THẨM MỸ LỘT DA HÓA HỌC (PHẦN I)


Giới thiệu thẩm mỹ lột da hóa học
Bạn có muốn chỉ cần một vài thao tác đơn giản sẽ giúp loại bỏ những dấu hiệu của tuổi tác khỏi làn da bạn! Chúng tôi-các bác sĩ thẩm mỹ Lotus sử dụng phương pháp lột da hóa học để thực hiện điều này.
Từ thời Ai cập cổ,người ta đã biết sử dụng biện pháp lột da bằng hóa chất để làm trẻ hóa da. Chất lột đầu tiên là acid lactic, một thành phần có trong sữa chua, được sử dụng trong giới quý tộc như một chế độ dưỡng da cổ xưa. Đến thời kỳ trung cổ, rượu chứa acid tartaric trong thành phần cũng được sử dụng vào mục đích như thế.Vào thế kỷ 19 các nhà khoa học Đức khám phá ra rằng một acid đơn giản có thể loại bỏ một cách gọn gàng lớp tế bào da.Và họ nhanh chóng sử dụng chúng như một chất “trẻ hóa da”. Ngày nay, lột da hóa học ngày càng được sử dụng rộng rãi nhằm làm tăng độ tươi sáng và loại bỏ những tế bào da bị tổn thương nhằm đem lại một làn da tươi trẻ và mịn màng hơn.
Lột da hóa học là một trong những biện pháp điều trị ít xâm lấn nhất giúp cải thiện tình trạng của da. Lột da hóa học giúp tăng cường tốc độ bong tróc da hay phá hủy các tế bào bị hư hỏng bằng các tác nhân ăn mòn, giúp kiểm soát sự tổn thương, tiếp đó là giải phóng cytokines và các chất trung gian của phản ứng viêm, kết quả là sự tăng độ dày của lớp biểu bì, tăng lắng đọng collagen, tái tạo lại cấu trúc và tăng thể tích lớp bì. Quá trình này giúp giảm tổn thương mô sợi do ánh nắng, tăng cường thay thế và định hướng lại lớp tế bào biểu bì. Kết quả là sự cải thiện về bề mặt da, với ít nếp nhăn hơn cùng thuyên giảm tình trạng rối loạn sắc tố.
Khi sử dụng lột da hóa học để loại bỏ các dấu hiệu của tuổi tác hay điều trị những vấn đề của da,bạn có thể nhận thấy:
- Da ít nếp nhăn hơn
- Sự cân bằng về màu sắc da
- Da sáng màu hơn
- Làn da mịn màng hơn
Phân loại lột da hóa học
Dựa vào hiệu lực cùng khả năng thâm nhập và phá hủy lớp da, người ta phân loại lột da ra làm 4 loại :



Rất nông: thượng bì (exfoliation):hóa chất thâm nhập vào lớp sừng và có thể vào phần trên lớp gai của biểu bì.


Nông: biểu bì (epidermal): dermis hóa chất thâm nhập vào toàn bộ biểu bì và có thể vào lớp nhú bì


Trung bình: nhú bì (papillary dermal): hóa chất thâm nhập sâu toàn bộ biểu bì và có thể lớp trên bì lưới.


Sâu: bì lưới (reticular dermal): hóa chất thâm nhập vào giữa lớp chân bì lưới.



Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lột da



Phân loại da theo Fitzpatrick



Phân loại da theo Fitzpatrick dựa vào màu da và phản ứng của từng loại da đối với ánh nắng mặt trời. Loại I-III thường là người da trắng. Loại IV-V thường có màu da olive hay màu nâu sáng như người Địa Trung Hải (Mediterranean) Châu Á và Latin và loại VI là người da đen, điển hình là người Mỹ gốc Phi. Phân loại da theo Fitzpatrick là cơ sở chính để đánh giá tình trạng da trước khi có chỉ định điều trị và tiên lượng những đáp ứng có thể xảy ra. Như người có màu da loại I-III thường chịu được điều trị mang tính xâm lấn nhiều hơn và ít có nguy có thay đổi màu da sau điều trị. Bệnh nhân có mà da sậm hơn (IV-VI) có nguy cơ cao hơn về sự thay đổi màu da như tình trạng tăng sắc tố, và cần những điều trị mang tính bảo tồn hơn để giảm khả năng gây ra những biến chứng này.
- Type I: Da rất nhạy cảm, luôn luôn bị bỏng nắng và không bao giờ rám nắng. Da trắng, rất sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh, có nhiều tàn nhang.
- Type II: Da rất dễ nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, thường bị bỏng nắng và khó rám nắng. Da trắng sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh hay nâu đỏ.
- Type III: Da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, có thể rám nắng nhưng đôi khi bị bỏng nhẹ. Da màu beige, trắng với bất kỳ màu mắt hay màu tóc nào, rất thường gặp.
- Type IV: Da hiếm khi bị bỏng nắng và dễ rám nắng. Da màu beige hơi nâu, đặc trưng của da người vùng Địa Trung Hải.
- Type V: Da ít nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, rất dễ rám nắng và rất hiếm khi bỏng nắng. Da nâu, đặc trưng của da người gốc Tây Ban Nha.
- Type VI: Da rất dễ rám nắng và không bao giờ bị bỏng nắng. Da đen.












































