Dinh dưỡng chung

Sưu tầm - Cẩm nang chăm sóc sức khỏe mẹ, bé và gia đình

Đến trả lời mới nhất
  • 1 Lượt chia sẻ
  • 87.8K Lượt đọc
  • 249 Trả lời

91 Người đang theo dõi

    • 8,180 Bài viết

    • 1,630 Được cảm ơn

    #1
    Mỗi trẻ sinh ra là niềm vui, niềm hạnh phúc của gia đình. Trẻ phát triển về thể chất, tinh thần và vận động. Đó là vấn đề mà các bậc phụ huynh trẻ muốn được biết. Bài viết này chỉ đề cập đến thời kỳ trẻ vừa lọt lòng mẹ đến tuổi đi nhà trẻ là giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời của trẻ.

    Về thể chất

    Cơ thể trẻ em là một cơ thể đang lớn và trưởng thành, luôn biến đổi về số lượng và chất lượng. Dưới đây là một số chỉ tiêu hình thái thông thường như cân nặng, chiều cao và một vài đặc điểm của hệ xương.

    Chiều cao

    Khi mới ra đời, trẻ cao từ 48-50cm, trẻ trai cao hơn trẻ gái. Sau đó trẻ phát triển rất nhanh trong năm đầu, cao nhanh nhất là 3 tháng đầu tiên.

    Quý I: Mỗi tháng tăng thêm 3,5cm.

    Quý II: Mỗi tháng tăng thêm 2,0cm.

    Quý III: Mỗi tháng tăng thêm 1,5cm.

    Quý IV: Mỗi tháng tăng thêm 1,0cm.

    Như vậy đến hết 12 tháng đầu tiên trẻ tăng thêm 23-25cm tức là tăng cao gấp rưỡi lúc trẻ mới sinh.

    Trên một tuổi, chiều cao của trẻ tăng chậm hơn. Đến 24 tháng trẻ cao thêm 8-9cm và đến 36 tháng trẻ cao thêm 7-8cm nữa. Như vậy đến hết tuổi nhà trẻ thì trẻ cao khoảng 90cm.

    Phát triển về cân nặng

    Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh đủ tháng là 3.000g, trẻ trai nặng hơn trẻ gái, con dạ lớn hơn con so một ít.

    Trong thời kỳ sơ sinh (30 ngày đầu sau sinh) trẻ thường có hiện tượng sụt cân sinh lý thường vào ngày thứ 2-3 sau sinh, đến khoảng ngày thứ 10-12 hồi phục lại rồi tăng cân dần. Trẻ tăng rất nhanh trong năm đầu.

    Trong 6 tháng đầu, trẻ tăng trung bình mỗi tháng 600g, tháng thứ 2-3 có thể tăng thêm 800-900g, nhưng 6 tháng cuối năm chỉ tăng trung bình mỗi tháng 400-500g.

    Phát triển hệ xương

    Trẻ từ lúc sinh có 2 thóp là thóp trước và thóp sau. Thóp trước lớn, kích thước dao động rộng từ 1,8x2cm đến 2,8x3cm. Thóp sẽ liền dần từ lúc trẻ được 13 tháng chậm nhất là 18 tháng, thóp sau nhỏ sẽ kín trong 3 tháng đầu.

    Trẻ khỏe mạnh bắt đầu mọc răng lúc 6-8 tháng, đến 24-30 tháng thì mọc đủ 20 răng sữa. Ta tính nhanh số răng sữa trẻ có bằng số tháng tuổi trừ đi bốn.

    Phát triển tinh thần và vận động

    Sơ sinh: Ngay sau sinh, các giác quan đã hoạt động và có một số phản xạ quan trọng như tìm vú, bú, mút, nắm…

    Sau ba tuần, trẻ có thể theo dõi vận động bằng mắt. Trong tháng đầu còn hiện tượng lác mắt sinh lý. Thời gian này trẻ còn ngủ nhiều.

    2 tháng: 4-6 tuần biết mỉm cười hóng chuyện, mắt biết nhìn theo vật sáng di động. Nằm sấp có thể ngẩng đầu từng lúc, khung chậu duỗi rộng, hông duỗi gần hoàn toàn.

    3 tháng: Biết đưa mắt tìm nguồn tiếng động, vật di động. Biết lẫy từ ngửa sang nghiêng. Nhấc cằm khỏi mặt giường khi nằm sấp.

    4-5 tháng: Trẻ nhanh nhẹn, thích chơi đùa với người xung quanh, thích chơi các đồ vật.

    Về vận động có những vận động lưu ý ở tay chân. Lẫy từ ngửa sang sấp lúc 4 tháng và từ sấp sang ngửa lúc 5 tháng.

    Nằm sấp trẻ ngẩng cao đầu trong thời gian lâu, thích đạp vùng vẫy chân. Khi nắm tay kéo khỏi mặt giường, trẻ sử dụng bắp cơ giữ đầu thẳng.

    6 tháng: Trẻ biết lạ quen, bập bẹ 1-2 âm thanh, biết bắt chước mẹ. Có thể ngồi vững, nắm cầm đồ chơi bằng lòng bàn tay.

    7 tháng: Trẻ nhanh nhẹn, quan tâm đến đồ chơi. Biết giơ tay khi đòi bế, có thể tự cầm bánh đưa vào miệng.

    8 tháng: Trẻ có thể lăn mình di chuyển ra chỗ khác, có thể chuyển đồ vật từ tay này sang tay khác.

    9 tháng: Trẻ có cảm xúc vui mừng, sợ hãi. Hiểu được lời nói đơn giản. Có thể bò bằng và đầu gối và bàn tay.

    10-12 tháng: Trẻ biết tập nói, hiểu được một số lời nói, biết vẫy tay tạm biệt người khác, nói được vài từ đơn giản. Nhiều trẻ đã đứng vững, có thể biết đi nếu được đỡ.

    1-2 tuổi: Trong năm thứ 2, trẻ di chuyển ra xung quanh dễ dàng hơn. Nhận biết được nhiều người xung quanh. Sự nhận biết về xã hội phát triển nhanh, thích chơi với trẻ khác.

    Ngôn ngữ phát triển - nói được nhiều từ hơn. 18 tháng, trẻ có thể chỉ các phần cơ thể khi được hỏi. Có thể đứng lên ngồi xuống một mình, có thể xếp hình tháp thành hình khối vuông.

    3 tuổi: Ngôn ngữ phát triển nhanh, khả năng tiếp thu tốt, có thể hát được bài hát ngắn. Đi nhanh, vượt qua bậc cửa, chạy nhanh. Vận động bàn tay tinh vi nhịp nhàng hơn nên tập múa được. Trẻ có thể làm được một số việc tự phục vụ mình như xúc cơm, cài cúc áo, đi tất, nhặt những vật nhỏ bằng hai ngón tay…

    Sự phát triển tinh thần vận động, liên quan chặt chẽ với sự phát triển thể chất cũng như với đặc điểm cơ thể của từng trẻ, đồng thời phụ thuộc vào yếu tố di truyền, dinh dưỡng… Do vậy, ngay từ lúc được sinh ra, trẻ rất cần nhận được sự chăm sóc và quan tâm giáo dục đúng đắn, phù hợp của các bậc sinh thành, nuôi dưỡng để trẻ có được nhân cách tốt sau này.

    BS. PHẠM THỊ THỤC
    Theo Tuoitre.com.vn - (Trung tâm Tư vấn y tế 1088)
    :Kiss: :LoveStruc: :Kiss: Năm anh em trên một chiếc xe tăng :Kiss: :LoveStruc: :Kiss:
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 7,471 Bài viết

    • 10,532 Được cảm ơn

    #2
    Từ khi sinh ra cho đến 6 tuổi, trẻ em sẽ thay đổi theo một số mốc phát triển.Không phải em nào cũng phải theo y khuông các mốc này.Nhưng nếu cha mẹ cảm thấy con mình bị tụt lại khá xa, nên hỏi bác sĩ.


    0 - 4 tuần
    • nhìn mặt của người quen
    • phát âm nhỏ
    • giật mình khi nghe tiếng động
    • chân tay cử động khác nhau
    • ngưng khóc khi được bế
    4 - 8 tuần
    • biết cười xã giao
    • phát âm bập bẹ
    • thay đổi sắc mặt khi nghe tiếng động
    • đầu thỉnh thoảng ngửng lên thẳng
    • khi mẹ cho bú biết sửa mình để bú dễ hơn
    8 - 12 tuần
    • nhận ra mẹ
    • phát âm nguyên âm
    • nhìn theo đồ chơi (lúc lắc) trên tay
    • trở mình sang bên gần được
    • biết và chờ được bế lên
    12 - 16 tuần
    • cười mỉm khi thấy mình trong gương
    • phát âm cười, "cu cu"
    • anticipatory excitement
    • có thể tự cầm đồ chơi (lúc lắc)
    • nhìn và theo dõi bàn tay của mình
    16 - 20 tuần
    • biết cái gì mới lạ
    • cười to, biết thích thú
    • đưa đồ chơi (lúc lắc) vào mồm
    • hai tay chắp nhau vào giữa
    • thấy và biết chờ đợi thức ăn
    20 - 24 tuần
    • tỏ sự không vui khi đồ chơi bị lấy đi
    • tự biết phát âm xã giao
    • nhìn theo vật rơi xuống (thí dụ khi em vất thìa từ bàn xuống đất)
    • đầu ngẩn thẳng và vững
    • biết mày mò hay vỗ tay vào bính sữa hay vú mẹ
    24 - 28 tuần
    • biết chơi trò đơn giản với người khác
    • nghe ngóng được tiếng nhạc
    • đập đồ trên mặt bàn
    • lật úp một mình trên giường
    • uống từ ly (cần cha mẹ giúp)
    28 - 32 tuần
    • biết hãi người lạ
    • phát âm được một chuỗi nhiều âm
    • biết lắc đồ chơi (lúc lắc)
    • biết chuyển một vật từ tay này sang tay kia
    • tự cầm đồ vật trên tay
    32 - 36 tuần
    • biết nhái tiếng của người lớn
    • phát âm 1 vần (đa, ba, ka)
    • chơi với hai đồ chơi một lúc
    • khi bắt ngồi sẽ lắc lư
    • tự đút bánh vào mồm
    36 - 40 tuần
    • biết vẫy tay
    • phát âm "ba" hay "ma" (vô nghĩa)
    • biết tìm đồ chơi bị giấu dưới chăn
    • ngồi vững một mình
    • biết giơ tay khi sắp được bế
    40 - 44 tuần
    • biết ngưng lại khi bị cha mẹ bảo ngưng
    • nói "ba" hay "má" (đúng nghĩa)
    • biết sắp xếp đồ chơi
    • dùng ngón tay trỏ để giữ yên đồ vật
    • biết chơi chung và hòa đồng với người khác
    44 - 48 tuần
    • biết chơi với mình trong gương
    • nói được 1 chữ khác ngoài "ba" và "má"
    • biết chọn đồ chơi theo ý muốn của mình
    • ngồi thẳng và lăn trái banh ra trước
    • đưa đồ chơi cho người khác nhưng không biết thả tay ra
    48 - 52 tuần
    • đòi chơi đùa với người lớn
    • nói được 2-3 chữ ngoài "ba" và "má"
    • bắt chước người lớn dùng viết vẽ (thành những chấm)
    • chập chững 1-2 bước
    • đưa đồ chơi cho người khác và biết thả tay ra
    1.25 tuổi
    • tỏ ý muốn làm cha mẹ vui lòng
    • kết hợp điệu bộ và ngôn ngữ
    • biết xây cột (hai khối chồng lên nhau)
    • chạy, ít té
    • biết chỉ vào các bộ phận trên mình khi hỏi
    1.5 tuổi
    • chơi với búp bê, cho búp bê ăn v.v...
    • nói ra thành câu cực ngắn
    • bắt chước người lớn dùng viết vẽ (thành vệt dài)
    • thích vặn nút
    • hiểu thế nào là "nóng"
    1.75 tuổi
    • biết chia sẻ và chơi đồ chơi chung với trẻ em khác
    • nói được 50-60 chữ
    • biết dùng "dụng cụ" để khèo vật ở xa tới gần mình
    • đá banh
    • dùng thìa muỗng
    2 tuổi
    • chơi trò chơi tưởng tượng
    • nói rõ nghĩa của câu, không phát âm tiếng vô nghĩa nữa
    • biết tổng quát hóa
    • lật từng trang sách, leo lên xuống lầu thang
    • giúp cha me mặc quần áo cho mình
    2.5 tuổi
    • nhận ra mình trong gương
    • biết nói tên và họ của mình
    • nhận định các hình giống nhau
    • cầm viết bằng ngón tay
    • biết khi nào cần đi tiêu tiểu trong ban ngày
    3 tuổi
    • tự biết nói mình vui hay buồn
    • biết hát đồng giao, bài hát trẻ em
    • vẽ được vòng tròn
    • đạp xe 3 bánh
    • giúp dọn dẹp, cất đồ chơi
    3.5 tuổi
    • chơi hòa đồng vớ trẻ khác, tuân theo lệ của trò chơi
    • dùng chữ khá chính xác
    • vẽ hình vuông, biết so sánh to nhỏ
    • dùng các khối gỗ xây được mơ hình cao
    • làm một vài việc trong nhà
    4 tuổi
    • hiểu và đóng vai của mình trong trò chơi đóng kịch
    • tham gia đối thoại
    • vẽ hình nhân với 2 phần (đầu và mình), đếm được 3 vật
    • biết nhảy
    • biết xin lỗi
    4.5 tuổi
    • đóng kịch giỏi hơn
    • dùng được các câu nói phức tạp
    • biết món gì bị mất, đếm được 4 vật
    • biết tung trái banh
    • gọi thức ăn trong nhà hàng
    5 tuổi
    • hiểu luật của các trò chơi
    • định nghĩa chữ, biết tên các đồng tiền
    • biết tên ngày trong tuần, đếm được 10 vật
    • thảy bóng, chạy nhảy giỏi
    • thay quần áo một mình
    6 tuổi
    • có "bạn thân"
    • đọc sách trẻ em
    • vẽ hình nhân với đầu, cổ và tay
    • đạp xe hai bánh
    • tự nghĩ ra việc làm trong nhà cho mình

