• 10 Lượt chia sẻ
  • 134K Lượt đọc
  • 56 Trả lời

8 Người đang theo dõi

  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3
    • 229 Bài viết

    • 21 Được cảm ơn

    #1
    Mình được người quen cho 1 ít tam thất , nghe mọi người bảo tốt lắm , nhưng mình ko biết rõ tác dụng chính của nó là gì ? Nhờ các mẹ mách hộ chứ ko cứ nghe tốt là uống ko khéo bổ quá lại tăng cân lên vùn vụt , bố cháu chê thì chít !!! Nhân tiện các mẹ cho hỏi luôn dùng tam thất có lên cân ko nhé ! Cám ơn các me nhiều !
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 2,606 Bài viết

    • 1,757 Được cảm ơn

    #2
    Theo mình nhớ, công dụng chính của tam thất là an thần (chống mệt mỏi, giảm căng thẳng, rối loạn giấc ngủ....) nhưng để tuần sau đi làm mình sẽ tra cuốn "từ điển cây thuốc VN" mình cất trong tủ ở công ty cho bạn biết rõ hơn nhé
    • 2,008 Bài viết

    • 232 Được cảm ơn

    #3
    Tam thất hầm với gà, hoặc xay thành bột ăn kèm với tý đường hoặc mật ong cũng được. Ngày còn sinh viên mình gầy còm ốm yếu thỉnh thoảng phải ăn tam thất, nhưng chớ có tham nhé, ăn nhiều nóng đó. Với lại vị nó cũng chả dễ ăn cho lắm.
    • 111 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #4
    Mình cũng được một bác bán hàng thuốc đông y ở Lãn Ông hướng dẫn cách uống tam thất rằng:
    - tán nhỏ thành bột uống như thuốc bột với nước đun sôi để nguội (gọi là uống sống ) là dùng để chữa bệnh. Cách uống này phải theo chỉ dẫn và thường dùng với người có bệnh ung thư hoặc có u...vif uống nhiều qua cũng không tốt làm da xanh đi đấy
    - Tán nhỏ hoặc để nguyên củ thái lát để hầm với gà, tim... hoặc chế với nước sôi...thif có công dụng như thuốc bổ làm tăng hồng cầu có thể dùng với người vừa ốm dậy. vừa qua phẫu thuật hoặc phụ nữ vừa sinh xong... không làm tăng cân đâu (trừ phi bạn lại ăn gà tần, tim hấp là chính...tam thất là phụ thì mới lo thôi)

    • 424 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #5
    Trích dẫn Nguyên văn bởi My all
    Mình được người quen cho 1 ít tam thất , nghe mọi người bảo tốt lắm , nhưng mình ko biết rõ tác dụng chính của nó là gì ? Nhờ các mẹ mách hộ chứ ko cứ nghe tốt là uống ko khéo bổ quá lại tăng cân lên vùn vụt , bố cháu chê thì chít !!! Nhân tiện các mẹ cho hỏi luôn dùng tam thất có lên cân ko nhé ! Cám ơn các me nhiều !
    Nếu bạn uống được tam thất thì sẽ chống được nám má và tóc sẽ đen (rất tốt cho người bị tóc bạc sớm). Nhưng uống phải lâu và kiên trì.
    • 166 Bài viết

    • 70 Được cảm ơn

    #6
    Các mẹ có thể tham khảo tác dụng và cách dùng tam thất ở đây nhé:

    http://www.ykhoa.net/SKDS/THUOC/75-07.html
    TAM THÂT - VỊ THUỐC "VÀNG KHÔNG ĐỔI ĐƯỢC"

    BS. NGUYỄN VĂN DƯƠNG

    Thầy thuốc y học dân tộc gọi là nhân sâm tam thất, sâm tam thất hay kim bất hoán (vàng không đổi được - vị thuốc rất quý). Có tên khoa học cùng họ sâm Panax Pseudo - Ginseng Wall (Panax repens Maxim). Thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceat).

    Người ta có nhiều cách giải thích tam thất. Theo sách Bản thảo cương mục gọi "tam thất" vì cây có 3 lá bên trái, 4 lá bên phải (?). Có người lại nói tam = ba, tức từ gieo trồng đến ra hoa là 3 năm; thất = bảy, tức từ gieo trồng đến thu hoạch rễ bán được mất 7 năm. Lại có thuyết cho rằng vì lá tam thất có từ 3 đến 7 lá chét.

