Dù mỗi em bé có tốc độ phát triển khác nhau và phần lớn trường hợp mẹ không cần phải lo lắng khi bé yêu trong bụng hơi nhỏ hơn so với chuẩn phát triển trung bình. Nhưng với một số trường hợp bé nhỏ hơn hẳn so với tuổi thai, mẹ cần biết điều gì đang xảy ra với con.



Khi nào bé được xem là nhỏ hơn tuổi thai?



Bé được xem là nhỏ hơn so với tuổi thai khi trọng lượng khi sinh nằm trong 10% trẻ sơ sinh có trọng lượng sinh thấp nhất ở cùng tuổi thai khi chào đời, tức là bé nhỏ hơn 90% các bé sinh ra ở cùng tuổi thai.



Các bé này có thể ra đời với thể chất và tâm thần phát triển đầy đủ nhưng bé nhỏ hơn so với các bé sinh ở cùng tuổi thai. Bé có thể nhỏ đều toàn bộ hoặc có chiều dài bình thường nhưng thiếu cân và có chỉ số khối cơ thể thấp hơn. Bé nhỏ con có thể gặp ở cả 3 trường hợp: sinh non (trước 37 tuần thai), sinh đủ tháng (37-41 tuần thai) và sinh già tháng (sau 42 tuần thai.)




Bé ra đời nhỏ hơn so với tuổi thai không có nghĩa là bé sinh non. Ảnh: Gettyimages.



Nguyên nhân gây thai nhỏ so với tuổi thai?



Dù có những bé nhỏ con do di truyền khi bố mẹ bé đều nhỏ người, phần lớn các bé nhỏ hơn tuổi thai là do khiếm khuyết tăng trưởng xuất hiện trong thai kỳ. Nhiều bé trong số này bị giới hạn tăng tưởng trong tử cung. Đây là tình trạng xuất hiện khi thai không nhận đủ dinh dưỡng và oxy cần thiết để phát triển các bộ phận và mô. Giới hạn tăng trưởng thai nhi xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ. Nếu khởi phát sớm, đó có thể do rối loạn nhiễm sắc thể, bệnh của mẹ hoặc các vấn đề nghiêm trọng ở nhau thai; nếu khởi phát muộn (sau 32 tuần), giới hạn tăng trưởng thai nhi thường liên quan đến các vấn đề khác.



Những yếu tố có thể khiến thai nhỏ hoặc hạn chế phát triển:



Yếu tổ từ mẹ:



cao huyết áp,


bệnh thận mãn tính,


bệnh tiểu đường,


bệnh tim mạch hoặc hô hấp,


mẹ suy dinh dưỡng và thiếu máu,


nhiễm trùng,


sử dụng chất kích thích


hút thuốc.



Yếu tố liên quan đến tử cung và nhau thai



giảm lượng máu đế tử cung và nhau thai,


bong nhau (nhau thai tách khỏi tử cung),


nhau tiền đạo,


nhiễm trùng mô quanh thai.




Ảnh: Gettyimages.



Yếu tố liên quan đến thai nhi:



đa thai (thai đôi, thai ba, thai tư…)


nhiễm trùng thai,


dị tật bẩm sinh,


bất thường nhiễm sắc thể.



Thai nhỏ có đáng lo?



Khi thai nhi không được nhận đủ oxy và dưỡng chất trong thai kỳ, nhìn chung cơ thể và các cơ quan của bé sẽ bị hạn chế về phát triển, mô và tế bào có thể không phát triển hoàn thiện về kích thước và số lượng. Thai nhỏ và hạn chế tăng trưởng có thể do máu đến thai qua nhau bị giới hạn, khiến thai nhi không nhận đủ oxy so với thông thường, làm tăng nguy cơ đối với thai nhi trong suốt thai kỳ, trong quá trình sinh nở và sau sinh.