Phân loại da của FitzpantrickMàu sắcPhản ứng với ánh mặt trờiHình ảnh
IRất trắngLuôn bị cháy nắng
IITrắngThường xuyên cháy nắng
IIITrắng tới nâu vàng nhạtThỉnh thoảng bị cháy nắng
IVNâuHiếm khi cháy nắng
VNâu đậmRất hiếm khi cháy nắng
VIĐenKhông bao giờ cháy nắng


Bảng 1: Phân loại da theo Fitzpatrick



Phân loại Glogau về lão hóa da do bức xạ



Hệ thống của Glogau phân loại các mức độ lão hoá da do ánh sáng như nếp nhăn da, rối loạn mau sắc da. Hệ thống phân loại da của Glogau dựa vào sự so sánh bên ngoài giữa da người bệnh và các hình ảnh được chụp trước đó và có thể được dùng để định hướng phương pháp điều trị. Như Glogau loại I-III có khuynh hướng cải thiện đáng kể nhất đối với quá trình tróc da và chăm sóc tại chỗ. Glogau loại IV thường cần điều trị mang tính xâm lấn hơn như laser, sử dụng chất độn hay tiêm botulinum toxin.
































Loại 1Loại 2Loại 3Loại 4
NhẹTrung bìnhKhá nặngRất nặng
Thay đổi sắc tố nhẹ.Không có da sừng hóaÍt hoặc không có nếp nhăn
Những đốm đồi mồi sớm.Hiếm khi da bị sừng hóa,chủ yếu nhận thấy khi sờ.Nếp nhăn chỉ thấy khi biểu lộ nét mặt
Rối loạn sắc tố và mao mạch thấy rõCó thể quan sát thấy da sừng hóaNết nhân khi khuôn mặt ở thư thể nghỉ.
Da màu tái xámNếp nhăn và rãnh sau nghiêm trọng
Tuổi bệnh nhân : 20
Tuổi bệnh nhân : 30- 40
Tuổi bệnh nhân : 50
Tuổi bệnh nhân : 60-70
Không cần hoặc chỉ trang điểm nhẹ Cần phải trang điểm nhẹ Luôn phải trang điểm để che nếp nhăn Trang điểm nhưng vẫn không thể che hết nếp nhăn


Bảng 2: Phân loại da Glogau



Tình trạng ẩm của da



Độ ẩm của da về lâm sàng có thể chia ra làm da khô,da nhờn hay da bình thường. Độ ẩm của da có thể được xác định thông qua tiền sử và thăm khám. Bệnh nhân có da khô thường phàn nàn về cảm rát khô rát sau khi làm sạch và khám sẽ thấy da có màu xỉn và có thể có đốm bong tróc. Bệnh nhân da nhờn thường phàn nàn về gương mặt bóng nhờn của mình, đặc biệt là vùng trán, mũi và cằm (T-zone). Xác định độ ẩm của da giúp chọn lựa sản phẩm, đặc biệt là chất làm sạch và giữ ẩm.
Chỉ định và chống chỉ định lột da
Chỉ định sử dụng lột da hóa học điều trị



Một số tình trạng mụn và sẹo do mụn.


Những thay đổi màu sắc da.


Làm mờ những nếp chân chim và nếp nhăn li ti trên khuôn mặt.


Đốm đồi mồi


Tình trạng thô ráp của da.


Da bị tổn thương do bức xạ.