    - Cây tam thất có rất nhiều ở Việt Nam ta, được trồng từ lâu với số lượng ít ở tỉnh Hà Tuyên (Đồng Văn), Hoàng Liên Sơn (Mường Khương, Bát Xát, Phà Lùng), Cao Lạng v.v... Tam thất mọc trên vùng núi cao 1.200-1.500m theo sườn núi ít gió mạnh, có dàn che nắng và phải có rào bảo vệ chuột và sóc đến ăn củ.

    Ở Trung Quốc có nhiều tỉnh trồng cây tam thất, như Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây. Ở Tỉnh Vân Nam trồng nhiều nhất và tam thất ở đây được coi là tốt nhất. Chính thành phần hóa học của loại dược thảo này cũng được nghiên cứu và công nhận từ năm 1937-1941 ở Trung Quốc bởi các giáo sư Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng.

    Tác dụng dược lý, công dụng, liều dùng: Năm 1937, hai tác giả Chu và Triệu có nhận xét thấy tính chất các Saponin trong tam thất không giống như Saponin thường: rất ít độc với loài cá. Với dung dịch tam thất 1/1000 hoặc 1/500, thả cá vàng vào dung dịch sau 24 giờ vẫn không trúng độc. Tiêm vào chó (được đánh mê bằng ête) 1-20mg arasapomin A hoặc B không thay đổi rõ rệt về huyết áp, với tim và hô hấp. Đối với khúc ruột và tử cung cô lập của thỏ và chuột bạch cũng không thay đổi.

    Xưa có câu nói về công dụng của tam thất: tánh dược thì mạnh bạo, đắng ấm mà té tức trừ êm, ích gân xương, giúp thận vẹn toàn, trừ phong thấp bại tê ứ huyết.

    Tài liệu cổ có ghi: tam thất vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng hành ứ; cầm máu, tiêu thũng, dùng trị thổ huyết máu cam, lî ra máu, ung thũng, bị chấn thương có máu bầm, sản phụ sinh xong máu hôi không sạch. Còn được dùng phổ thông trong nhân dân thì tam thất là 1 vị thuốc cầm máu, hữu dụng trong các trường hợp bị chảy máu, bị chấn thương do nhiều nguyên nhân, ứ huyết, sưng bầm, đau nhức.

    - Liều dùng: Độc vị, ngày từ 5 - 10g tùy nặng nhẹ với dạng thuốc sắc, hoặc thuốc bột loại tốt. Thầy thuốc coi tam thất là vị thuốc vừa trị bệnh đồng thời cũng là vị thuốc bổ thay nhân sâm.

    - Trong dân gian có bài Thập bổn thang gia giảm có dùng tam thất chữa bệnh băng huyết: tam thất 1g, gia cỏ mực 5g, nhỏ chảo gang 1g, muồng 1g. Thuốc sắc hoặc chế thành bột uống.

    - Trị ngoài da: dùng củ tam thất loại tốt mài ra nước keo vàng vàng, thoa hoặc đắp chỗ sưng đau nhức vùng da mặt, khi lành sẽ không bị nám sẹo.

    * Chú ý: Ngoài vị thuốc tam thất chính kể trên, trong dân gian còn dùng rễ cây thổ tam thất thay tam thất. Thổ tam thất được xác định là Gynura Segetrium (Lour Merr hay Gynura Pinnatifida, thuộc họ cúc (Campositae). Dùng lá và rễ để làm thuốc cầm máu như vị tam thất, và dùng chữa bị rắn cắn.

    - Một cây nữa thuộc họ gừng (Zingiberaceae) chỉ Stahlianthus có thân rễ nhỏ được bán với tên tam thất. Chú ý tránh nhầm lẫn, mua giá quá đắt một cây trồng rất dễ và ít có tác dụng.

    Liệt dương + di tinh

    Cây xộp: cành và lá phơi khô 100g

    Đậu đen 50g

    Đường vừa đủ cho sau 10 ngày

    Rượu 250ml

    Ngâm 10 ngày thành rượu thuốc. Uống 10-30ml, 2-3 lần mỗi ngày.