Trẻ sơ sinh nhỏ so với tuổi thai hoặc bị hạn chế tăng trưởng trong tử cung có thể gặp các vấn đề khi sinh như:



giảm lượng oxy,


giảm điểm Apgar (chỉ số thích nghi của trẻ sơ sinh sau sinh),


hít phải phân su có thể gây ngạt,


hạ đường huyết,


khó ổn định thân nhiệt,


đa hồng huyết cầu.



Làm thế nào chẩn đoán thai nhỏ hơn tuổi thai



Trẻ sơ sinh nhỏ hơn tuổi thai thường được phát hiện trước sinh. Trong thai kỳ, kích thước của bé được ước tính theo nhiều cách khác nhau. Chiều cao đỉnh (đáy) tử cung đo từ xương mu được áp dụng từ sau tuần thứ 20 để xác định kích thước thai so với tuần thai, nếu con số này thấp hơn trung bình của tuần thai, em bé của bạn có thể nhỏ con hơn so với mong đợi.



Dù nhiều bé nhỏ con có trọng lượng sơ sinh thấp nhưng các bé không phải là trẻ sinh non và có thể không gặp phải các vấn đề của một em bé sinh non. Một số bé nhỏ con đặc biệt là bé bị hạn chế tăng trưởng trong bụng mẹ có màu da tái, da nhăn và khô. Cuống rốn trông mảnh, đờ đẫn thay vì bóng khoẻ.



Các phương pháp chẩn đoán khác gồm có:



- Siêu âm cho kết quả tương đối chính xác để ước tính kích thước thai nhi. Thai nhi cũng được đo chu vi đầu và bụng để đánh giá mức độ phát triển và dinh dưỡng.



- Hiệu ứng Doppler được dùng để đo lưu lượng máu trong các mạch máu não và dây rốn của bào thai.




Mẹ tăng cân không đủ có thể là dấu hiệu em bé nhỏ hơn bình thường. Ảnh: Gettyimages.


- Mức độ tăng cân của mẹ nếu không đủ có thể tương ứng với một em bé nhỏ con.



- Đánh giá sơ sinh. Trẻ sơ sinh được cân ngay trong những giờ đầu sau sinh. Cân nặng này được so sánh với tuổi thai tại thời điểm bé chào đời. Ngoài ra, một số cơ sở y tế có thể tính chỉ số khối cơ thể bé để chẩn đoán bé nhỏ con.



Điều trị cho trẻ nhỏ hơn so với tuổi thai



Phương pháp điều trị cụ thể cho bé nhỏ hơn tuổi thai được quyết định bởi bác sỹ dựa theo các yếu tố:



tuổi thai, sức khoẻ tổng quát và hồ sơ y tế;


mức độ thiếu hụt kích thước;


khả năng chịu đựng của bé với với các phương pháp điều trị;


mong đợi và ý kiến của cha mẹ trong việc điều trị cho con.



Trẻ sơ sinh nhỏ con có thể phát triển thể chất hoàn thiện so với kích thước của bé, nhưng bé có thể gặp vấn đề về khả năng bú và ổn định thân nhiệt. Điều trị cho các bé này chủ yếu gồm có các biện pháp:



Kiểm soát nhiệt độ cũi hoặc lồng ấp,


Cho ăn qua ống truyền (do bé không đủ lực bú),


Kiểm tra hạ đường huyết,


Kiểm tra nồng độ oxy.



Các bé vừa nhẹ cân vừa sinh non có thể cần phải trợ thở bằng oxy.



Phòng ngừa thai nhỏ



Chăm sóc tiền sản là việc làm quan trọng đối với mọi bà mẹ mang thai, đặc biệt với các mẹ được phát hiện vấn đề đối với sự phát triển của thai nhi. Bỏ thuốc lá và các chất kích thích là cần thiết để có thai kỳ khoẻ mạnh. Ăn uống lành mạnh và đủ chất cũng giúp phòng tránh thai nhỏ và nhẹ cân.