Chống chỉ định lột da mặt
1. Tương đối


- Da nhóm I.II và III có thể lột từ nhẹ đến sâu vì ít nguy cơ rối loạn sắc tố và thành sẹo.
- Da nhóm IV,V, VI chỉ nên lột nhẹ, không nên dùng các hóa chất lột trung bình và lột sâu
2. Tuyệt đối


- Vùng da lột có vết thương hở.
- Có tiền sử dị ứng thuốc, nhạy cảm với ánh sáng khi dùng thuốc, hen phế quản.
- Tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm siêu vi, nhiễm nấm cấp tính.
- Mắc bệnh ngoài da mãn tính: vẩy nến, chàm.
- Người có tiền sử bị sẹo xấu, sẹo lồi hay đang dùng Isotretinoin, ánh sáng trị liệu bệnh ngoài da trong vòng 6 tháng trước lột: chống chỉ định lột trung bình hay lột sâu vì hóa chất lột tác động đến lớp bì sâu, có thể gây sẹo lồi hay sẹo xấu.
- Người có tiền sử bệnh tim mạch, gan, thận.
- Người không muốn thực hiện, không hợp tác (không thể tránh ra nắng, đang dùng thuốc chống chỉ định lột…).


THẨM MỸ LỘT DA HÓA HỌC (PHẦN II)
Các bước thực hiện lột da
- Chuẩn bị
Hình 1: Bước chuẩn bị để lột da hóa học



- Bôi chất lột da
Hình 2: Bôi chất lột da



- Kết thúc
Hình 3: Kết thúc quá trình



- Gia tốc (Tùy chọn)
- Bôi sản phẩm tại chỗ
Da được chuẩn bị trước quá trình lột để làm sạch và tẩy nhờn. Hai phương pháp chính được đề nghị:
Phương pháp cơ bản: bao gồm làm sạch da nhẹ nhàng, tiếp đó làm làm sạch với hydroxyl acid và sử dụng astringent toner (làm khít lỗ chân lông) để tẩy nhờn da.
Phương pháp tích cực: bao gồm làm sạch da nhẹ nhàng, tiếp đó làm làm sạch với hydroxyl acid, có thể được chùi bởi bàn chải mềm để loại bỏ chất bám bề mặt, và có thể dùng astringent toner hay ethanol để tẩy nhờn da. Phương pháp tích cực đảm bảo toàn vẹn bề mặt da và khả năng thâm nhập của tác nhân.
Vùng an toàn trong điều trị lột da là vùng trong đó hóa chất có thể được bôi một cách an toàn nhất lên mặt. Vùng này bao gồm toàn bộ mặt trù vùng ngoài ổ mắt(trên lông mày và khoảng 2-3 mm dưới viền dưới lông mi) và trừ vùng môi.
Hình 4: Vùng an toàn trong lột da



Hóa chất lột da thường là dạng dung dịch loãng và có khuynh hướng đọng lại ở những nếp gấp da để tăng cường khả năng thâm nhập. Những vùng thường đọng lại bao gồm khóe mép, các nếp nhăn vùng khóe miệng, nếp nhăn mũi má đặc biệt ở vùng cánh mũi và khóe mắt ngoài. Bôi dầu ở vùng này để tạo một hàng rào giúp hạn chế những tác dụng quá mức đã được khuyến cáo.
Chia khuôn mặt ra là các phần tư. Hóa chất được bôi ở những vùng ít đáp ứng trước, như trán và sau đó mới tới những vùng da nhạy cảm hơn, như vùng giữa mặt. Bảng 3 cho thấy thứ tự bôi hóa chất. Hóa chất được bôi đầu tiên ở trán và sau đó là ở má. Tiếp đó bôi hóa chất lên vùng giữa mặt, bắt đầu với mũi, môi trên và sau đó là cằm.
Bảng 3:thứ tự bôi hóa chất trên mặt
Hình 5: Các phần tư mặt