    BS. N.V.DƯƠNG
    http://www.lamdong.gov.vn/cdrom/yte/tamthat.htm


    Cây tam thất có tên khoa học là: Panax pseudoginseng Wall (Panax repens Maxim), thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae).

    Cây tam thất còn có tên là: sâm tam thất, kim bất hoán, nhân sâm tam thất, điền thất.

    NGUỒN GỐC

    Tam thất được trồng tại Trung Quốc. Nơi sản xuất chính cây tam thất là huyện Văn Sơn, Nghiên Sơn, Tây Trù, Mã Quan, Phú Ninh, Quảng Nam tỉnh Vân Nam; vùng Điền Dương trong chuyên khu Bạch Sắc, các huyện Tĩnh Tây, Đức Bảo, Lục Biên (khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây). Ngoài ra còn được trồng tại các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây.

    Cây tam thất đã được di thực trồng ở nước ta vào những năm 1960 - 1970 tại các vùng núi cao trên 1.200 m thuộc huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Hoàng Su Phì (Hà Giang), Mường Khương, Bắc Hà, Xi Ma Kai, Sapa (Lao Cai) và các tỉnh Cao Bằng, Lai Châu.

    Từ năm 1996 đến nay đang được nghiên cứu trồng tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) .

    MÔ TẢ

    Tam thất là cây thân nhỏ, sống lâu năm. Cây cao khoảng 30 - 60 cm, thân mọc đứng, vỏ cây không có lông, có rãnh dọc, lá mọc vòng 3 - 4 lá một. Lá kép kiểu bàn tay xòe. Cuống lá dài 3 - 6 cm, mỗi cuống lá mang từ 3 đến 7 lá chét hình mác dài. Các gân lá mọc nhiều lông cứng, màu trắng, mặt lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, mép lá có răng cưa nhỏ. Cây mọc một năm chỉ ra một lá kép, cây 2 tuổi trở lên thì có 2 - 6 lá kép mọc vòng xung quanh ngọn cây. Cây có hoa khoảng tháng 6 tháng 7 dương lịch. Hoa tự hình tán mọc đầu ngọn cây, gồm nhiều hoa đơn. Cuống hoa trơn bóng không có lông. Hoa lưỡng tính cùng lẫn với hoa đơn tính, có 5 cánh màu xanh, phần lớn là 2 tâm bì. Quả chín vào khoảng tháng 10, tháng 11 dương lịch. Quả mọng lúc chín màu đỏ. Mỗi quả có từ 1 - 3 hạt hình cầu, vỏ trắng. Cây có một rễ chính phình thành củ và có những rễ phụ. Trên mặt củ có nhiều vết sẹo do thân củ để lại sau mỗi mùa đông. Cây chỉ có một thân mang một chùm lá cố định, sống qua suốt năm và từ tháng 12 đến tháng 1 tàn lụi, sau đó cây lại mọc ra thân mới. Cây tam thất trồng tại thành phố Đà Lạt năm thứ 2 có hoa nhưng hạt lép.

    BỘ PHẬN DÙNG

    Tam thất trồng từ 3 đến 7 năm mới thu hoạch rễ củ để làm thuốc.

    Đào rễ củ về, rửa sạch đất cát, cắt tỉa rễ con, phơi hay sấy đến gần khô, lăn xoa nhiều lần cho khô.

    Rễ củ hình trụ hoặc khối, hình thù thay đổi, dài khoảng 1,5 - 4 cm, đường kính 1 - 2 cm. Mặt ngoài củ màu vàng xám nhạt, trên mặt có những nét nhăn nhỏ theo chiều dọc. Khi chưa chế biến có lớp vỏ cứng bên ngoài, khó bẻ và khó cắt. Có thể tách riêng khỏi phần lõi. Củ có mùi thơm nhẹ đặc trưng của tam thất. Rễ củ trồng lâu năm, củ càng to, nặng giá trị càng cao. Căn cứ vào trọng lượng củ để phân loại khi thu mua:

    Loại 1: 105-130 củ nặng 1 kg;

    Loại 2: 160-220 củ nặng 1 kg;

    Loại 3: 240-260 củ nặng 1 kg.

    THÀNH PHẦN HOÁ HỌC

    Rễ củ tam thất có các chất như Acid amin, hợp chất có nhân Sterol, đường, các nguyên tố Fe, Ca và đặc biệt là 2 chất Saponin: Arasaponin A, Arasaponin B. Saponin trong tam thất ít độc.

