. Đó chính là cậu bé Lê Dũng Tiến.

    Qua những ngày đầu bị “sốc” vì bất ngờ có người đến nhận Tiến, gia đình anh Hải đã bình tĩnh lại. Họ thực sự không muốn rời xa cậu bé, nên tìm cách ngăn cản và trì hoãn cuộc đón đưa này.

    Tuy nhiên, gia đình Lê Chấn còn giữ được tờ giấy khai sinh của bé Tiến, lại được ông Nguyễn Năng Hách (hồi đó là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu Ba) nhận làm cha đỡ đầu, đã đứng ra làm chứng và bảo lãnh. Trước những chứng cứ thuyết phục, được chính quyền địa phương công nhận, cậu bé Lê Dũng Tiến đã được trở lại sống với gia đình mình.

    Để bù đắp lại một phần công lao gia đình người đã cứu sống và nuôi bé Tiến mấy năm trời, đại diện hai bên nội ngoại của bé Tiến đã biếu bố mẹ nuôi của cháu khoản tiền là 250 đồng. Số tiền ấy đủ mua một chiếc xe đạp loại tốt và một tạ gạo ngon. Đó là một tài sản rất lớn ở làng quê nghèo thời bấy giờ.

    Tiến đã ngồi sau xe đạp của người chú, cùng bà ngoại rời khỏi làng Ninh Cù, trong một ngày hè cháy nắng để về quê. Không ai ngờ, chuyến đi ấy kéo dài tới hơn 50 năm sau, chú bé mồ côi mới tìm về lại được làng quê đã cưu mang nuôi mình khôn lớn...

    Nỗi niềm của người cha đẻ và cậu bé mồ côi

    Lê Chấn, tức “Tử Chấn”, một trong bảy thành viên của nhóm “Thất Hiền” huyền thoại ở Hải Dương trong những năm đầu Cách mạng; từng được đi dự Lớp huấn luyện đầu tiên của Nha Công an Trung ương; nguyên là Đội trưởng Công an Xung phong và Cảm tử quân đầu tiên của thành phố Hải Dương; nguyên Trưởng Quận Công an huyện Gia Lộc - Thanh Miện trong kháng chiến chống Pháp…

    Vì quá yêu vợ và thương con, cho tới mãi cuối đời, Lê Chấn vẫn không nguôi ngoai được trước cái chết thương tâm của người vợ trẻ trong trận càn của quân Pháp ở Bến Tắm.

    Ông cho rằng vì mình mà vợ ông đã chết, con trai suýt mất mạng. Day dứt, ân hận, nên Lê Chấn đã ở vậy mà không chịu đi bước nữa; mặc dù đã rất nhiều lần gia đình cùng bạn bè làm mai mối cho những cô gái xinh đẹp và cả những người phụ nữ tốt bụng, đảm đang...

    Suốt thời trai trẻ, Lê Chấn bận chinh chiến liên miên. Ông đã đi nhiều chiến trường, trực tiếp tham gia nhiều trận đánh, liên tục phục vụ trong quân đội cho tới trước ngày được phép nghỉ hưu (1983).

    Trung tá Lê Chấn nguyên là Tham mưu trưởng Sư đoàn 304B (đơn vị chuyên huấn luyện quân cho chiến trường miền Nam, trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ) và Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Sư đoàn 391.

    Từ ngày về hưu, Lê Chấn bắt đầu viết sách. Hơn 20 năm trước, bạn đọc đã biết đến ông qua 2 tác phẩm “Tấc đất biên cương” và đặc biệt là cuốn truyện phản gián “Kế hoạch An pha” (đã được tái bản và được dịch ra tiếng Nga). Lê Chấn qua đời năm 1993 vì tuổi cao, bệnh nặng. Cuối năm 2006, cuốn tự truyện “Tuổi thanh niên sôi nổi” của ông đã được Bộ Công an chọn làm tài liệu giáo dục truyền thống cho toàn lực lượng...

    Trở lại chuyện về cậu bé mồ côi: Lê Dũng Tiến đã lớn lên nhờ sự chăm sóc của bà ngoại và bà nội. Trong suốt một thời gian dài, vì ngại chuyện bố nuôi của Tiến từng đi lính cho Pháp (dù ông bị ép buộc và không gây tội ác gì) gia đình của cậu bé Tiến đã không cho con cháu mình liên lạc, tiếp xúc lại với gia đình người bố nuôi.