Có nhiều dụng cụ dùng để bôi hóa chất lên da bao gồm gạc vải không dệt (non-woven gauze,cũng được dùng như mảnh vải cotton hay gạc sponges), bàn chải hay tăm gòn. Bàn chải và tăm gòn có khuynh hướng thấm nhiều thuốc và khó kiểm soát hơn.
Phương thức bôi tác nhân lên da có thể được thực hiện theo một số cách,dưới đâu trình bày hai trong các cách đó.
Tầm một tấm gạc vải không dệt kích thước 2×2 với hóa chất bằng cách đặt miếng gạc khô vào tố gốm và sử dụng một ống drop để nhỏ từng giọt với lượng chỉ định vào tô gốm. Gấp miếng gạc lại làm bốn và ép acid dư khỏi miếng gạc.
Một cách khác là thấm một miếng gạc 4×4 với dung dịch bằng cách gập gạc làm bốn và và đổ trực tiếp dung dịch vào miếng gạc, liều lượng sừ dụng được tính theo đề nghị của nhà sản xuất.
Hóa chất được bôi lên da ở những phần tư mặt theo một trong những phương pháp ở hình 6. Sử dụng lực đều tay khi quét gạc lên da.
Phần tư thứ nhất-trán: Quét miếng gạc từ lông mày lên đường chân tóc. Sau đó thầm dung dịch lại vào miếng gạc.
Phần tư thứ hai-Má: Quét gạc từ thái dương tới xương hàm dưới ở một bên mặt. Má có thể được quét từ gần tới xa hay tử trên xuống dưới. Thấm lại dung dịch vào gạc.
Phần tư thứ ba-Má: Lặp lại ở vùng má bên kia. Không thấm dung dịch lại vào miếng gạc.
Phần tư thứ tư-giữa mặt: Quét gạc xuống sóng mũi, dọc theo mỗi thành bên mũi, ở trên môi trên và sau đó ngang vùng cằm.
Hình 6: Hướng bôi hóa chất bằng 2 phương pháp



Ở vùng ranh giới giữa da điều trị và không điều trị,sử dụng một miếng gác 1cm quét nhẹ nhàng, điều này sẽ giúp xóa mờ những vùng ranh giới có thể có.
Cảm giác khó chịu của bệnh nhân được đánh giá trong và sau khi điều trị theo thang điểm từ 1-10. Thang điểm khó chịu từ 1-5 có thể chấp nhận được. Cảm giác châm chích, ngứa và nóng rát thường được nhận thấy nhất là trong một vài phút đầu và sau đó giảm dần. Thang điểm đau trên 6 cho thấy quá trình lột da nên được dừng lại (cùng với chất trung hòa nếu có chỉ định), những tác nhân còn lại được làm sạch khỏi mặt và da bệnh nhân được làm mát.
Một số tác nhân (như Jessner’s peel and TCA) được bôi thành nhiều lớp,với một lớp được coi như một lần bao phủ toàn bộ vùng cần điều trị với một tác nhân. Nhiều lớp làm tăng số lượng của sản phẩm và do đó tăng độ thâm nhập của hóa chất. Da được quan sát trong một thời gian (thường là 4-7 phút) để nhận thây biểu hiện lâm sàng sau từng lớp. Nếu biểu hiện lâm sàng không quá mức, lớp kế tiếp sẽ được áp dụng. Các lớp theo sau được bôi bằng cách quét miếng gạc vuông góc với lớp trước để giúp đảm bảo phủ hoàn toàn bề mặt cần điều trị.
Da được quan sát suốt quá trinh điều trị để nhận thấy những biểu hiện lâm sàng mong muốn và không mong muốn được miêu tả phía dưới:
Biểu hiện lâm sàng mong muốn cho lột da nông phụ thuộc vào tác nhân sử dụng.trong hầu hết trường hợp, hồng ban nhẹ là dấu hiệu mong muốn. Với TCA mức độ đốm trắng I được thấy như một mảng trắng với hồng ban là biểu hiện mong muốn. Trong khi với salicylic acid, bao gồm dung dịch Jessner, thường có những chất kêt tủa mịn là dấu hiệu mong muốn. Bảng 1 tóm tắt lại biểu hiện lâm sàng của tác nhân lột da nông.
Biểu hiện không mong muốn bao gồm các khó chịu quá mức của bệnh nhân với cơn đau trên mức 6, sự hình thành bọng cho thấy dấu hiệu bong biểu bì, đốm trắng hay vụn tuyết ở một số tác nhân. Cần lưu ý rằng đốm trắng và vụn tuyết là dấu hiệu mong muốn của TCA và acid salicylic chứ không phải với AHAs. Những mảng trắng hây nâu cho thấy điều trị quá mức với AHAs.



Quá trình lột da được dừng lại khi



-Biểu hiện lâm sàng mong muốn đã đạt được
-Thời gian lột da mong muốn đã đạt được. (Nếu lột da là quá trinh theo thời gian)
-Biểu hiện không mong muốn xảy ra.