    CÔNG DỤNG

    Rễ củ tam thất vị đắng ngọt, tính ấm vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng bổ huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết. Theo Dược điển Việt Nam, tam thất dùng trị thổ huyết, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết lỵ ra máu, lưu huyết, tan ứ huyết, sưng tấy, thiếu máu nặng, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ.

    Theo tài liệu nước ngoài, tam thất có tác dụng giúp lưu thông tuần hoàn máu, giảm lượng Cholesterol trong máu, hạ đường huyết, kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, chống viêm tấy giảm đau... được dùng trong các trường hợp huyết áp cao, viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, đái tháo đường, các chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương, chữa những người kém trí nhớ, ăn uống kém, ra mồ hôi trộm, lao động quá sức.

    Gần đây, tam thất được dùng trong một số trường hợp ung thư (máu, phổi, vòm họng, tiền liệt tuyến, tử cung, vú ) với những kết quả rất đáng khích lệ. Một số bị huyết áp thấp do thiếu máu nặng cũng dùng tam thất được.

    Phụ nữ có thai không được uống tam thất.

    LIỀU LƯỢNG, CÁCH DÙNG

    Theo Dược điển Việt Nam, liều lượng uống từ 4 đến 5g mỗi ngày; theo tài liệu nước ngoài lại ghi uống từ 6 - 10 g mỗi ngày.

    Một số trường hợp bệnh nhân ung thư dùng từ 10 - 20 g mỗi ngày chia làm 4 đến 5 lần uống.

    Tam thất dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng bột, dùng ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.

    Người ta dùng tam thất để chữa ung thư bằng cách lấy bột sống uống bằng thìa nhỏ chiêu với nước lọc nguội hoặc dùng dạng thái lát ngậm nhai rồi nuốt. Trên thực tế một số người nhai tam thất sống đã bị rộp niêm mạc miệng, vì vậy có thể dùng bột hoặc thái lát tam thất hãm với nước sôi uống cả nước nhai cả bã vừa đơn giản giữ được hương vị, hoạt chất dễ bay hơi không mất đi, vừa có tác dụng chữa bệnh tốt.

    Ngoài cây tam thất (Panax pseudoginseng Wall) kể trên còn có 2 loại tam thất mọc hoang:

    - Vũ diệp tam thất còn gọi là tam thất hoang có tên khoa học Panax bipinna tifidus Seem có rễ củ nhiều đốt.

    - Cây tam thất mọc hoang ở vùng Hà Giang, Lao Kai có tên khoa học Panax pseudoginseng Nees.

    Hai cây này công dụng như cây tam thất nhưng rễ củ dài nhiều đốt.

    Cần phân biệt một số cây có tên là "tam thất" hoặc các cây lấy củ giả làm tam thất để bán ngoài thị trường:

    - Cây hổ trượng (cốt khí củ, điền thất nam) có tên khoa học là Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc, họ Polygonaceae.

    Rễ củ cây này dài ngắn không đều, mặt ngoài màu nâu vàng, mùi không rõ vị hơi đắng, dùng chữa phong thấp đau nhức xương, viêm gan, mhiễm trùng đường tiểu tiện.

    - Cây thổ tam thất có tên khoa học là Gynura segetum (L.) Merr. hoặc Gynura pinnatifida thuộc họ Cúc (Compositae), lá và rễ dùng làm thuốc cầm máu, chữa rắn cắn.

    - Tam thất gừng (tam thất nam, khương tam thất) có tên khoa học là Staplianthus thorlii Gagnep. thuộc họ gừng Zingiberaceae. Lá mọc thẳng từ thân rễ, phiến lá nguyên thân dài, hình mác hẹp đầu nhọn màu nâu tím. Củ rễ hình tròn thuôn một đầu hoặc hình trứng nhẵn, mặt ngoài màu vàng nhạt, thịt màu trắng ngà, vị cay nóng. Rễ tam thất gừng dùng chữa nôn mửa, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.

    - Cây ngải tím (nghệ đen, nga truật) có tên khoa học Curcuma zedoaria Rose họ Zingiberaceae.

    Củ khô rất cứng, vỏ ngoài màu nâu, có mùi thơm đặc biệt củ hình con quay (người ta hay làm giả tam thất bắc để bán). Củ này dùng chữa ứ huyết bế kinh, đau bụng vùng dưới .