    Theo Developmental Milestones Author: RxPG Team
    Bản chất nông dân, tâm hồn bông lúa......
    • 2 Bài viết

    • 10 Được cảm ơn

    #3
    Do bị gene di truyền "ngược đãi", vận động viên Ruxtam Akhơmetôp (Liên Xô cũ) vốn chỉ cao dưới trung bình. Nhưng nhờ tập luyện, anh đã cao đến 187 cm.

    Có hai yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao là gene di truyền và hoàn cảnh sống (chế độ dinh dưỡng, luyện tập thể dục thể thao).

    Ăn nhiều đạm và canxi

    Có 3 giai đoạn chủ yếu góp phần quyết định chiều cao của cơ thể: Giai đoạn bào thai (nhất là 6 tháng cuối), 5 năm đầu tiên của cuộc đời) và đặc biệt là khi bước vào tuổi dậy thì. Bởi vậy, để con có tiềm năng phát triển tốt chiều cao, khi mang thai người mẹ cần ăn uống đa dạng, bảo đảm tăng đủ 10-12 kg trong 9 tháng. Trẻ sinh ra nếu đủ cân (3 kg), dài hơn 50 cm thì đó là một khởi đầu tốt để phát triển sau này.

    Khi cơ thể đang lớn, muốn phát triển chiều cao tốt, không nên ăn uống kiêng cữ mà phải ăn được nhiều thứ, nhất là đủ protein (có nhiều trong thịt nạc, cá, trứng, sữa, các hạt họ đậu) và canxi (có nhiều trong sữa, cá hộp nguyên xương, cá nhỏ kho nhừ ăn cả xương, tôm, cua, ốc, rau xanh). Sữa là thực phẩm lý tưởng cho chiều cao vì có nhiều canxi rất dễ hấp thụ, lại giàu protein.

    Hơn nửa thế kỷ trước, người Nhật vốn thấp lùn, nhưng ngày nay do đời sống kinh tế cao, ăn uống đầy đủ nên họ đã cao lên nhiều.

    Phải tập nhiều mới cao được

    Muốn tăng nhanh chiều cao, cần tạo nếp sống ham tập luyện ngay từ tuổi thiếu niên. Sau 22 tuổi, việc tập luyện chỉ giúp cơ thể khỏe mạnh cường tráng chứ không giúp cao thêm được nữa.

    Một gương sáng tăng chiều cao nhờ thể dục thể thao là Ruxtam Akhơmetôp. Anh bị gene di truyền ngược đãi, bố mẹ và những người thân đều thấp dưới mức trung bình. Bản thân Ruxtam còn thấp hơn, đến 14 tuổi thì không lớn được nữa. Nhưng anh đã quyết tâm rèn luyện để tăng chiều cao, và may mắn được một huấn luyện viên có tên tuổi giúp đỡ. Cách tập của Ruxtam có thể gọi là khổ luyện với thời gian và cường độ lớn, chủ yếu là các động tác nhằm vươn dài người như nhảy cao, nhảy xa, đánh đu... Nhờ đó, anh đã cao lên rất nhiều, đến 187 cm, và trở thành vận động viên xuất sắc.

    Các nhà nghiên cứu cho biết, tập luyện đúng phương pháp làm tăng quá trình trao đổi chất và tuần hoàn máu, tăng tiết hoóc môn tăng trưởng GH, tăng trọng khối xương. Việc tập cường độ cao 1,5-2 giờ mỗi ngày có thể làm tăng GH lên 3 lần. Ở những người tập ban ngày, về đêm lại thấy tăng GH lần nữa.

    Việc tập nhẹ nhàng trong một thời gian ngắn (như thể dục buổi sáng, đi bách bộ) hay tập quá lâu, quá nặng nhọc (chạy maraton, cử tạ...) cũng không thúc đẩy phát triển chiều cao.

    Cần ngủ đủ

    Giấc ngủ rất quan trọng vì quá trình phát triển chiều dài xương trẻ em diễn ra vào ban đêm. Gần đây, các nhà khoa học Mỹ đặt một thiết bị cảm biến vào xương chân những con cừu non và nhận thấy 90% sự phát triển xương diễn ra trong lúc đang ngủ, hoặc đang nghỉ ngơi.

    Dùng thuốc tăng chiều cao

    Đó là chế phẩm chứa hoóc môn tăng trưởng GH, áp dụng cho trẻ thấp lùn do thiếu hoóc môn này, do bác sĩ chỉ định và theo dõi. Việc điều trị đạt kết quả tốt nhất khi trẻ 3-7 tuổi.

    Tuy nhiên, đây là phơng pháp rất tốn kém, và trẻ phải được tiêm hằng ngày cho đến hết tuổi dậy thì hoặc khi đạt chiều cao bình thường.

    Phẫu thuật kéo dài chân

    Sau tuổi 22, hoóc môn tăng trưởng, chế độ ăn và tập luyện đều không giúp tăng chiều cao nữa. Nếu tha thiết muốn cao thêm chỉ còn hy vọng cuối cùng là phẫu thuật kéo dài xương chân. Đây là phương pháp do giáo sư Ilizarôp người Nga đề xướng từ nửa thế kỷ trước. Kỷ lục kéo dài xương -33 cm - do một bác sĩ Mỹ lập.

    Các bác sĩ cắt rời một chỗ trên đoạn xương cần kéo dài, xuyên các đinh ốc qua cả hai đoạn xương rời ra đó, rồi gắn vào khung. Đến ngày thứ 6, họ bắt đầu chỉnh vít cho hai đoạn xương rời cách nhau 1 mm, hai đầu xương sẽ phát triển để nối với nhau. Khi xương mới liền, bác sĩ lại điều chỉnh vít giãn ra 1mm nữa, cứ như vậy cho đến khi đạt chiều dài hợp lý.

    Trung bình để kéo dài xương chân thêm 5-7 cm, bệnh nhân phải mang khung cố định trong 10-12 tháng. Sau 1 tuần nằm viện, người bệnh có thể về nhà, điều chỉnh khung theo hướng dẫn.

    Tuy nhiên, phương pháp này tốn kém và mất nhiều thời gian nên khó áp dụng rộng rãi.

    Sưu tầm : http://sodepcattuong.com
    Chỉnh sửa lần cuối bởi truongan_tm09; 26/01/2010 vào lúc 10:01 AM.
    • 22 Bài viết

    • 48 Được cảm ơn

    #4
    “Bật mí” bí quyết dạy con thông minh của người Nhật

    Giúp con ngoan, thông minh ngay từ khi mới sinh ra, ******* chia sẻ một số các kinh nghiệm dạy con của người Nhật. Hãy xem có thể áp dụng được với bé yêu của mình những điều gì nào?
    [IMG]http://www.**************/anh-tre-tho/2011/03/23/1260265284a.jpg[/IMG]
    Không ai có thể phủ nhận: “Người Nhật rất thông minh”. Nhưng tất cả đó cũng phần lớn nhờ cách dạy dỗ của bố mẹ với con cái ngay từ khi con nhỏ mà nên.

    ******* sẽ lần lượt chia sẻ với các mẹ cách dạy con của người Nhật thông qua các giai đoạn: từ 0 – 3 tháng, từ 4 - 6 tháng, từ 7 - 10 tháng, từ 1-2 tuổi.

    Giai đoạn sơ sinh từ 0 – 3 tháng

    Đây là giai đoạn bé có thể tiếp thu và học được nhiều thứ nhất. Bố mẹ hãy tận dụng cơ hội này để dạy bé nhé. Quan trọng nhất là mọi hoạt động của bé đều hướng vào 5 giác quan chính là: thị giác, thính giác, xúc giác, vị khác và khứu giác

    Mắt nhìn

    Mẹ đừng nghĩ em bé mới sinh chưa biết gì hết nhé! Hãy để treo trên tường của phòng bé những bức tranh đầy màu sắc. Ngay trên các kệ hoặc giá sách (nếu có) hoặc các đồ vật trong phòng, đồ chơi, cần có những đồ chơi nhiều màu sắc tươi sáng.

    Theo kinh nghiệm của các bà mẹ Nhật: Nếu bé mới sinh, dưới một tháng tuổi, mỗi ngày cho bé nhìn hình kẻ ka-rô ô đen trắng, mỗi ngày 3 phút, liên tục như vậy trong vòng một tuần. Khả năng tập trung của bé, từ lúc chỉ chưa đầy 5 giây, sẽ tăng lên 60- 90 giây. Khả năng tập trung cao độ, sẽ liên quan tốt tới việc học nhiều điều sau này. Khả năng tập trung là nền móng của khả năng học tập.

    Màu sắc mà em bé sơ sinh thích, không phải như bố mẹ vẫn nghĩ là màu hồng cho bé gái hay màu xanh lơ cho bé trai. Màu sắc mà em bé thích nhất là 2 tông màu rõ ràng sắc nét đen và trắng.