    Rồi bà nội và bà ngoại của Tiến lần lượt qua đời. Người chú ruột từng về Thái Bình đón Tiến năm xưa thì sang định cư tại Canađa, không ai kịp nói cho cậu bé biết làng Ninh Cù ở đâu.

    Tiến ham học và học giỏi. Anh lần lượt tốt nghiệp Đại học Bách khoa, rồi Đại học Ngoại thương. Sau này, Lê Dũng Tiến từng đảm nhiệm trọng trách là Phó Giám đốc Marketing của Liên doanh DAEWOO HANEL, Trưởng Văn phòng đại diện Công ty TORYO SHOJI (Nhật Bản) tại Việt Nam…

    Vì không có anh chị em ruột, nên khi đã lớn khôn, Lê Dũng Tiến luôn mong muốn tìm lại được gia đình người mẹ nuôi ở làng Ninh Cù.

    Trong ký ức tuổi thơ của Tiến, đó là một làng quê nghèo đói và quanh năm phải ăn độn. Dân làng đã độn vào bữa ăn của mình bất cứ thứ gì có thể ăn được mà không chết người: từ rau dại, rễ cây, đến củ chuối, ruột cây đu đủ...

    Và làng quê ấy rất gần biển. Biển bạc giàu có vô cùng, nhưng người dân thì bao đời vẫn khổ. Những năm mất mùa, người ta bỏ làng ra đi ăn xin khắp nơi...

    Thời gian làm việc cho Liên doanh DAEWOO HANEL, anh Tiến đã kết hợp công việc tiếp thị, bán hàng, tự lái xe đi khắp vùng Tiền Hải, nhưng tìm mãi, hỏi mãi mà không ai biết làng Ninh Cù ở đâu.

    Cho mãi tới cuối năm 2006, tình cờ Lê Dũng Tiến đã tìm lại được lá thư của bà Lang Chờ, tức Phạm Thị Chờ, bà ngoại của anh viết từ hơn 50 năm trước cho cha anh. Nội dung lá thư đó hé lộ nhiều thông tin rất quan trọng.

    --------------------------

    Còn nữa

    Đặng Vương Hưng
    ĐAM MÊ là phẩm chất có sẵn trong mỗi con người, nó làm phong phú đời sống, làm giàu cảm xúc và đam mê đã gắn kết chúng tôi lại với nhau.

    đánh dấu cho dễ tìm---Ngôi nhà nhỏ

  1. CHỦ ĐỀ NỔI BẬT


    • Avatar của BeBiBo
    • Thành viên Webtretho
      Offline
    • 16 năm
    • 2,252 Bài viết

    • 777 Được cảm ơn

    #2
    Cuối năm 2006, tình cờ Lê Dũng Tiến đã tìm lại được lá thư của bà Lang Chờ, tức Phạm Thị Chờ, bà ngoại của anh viết từ hơn 50 năm trước cho cha anh. Nội dung lá thư đó hé lộ nhiều thông tin rất quan trọng.

    Ông Lê Dũng Tiến và cụ Nguyễn Thị Thắm, người mẹ nuôi thứ hai ngày gặp lại


    Lá thư của bà Lang Chờ

    “Lôi Động, ngày 23 tháng 3 năm 1955

    Anh Chấn.

    Mẹ đã bắt được thư của anh gửi về hỏi thăm mẹ và có nói là anh muốn biết sự thể của anh Hải bố nuôi cháu Tiến sự thể ra sao?

    Mẹ trình bày cho anh rõ: Khi mẹ đi Hải Phòng, đem các giấy má vào trình Ủy ban Hành chính, lại sang Kiến An trình Công an xem bản đồ, xét hộ, xem có làng nào là làng Ninh Cù, Tổng Vân không? Nhưng Công an xét không có, đã chỉ lối cho mẹ phải sang Thái Bình. May mắn làm sao, nơi ấy có làng Ninh Cù...

    Cái ngày mẹ vào đến nhà anh Hải, thì tình hình thế này: người mẹ nuôi cháu Tiến là vợ trước của anh Hải ở Quảng Yên đã chết được ba năm nay rồi. Bây giờ, anh Hải lấy người vợ này được một con gái.

    Vì nhà người ta neo người, nên cháu Tiến phải làm đủ mọi công việc. Người ta cũng quý cháu lắm. Lúc vợ chết, ai mua cháu Tiến anh Hải cũng không bán, ai xin cũng không cho, đi ra trận cũng mang con đi theo.