Chăm sóc sau điều trị



Hồng ban, khô da, phù nhẹ và da nhạy cảm thường xảy ra 3-5 ngày sau điều trị. Bệnh nhân cũng có thể cảm thấy ngứa hay da nhăn hơn trong thời gian này. Quá trình bong da thường xảy ra 3-5 ngày sau điều trị. Nếu quá trình lột da xảy ra, nó đầu tiên sẽ xảy ra ở vùng giữa mặt sau đó lan dần ra ngoại vi, và nó có thể kéo dài tới 2 tuần. Hình 8 cho thấy sự bong đáng kể ở ngày thứ 3 (A) và ngày thứ 5 (B) sau khi dùng TCA 20%. Ở một số bệnh nhân tình trạng bong da có thể không xảy ra, đặc biệt ở những bệnh nhân thường có tình trạng này. Bệnh nhân phải được đảm bảo rằng có sự cải thiện do quá trình lột da mặc dù thiếu hiện tưởng bong da. Trong 1-2 tuần tiếp theo, chất giữ ẩm nhẹ được sử dụng và những thành phần gây kích ứng như AHAs hay retinoid nên hạn chế sử dụng. Nếu có tình trạng hồng ban ngay sau điều trị,hydrocortisone (0.5-2.5%) có thể được sử dụng 2 lần một ngày cho đến khi tình trạng hồng ban được giải quyết. Điều này đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân da sẫm màu (IV –VI) để giảm nguy cơ PIH. Cần tránh ánh nắng trong vòng hai tuần sau điều trị cũng như sử dụng những biện pháp chống nắng khác như mũ rộng vành. Bệnh nhân cần được theo dõi kỹ khi tình trạng hồng ban kéo dài trên 5 ngày, ngứa nhiều, đau nhức, khó chịu cũng như tiết dịch hay những dấu hiệu khác sau điều trị.
Hình 7: Bong da 3 ngày sau khi sử dụng TCA 20%
Hình 8: Bong da 5 ngày sau khi sử dụng TCA 20%
Kết quả sau khi điều trị lột da hóa học
Sự cải thiện và kết cấu da và độ sáng có thể được quan sát thấy sau một lần điều trị. Tuy nhiên, thường cần khoảng 6 lần lột da để đạt được sự cải thiện đáng kể về độ mịn của da, giảm tình trạng tăng sắc tố,nếp nhăn,tình trạng da nhờn và mụn. Có thể tăng cường kết quả điều trị bằng cách kết hợp lột da với siêu mài da và sản phẩm chăm sóc da tại chỗ.
Hình 9: Da tổn thương do bức xạ với tình trạng tăng sắc tố
Hình 10: Sau 1 lần điều trị với dung dịch Jessner chứa acid lactic, acid salicylic và acid kojic
Hình 11: Tổn thương da do bức xạ với nếp nhăn da nhẹ và nhão
Hình 12: Sau 5 lần điều trị lột da với TCA và acid lactic cùng retinol để gia tốc.
Hình 13: Tổn thương da do bức xạ với những nếp nhăn nhẹ,nhão và lỗ chân lông to
Hình 14: Sau khi lột da bằng acid lactic kết hợp với hai lần điều trị siêu mài da.
Biến chứng và cách xử trí
- Biến chứng từ lột da chủ yếu liên quan tới độ sâu da thay đổi. Lột da nông sẽ thâm nhập vào lớp biểu bì và có thể phần trên nhú bì, có tỉ lệ biến chứng thấp. Tình trạng tăng sắc tố tạm thời dó đáp ứng lại quá trình hồng ban kéo dài là một trong những biến chứng phổ biến nhất. Lột da sâu, mà thâm nhập vào lớp nhú và lớp lưới bì, có khả năng gây những biến chứng phức tạp hơn như sẹo hay thay đổi sắc tố vĩnh viễn.
- Đau thường xuất hiện khi bôi chất lột da và thường được mô tả là cơn khó chịu nhẹ tới trung bình. Than phiền đau sau điều trị thường ít gặp
- Hồng ban sau phẫu thuật là một dấu hiệu mong đợi và thời gian phụ thuộc vào đáp ứng của da bệnh nhân và độ sau da thay đổi. Hầu hết hồng ban sau lột da nông xuất hiện trong một vài giờ đầu và thỉnh thoảng kéo dài tới vài ngày. Tình trạng hồng ban nhẹ có thể được điều trị với kem chứa Corticosteroid(e.g., hydrocortisone 1 %) hoặc những chất chứa thành phần kháng viêm tại chỗ (e.g., evening primrose oil and bisabolol). Hồng ban kéo dài trên 5 ngày cần được điều trị với kem chứa steroid trung bình (triamcinolone 0.1%) hay thấp (hydrocortisone 0.5%-2.5%) hai lần một ngày trong 3-5 ngày chó đến khi hết tình trạng hồng ban.