    Nên dán bảng chữ cái gần giường bé ngủ với những chữ cái được in màu đỏ, to, rõ ràng. Em bé được làm quen với chữ cái từ lúc lọt lòng khi lớn lên, nhìn thấy chữ sẽ rất thích thú.
    Bế em bé tới gần bảng chữ cái, mỗi ngày 1 một lần, mỗi lần 2,3 giây thôi, lặp đi lặp lại như vậy, cũng khiến bé vui sướng vùng vẫy chân tay mỗi khi được bé tới gần bảng chữ cái đó.

    Tai nghe

    Hàng ngày, mẹ nên cho bé nghe những bản nhạc có chọn lọc. Mỗi lần chỉ nghe khoảng 15 phút, mỗi ngày nghe khoảng 30 phút là được. Nên để bé nghe những bản nhạc nhẹ nhàng với âm lượng không quá lớn.

    Nhưng nếu để em bé nghe băng hay đĩa CD trong thời gian dài, em bé sẽ quen và thích tiếng máy, tiếng băng đĩa hơn và không có biểu hiện cảm xúc với tiếng nói thực của người mẹ.

    Với các bé gần 3 tháng, khi cho em bé nghe nhạc, hãy cho em bé đứng trên đầu gối mẹ, cho em bé đu đưa từ sau ra trước theo nhịp nhạc xem sao.

    Mẹ đừng quên nói chuyện nhiều với em bé từ khi lọt lòng. Khi cho em bé bú, khi thay tã lót, khi tắm cho bé, hãy nhẹ nhàng nói chuyện với bé.

    Vừa thay tã lót cho em bé, vừa cầm nắm tay, chân bé vừa nói “Đây là cái tay này, tay, tay, tay” lặp đi lặp lại. Đó là cách dạy em bé rất hiệu quả.

    Đọc thơ, hát cho em bé nghe bằng giọng thực của người mẹ. Tuyệt đối không được cho em bé xem TV, chỉ cho em bé xem TV khi đã tròn 3 tuổi.

    Tay sờ

    Bú sữa mẹ, đây là bài học đầu tiên bằng xúc giác của em bé. Chúng ta hãy quan sát kĩ một em bé bú mẹ, sẽ thấy, thao tác tìm ti mẹ, ngậm miệng vào ti, mút sữa tiến bộ rất nhanh. Lúc đầu còn bị đập mũi hay vập cằm khó khăn lắm mới tìm được đúng đầu ti mẹ để đúng vào miệng, nhiều người mẹ lấy tay giúp con, song tự em bé có thể điều chỉnh được rất nhanh.

    Người mẹ nên cố tình để đầu ti chạm vào những vị trí khác môi, miệng bé như hàm trên, hàm dưới, cằm, má phải, má trái. Làm vậy để em bé nhanh chóng học được cách điều chỉnh không gian, cảm nhận được vị trí trên- dưới, phải-trái.
    Không chỉ bằng đầu ti mẹ như trên, còn có thể dùng ngón tay, cái khăn xô, hay cái ống hút cọ nhè nhẹ hàm trên, hàm dưới của bé. Bé sẽ biết được cảm giác khi được liếm, cắn vào những vật này, và sẽ không cắn mút những thứ này như khi mút ti mẹ.

    Hãy cho em bé cầm nắm ngón tay của mẹ. Em bé khi mới lọt lòng được huấn luyện cầm nắm đồ vật ngay, sẽ rất nhanh khéo léo. Càng lúc mới sinh, em bé càng có khả năng nắm giữ đồ vật gì đó bên mình, song khả năng này lại biến mất rất nhanh. Để cho lực nắm này của em bé không mất đi, chúng ta nên luyện tập cho em bé cầm đồ vật từ khi mới chào đời.

    Lưu ý: Khi luyện tập cho con cầm nắm, bố mẹ không được rời mắt nửa bước, kẻo bé va quệt đồ vật vào đầu, vào mặt, vào người, thành tai nạn.

    Cho bé nếm thử
    Mẹ có thể dùng khăn xô thấm 1 ít nước nguội, nước lạnh, nước vị ngọt, nước vị mặn, nước vị chua, từng vị một cho bé nếm. Đây là cách kích hoạt vị giác rất tốt.
    Ngửi mùi
    Hãy cho em bé ngửi hương thơm của hoa. Bé sẽ ngoái đầu về phía có hương thơm đó. Nếu cho em bé ngửi nhiều mùi khác nhau, khứu giác sẽ được kích thích phát triển.
    Bảo Châu
    (Tổng hợp)
    Giúp với: tớ đang băn khoăn giữa học Quản trị của Hoc vien Tai chinh hay của Đại học Ngoại Thương?
    • 193 Bài viết

    • 97 Được cảm ơn

    #5
    Bạn post tiếp đi nhé!
    • 27 Bài viết

    • 3 Được cảm ơn

    #6
    Bạn post tiếp đi nhé, con mình được 6 tháng rồi, để mình tham khảo với. Thanks
    • 413 Bài viết

    • 85 Được cảm ơn

    #7
    Thanks bạn. Mình chưa có bé, nhưng để dành mai mốt có bé sẽ áp dụng :Smiling:
    • 329 Bài viết

    • 146 Được cảm ơn

    #8
    bé nhà mình rất thik màu đỏ,nó hay quay ra nhìn màu đỏ,ngày mai mình sẽ áp dụng caro đen trắng,còn việc tìm ti thì hhiii đúng như bạn đã nói,nó khôn thật đó, mình buồn ngủ ko giữ ti ,nó tự tìm bằng cách đớp đớp rồi xoay bên nọ bên kia,nhìu lúc nhìn cái bình sữa nó con lấy tay quơ lên,vì mỗi lần mâm mình đều gọi nó bình sữa ngon,sữa ngon,và để nó nhìn 1 lúc mới cho mâm mâm
    • 33 Bài viết

    • 20 Được cảm ơn

    #9
    em có đọc 1 bài viết về sự khác biệt về cách nuôi dạy của nhật và tq qua mắt người mẹ trẻ . thấy nhật dạy con hay ơi là hay , em nhớ mang máng là họ dạy trẻ em phải xách tất cả đồ cho ba mẹ , ông bà , rồi hội thao từ lớp mầm , rồi dạy xếp đồ vào từng túi ... cực kì tinh tế luôn . hình như đọc tại WTT mình nè !
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 8,033 Bài viết

    • 7,064 Được cảm ơn

    #10
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nguyệt Nguyên Xem bài viết
    em có đọc 1 bài viết về sự khác biệt về cách nuôi dạy của nhật và tq qua mắt người mẹ trẻ . thấy nhật dạy con hay ơi là hay , em nhớ mang máng là họ dạy trẻ em phải xách tất cả đồ cho ba mẹ , ông bà , rồi hội thao từ lớp mầm , rồi dạy xếp đồ vào từng túi ... cực kì tinh tế luôn . hình như đọc tại WTT mình nè !
    Các bạn vào đây tham khảo thêm
    http://www.webtretho.com/forum/f133/...3/index11.html
    • 43 Bài viết

    • 4 Được cảm ơn

    #11
    mình thấy họ dạy bé có tính tự lập ngay từ nhỏ rất cao. Ở VN mình thì vẫn còn khác xa lắm
    • 9,029 Bài viết

    • 1,574 Được cảm ơn

    #12
    Hay quá, thế mà mình không biết sớm nên bỏ lỡ giai đoạn đầu của con rùi, tiếc thật. Chủ top post tiếp nhé!
    • 859 Bài viết

    • 416 Được cảm ơn

    #13
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Smod3 Xem bài viết
    Các bạn vào đây tham khảo thêm
    http://www.webtretho.com/forum/f133/...3/index11.html
    Em cảm ơn MOD nha. Có khi in ra cho cả nhà cùng đọc. Em đang bị chỉ trích là quân phiệt, là dã man, là tàn bạo, là bóc lột sức lao động trẻ em đây ạ.
    • 2 Bài viết