    *

    Rễ củ cây tam thất là một vị thuốc bổ không kém nhân sâm mà còn có giá trị về mặt chữa bệnh. So sánh với nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết, độ cao của vùng trồng tam thất tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), khí hậu thành phố Đà Lạt tương tự giống nhau. Tuy nhiên, cây tam thất lại ưa thời tiết ấm áp, sợ mưa nhiều, sợ lạnh, sợ nóng, thường mọc trong râm, ẩm. Chúng tôi đã dùng giống tam thất từ Trung Quốc đem trồng tại Đà Lạt trong giàn che phù hợp. Qua 3 năm trồng thử nghiệm nghiên cứu về thổ nhưỡng, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, theo dõi sinh trưởng... bước đầu cho thấy tam thất trồng tại thành phố Đà Lạt phát triển tốt, cây đã ra hoa, cho hạt, kết quả khả quan.

    Hiện nay chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu theo dõi hoạt chất và xây dựng quy trình trồng trọt cây tam thất tại thành phố Đà Lạt.

    DS. NGUYỄN THỌ BIÊN

    Sở y tế Lâm Đồng
    http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.co...cs/TamThat.htm
    DƯỢC VỊ

    --------------------------------------------------------------------------------

    .
    TAM THẤT
    Tên thuốc: Radix Notoginsing.

    Tên khoa học: Panax pseudo-ginseng (Burk)

    Họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae)

    Bộ phận dùng: củ. Củ Tam thất mọc hoang ở rừng núi (loại to 85 củ = 1kg, nhỏ cũng được 102 củ = 1kg), cứng nặng đen, thịt xanh xám, chỗ cắt mịn thì tốt, còn thịt trắng vàng là kém, thứ Tam thất gây trồng thì bé hơn, thứ da nhẵn, ít đắng thì kém phẩm chất.

    Không nhầm với củ Nga truật (Curcuma zedoaria Roscoe Họ Gừng) thường làm Tam thất giả và cũng đừng nhầm với Thổ tam thất (Gynura sgetum (Lour) Merr, Họ Cúc), củ to hơn, da ngoài vàng xám, ít đắng.

    Có người nói lấy bột Tam thất cho vào máu vừa mới đặc mà máu tan ra thì đúng là Tam thất.

    Thành phần hoá học: có hai chất Saponim là, Arasaponin A và Arasaponin B, ngoài ra còn có phần dầu, loại đường và nhựa.

    Tính vị: vị đắng, hơi ngọt, tính ấm.

    Quy kinh: Vào 2 kinh Can và Vị.

    Tác dụng: tán ứ, sinh tân chỉ huyết.

    Chủ trị: trị thổ huyết, băng huyết, lỵ ra huyết, ứ huyết do tổn thương (dùng tươi).

    - Xuất huyết nội tạng hoặc xuất huyết ngoài: Dùng riêng bột Tam thất hoặc phối hợp với Hoa nhuỵ thạch và Huyết dư tán.

    - Xuất huyết và sưng do chấn thương ngoài: Dùng Tam thất dạng bột dùng ngoài.

    Liều dùng: Ngày dùng 4 - 6g.

    Cách Bào chế:

    Theo Trung Y: Mùa nắng hoặc mùa đông, đào lấy củ đem về rửa sạch, phơi khô khi dùng thái lát, tán bột.

    Theo kinh nghiệm Việt Nam: Có thể dùng tươi, rửa sạch, giã đắp lên vết thương. Rửa sạch, phơi khô, khi dùng tán bột hoặc mài với nước mà uống, không dùng sắc và không sao tẩm gì. Rửa kỹ bằng bàn chải, để ráo, ủ rượu cho mềm, bào phiến mỏng, sấy nhẹ cho khô đựng trong lọ kín, khi dùng hãm riêng rồi hoà vào chén thuốc đã sắctới cho uống. Có người rửa kỹ để ráo, ủ rượu 3 giờ cho mềm, thái mỏng sao qua (vi sao), tán bột để dùng.

    Bảo quản: cần tránh mọt, sao chế rồi đậy kín nên dùng ngay.

    Kiêng ky: người huyết hư, không có ứ huyết thì không dùng.

