Nghe kém là hiện tượng giảm một phần hay toàn bộ khả năng cảm nhận về âm thanh. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) ước tính có khoảng 5% dân số, tương đương với 360 triệu người trên toàn thế giới bị nghe kém, trong đó có 32 triệu trẻ em dưới 15 tuổi.


Các nước có thu nhập thấp và trung bình có tỷ lệ nghe kém cao nhất thế giới. Nghe kém có thể gây ra gánh nặng nặng nề về kinh tế và xã hội do bệnh điếc và nghễnh ngãng gây ra. Do đó, việc phát hiện và can thiệp kịp thời đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại cuộc sống tốt hơn cho trẻ, đồng thời giảm gánh nặng cho bản thân và gia đình của trẻ. Nghe kém ở trẻ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Việc tìm hiểu các nguyên nhân của nghe kém đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến cáo cho cộng đồng phòng tránh những một số nguyên nhân gây nghe kém cũng như tăng cường nhận thức của các bà mẹ trong việc sàng lọc nghe kém sớm cho trẻ. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tổng quan các nguyên nhân gây nghe kém ở trẻ em.



Có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến nghe ở trẻ em kém bao gồm nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải.



1. Các nguyên nhân bẩm sinh


1.1 Di truyền


Di truyền là nguyên nhân hàng đầu của nghe kém bẩm sinh. Khoảng 50% tất cả các trường hợp nghe kém bẩm sinh là do di truyền. Trong số đó, khoảng 70% nhiễm sắc thể (NST) thường dạng trội và 1 - 2% di truyền qua NST giới tính X. Nghe kém nằm trong hội chứng chiếm 30% tổng số điếc di truyền. Toriello, HV (2004) và cộng sự đã mô tả hơn 400 hội chứng di truyền có nghe kém và được chia ra làm di truyền NST thường trội và lặn và NST giới tính X.


Một số nghiên cứu cho thấy những gia đình có bố hoặc mẹ bị nghe kém thì con của họ có khả năng bị nghe kém cao hơn so với những đứa trẻ khác. Nghiên cứu thuần tập ở Úc từ năm 2004 đến năm 2009 trên 2.107 trẻ em cho thấy những trẻ có tiền sử gia đình có nguy cơ bị nghe kém cao gần gấp 2 lần những trẻ không bị nghe kém (OR: 1,92, 95%CI: 1,04-3,56). Nghiên cứu phân tích các nguy cơ của nghe kém tại Mỹ gần đây cũng cho thấy trong số những trẻ bị nghe kém nặng thì yếu tố tiền sử gia đình bị nghe kém là yếu tố phổ biến nhất ở các trẻ này.



1.2 Quá trình mang thai của mẹ


Nhiễm khuẩn trong quá trình mang thai: Bà mẹ bị một số bệnh nhiễm trùng như Rubella, giang mai trong quá trình mang thai có thể là nguyên nhân gây nghe kém hoặc điếc ở những đứa trẻ do họ sinh ra. Nghiên cứu bệnh chứng ở Băngladesh cho thấy 74% trẻ em bị nghe kém có kháng thể rubella (IgG), trong khi đó chỉ có 18% trẻ không bị nghe kém có kháng thể này. Nghiên cứu cũng cho thấy 67% mẹ của những trẻ bị nghe kém có kháng thể này, trong khi đó chỉ có 14% các bà mẹ của trẻ nghe bình thường có IgG. Như vậy có mối tương quan giữa bị Rubella với tình trạng nghe kém ở trẻ em ở nước này. Kết quả nghiên cứu bệnh chứng ở Đan Mạch (1980) với trẻ từ 0-4 tuổi bị nghe kém tiếp nhận bẩm sinh đã tìm ra 60% trẻ nghe kém có kháng thể rubella trong máu, trong khi đó ở nhóm chứng chỉ có 23%. Nghiên cứu đã cho thấy nhiễm rubella trong quá trình mang thai đóng vai trò quan trọng trong việc gây nghe kém ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.


Dùng thuốc trong quá trình mang thai: Sử dụng một số loại thuốc gây ngộ độc như nhóm aminoglycosides, cytotoxic, thuốc điều trị sốt rét và thuốc lợi tiểu trong quá trình mang thai có nguy cơ gây nghe kém bẩm sinh.


1.3 Liên quan đến trẻ khi sinh


Đẻ non, cân nặng sơ sinh thấp: Mối liên quan giữa trẻ sơ sinh đẻ non, cân nặng thấp lúc sinh (