    • 15 Được cảm ơn

    #14
    Sách này của 1 tác giả người Nhật, mình đọc thấy hay lắm. Hi vọng các mẹ đọc thấy hữu ích, mẹ nào có con lớn rồi thì để kinh nghiệm cho bé sau, còn mẹ nào sắp sinh thì đọc để dạy con. Còn mẹ nào có con trong độ tuổi từ 0-7 tuổi thì tham khảo thêm. Chúc các mẹ dạy con thnàh công. Mình chỉ post dần dần thôi nhé, mỗi ngày 1 chương để các mẹ dễ đọc và dễ hình dung.:Smiling:
    Phương pháp giáo dục từ 0-1 tuổi
    1) Kể những câu chuyện có nội dung cho trẻ khi con đường phát triển còn rộng mở
    2) 4 bậc trong giai đoạn 0-1 tuổi
    3) Giai đoạn thứ nhất từ 0-3 tháng
    Đây là giai đoạn trẻ có năng lực tiếp thu lớn nhất. Chúng ta hãy nghĩ cách kích hoạt khả năng tiếp thu này bằng các giác quan của trẻ, đó là 5 giác quan chính- thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác.
    ❉ Thị giác:
    Xung quanh giường của em bé mới sinh, phải có các bức tranh phong cảnh thế giới nổi tiếng. Phải để tâm tới việc bao bọc bé trong một môi trường đầy sắc thái phong phú. Trên kệ, giá sách, phải trưng bày những món đồ chơi có sắc màu tươi sáng, hay những khối hình gỗ xếp (tsumiki) màu sắc, chẳng hạn thế.
    Nếu bé mới sinh, dưới một tháng tuổi, mỗi ngày cho bé nhìn hình kẻ ka-rô ô đen trắng, mỗi ngày 3 phút, liên tục như vậy trong vòng một tuần. Khả năng tập trung của bé, từ lúc chỉ chưa đầy 5 giây, sẽ tăng lên 60- 90 giây. Khả năng tập trung cao độ, sẽ liên quan tốt tới việc học nhiều điều sau này. Khả năng tập trung là nền móng của khả năng học tập.
    Màu sắc mà em bé sơ sinh thích, không phải là hồng hay xanh lơ. Màu sắc mà em bé thích nhất là 2 tông màu rõ ràng sắc nét đen và trắng. Em bé thích cái bộ mobile (có 1 trục ở giữa, treo lơ lửng các hình thù thành 1 chùm, quay quay) màu đen trắng hơn là bộ mobile có màu cầu vồng nhàn nhạt pha trộn các màu.
    Chưa được 9 tháng tuổi thì hệ thần kinh thị giác chưa phát triển hoàn chỉnh, em bé chưa thể phân biệt các màu sắc đỏ, xanh, vàng. Nếu đến 6 tháng tuổi mà bé chán nhìn hình kẻ vằn ngang và ô kẻ ka-rô thì đổi sang mobile có ô kẻ ka-rô nhỏ hơn (từ ô cạnh 6cm xuống ô cạnh 2 cm) xem sao. Nếu làm vậy mà bé vẫn không thích thú lắm thì dừng việc cho bé nhìn ô trong một thời gian.
    Nên dán bảng chữ cái gần giường bé ngủ. Dán sẵn một bảng chữ cái với những chữ cái được in màu đỏ, to, rõ ràng. Em bé được làm quen với chữ cái từ lúc lọt lòng khi lớn lên, nhìn thấy chữ sẽ rất thích thú.
    Bế em bé tới gần bảng chữ cái, mỗi ngày 1 một lần, mỗi lần 2,3 giây thôi, lặp đi lặp lại như vậy, cũng khiến bé vui sướng vùng vẫy chân tay mỗi khi được bé tới gần bảng chữ cái đó.
    ❉ Thính giác:
    Tiếp theo, hàng ngày nên cho em bé nghe những bản nhạc có chọn lọc. Mỗi lần chỉ nghe khoảng 15 phút, mỗi ngày nghe khoảng 30 phút là được. Nên để bé nghe những bản nhạc nhẹ nhàng với âm lượng không quá lớn. Phải chú ý rằng, nếu để em bé nghe băng hay đĩa CD trong thời gian dài, em bé sẽ quen và thích tiếng máy, tiếng băng đĩa hơn và không có biểu hiện cảm xúc với tiếng nói thực của người mẹ.
    Khi cho em bé nghe nhạc, hãy cho em bé đứng trên đầu gối mẹ, cho em bé đu đưa từ sau ra trước theo nhịp nhạc xem sao. Tức là 2 tay mẹ giữ nách em bé, hơi nhấc em bé lên cho chân không chạm tới gối mẹ, rồi lại đặt xuống cho chân bé chạm tới gối mẹ. Cũng có thể cho em bé nghe nhạc múa ba lê.
    Điều quan trọng là phải nói chuyện nhiều với em bé từ khi lọt lòng. Khi cho em bé bú, khi thay tã lót, khi tắm cho bé, hãy nhẹ nhàng nói chuyện với bé.
    Vừa thay tã lót cho em bé, vừa cầm nắm tay, chân bé vừa nói “Đây là cái tay này, tay, tay, tay” lặp đi lặp lại. Hoặc là vừa thay tã lót cho bé, vừa cho bé xem quả bóng hay con búp bê vừa nói “Đây là quả bóng này, quả bóng, quả bóng” “Đây là con búp bê, búp bê, búp bê” cũng là cách dạy em bé.
    Bà Thompson người Anh (gốc Nhật, lấy chồng người Anh, đang làm việc cho tổ chức UNESCO) là người khai sáng ra phương pháp dạy ngôn ngữ cho em bé từ khi lọt lòng- phương pháp giáo dục Kal-bitte). Từ khi em bé được 2 tuần tuổi, ngày nào cũng đưa em bé tới công viên gần nhà, cho em bé cầm nắm bông hoa, cái lá và dạy “đây là bông hoa này, hoa, hoa”, cũng làm như vậy để dạy em bé từ “cái lá, lá”. Cứ làm vậy, khi em bé này được 8 tháng tuổi, đã biết phát âm chính xác từ “hoa” bằng tiếng Anh, và sau đó nói trơn tru như suối chảy.
    Em bé này, đã có thành tích vượt trội các bạn khi học mẫu giáo và tiểu học. Khi 10 tuổi em được đặc cách xếp vào lớp học có trình độ phù hợp với học sinh cấp 2, sau 1 tháng đi học, làm bài kiểm tra em đạt điểm cao nhất lớp.
    Khi 15 tuổi, em thi đậu vào trường đại học Cambridge, song vì tuổi còn quá nhỏ nên không được nhập trường. Cùng lúc đó, em lại được 6 trường đại học khác trong thủ đô London đón nhận, em đã chọn khoa y trường đại học London. Và em luôn có thành tích xuất sắc hơn cả các anh chị cùng lớp. Hiện nay em mới 18 tuổi đang theo học ở trường đại học này.
    Chúng ta hãy noi gương bà Thompson cách dạy con như vậy, hàng ngày đưa bé ra công viên, cho bé cầm hoa và dạy “đây là bông hoa, hoa, hoa”.
    Đọc thơ, hát cho em bé nghe bằng giọng thực của người mẹ. Tuyệt đối không được cho em bé xem TV. Chỉ cho em bé xem TV khi đã tròn 3 tuổi. Chúng ta nên nhớ kĩ điều này.
    ❉ Xúc giác:
    Từ lúc lọt lòng, em bé đã bắt đầu học rất nhiều điều và ghi nhớ rất kĩ lưỡng vào bộ nhớ của mình, những gì nhìn thấy, nghe thấy... hình thành nên nếp tư duy rõ nét trong não bộ.
    Bú sữa mẹ, đây là bài học đầu tiên bằng xúc giác của em bé. Chúng ta hãy quan sát kĩ một em bé bú mẹ, sẽ thấy, thao tác tìm ti mẹ, ngậm miệng vào ti, mút sữa tiến bộ rất nhanh. Lúc đầu còn bị đập mũi hay vập cằm khó khăn lắm mới tìm được đúng đầu ti mẹ để đúng vào miệng, nhiều người mẹ lấy tay giúp con, song tự em bé có thể điều chỉnh được rất nhanh.
    Người mẹ nên cố tình để đầu ti chạm vào những vị trí khác môi, miệng bé như hàm trên, hàm dưới, cằm, má phải, má trái. Làm vậy để em bé nhanh chóng học được cách điều chỉnh không gian, cảm nhận được vị trí trên- dưới, phải-trái.
    Không chỉ bằng đầu ti mẹ như trên, còn có thể dùng ngón tay, cái khăn xô, hay cái ống hút cọ nhè nhẹ hàm trên, hàm dưới của bé. Bé sẽ biết được cảm giác khi được liếm, cắn vào những vật này, và sẽ không cắn mút những thứ này như khi mút ti mẹ.
    ❉ Vị giác
    Dùng khăn xô thấm 1 ít nước nguội, nước lạnh, nước vị ngọt, nước vị mặn, nước vị chua, từng vị một cho bé nếm. Đây là cách kích hoạt vị giác rất tốt.
    ❉ Lực nắm
    Hãy cho em bé cầm nắm ngón tay của mẹ. Em bé khi mới lọt lòng được huấn luyện cầm nắm đồ vật ngay, sẽ rất nhanh khôn.
    Càng lúc mới sinh, em bé càng có khả năng nắm giữ đồ vật gì đó bên mình, song khả năng này lại biến mất rất nhanh.
    Để cho lực nắm này của em bé không mất đi, chúng ta nên luyện tập cho em bé cầm đồ vật từ khi mới chào đời.
    Như ở chương I đã trình bày, phu nhân Stonar người Mỹ đã cho con mình tập cầm nắm cái que nhỏ từ khi nó được 15 ngày tuổi. Sau này đứa con đó của bà trở thành đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh. Mới có 1 tháng rưỡi tuổi đã biết ngồi, trông như một em bé bình thường 4 tháng tuổi.
    Tất nhiên phải lưu ý các bậc cha mẹ, khi luyện tập cho con cầm nắm, không được rời mắt nửa bước, kẻo bé va quệt đồ vật vào đầu, vào mặt, vào người, thành tai nạn.
    ❉ Khứu giác
    Hãy cho em bé ngửi hương thơm của hoa. Bé sẽ ngoái đầu về phía có hương thơm đó. Nếu cho em bé ngửi nhiều mùi khác nhau, khứu giác sẽ được kích thích phát triển tốt.
    Giai đoạn thứ hai, từ 4-6 tháng
    Giai đoạn này, em bé có thể nhìn xa khoảng 3 mét. Tay có thể cầm nắm đồ vật một cách có ý thức. Em bé ở độ tuổi này, thay vì để mặc em một mình nằm nhìn cái mobile xanh đỏ, hãy luôn để em bé ở gần mẹ của chúng. Có thể cho em bé ngồi ở cái ghế giành riêng cho em bé. Với những em bé mà từ khi còn trong bụng mẹ đã được nghe nhiều câu chuyện của mẹ kể, sau khi sinh khoảng 3 tháng là có thể phát tiếng ô, a, cha cha... khoảng một tuổi sẽ bộc lộ là đứa trẻ thông minh lanh lợi hơn hẳn những em bé cùng tuổi mà lúc trong bụng mẹ không được nghe mẹ kể chuyện.
    ❉ Thị giác:
    Dẫn bé tới gần bức tranh nổi tiếng, nói chuyện cho bé nghe về bức tranh đó. Khi dẫn bé đi dạo chơi, nhất thiết phải bằng mọi cách để cho bé ghi nhớ càng nhiều ấn tượng về thế giới bên ngoài càng nhiều càng tốt. Vừa hướng con nhìn vào cảnh sắc xung quanh, mẹ phải vừa nói bằng lời những từ ngữ về cảnh sắc đó. Hoặc là bế em bé đi dạo trong nhà, nhìn thấy đồ vật gì trong nhà cũng đọc tên đồ vật đó lên, lặp đi lặp lại nhiều lần cho bé nghe.
    Dẫn bé tới gần bảng chữ cái, chỉ vào từng chữ, đọc tên chữ cái, lặp đi lặp lại nhiều lần. Chỉ bằng cách này, có em bé người Mỹ 6 tháng tuổi đã nhớ hết mặt chữ cái tiếng Anh.
    Hãy kiểm tra xem khi bật đèn sáng thì em bé có nhìn về phía đèn sáng không, để kiểm tra thị lực của bé. Phải làm vậy để sớm phát hiện ra những em bé bị khuyết tật thị giác, có cách xử lí và luyện tập thị giác càng sớm càng tốt.