    Ghi chú:

    hầm Tam thất với gà ác cho ăn thì rất bổ.
    DƯỢC VỊ

    DƯỢC VỊ VẦN A
    DƯỢC VỊ VẦN B
    DƯỢC VỊ VẦN C
    DƯỢC VỊ VẦN D + Đ
    DƯỢC VỊ VẦN K
    DƯỢC VỊ VẦN L
    DƯỢC VỊ VẦN M
    DƯỢC VỊ VẦN N
    DƯỢC VỊ VẦN O
    DƯỢC VỊ VẦN P
    DƯỢC VỊ VẦN Q
    DƯỢC VỊ VẦN S
    DƯỢC VỊ VẦN T
    DƯỢC VỊ VẦN U
    DƯỢC VỊ VẦN V
    DƯỢC VỊ VẦN X
    DƯỢC VỊ VẦN Y
    DƯỢC VỊ VẦN G
    DƯỢC VỊ VẦN H
    DƯỢC VỊ VẦN I




    Back Forward


    --------------------------------------------------------------------------------

    YKHOANET


    http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.co...cs/TamThat.htm
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 229 Bài viết

    • 21 Được cảm ơn

    #7
    Hay quá ! Thế mà mình cứ lăn tăn mãi ko dám dùng , cám ơn các mẹ nhiều lắm lắm. Nhân dịp năm mới , chúc sức khoẻ tất cả mọi người !!!
    • 789 Bài viết

    • 29 Được cảm ơn

    #8
    Ồ bameyeuconlam có bài tham khảo hay quá. Mình cũng thấy nhiều nơi, nhiều sách nói là tam thất tán ra uống sống (chiêu với nước uống trực tiếp) thì có tác dụng chữa hoặc làm teo đi khối u, hạn chế bệnh ung thư. Còn nếu hầm tần cùng với gà, tim lợn... thì bổ lắm, nhất là bổ máu, bồi dưỡng cho người bệnh, ốm yếu... cách này có lẽ cũng góp phần tăng cân đấy các mẹ nhỉ. Còn cả 2 cách thì mình nghĩ đều làm cơ thể nóng cả thui, khi mình đi mua thuốc ở Lãn ông thì họ cũng khuyên là nếu nóng thì nên dùng kèm những thứ thanh nhiệt.
    Các mẹ có thêm kinh nghiệm hay bài thuốc nào uống sống tam thất chia sẻ cho chúng mình với nhé.
    • 166 Bài viết

    • 70 Được cảm ơn

    #9
    Hồi mới sinh tớ cũng uống tam thất tươi đấy. Chỉ thấy tăng cân thôi, he he he.
    • 1,056 Bài viết

    • 341 Được cảm ơn

    #10
    Các mẹ thân mến! Em mới bị sẩy thai ! Hiện nay mẹ em đang cho em dùng tam thất hòa với mật ong. Em ăn sống, ko đun. Nhưng chiều nay bà bác dâu em bảo phải đun tam thất lên, vì ăn sống chỉ dùng để tiêu u thôi ( cho nhưng ai bị u ý ạ), chứ như em thì phải đun lên, ! Hix, mẹ nào đã bị như em rùi và đã dùng tam thất thì cho em lời khuyên nhé! Thx các mẹ!
    • 2,255 Bài viết

    • 247 Được cảm ơn

    #11
    Mình chỉ có cách này bạn thử xem nhé: một con gà con,nhồi tam thất vào giữa xong hấp cách thủy. Hồi mình sinh em bé đã được ăn như thế,ko biết có cách nào khác nữa ko.:Smiling:
    Cuộc đời này thì ngắn,nỗi nhớ quá dài..
    Và cũng đã đủ lớn để mong được bé lại- Như ngày hôm qua
    • 560 Bài viết

    • 522 Được cảm ơn

    #12
    Bon chen tý nhé. Mình ra trường lâu rồi nên cũng không nhớ lắm về đông y nữa. Chỉ biết là:
    Tam thất ăn sống để hoạt huyết, tiêu u
    Tam thất ăn chín để bổ máu
    • 901 Bài viết

    • 26 Được cảm ơn

    #13
    đúng rồi đấy: Tớ đang ăn tam thất mỗi ngày - 1 thìa vào buổi sáng trước khi ăn sáng, ăn sống với 1 cốc nước lọc to để tiêu u.

