Những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của y học, phương tiện chẩn đoán ngày càng tiên tiến, phương tiện phẫu thuật ngày một an toàn, chuyên môn tay nghề của y bác sĩ ngày một cao…tỷ lệ sinh mổ đã và đang gia tăng nhanh chóng.



Sinh mổ - xu thế của các bà bầu hiện đại?



Sinh mổlà phẫu thuật nhằm lấy thai nhi, nhau và màng ối qua một vết mổ trên thành tử cung đang nguyên vẹn. Sinh mổđược thực hiện trong các trường hợp được chuẩn đoán sẽ có rủi ro xảy ra cho mẹ và em bé nếu mẹ sinh thông thường, chẳng hạn: đa thai, ngôi thai bất thường, ối vỡ sớm… Đối với các trường hợp vôi hóa nhau thai, tùy thuộc vào số tuần tuổi của thai nhi, mức độ canxi hóa nhanh chậm, tình trạng nước ối…mà bác sĩ sẽ chuẩn đoán nên sinh mổ hay sinh thường. Sinh mổ thường được thực hiện sau khi gây tê màng cứng để người mẹ vẫn có thể nhận biết được sự ra đời của con mình nhưng không cảm thấy đau đớn.



Ngoài trường hợp sinh mổ được chỉ định trước trước, hiện nay cũng có không ít trường hợp sinh mổ chỉ được chỉ định khi đã vào chuyển dạ (sinh mổ cấp cứu). Với các trường hợp sinh mổ này, vì diễn biến trong lúc chuyển dạ không còn phù hợp với cuộc sinh theo ngã âm đạo nữa nên cần mổ cấp cứu để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé. Với các trường hợp này, mẹ thường không có sự chuẩn bị trước và nhiều mẹ cảm thấy hoang mang, bối rối do không có sự chuẩn bị trước về sinh mổ.



Sinh mổ: bên lợi bên hại, bên nào nặng hơn?



Sinh mổ được xem là phương pháp cực kì an toàn với tỷ lệ tử vong rất thấp. Tuy nhiên, ảnh hưởng của sinh mổ lên sức khỏe của mẹ và bé nhiều hơn sinh thường.



Sau sinh,mẹ hồi phục chậm hơn sinh thường, sữa mẹ ít hoặc chậm lên sữa. Mẹ sinh mổ chỉ được tối đa 3 lần và khoảng cách của những lần có thai phải từ 18 -24 tháng. Nếu lần trước đã sinh mổ thì lần mang thai sau 75% phải mổ lấy thai.



Đường sinh tự nhiên của mẹ (qua âm đạo) có chứa nhiều vi khuẩn có lợi giúp kích thích hệ vi sinh đường ruột cho trẻ. Đối với trẻ sơ sinh, hệ vi sinh đường ruột đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển một hệ miễn dịch khỏe mạnh. Trẻ sinh mổ không đi qua đường âm đạo nên không được tiếp xúc với những vi khuẩn có lợi này khiến hệ vi sinh đường ruột chậm kích hoạt hơn. Ngoài ra, việc chậm được tiếp xúc với các kháng thể có ích trong sữa mẹ do phải cách ly 4 - 5 giờ sau sinh cũng là nguyên nhân cho việc chậm kích hoạt hệ miễn dịch của trẻ. Một em bé sinh trong thường mất 10 ngày để hoàn thiện hệ miễn dịch trong khi quá trình này mất 6 tháng ở một em bé sinh mổ.



Mặc dù có nhiều ảnh hưởng, nhưng sinh mổ luôn là phương pháp an toàn nhất nếu đó là sự chỉ định của bác sĩ và mẹ phải tuân theo. Điều hết sức quan trọng đối với các bà mẹlà phải luôn trang bị các kiến thức đầy đủ để chăm sóc cho mẹ và bé trong trường hợp sinh thường và kể cả sinh mổ.



Cách chăm sóc mẹ sau khi sinh mổ



Người mẹ sau khi sinh mổ thường phải chịu đau và lâu hồi phục hơn các mẹ sinh theo cách thông thường.Sáu tuần sau sinh là thời gian hậu sản, các cơ quan của mẹ dần trở về trạng thái bình thường, tử cung co hồi và lành vết mổ. Giai đoạn này mẹ và người thân của các mẹ cần phải lưu ý những chăm sóc đặc biệt sau đây:



- Chăm sóc sản dịch: Cần đi khám hay gọi ngay cho bác sĩ khi sản dịch có mùi hôi, đau nặng vùng bụng dưới, không thấy sản dịch trong 2 tuần đầu tiên…hay các dấu hiệu bất thường khác.


- Chăm sóc âm hộ: luôn giữ âm hộ sạch và khô; trong thời gian ra sản dịch, thường xuyên thay băng vệ sinh. Sau khi rửa âm hộ thì phải lau khô, không được dùng vòi nước phun vào âm hộ, không thụt rửa âm đạo.


- Chăm sóc vết mổ: Mẹ không được để nước phun trực tiếp vào vết mổ; không bôi thuốc mỡ, kem, dầu lên vết mổ cho đến khi vết mổ lành hoàn toàn; luôn luôn hỗ trợ bụng với một cái gối khi cười, ho, hắt hơi, đứng lên, đi bộ, hay cả khi bế bé. Thông thường, phải mất từ 4-6 tuần mới lành vết mổ.


- Chăm sóc nguồn sữa mẹ: Để kích thích sữa về nhanh, mẹ cần cho bé bú tingay dù chưa có sữa; xoa bóp vú nhẹ nhàng; kết hợp chế độ ăn uống cân đối, đầy đủ các nhóm chất.



Trong giai đoạn này, các mẹ có thể uống ngay sau khi sinh, uống ít nhất 2,5 lít nước mỗi ngày, trong đó cần ít nhất nửa lít sữa/ngày. Trường hợp nuôi con bằng sữa mẹ, cần uống tối thiểu 3 lít/ngày. Uống nhiều nước giúp ngăn ngừa táo bón, uống nhiều sữa ít béo giúp bổ sung canxi và tăng nguồn sữa mẹ. Ngay sau khi đi xì hơi được (khoảng 6-8 tiếng sau mổ), mẹ đã có thể ăn.Chế độ ăn từ loãng tới đặc dần, bữa ăn cần đa dạng và cân bằng đủ 5 nhóm thực phẩm.



Việc vận động sau khi sinh cũng rất cần thiết. Các mẹ nên vận động sớm để ngăn ngừa tắc mạch và ứ sản dịch. Ngày đầu tiên, mẹ đã có thể vận động bàn chân lên xuống, xoay bàn chân mỗi khi thức dậy,ngồi dậy và ra khỏi giường ngay khi có thể. Sau đó, dần dần gia tăng hoạt động để phục hồi, có thểbắt đầu bài tập tăng cường nhẹ sau 8-10 tuần.Ngoài ra, mẹ cần tránh nâng vật nặng hơn em bé mới sinh, lên xuống cầu thang thường xuyên hay lao động vất vả trong vòng 8 tuần sau mổ.



Mẹ tròn con vuông – niềm hạnh phúc của gia đình



Tùy thuộc vào tình hình sức khỏe của bản thân mình và thai nhi, kết hợp với những chỉ dẫn của các y bác sĩ mà các sản phụ nên lựa chọn phương pháp sinh nở phù hợp. Cho dù lựa chọn phương pháp sinh nào thì cũng hãy luôn đảm bảo vấn đề chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho mẹ và bé để niềm hạnh phúc vuông tròn được thực sự toàn vẹn.



Thân mến,


BTC_Dumexcareline