    Soi một ngọn đèn nhỏ vào mắt em bé, xem em bé co nhìn thẳng vào tia sáng đó không. Di chuyển vị trí ngọn đèn lúc gần, lúc xa xem em bé có điều chỉnh mắt nhìn theo không.
    ❉ Thính giác
    Cho em bé ra công viên, cho em bé nghe những tiếng động khẽ khàng của thiên nhiên. Nhớ phải nói nhiều về các từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng, thiên nhiên cho em bé. Cho em bé vào tắm bồn cùng với mẹ, 2 mẹ con thư giãn và nói chuyện thật nhiều. (Điểm này có vẻ khó thực hiện được ở Việt nam, vì không có tập quán tắm bồn. Lại càng không có tập quán 2 mẹ con tắm chung. Và cũng ít mẹ dám cho con tắm chung với mẹ sợ con dễ bị viêm họng).
    Có 2 điểm cần lưu ý khi nói chuyện với em bé
    1- Phải dùng giọng nói từ tốn, diễn cảm, vui vẻ. Cái giọng trầm trầm thấp thấp là không được.
    2- Dùng cả điệu bộ chân tay để hỏi bé, như “Con đói bụng chưa?” “Con muốn đi tè à?” “Con tè dầm ra bỉm rồi à?”... Khi hỏi, với giọng nói diễn cảm, tự nhiên, đó sẽ là giọng nói lôi cuốn bé. Bé sẽ nhớ một điều, là hỏi thì phải trả lời. Những câu trả lời đầu tiên của em bé, đó chính là những âm tiếng em bé phát ra từ cổ họng, nghe như “gừ, gừ’ “chà, chà’...
    Gọi, nói chuyện vào tai phải của bé. Em bé sơ sinh đến 3 tháng tuổi có tai phải nhạy cảm hơn. Vì vậy khoảng 4 tháng tuổi vẫn có thể gọi em bé từ bên tai phải cũng được.
    Khi nói chuyện với em bé, phải nhìn chăm chú vào mắt em bé. Ví dụ mẹ luôn bắt đầu câu chuyện bằng cách nói “Yuri ơi, mẹ đây. Mẹ yêu con lắm. Yuri của mẹ ngoan lắm” chẳng hạn. Những câu như vậy sẽ làm kí ức phát triển dần lên.
    Khi nghe bé nói, phải luôn nhìn vào mắt bé, chờ đợi câu trả lời của bé. Bé nói gì liền bắt chước bé ngay.
    Đưa đồ chơi ra trước mặt bé làm “mồi” nói chuyện. “Con ơi, con búp bê này! Con thấy không? Mẹ đang cầm con búp bê đấy”.
    Nếu bé không thích, cũng không nên bỏ dở. Quan trọng là phải lặp đi lặp lại nhiều lần.
    ❉ Xúc giác.
    Hãy kích hoạt khả năng tóm, nắm của bàn tay bé. Hãy cho bé cầm nắm nhiều đồ vật khác nhau như len, bông, gỗ, vải sa tanh, miếng mút, giấy tissue... chẳng hạn.
    Hãy để đồ chơi ở trong tầm với, tóm lấy của trẻ.
    Bình thường khi trẻ được 5,6 tháng thì biết đưa tay ra với đồ vật. Song nếu luyện tập cho bé tập cầm, nắm, với từ sớm, đến khoảng 3 tháng tuổi là bé đã sử dụng tay rất tốt để làm từng thao tác cầm, nắm, với thành thạo. Những bé đó có ý thức học tập rất mạnh mẽ, chóng trưởng thành.
    Cho bé sờ tay vào chậu nước ấm ấm, lại sờ vào chậu nước lạnh, luân phiên nhau. Cũng dạy bé xòe bàn tay, nắm bàn tay ở trong nước xem sao.
    * Vận động.
    Cho bé nằm sấp lên bụng mẹ/bố, để bé ngóc đầu dậy được càng lâu càng tốt.
    Giai đoạn thứ 3 từ 7-10 tháng
    ● Thị giác
    Mở cửa sổ ra, cho con xem cây cối đu đưa trong gió. Cho con xem chuông gió, mỗi khi gió thổi tới là có tiếng kêu vui tai phát ra.
    Cho con ra công viên, xem các anh chị đang chơi. Trên đường đến công viên, trên đường về quê…vừa đi vừa giảng giải nói chuyện với con. Hãy bế con trong tay và đi dạo, nói chuyện với con. Để con ngồi xe đẩy đi đây đi đó, trẻ không cảm nhận được mỗi bước đi.
    Em bé được kề da áp thịt với cha mẹ mình, có cảm giác yên tâm, và sớm trở thành đứa trẻ thông minh.
    Cho em bé xem nhìn nhiều đồ chơi di động. Cầm cái xúc xắc lắc lắc cho kêu ở nhiều vị trí khác nhau để hướng tầm nhìn của em bé tới đó.
    ● Thính giác
    Cho em bé nghe những bản nhạc nhẹ nhàng. Trẻ không cảm nhận được âm nhạc khi luôn bị nghe nhạc rốc, âm thanh lớn, dai dẳng từ bài này qua bài khác.
    Gõ chuông màu sắc bé nghe, bé sẽ nhớ sự khác nhau của các cung bậc nốt nhạc. Chú ý xem trẻ phản ứng thế nào trước những âm thanh lạ tai khác nhau. Ví dụ như bất ngờ bật radio lên chẳng hạn, như vậy sẽ làm cho khả năng phân biệt âm thanh của trẻ được phát triển hơn.
    Cho trẻ nghe những bài hát ru con của các nước trên thế giới.
    ● Xúc giác
    Cho trẻ nắm ngón tay cha mẹ. Cho trẻ cầm tờ giấy thích xé thì xé, thích vò thì vò.
    Cho trẻ đeo vòng tay, hoặc là buộc nơ vào cổ tay bé. Để đồ vật vừa tầm với để trẻ tập với lấy đồ.
    Để vào giường cho trẻ bộ đồ playgym (như cái mái nhà nhỏ, treo lủng lẳng nhiều món đồ chơi) để cho bé làm được nhiều động tác tay như tóm, gõ, đẩy, quay tròn, kéo…
    Không được cấm trẻ mút tay.
    Mút tay đó là dấu hiệu cho thấy trẻ bước vào giai đoạn phát triển mới. Đó là khả năng đưa đồ vật vào miệng của mình đã xuất hiện. Không nên cấm trẻ mút tay mà làm mất tính tự tin của trẻ.
    Từ khoảng 6 tháng tuổi, 2 mẹ con hãy chơi bóng với nhau.
    Cho trẻ chơi trò xếp hộp nhỏ lồng vào hộp to. Chơi trò đóng nắp cho hộp.
    ● Vận động
    Cho trẻ bò thỏa thích. Để bày trước mắt trẻ nhiều món đồ nó thích để trẻ bò tới nơi lấy. Tức là để cho chân của bé được vận động hết sức. Hãy để trẻ bò thật nhiều trong suốt quãng thời gian tập bò, không được nôn nóng cho trẻ vào xe tập đi sớm.
    Bò là hoạt động kích thích phát triển gân cốt, kích thích kĩ năng điều khiển vận động nhất.
    ● Ngôn ngữ
    Điều quan trọng nhất đối với trẻ trong thời kì này là sự phát triển về ngôn ngữ. Hãy nói chuyện với trẻ thật nhiều. Được 8 tháng tuổi nên cho trẻ cai sữa. Nguyên nhân để trẻ phát triển ngôn ngữ chậm là vì cai sữa muộn.
    Giai đoạn thứ sáu, từ 11-12 tháng
    ❉Thị giác.
    Cho trẻ xem các sách có nhiều tranh, sách bằng hình ảnh. Đưa trẻ đến trước bảng chữ cái, mỗi ngày một chữ, đọc đi đọc lại nhiều lần cho trẻ nghe. Cho trẻ đứng trước gương và tập nói chuyện với mẹ.
    Hàng ngày dẫn trẻ đi dạo, giới thiệu cho trẻ xem các con vật ưa thích, các phương tiện đi lại. Giấu đồ chơi của trẻ bên dưới hộp rồi để trẻ tự tìm ra, có thể dùng 2 chiếc hộp và đố trẻ lấy đúng.
    ❉Thính giác.
    Bắt chước tiếng kêu của các con vật và để trẻ nhặt đúng tấm card có hình con vật đó.
    Hỏi những câu hỏi như: Mắt con đâu? Tai con đâu? và dạy trẻ dùng tay chỉ. Thời kỳ này trẻ có thể phân biệt được các bộ phận của cơ thể.
    Dạy trẻ những hiểu những câu từ cơ bản như: đưa cho mẹ cái gì, cái đó không được.
    Thời kỳ này trẻ hay đập, vỗ mọi thứ, bất kể là gì. Có thể thử cho trẻ chơi những đồ có tính chất cơ khí, ví dụ như món đồ mà hễ lắc là phát ra tiếng kêu, hoặc khi ấn vào sẽ có âm thanh. Cũng có thể chơi trò bắt chước tiếng mẹ hay tiếng các con vật…
    ❉Xúc giác.
    Cho trẻ một tờ giấy để vo tròn lại, hoặc cho trẻ chơi với giấy bóng kính. Động tác vo tròn giấy sẽ tập cho trẻ dần dần biết vẫy tay, ấn nút, vỗ tay…
    Dạy cho trẻ nhặt những món đồ nhỏ để luyện cách cầm nắm bằng ngón cái và các ngón khác. Điều này rất quan trọng vì chỉ có con người mới làm được.
    ❉Tri thức
    Dạy trẻ cách thao tác những đồ chơi đơn giản. Đặt một chiếc hộp âm nhạc trước mặt trẻ, lên dây cót, để hộp xoay rồi quan sát xem khi chiếc hộp dừng lại trẻ sẽ làm thế nào. Buộc đồ chơi trong chiếc khăn tay và quan sát trẻ. Tiếp theo buộc một bộ phận của đồ chơi. Sau đó giấu vào hộp, giấu dưới gậm bàn… Đầu tiên trẻ sẽ chưa biết tìm ra vật bị giấu, nhưng dần dần sẽ làm được. Có rất nhiều trò chơi theo kiểu đó. Hãy thử để trái bóng từ chỗ trẻ không với tới lên bàn tay và mang đến gần trẻ. Để đồ chơi lại gần chân trẻ trong khi trẻ đang ngủ. Nếu đồ chơi để ở chỗ cao hơn trẻ có lấy được không? Trẻ có giẫm vào đồ chơi không? Đổi món đồ gần chân trái, rồi chân phải xem sao…
    Dạy trẻ bắt chước theo mẹ. Bắt chước há miệng, vỗ tay, xoa tay, nắm tay thành nắm đấm, gõ 2 món đồ vào nhau… Thử cho trẻ chơi trò xếp gạch lên cao, cao bằng mẹ chẳng hạn. Để chiếc gối chắn trước bức tường vừa xếp xem trẻ sẽ làm gì. Để đồ chơi ở cạnh bàn, rồi chắn cái gối giữa trẻ và đồ chơi, nếu trẻ đẩy mạnh cái gối thì đồ chơi sẽ rơi mất. Nhiều lần như vậy thì trẻ sẽ biết cách lấy gối một cách khéo léo.
    Giấu đồ chơi dưới 3 món đồ khác trẻ cũng tìm được. Đầu tiên trước mặt trẻ úp cái bát lên món đồ, trẻ sẽ lấy được ngay. Phủ thêm chiếc khăn giấy lên trên, trẻ vẫn lấy được. Tiếp tục giấu dưới tạp dề của mẹ để trẻ tìm. Khi trẻ biết lấy đồ dưới 2 món khác thì 3 món trẻ cũng sẽ làm được. Hãy ghi nhớ lại xem khi nào trẻ làm được những việc đó.
    ❉Vận động
    Cho trẻ đu xà.
    Với trẻ biết đi thì cho trẻ đi thật nhiều.
    Cho trẻ leo lên cao, đá những quả bóng to, ném bóng nhỏ.
    ❉ Chữ và ngôn ngữ.
    Đây là thời kỳ quan trọng nhất cho việc phát triển từ vựng. Từng bước hướng dẫn để trẻ biết làm theo lời mẹ nói. Về con chữ thì trẻ có thể nhớ được 1 chữ, từ đó cho trẻ chơi trò tìm xem chữ đó nằm ở đâu. Khi trẻ nhớ được chữ thì viết chữ đó vào tấm card, rồi từ đó gia tăng dần số tấm card. Tấm card không phải để cho trẻ đọc mà là để cho trẻ nghe hiểu. Nếu trẻ chưa nhớ được cũng không cần sốt ruột, có khi để nhớ được chữ phải mất cả nửa năm. Hãy kiên nhẫn và tin tưởng vào sự tiến bộ của trẻ, và điều quan trọng là không được từ bỏ.
    • 35 Bài viết