    Chúc bạn thành công




    • 112 Bài viết

    • 729 Được cảm ơn

    #14
    Các mẹ thông thái ơi, mình cứ ăn tam thất là bị nổi mề đay, chắc là do nóng quá. Các mẹ cho mình lời khuyên với. Cám ơn các mẹ nhiều.
    Bê ơi, không được đánh ông
    • 1,021 Bài viết

    • 176 Được cảm ơn

    #15
    Trích dẫn Nguyên văn bởi SweetKitty Xem bài viết
    Các mẹ thân mến! Em mới bị sẩy thai ! Hiện nay mẹ em đang cho em dùng tam thất hòa với mật ong. Em ăn sống, ko đun. Nhưng chiều nay bà bác dâu em bảo phải đun tam thất lên, vì ăn sống chỉ dùng để tiêu u thôi ( cho nhưng ai bị u ý ạ), chứ như em thì phải đun lên, ! Hix, mẹ nào đã bị như em rùi và đã dùng tam thất thì cho em lời khuyên nhé! Thx các mẹ!
    Mình sanh xong thì được mẹ mình cho ăn tam thất trộn mật ong hấp cách thủy với 1 ít quy bắc. Thấy mẹ mình nói tam thất bổ máu nhưng nóng nên cho thêm ít quy bắc vào cho mát. Chả hiêu đúng k nhưng mình ăn tam thất như thế k thấy nóng gì cả. Chúc bạn khỏe
    Hãy đối tốt khi còn ở bên nhau...:LoveStruc::Rose:
    • 432 Bài viết

    • 42 Được cảm ơn

    #16
    Trích dẫn Nguyên văn bởi fanhtom Xem bài viết
    đúng rồi đấy: Tớ đang ăn tam thất mỗi ngày - 1 thìa vào buổi sáng trước khi ăn sáng, ăn sống với 1 cốc nước lọc to để tiêu u.

    Chúc bạn thành công
    Mình cũng đang ăm tam thất để tiêu u đây. Nhưng mình ăn vào buổi tối, chẳng biết như thế có đúng và có tốt không nữa. Bạn có ăn tam thất với mật ong không, bạn làm cách nào để ăn cho dễ, mách giùm mình với nhé, và phải ăn trong bao lâu nữa. Mình sợ cái mùi và cái vị của nó lắm lắm, nhưng vẫn đang phải cố đây.
    www.theuviet.vn - Chuyên cung cấp mẫu thêu chữ thập - 093.2275898
    • 789 Bài viết

    • 29 Được cảm ơn

    #17
    Trích dẫn Nguyên văn bởi fanhtom Xem bài viết
    đúng rồi đấy: Tớ đang ăn tam thất mỗi ngày - 1 thìa vào buổi sáng trước khi ăn sáng, ăn sống với 1 cốc nước lọc to để tiêu u.
    Chúc bạn thành công
    mình cũng thấy bs khuyên là nên uống vào buổi sáng, trc khi ăn sáng, vì tam thất nóng và bổ nên uống buổi tối dễ gây tỉnh ngủ, cũng tương tự như thuốc bổ thường là uống vào buổi sáng.
    Nếu nóng thì mình thấy đông y khuyên là uống thêm sâm, quy hoặc bột sắn.
    • 1,056 Bài viết

    • 341 Được cảm ơn

    #18
    Ôi các mẹ ơi, thế phải ăn tam thất trước khi ăn sáng à? Em toàn ăn sáng xong rùi mới ăn, ! Như thế có sao ko hả các mẹ?
    • 1,023 Bài viết

    • 685 Được cảm ơn

    #19
    Mình mới sinh em bé, muốn ăn tam thất để bổ máu, nhưng cơ thể nóng trong, dễ bị táo bón. Tam thất có nóng không nhỉ?
    • 1,061 Bài viết

    • 52 Được cảm ơn

    #20
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Mẹ Ổi Xem bài viết
    Mình mới sinh em bé, muốn ăn tam thất để bổ máu, nhưng cơ thể nóng trong, dễ bị táo bón. Tam thất có nóng không nhỉ?
    Tam thất không nóng đâu, mình ăn từ lúc mới đẻ tới giờ có thấy nóng đâu, bà đẻ dễ bị táo lắm, ăn trái cây và rau nhiều 1 tý.
  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3