- Cần tránh ánh nắng sau điều trị đặc biệt khi có hồng ban và ở bệnh nhân với loại da sậm màu (IV-VI) để giảm nguy cơ PIH.Bệnh nhân có tình trạng hồng ban đặc biệt ờ da như chứng giãn mao mạch (telangiectasias,), chứng đỏ mặt (rosacea) hay chứng da lốm đốm Civatte có nguy cơ tăng và kéo dài tình trạng hồng ban khi điều trị với liều cao. Viêm da tiếp xúc do bản thân của tác nhân lột da hay do một trong các sản phẩm sau điều trị cũng có thể làm kéo dài tình trạng hồng ban. Nó thường kéo theo ngứa và có thể điều trị bằng cách ngưng tác nhân gây kích ứng và sử dụng steroids.
- Tăng sắc tố là một trong những biến chứng thường gặp nhất do lột da nông và thường xảy ra khi lột da quá mức ở những bệnh nhân có khuynh hướng tăng sắc tố và không sử dụng biện pháp chống nắng ngày sau điều trị. Tăng sắc tố có thể được điều trị với chất làm sáng (e.g., hydroquinone 2% or cosmeceutical brighten-ing agents such as kojic, lactic and azelaic acids) hay hóa chất có thể được kê toa (e.g., hydroquinone 4%-8% ). Hầu hết tăng sắc tố sau tình trạng viêm do lột da có thể được điều trị nhưng trong một số trường hợp hiếm nó có thể bị vĩnh viễn. Ngoài ra, việc điều trị PIH ở bệnh nhân dạng da IV-VI thường chậm, có thể kéo dài tới hơn 6 tháng. Nguy cơ tăng sắc tố gia tăng khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, sử dụng hormone và những điều trị nhạy cảm với ánh sáng khác.
Hình 15: Tăng sắc tố sau viêm ở khóe mép 1 tháng sau sử dụng dung dịch Jessner mà không sử dụng dầu bảo vệ ở vùng trũng.
Hình 16: Tình trạng tăng sắc tố sau viêm sau khi lột da với acid glycolic 70%
- Giảm sắc tố thì hiếm gặp ở lột da nông. Tình trạng giảm sắc tố thì liên quan trực tiếp với cường độ của hóa chất sử dụng. Như,lột da sâu với phenol có thể gây giảm sắc tố ở loại da sáng. Da có thể cải thiện tình trạng giảm sắc tố trong một số trường hợp, tuy nhiên, nó thường là vĩnh viễn.
- Nhiễm trùng thì hiếm gặp trong lột da nông và đòi hỏi những điều trị đặc hiệu. Acne exacerbation có thể được điều trị với dược phẩm vùng miệng như doxycycline or minocycline và điều trị mụn tại chỗ có thể gây kích ứng da sau điều trị lột da. Herpes simplex hoạt động có thể xảy ra mặc dù đã phòng ngừa trước điều trị với liệu pháp kháng virus. Những tổn thương dạng bọc nước này thường thấy ở viển môi đỏ hay cánh mũi. Để phòng ngừa tình trạng lan vào vùng da lành, điều trị với liều mạnh cần được thực hiện với liều khác với liều phòng bệnh (như vancyclovir 1g hai hay tối đa ba lần một ngày trong 7 ngày cho đến khi da tái tạo biểu mô hoàn toàn. Nấm da thường biểu hiện như một vết đỏ sáng với những với những dát hồng ban xung quanh miệng và ngứa.Kháng nấm tại chỗ hay fluconazole có thể được dùng (như 150 mg hàng ngày trong 3 ngày). Staphylococcus và streptococcus là dạng vi khuẩn thường gặp và cần điều trị với khánh sinh thích hợp (như dùng kháng sinh phủ ban đầu với doxycycline 100mg hai lần một ngày hay cephalexin 500mg 4 lần hàng ngày,và nếu nghi ngờ staphylococcus aureus anaerobes kháng methicillin, dùng clindamycin 300mg 4 lần hàng ngày). Nên kiểm soát nhiễm khuẩn nếu có nghi ngờ khi khám và trước điều trị.
- Ban hạt kê(Milia) là những nhú nhỏ màu trắng khoảng 1-2 mm hình thành từ sự tắc nghẽn tuyến nhờn.nhứng sản phẩn nền mỡ (như Aquaphor) được sử dụng để giữ ẩm da có thể làm tác tuyến nhờn và gây nên ban hạt kê. Ban hạt kê thường không tự mất và cần khảy với kim 20.