    • 11 Được cảm ơn

    #15
    Bạn có biết bố mẹ có thể di truyền những yếu tố nào cho trẻ không? Xét từ góc độ di truyền học, trẻ có thể mang những đặc điểm nào của bố mẹ?


    1. Di truyền tuyệt đối

    Màu da: Điều này không thể can thiệp, trẻ sẽ có màu da là màu trung hòa giữa màu da của bố và mẹ. Ví dụ nếu da bố mẹ đều hơi đen thì sẽ không thể sinh ra con có làn da trắng. Nếu bố mẹ một người đen, một người trắng thì thường trẻ sẽ có một màu da không đen không trắng, tuy nhiên cũng có những trường hợp trẻ sẽ có màu da thiên về một người hơn.

    Cằm: Đây là một yếu tố di truyền không thể “thương lượng”, nếu bố mẹ có xương quai hàm to thì con cái chắc chắn cũng như vậy.

    Mắt hai mí: Đây cũng là một yếu tố di truyền tuyệt đối. Có điều thú vị là, nếu người bố có mắt hai mí, khi trẻ được sinh ra có thể là mắt một mí, nhưng khi lớn lên mắt tự phát triển thành hai mí. Ngoài ra, các đặc điểm như mũi cao, mắt to, lông mi dài cũng là những đặc điểm mang tính di truyền từ bố mẹ sang con cái.

    2. Các yếu tố di truyền “một nửa”

    Chiều cao: Bạn chỉ có 30% quyền quyết định chiều cao của mình, có 35% yếu tố chiều cao phụ thuộc vào bố của bạn. Nếu bố mẹ đều không cao thì khả năng sinh con cao lớn chỉ có 30%, điều này cũng phần nào quyết định hiệu quả của việc bạn cố gắng khắc phục chiều cao của mình.

    Béo phì: Nếu bố mẹ có một nguời béo, thì tỷ lệ trẻ béo phì là 40%, điều này cho thấy, béo hay không có một nửa là do yếu tố con người quyết định. Vì vậy, tốt nhất là các bậc cha mẹ cần phải có chế độ ăn uống hợp lý và vận động để giữ cho trọng lượng cơ thể ở trạng thái cân bằng.

    Hói đầu: Hói đầu chỉ di truyền đối với nam giới, tỷ lệ di truyền là 50%, tỷ lệ di truyền bệnh hói đầu từ ông ngoại là 25%.

    Mụn: Đây là một điều luôn luôn khiến lứa tuổi thiếu niên lo lắng và cũng có liên quan đến yếu tố di truyền. Những trẻ có bố mẹ đã từng có nhiều mụn trứng cá có khả năng gặp phải nguy cơ này cao gấp 20 lần so với những trẻ khác.

    3. Các yếu tố di truyền không cao

    Tóc bạc: Yếu tố này có tỷ lệ di truyền rất thấp nên không quá lo lắng.

    4. Các yếu tố di truyền bạn có thể tự tạo ra

    Giọng nói: Thông thường, giọng của con trai thì thường giống bố, giọng của con gái thì giống mẹ. Tuy nhiên, do yếu tố di truyền mà bạn có chất giọng không hay thì bạn hoàn toàn có thể luyện tập để thay đổi.

    Chân thon: Trừ khi do yếu tố di truyền mà chân bạn quá dài hay quá ngắn thì đành phải thuận theo tự nhiên, nhưng một đôi chân thon là điều bạn hoàn toàn có thể sở hữu nếu bạn chịu khó tập luyện hàng ngày.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 496 Bài viết

    • 3,785 Được cảm ơn

    #16
    Sách này do bạn balasat dịch,các bạn có thể xem đầy đủ tại : http://vn.360plus.yahoo.com/kusumihu...=f&id=6&page=5
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 8 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #17
    Trẻ con thường khó tránh khỏi việc nôn ói, song mức độ và liều lượng ở mỗi bé khác nhau. 7 giải pháp dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế được những lần trẻ muốn phun thức ăn ra ngoài:

    1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

    2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi... Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

    3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

    4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

    5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

    6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

    7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 69 Bài viết

    • 71 Được cảm ơn

    #18
    Trẻ trên 3 tuổi đã phát triển hơn hẳn về khả năng học tập và nhận thức, đây là thời điểm tốt để bạn giáo dục và rèn luyện cho trẻ về nếp sống.


    Trong ăn uống, bạn cần thực hiện những thói quen ăn uống tốt để hướng cho trẻ noi theo. Bên cạnh đó, cũng cần cương quyết nói “không” với những thức ăn có hại cho sức khỏe.

    Ăn cùng gia đình: Hãy lên kế hoạchcó một hoặc nhiều hơn những bữa ăn gia đình mỗi ngày. Không khí vui vẻ của bữa ăn gia đình sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn và thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viên. Qua đó, trẻ cũng sẽ học tập được từ người lớn cách thức và ứng xử trong bữa ăn. Nên tránh la mắng hoặc nói về chuyện học hành, công việc để trẻ được ăn uống một cách thoải mái.

    Tập trung vào bữa ăn: Nhiều trẻ hay lơ đễnh khi ăn uống nên không có cảm giác ngon miệng và thậm chí còn dẫn tới đau bao tử. Để trẻ tập trung vào việc ăn uống, bạn nên khuyến khích trẻ nói lên cảm nhận của mình về thành phần, mùi, vị… của những món ăn. Bên cạnh đó, kích thích trí tò mò của trẻ bằng các món ăn có hương vị mới lạ hoặc có cách thức trang trí hấp dẫn, nhiều màu sắc. Không nên cho trẻ vừa ăn vừa chơi hoặc xem ti vi.

    Ăn đủ no: Ăn quá no dẫn đến dư thừa dinh dưỡng, làm cho các tế bào phát triển sớm và dẫn đến béo phì. Khi đến tuổi thiếu niên, khả năng miễn dịch của trẻ dễ bị suy thoái và chức năng của các cơ quan khác cũng đồng thời bị giảm sút.

    Ăn những thực phẩm có lợi cho sức khoẻ: Thực hiện nguyên tắc chọn thức ăn theo mùa để đảm bảo thực phẩm luôn đạt độ tươi ngon nhất và tập cho trẻ ăn những thực phẩm có lợi cho sức khoẻ như ăn sữa chua thay vì kem, trái cây tươi thay cho nước ngọt…

    Nếu có thể, bạn hãy cho trẻ cùng đi chợ và tham gia nấu ăn: Điều này có thể giúp cho trẻ phân biệt được những thực phẩm tốt, xấu khác nhau. Từ đó, trẻ sẽ học hỏi từ bạn cách chọn lựa thực phẩm sao cho an toàn hơn. Việc cho trẻ vào bếp để nấu ăn cùng bạn sẽ có tác dụng giúp trẻ đánh thức cảm giác ngon miệng. Từ đó, việc ăn uống đối với trẻ không còn là cực hình, mà sẽ trở thành niềm thích thú.
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 177 Bài viết