    (Vì khi vợ đẻ, anh Hải ở xa, cứ tin tưởng Tiến là con mình, chứ không biết là con mình đã chết rồi. Mà chị vợ nuôi cháu Tiến thì lại giấu chồng, rằng con mình đẻ ra. Vì khi vợ chồng anh ta lạc nhau, thì vợ anh ta lại đương có nghén, nên anh ta vẫn tin tưởng cháu Tiến là con mình).

    Mẹ kể qua gia đình anh Hải cho con nghe: Gia đình anh ấy có sáu anh em trai, toàn ở bộ đội ta hết cả. Chỉ riêng anh Hải bị buộc phải đi lính cho Pháp. Vì gia đình anh Hải cũng hiếm người, 6 anh em mà chưa ai có con giai, mới có anh Hải có vợ, thì lại bị lạc lúc đương có nghén, nên anh ấy mới mong đi tìm.

    Lúc tìm thấy vợ thì lại thấy cả con, cứ tin tưởng là con mình, mà vợ thì cũng giấu, nên mới thành câu chuyện rắc rối. Khi mẹ tìm vào nhà anh Hải ở tỉnh Thái Bình, mẹ đưa hình của cháu Tiến và giấy má, thì anh Hải và người nhà mới biết cháu Tiến không phải con anh Hải.

    Mẹ còn đưa cả hình cháu Tiến và hình vợ chồng con chụp cho ông Trương Lạc mẹ đòi về. Cháu Tiến xem xong, tự nhiên cháu nói: “Hình này là của cậu mợ cháu, hình bé này của cháu, cháu xin bà”, rồi bỏ ngay vào túi. Cả gia đình anh Hải ngây người ra, mà mẹ thì cảm động rơi nước mắt.

    Bây giờ anh Hải không đi lính cho Pháp nữa, mà về làng tăng gia hai năm rồi. Cũng thành phần bần cố nông, quý mẹ lắm, cứ muốn giữ mẹ ở lại chơi rất lâu.

    Theo ý anh Hải nói với mẹ là: cũng không dám giữ Tiến, vì nuôi cháu từng ấy năm không ngờ lại xẩy ra thế này. Anh ấy có xui mẹ nói hộ với con là cho cháu Tiến ở lại, đến lúc cháu biết đi cái xe đạp con và viết nổi cái thơ, lúc bấy giờ cháu hãy về.

    Mẹ muốn xin cháu về ngay, mà anh Hải lại không muốn thế, thì con nghĩ sao cho mẹ biết? Mẹ muốn gặp mặt con để thêm ít ý kiến nữa, liệu có thể được không? Mẹ khỏe lắm, đâu mẹ cũng đi được, giả nhời ngay là mẹ có thể lên được chỗ anh không?

    Trước khi đi tìm cháu, mẹ cũng lên Hải Dương nói chuyện với bà cụ Ký và ra Hải Phòng cũng nói chuyện với các cô nó rồi. Sau khi tìm được cháu, mẹ cũng vào Hải Dương, bà cụ Ký và các cô nó cũng biết trước anh cả rồi. Bây giờ ý mẹ chỉ muốn gặp anh, để bàn đến chuyện đón cháu về nuôi, tẩm bổ cho cháu vì cháu gầy, mẹ thương cháu lắm.

    Trước khi ngừng bút, mẹ và tất cả anh em đều có lời chúc con mạnh khoẻ, để tăng gia công tác tốt.

    Mẹ của con

    (Ký tên) Phạm Thị Chờ.


    Những giọt nước mắt trong ngày gặp lại sau hơn 50 năm xa cách
    Cuộc đoàn tụ sau hơn nửa thế kỷ ly tán

    Đầu năm 2007, cậu bé mồ côi Lê Dũng Tiến năm xưa đã sắp bước sang tuổi 60 và đã có cháu nội. Nhưng ông vẫn chưa hết khát khao tìm lại gia đình người mẹ nuôi.

    Một lần tình cờ ngồi nói chuyện với người bạn đồng môn đại học, quê Thái Bình, ông này bảo:

    - Cạnh xã tôi cũng có làng Ninh Cù và xã Ninh Cù. Nhưng đấy là tên cũ, giờ gọi là Thụy Ninh... Nếu cần, tôi dẫn ông về tìm thử xem.

    Một tia hy vọng đã lóe lên!