    • 42 Được cảm ơn

    #19
    bạn có thể post đủ sách lên đây ko? mình thấy các pp này rất hay, cũng đang làm theo đây. Thanks bạn đã share nhe !!!
    • 66 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #20
    Mình cũng biết sách này và có 1 bộ ở nhà, để mình post tiếp để các mẹ đọc nhé
    Phương pháp giáo dục từ 1-2 tuổi
    1) Đạt được 3 kỹ năng đáng chú ý
    Đó là
    1- Đi
    2- Nói
    3- Kỹ năng cầm nắm đồ đơn giản
    Ban nghiên cứu giáo dục trẻ nhũ nhi thuộc đại học Havard- Mỹ đã nghiên cứu nhiều trẻ em dưới 6 tuổi và biết được rằng, các trẻ nhỏ có khả năng phát triển kỹ năng cao, là những trẻ trong giai đoạn từ sau sinh 1 năm tới 3 năm (tức là độ tuổi từ 1 đến 3 tuổi), trong 2 năm đó, a) trẻ đã được lớn lên trong môi trường có nhiều va chạm, được tự do vận động cơ thể (Giác quan và Vận động) và b) trẻ được lớn lên trong môi trường dùng nhiều ngôn ngữ (Nói), chính 2 điểm a và b này là điểm khác so với những trẻ em có khả năng phát triển kỹ năng thấp.
    Những trẻ em kém phát triển kỹ năng, thường là hàng ngày bị nhốt trong cũi, ngồi trên giường, không được vận động cơ thể một cách tối đa. Trẻ phát triển mà thiếu vận động, hơn nữa, chính vì thế mà lời nói gọi, hỏi, tác động lên chúng cũng ít đi.
    Còn những trẻ em phát triển kỹ năng cao, vào giai đoạn này, đã được vận động cơ thể một cách thoải mái, tối đa. Đồng thời, tự bản thân trẻ cũng trải nghiệm bằng thân thể và tích lũy được nhiều kĩ năng cơ bản, đơn giản song rất đa dạng.
    Những trẻ em kém phát triển kỹ năng, ngược lại, là những trẻ đã sống những ngày lặp đi lặp lại, không vận động gì cả.
    Trẻ sơ sinh được sinh ra cùng với lòng ham tìm hiểu, muốn học thật nhiều từ môi trường xung quanh. Khả năng vận động, khả năng ngôn ngữ, khả năng nhớ các kỹ năng giúp cho trẻ thỏa mãn lòng ham tìm hiểu này.
    Vì vậy, việc làm của cha mẹ là phải giúp trẻ thỏa mãn lòng ham tìm hiểu này. Đây là công việc đầu tiên của việc giáo dục- dạy- con. Nhiệm vụ của cha mẹ là chuẩn bị sẵn sàng một môi trường trợ giúp để trẻ có thể phát triển tối đa nhiều khả năng ưu tú bẩm sinh sẵn có từ khi trẻ được sinh ra đời.
    Thế nhưng, những việc thường thấy, lại ngược lại hoàn toàn. Lòng ham tìm hiểu mãnh liệt nơi trẻ nhỏ mãnh liệt là vậy, mà sự nỗ lực của cha mẹ thông thường thường rất hạn chế.
    Cha mẹ thông minh phải tìm cách tránh rơi vào tình trạng đó mới được.
    Việc đầu tiên, cha mẹ của trẻ hơn 1 tuổi, là chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho bé được vận động tối đa.
    Trẻ có trèo ra khỏi cũi của nó, cũng không được la mắng! Nhìn thấy hành động của con, cho ngay đó là trẻ nghịch ngợm, là mắng luôn, là dập tắt lòng ham tìm hiểu của trẻ, tức là thể hiện ngay lòng phản kháng cho trẻ biết. Sự thất bại trong giáo dục trẻ bắt đầu từ đây.
    Điều quan trọng, là luôn phải nghĩ rằng, làm thế nào để cho trẻ được tự do vận động. Cha mẹ cần có sự tôn trọng những việc trẻ làm, và có thái độ trông nom bé khỏi bị nguy hiểm.
    Cho trẻ ra chỗ rộng, cho trẻ đi bộ cho thật thoải mái. Với trẻ nhớ được kỹ năng đi bộ, thì việc quan trọng nhất là làm sao cho trẻ đi bộ hết mức có thể. Vào những ngày đẹp trời, dẫn trẻ ra công viên, ra quảng trường, cho trẻ chơi thật là đã.
    Rồi cho trẻ tập cầm đồ vật vừa tay, giơ lên, hạ xuống, cầm ra chỗ được bảo... đó là những vận động rất tốt cho trẻ.
    2) Với trẻ trong thời kì thích làm thử thì cho trẻ thử làm mọi thứ
    Thời kỳ từ 1 tuổi tới 1 tuổi 8 tháng ở trẻ nhỏ gọi là thời kỳ thích làm thử. Trong thời kỳ này, mọi hành động của trẻ đều thể hiện sự thích làm thử đó. Trẻ thích được thử trải nghiệm với trọng lượng, quĩ đạo, quán tính, độ nảy... những phương pháp trắc nghiệm vật lý.
    Phải cho trẻ được trải nghiệm tối đa cái thú thích làm thử này.
    Trẻ có cầm cái khăn trải bàn mà kéo, cốc chén trên bàn rơi loảng xoảng, đổ vỡ cũng tuyệt nhiên không được mắng. Vì đó là trẻ đang tìm ra “phát minh” mới của mình. Đó là việc hiểu ra với vật ở xa, có thể kéo lại cho gần được; đó là hiện tượng đồ vật rơi từ trên cao xuống, có cái vỡ tan, có cái nguyên lành...
    Không được vì trẻ làm rơi vỡ món đồ quí giá mà mắng trẻ gay gắt. Vì hành động của trẻ không phải là ác ý, hành động đó cũng không phải thể hiện tính cách đổ đốn, nên tuyệt nhiên không được mắng trẻ khi đó. Mà việc đáng làm là phải tìm chỗ nào đó cất cẩn thận những món đồ quí giá đó thì hơn!
    Hôm trước, có một người mẹ dẫn đứa con 1 tuổi rưỡi tới hỏi về cách dạy trẻ. Trong khi tôi và người mẹ nói chuyện, tôi đã đưa sẵn cho đứa trẻ món đồ chơi là time-shock. Cũng có trẻ độ tuổi này, chơi mê mải hết công suất món đồ chơi đó. Nhưng với đứa trẻ này, có vẻ như khó chơi với món đồ chơi đó.
    Một lúc sau, đứa bé cầm cái đồ chơi đó, bắt đầu ném văng hết các thanh gỗ của đồ chơi trên bàn đi. Thấy thế người mẹ cuống quít hét lớn “Không được thế!”. Tôi nói với người mẹ “Không làm gì phải nói không được với con thế. Trẻ con thời kỳ này đều thế, là thời kì thích làm thử. Trẻ hành động vậy là vì nó có mục đích gì đó, đừng có cấm nó, hoặc nói “không được thế” ngay! Mà hãy xem xem con làm gì đã!”.
    Đứa bé ném hết sạch các thanh gỗ trên bàn xuống đất rồi, nó tụt xuống khỏi ghế, nhặt nhạnh cho bằng hết các thanh gỗ trên sàn nhà, để lên bàn, rồi lại trèo trở lại ghế ngồi, bắt đầu ném từ trên bàn xuống đất.
    Đứa bé rõ ràng đang hành động một cách có mục đích. Có thể là một thực nghiệm về trọng lực, cũng có thể là một phát minh ra một kiểu chơi mới. Tùy theo lực ném là mạnh hay yếu mà thanh gỗ bay xa hay gần, đó là những điều trẻ trải nghiệm thấy, thấy vui với trò đó.
    Với kiểu chơi như vậy, trẻ học được rất nhiều điều. Vì vậy, hãy quan sát kỹ hành động của trẻ thì hơn!
    Hãy quan sát xem, hướng ném của trẻ thế nào, trẻ cầm tay nào để ném, tay phải hay tay trái? tư thế ném của trẻ có thay đổi qua từng lần ném không? độ mạnh yếu của mỗi lần ném có khác nhau không?
    Qua những cách chơi như vậy, trẻ không chỉ có thêm trí tuệ, mà còn được thỏa mãn lòng thích tìm hiểu của mình, nảy sinh sự tích cực khi được tiếp xúc với sự vật bên ngoài.
    3) Không dùng từ cấm đoán mà rủ trẻ sang trò chơi khác
    Nếu cha mẹ luôn luôn cấm đoán “Không được thế này! Không được thế nọ” thì con trẻ sẽ ra sao?
    Trẻ trở nên cực kì tiêu cực, cái tính tự tin của trẻ không lớn lên được, khi trẻ lớn hơn chút, dễ mắc vào các vấn đề phức tạp. Tức là, khi bị cấm đoán làm những việc trẻ muốn, trong lòng trẻ nảy sinh tính phản kháng, khiến trẻ có cái tính nóng nảy hay cáu.
    Nếu như trẻ kéo khăn trải bàn làm rơi vỡ cốc chén, có lẽ trẻ sẽ làm lại việc đó lần nữa. Trẻ muốn biết xem kết quả có giống như với lần trước không.
    Khi đó, cha mẹ khéo léo cho trẻ được thử nghiệm hiện tượng khác gần giống như thế. Trải một cái khăn trước mặt trẻ, cho vài đồ chơi mà trẻ thích lên đó, quan sát xem trẻ định làm gì. Trẻ có kéo cái khăn đó không? Có lẽ là có đấy!
    Vậy thì, bỏ hết đồ chơi trên khăn ra cho còn cái khăn không. Trẻ có kéo cái khăn không đó không? Lần đầu tiên trẻ kéo, nhưng lần thứ hai thì có lẽ sẽ không kéo nữa đâu. Tức là khi đó, trẻ đã học được điều gì đó về mối liên hệ giữa cái khăn và các món đồ chơi để trên rồi.
    Hoặc là, một ví dụ khác. Đặt món đồ chơi mà trẻ thích lên ở một nơi mà trẻ với không tới. Để một cái gậy ở chỗ trong tầm với của trẻ xem trẻ sẽ làm gì. Có lẽ là trẻ sẽ cầm cái gậy đó làm dụng cụ để lấy món đồ chơi đấy!
    Với trẻ đã đi vững, hãy thử làm thử nghiệm sau đây. Để cái bánh cái kẹo ở một nơi hơi cao hơn trẻ một chút, bênh cạnh đó đặt một cái sọt rác để có thể dùng làm bệ đứng lên nếu lật úp cái sọt xuống. Trẻ có lật úp cái sọt rác xuống rồi đứng lên đó để với lấy bánh kẹo chứ? Nếu trẻ làm được vậy, chứng tỏ trí tuệ của trẻ rất phát triển, khả năng tư duy cũng rất giỏi đó!
    Với thời kỳ đón nhận va chạm từ bên ngoài là quan trọng, thì câu cấm đoán “không được thế” sẽ không giúp trẻ khôn lớn được. Câu nói đó làm triệt tiêu tố chất trẻ em ghê gớm hơn tất thảy.
    Câu nói “không được thế” chỉ được dùng khi trẻ gần kề với nguy hiểm, hoặc trường hợp có ảnh hưởng tới việc hình thành tính cách của trẻ mà thôi.
    Khi muốn cấm trẻ làm một việc nào đó, hãy tìm cách rủ trẻ sang một trò chơi khác thì hơn. Như vậy không hề có tính cưỡng ép hay cấm đoán nào, khiến trẻ cũng thoải mái.
    1) Trò chơi tìm châu báu phát triển trí năng
    Trò chơi tìm châu báu- kể cả giấu đồ vật trước mặt trẻ cũng được, rồi bảo trẻ đi tìm.
    Trò chơi giấu và tìm đồ vật, là cách dạy cho trẻ hiểu rằng, kể cả ở những nơi mà mắt không nhìn tới nơi cũng có thể có đồ vật.
    Cho thức ăn vào 1 trong 3 cái bát. Trên mỗi miệng bát phủ một tờ giấy tissue, hay cái khăn ăn. Nhấc tờ giấy ra khỏi miệng bát trong vòng 10 giây, rồi lại đậy lại, bảo trẻ đoán xem thức ăn ở trong bát nào. Trẻ chơi tới khi nào hỏi là trả lời đúng ngay, thì đó là lúc trí năng của trẻ đã phát triển rồi đó.
    Cũng cho trẻ chơi trò bắt chước. Cho trẻ bắt chước giống như cha mẹ làm. Mẹ lấy tay bịt mắt của mẹ lại, bảo con cũng lấy tay tự bịt mắt con lại. Tiếp sau là mũi, là miệng, hay là kéo dài tai ra.
    Mẹ cầm bút chì để viết chữ. Con cũng sẽ bắt chước phải không? Nếu như trẻ bắt chước được việc này, là trí năng của trẻ đã phát triển rất cao rồi đó!
    Hãy dẫn trẻ đi ra ngoài, cho tiếp xúc với thế giới bên ngoài càng nhiều càng tốt. Để cho trí năng của trẻ phát triển, đây là phương pháp tối ưu. Cũng nên cho trẻ được nhìn thấy những bạn ở cùng độ tuổi. Dù không cần phải chơi với những bạn đó, nhưng đó là cách nuôi dưỡng tính xã hội ở trẻ. Nên cho trẻ đi bộ ở ngoài hết khả năng có thể thì hơn.
    2) Tạo môi trường giàu ngôn ngữ
    Vào thời kỳ này, khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ phát triển cực kỳ tập trung. Các cơ quan vùng hàm, họng để phát âm phát triển vượt trội, giúp trẻ đã có thể phân biệt và sử dụng âm tiết một cách chính xác. Trẻ cũng có thể nói được những câu kết nối của 2, 3 từ liền nhau.
    Thời kỳ này mà còn cho trẻ ngậm ti giả sẽ khiến cho các cơ quan vùng vòm họng để điều chỉnh âm tiếng không phát triển, trẻ sẽ chậm biết nói, đây là điều cần hết sức lưu ý. Nên cho trẻ cai sữa, cai ti giả trong khoảng từ 8 tháng tới 1 năm tuổi.
    Ở cuối giai đoạn này, khả năng bắt chước lời nói dần đi vào hoàn chỉnh. Khoảng 1 tuổi rưỡi, bé mới chỉ nói được khoảng 40,50 từ đơn, nhưng khi tròn 2 tuổi trẻ sẽ nói được khoảng 300 từ. Đương nhiên, khả năng hiểu lời mẹ nói cũng tiến bộ vượt trội, nhưng để được như vậy, cần có sự trợ giúp của người mẹ.
    Mỗi khi mẹ ở bên con, khi thay quần áo cho con, khi ăn cơm, khi đi dạo... đều phải nói chuyện với con thật nhiều.
    Khi vào bồn tắm, cố gắng dạy cho con biết các từ về cơ thể, như mắt, tai, mũi, mắt, tay, chân, đầu gối... vv... Cũng tương tự vậy, hãy dạy cho con tên của càng nhiều đồ vật trong nhà càng tốt.
    Hãy duy trì cuốn sách từ lúc sơ sinh 5,6 tháng đã cho trẻ xem.
    Hãy làm một giá sách cho riêng trẻ, trên đó xếp các cuốn sách đã mua cho trẻ lên đó. Khi đó, trẻ sẽ rút một quyển trên giá xuống, đưa cho mẹ, đòi mẹ đọc cho, đúng không? Cha mẹ hãy đọc cuốn đó, say sưa như đọc lần đầu, lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần cũng không được tỏ ra chán nản với việc đó.
    Thời kỳ này mà đọc thật nhiều sách cho trẻ, sẽ là bí quyết để biến trẻ thành một người yêu thích sách. Đồng thời trí tuệ của trẻ cũng vì thế mà tiến bộ không ngừng. Thời kỳ này, số lượng từ mà trẻ nghe được càng nhiều thì khoảng sau sinh nhật 2 tuổi, trẻ sẽ có một vốn từ cực kỳ phong phú.
    Như trong chương 1 tôi đã trình bày, có một sự hiểu lầm rất lớn về ngôn ngữ của trẻ thời kỳ này. Đó là cách suy nghĩ rằng chả cần phải dạy trẻ từ ngữ gì mà tự nhiên tới lúc đó trẻ sẽ tự biết nói.
    Ví dụ, tiếng La tinh hiện nay đang là ngôn ngữ bị diệt vong. Vì vậy, chỉ còn một số ít học giả còn nói được lưu loát ngôn ngữ này. Nhưng ngày xưa, từ gã vô học tới nông dân bách tính ở Rôm đều nói trôi chảy ngôn ngữ này được. Đến cả con trẻ 2,3 tuổi ở Rôm lúc đó cũng dễ dàng nói hiểu cái thứ tiếng khó nghe này.
    Khi đó nảy sinh quan điểm, cái thần bí là ở chỗ, ngôn ngữ, không phải là thứ để học và nhớ, mà là cái thứ con người buột ra từ bên trong cơ thể. Từ đó, nảy sinh tiếp một quan điểm sai lầm cho rằng, việc giáo dục ngôn ngữ (dạy nói) không phải là việc của các cha xứ nữa. Loài người tiến hóa theo quá trình tự nhiên. Ngôn ngữ của trẻ nhỏ không phải bắt đầu từ việc nghe, mà học một cách tự nhiên từ môi trường bên ngoài.
    Thế nhưng, trong khi trẻ em ở các nước đang phát triển chỉ học một số lượng ít ỏi từ ngữ, thì các trẻ em sống trong môi trường văn hóa cao lại có thể sử dụng chính xác rất nhiều từ ngữ khó gấp nhiều lần. Cái gọi là môi trường văn hóa cao, thực ra là để chỉ một môi trường giàu ngôn ngữ.
    Nhìn vào đây ta thấy, khả năng ngôn ngữ của trẻ thực sự là tùy thuộc vào môi trường.
    Các bậc cha mẹ cần phải hiểu rằng, càng nhập dữ liệu vào đầu cho trẻ càng nhiều từ ngữ, thì lượng từ trẻ nói ra được mới phong phú.
    Học giả Chom Ski nói “Việc trẻ nhỏ nhớ từ ngữ, cũng như việc người lớn học ngoại ngữ, không chỉ dựa vào kí ức để nhớ. Từ ngữ lọt vào tai trẻ, nằm trong vùng tiềm thức, được phân tích, tổng hợp bằng một bộ máy computer siêu tốc, quản lý theo sự việc và bật ra.”. Trước đây, tôi đã đề cập tới việc, trẻ nhỏ sinh ra đã có sẵn một vùng ngôn ngữ bẩm sinh. Năng lực tiềm tài nơi trẻ nhỏ mới chỉ được sử dụng chút ít, còn lại tới gần 100% nên trẻ có thể tinh thông được với cả những từ rất khó. Người lớn đã mất dần năng lực này, chỉ còn có thể sử dụng 5% đó thôi.
    Chính vì vậy, khi khả tiềm tàng còn tới gần như 100% này, phải tận dụng dạy cho trẻ được càng nhiều từ càng tốt. Càng dạy nhiều từ ngữ cho trẻ, trí não của trẻ phát triển, thành một em bé thông minh.
    1) Làm sao để trẻ không bị nản chí trong giai đoạn có “chí”.
    Người ta gọi giai đoạn từ khi trẻ được 1 tuổi 8 tháng tới 2 tuổi là giai đoạn có “chí”. Thời gian này, trẻ cho chúng ta thấy năng lực tư duy tuyệt vời. Đặc điểm của trẻ giai đoạn này là, tách rời khỏi bố mẹ, tự lập, muốn tự thể hiện. Khả năng tư duy phát triển tốt, trẻ rất có thể tự lập được.
    Tính tự lập của trẻ ở giai đoạn này hoàn toàn chưa phải giai đoạn chín muồi. Vẫn có trẻ còn chưa tốt nghiệp tã giấy (tức là vẫn phải đóng tã giấy chứ chưa biết gọi). Tuy nhiên, đây là thời kỳ chuyển tiếp, từ một em bé sơ sinh nằm cũi thành một đứa trẻ thích chơi ở những nơi rộng rãi hơn. Chính vì thế, tổng hợp rất nhiều mặt lại, có thể nói, sự trưởng thành nơi trẻ giai đoạn này là rất “mãnh liệt”.
    Sức tư duy của trẻ phát triển rất nhanh và mạnh mẽ, nhưng thông thường, tâm tính và lời nói của trẻ vẫn còn chậm hơn nhiều.
    Những việc nên làm cho trẻ giai đoạn này là, tạo môi trường học tập cho trẻ, làm thế nào để trẻ được tự do vận động hết mức có thể.
    Trong giai đoạn này, trẻ vẫn chưa điều khiển tốt tốc độ của các việc, kể cả ăn, nói, chạy, hay suy nghĩ. Ví dụ việc chạy, tất nhiên là trẻ chạy có tiến bộ hơn trước rất nhiều rồi, nhưng khi rẽ quẹo phải trái thì chưa giỏi. Hoặc là giống như các vận động viên chạy thi cự li ngắn lao sầm vào giải lụa căng làm đích, trẻ chạy thì được, nhưng lúc dừng lại bất ngờ thì chưa đứng khựng ngay lại được.
    Vì vậy, việc quan trọng trong giai đoạn này, là giúp trẻ không bị thối chí, nản chí.
    Trẻ đã có thể nghĩ được ở trong đầu rồi, nhưng thực tế lại không thực hiện được đúng như trẻ nghĩ. Do đó, trẻ dễ nhụt lại.
    Nếu trẻ biết là sức mình có hạn, sẽ cho rằng mình ko có giá trị, yếu đuối, dễ tự ti.
    Cha mẹ phải hết sức thận trọng khi tỏ thái độ không thoải mái, hay mắng mỏ trẻ.
    Những lưu ý đặc biệt đối với trẻ giai đoạn này là cha mẹ hãy chơi cùng với con trẻ.
    Lắng nghe trẻ nói, quan sát kỹ hành động của trẻ. Nỗ lực tìm hiểu xem từ thái độ, hành động đó là trẻ muốn gì.
    Đồ chơi tốt cho trẻ giai đoạn này có thể chia làm 5 loại.
    1- Thú nhồi bông. Trẻ có thể bế, có thể sờ với cảm giác thích thú, luôn ở bên cạnh trẻ kể cả khi mẹ tắt đèn đi ra khỏi phòng, tạo cảm giác yên tâm cho trẻ.
    2- Đồ chơi kích thích trí tưởng tượng. Như búp bê, nhà cho búp bê, gỗ xếp hình, cát, rối giật dây đơn giản.
    3- Đồ chơi bắt chước người lớn. Như bộ đồ hàng, xe tải, tàu điện, thành phố đồ chơi, nông trường đồ chơi...
    4- Dụng cụ để vận động. Như xe ba bánh, xích đu, cầu thang, cầu trượt, đệm nhảy lò xo, bóng.
    5- Đồ chơi trợ giúp phát triển trí tuệ. Như locking-tower, bộ xếp các đồ vật kích cỡ lớn nhỏ thành bộ, time-shock, tranh ghép hình puzzle, xe tải lắp ghép... Kính lúp, nam châm...
    Khi đưa trẻ tới công viên gần nhà để chơi, cho bé dùng kính lúp và nam châm xem sao. Trẻ sẽ phát kiến ra được nhiều điều lắm đấy!
    1) Không cho trẻ nghe nhiều tiếng máy, mà nói chuyện với trẻ càng nhiều càng tốt
    Tiếng máy ở đây là tiếng TV, radio, băng cát sét, CD, video. Nếu mỗi ngày để trẻ nghe liên tiếp 5,6 tiếng đồng hồ, trẻ sẽ quen với tiếng máy, sẽ không có phản ứng với tiếng người thực một cách chính xác nữa. Không phải là tuyệt đối không cho trẻ nghe băng, CD, nhưng cho trẻ nghe cả ngày thứ tiếng máy đó, sau này sẽ gặp rắc rối khi trẻ giao tiếp thật với người thật. Ví dụ như không biết hội thoại với người khác, hay nói lẩm bẩm một mình.
    Để chữa những triệu chứng đó, trước tiên là dừng ngay việc cho trẻ nghe nhiều tiếng máy lại, chính người mẹ phải nói chuyện nhiều với con bằng giọng thật của mình, thật nhiều. Cũng qua những câu chuyện, hội thoại giữa mẹ và con này, tình yêu thương của mẹ được truyền tải nhiều nhất, con được mẹ công nhận, con có lòng tự tin, trẻ sẽ trưởng thành hơn nhiều.
    Việc quan trọng, là để cho trẻ phát âm được nhiều. Sau đó là dạy bé nói đúng, phát âm chuẩn, lặp đi lặp lại. Hãy nghĩ như là mình đang dạy cho trẻ bị khuyết tật não vậy. Dạy trẻ thật nhiều từ ngữ phong phú, cho trẻ nói bật những từ ngữ đó thành tiếng, khen ngợi trẻ, tạo cho trẻ lòng tự tin.
    Một việc muốn các cha mẹ nên biết, là ở những trẻ khuyết tật não hay 5 giác quan, thường các chức năng đó không bằng được trẻ bình thường, nên các việc kích thích hoạt động như nói trên lại càng cần thiết. Nhưng thực tế, bằng các biện pháp như nói trên, nhiều khả năng trẻ khuyết tật cũng được phục hồi chức năng hơn cả ở trẻ bình thường.
    Hơn nữa, kể cả trẻ bình thường và trẻ khuyết tật, đến 1 tuổi rưỡi, cũng nên dạy chữ cho trẻ. Trẻ khuyết tật cũng rất thích nhớ chữ, kể cả chữ Hán.
    Thời kỳ này, việc nhớ chữ của trẻ là do thị giác phát triển, cấu tạo của não có biến đổi, kỹ năng biến đổi. Vì vậy mà trẻ bình thường trở thành thiên tài, trẻ khuyết tật cũng trưởng thành như một trẻ bình thường hoặc hơn thế nữa.
    Khi trẻ nhớ chữ, trong tế bào não lượng phân tử kí ức RAN được tăng lên nhiều, khác hẳn với chất lượng não của trẻ chưa biết chữ.
    Chính vì thế, trong giai đoạn này, hãy dạy cho trẻ biết chữ, biết đọc. Ví dụ như khi đang chơi, cho bé ghép tranh với chữ phù hợp, miếng card vẽ tranh con chó ghép với miếng card ghi chữ Chó, bảo bé nhặt card có ghi chữ Chó lên, đọc mẫu cho bé, cứ từng chút một như vậy, dạy bé đọc nhiều từ lên.
    Dạy bé hết chữ cái trong bảng chữ cái. Nhớ hết bảng 50 âm chữ cái tiếng Nhật, bé có thể ghép vần của từ đơn giản, đọc được những câu đơn giản.
    Việc dạy và luyện tập cho trẻ, nhớ là phải là công việc thực hiện hàng ngày, mỗi ngày một chút, lặp đi lặp lại nhiều lần, thì trẻ nào cũng có thể nhớ được.
    Cùng với việc đó, trẻ sẽ hiểu được lòng yêu thương sâu sắc của mẹ dành cho mình, trẻ học được tính nhẫn nại...
    Nếu không biết nhìn tâm tính con để lựa cho khéo, chắc chắn sẽ thất bại.
    Không nên bắt trẻ tập trung cho mỗi lần dạy- luyện trong thời gian quá lâu/ lần. Hãy bắt đầu khoảng 2,3 phút/ lần đến khoảng 5 phút/ lần là được. Dần dần trẻ thích trò chơi với chữ mới kéo dài thời gian dần ra. Nếu ép quá, trẻ thành ra phản ứng tiêu cực với chữ.
    Chịu khó thay đổi cách dạy, cách chơi, không phải những trò vẫn chơi đơn giản nhanh làm trẻ nhàm chán, mà thay đổi một chút cho phong phú. Chúc thành công.
    Các mẹ không chỉ đọc mà hãy cùng nhau trao đổi thảo luận xem các mẹ đã dạy con thế nào? Con phát triển ra sao để còn rút kinh nghịêm chứ!!!:Smiling:
    Đừng bao giờ đầu hàng số phận. Cuộc đời của ta do ta quyết định!!!:Smiling:
    0912201056