    Nhờ sự nhiệt tình của người bạn cũ, một ngày đầu xuân, ông Lê Dũng Tiến cùng con trai tìm về xã Thụy Ninh. Nhưng vừa về tới đầu làng, khi hỏi thăm một bà cụ chừng 70 tuổi về gia đình cụ Vũ Quang Hải, ở làng Ninh Cù, từng đi lính cho Pháp, tuổi đã ngoài 80, thì bà lắc đầu bảo:

    - Làng này đúng là xưa gọi là Ninh Cù Hệ, nhưng không có cụ Hải nào như thế cả.

    Đang buồn thì họ nghe tiếng một phụ nữ trẻ đang đi gần đó, nói xen vào:

    - Người có họ tên như thế chỉ có cụ Vũ Quang Hà (chứ không phải Hải), là ông bác của em. Nhưng cụ đã mất cách đây mấy chục năm rồi. Nếu các bác cần thì em dẫn về nhà, hỏi thêm sẽ rõ.

    Thì ra, rắc rối là ở chỗ: sau năm 1954, cái tên Ninh Cù đã biến mất khỏi địa danh hành chính của tỉnh Thái Bình. Nó chỉ còn trong trí nhớ của một số ít người. Làng Ninh Cù Hệ xưa, nay có tên là làng Hệ; xã Ninh Cù cũng được đổi thành xã Thụy Ninh, thuộc huyện Thái Thụy.

    Cụ Hải, họ tên thật là Vũ Quang Hà, từng đi tu từ bé, 10 năm theo cửa Phật, đang làm Sư ông, thì bị quân Pháp tới phá chùa và bắt lính, nên buộc phải hoàn tục...

    Cụ Hải đã mất năm 1977, trước khi qua đời, cụ không quên dặn dò người thân: Dù chiến tranh loạn lạc thể nào cũng cố gắng tìm lại người con nuôi, để biết anh còn sống hay đã chết, hoặc đang làm gì ở đâu, mà sao không thấy tìm về?

    Giữa tháng 4 năm 2007, người viết bài này may mắn được cùng cả gia đình ông Lê Dũng Tiến về thăm làng Ninh Cù. Đó thực sự là niềm vui không chỉ của gia đình ông Tiến, mà còn của cả gia tộc Vũ Quang ở làng Hệ.

    Anh em, con cháu của họ ở khắp nơi nghe tin đều tìm về. Vợ chồng “chú út” đang làm ăn kinh doanh ở mãi thành phố Hồ Chí Minh, nhận được điện thoại mừng quá, vội bỏ cả công việc, mua vé máy bay trở về quê gấp.

    Khi gia đình ông Lê Dũng Tiến về tới làng Hệ thì đã gần trưa, cả gia tộc Vũ Quang đã tập trung đông đủ và ra tận cổng để đón. Đó là một cuộc hội ngộ đoàn viên trong tiếng cười và đầy nước mắt.

    Xúc động nhất là cụ bà Nguyễn Thị Thắm, người mẹ nuôi thứ hai của ông Tiến năm nay đã gần 90 tuổi. Sau khi ông Tiến giới thiệu vợ con đến chào, bà cụ bỗng bật khóc và nghẹn ngào không nói được thành lời.

    Cụ rờ nắn bờ vai, mái tóc của ông Tiến, chừng như chưa tin người đàn ông to lớn đang đứng trước mặt, lại là cậu bé còm nhom ngay trước mình đã từng bế ẵm. Tất cả như đang trong một giấc mơ...

    Trong lời khấn trước bàn thờ khói hương nghi ngút, bà cụ đã không quên kính cáo với tổ tiên về niềm vui tìm lại được người con trai sau hơn nửa thế kỷ đã thất lạc.

    Thế mới biết người Việt ở làng quê mình đã trọng tình và trọng nghĩa tới mức nào! Có thể nói không quá rằng: Riêng với gia tộc Vũ Quang ở làng Ninh Cù xưa và gia đình ông Lê Dũng Tiến, thì mãi đến hôm nay những cuộc chiến tranh và loạn lạc từ “thời Tây” mới chỉ vừa khép lại.

    Hà Nội - Thái Bình, 5/2007

    Đặng Vương Hưng
    ĐAM MÊ là phẩm chất có sẵn trong mỗi con người, nó làm phong phú đời sống, làm giàu cảm xúc và đam mê đã gắn kết chúng tôi lại với nhau.

    đánh dấu cho dễ tìm---Ngôi nhà nhỏ