Sự phát triển

Rối loạn tăng động-giảm chú ý ở trẻ em

Đến trả lời mới nhất
  • 1 Lượt chia sẻ
  • 137K Lượt đọc
  • 363 Trả lời

41 Người đang theo dõi

    • 32 Bài viết

    • 38 Được cảm ơn

    #1
    Rối loạn tăng động - thiếu chú ý
    Attention-dificit/hyperactivity disorder- ADHD)



    1.Khái niệm chung
    1. 3. Rối loạn tăng động giảm chú ý:

    1.1. Định nghĩa về RLTĐGCY:
    - RLTĐTCY là một hội chứng có đặc trưng là: Khởi bệnh sớm trước 5 tuổi. Sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiềm chế với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc. Các biểu hiện trên nổi lên trong các tình huống và kéo dài nhiều năm’’. Sự thiếu chú ý là nét trọng tâm của hội chứng (ICD-10 và DSM-IV)
    - Hôi chứng này, lúc đầu được gọi là tổn thuơng não tối thiểu (minimal brain damage), rối loạn chức năng não tối thiếu (minimal brain dysfuntion).
    - Tỷ lệ mắc bệnh khá cao, chiếm từ 3-5% các lứa tuổi, trong đó tuổi tiêu học tỷ lệ con trai chiếm 17% và 8% là con gái; tuổi vị thành niên con trai là 11% và con gái 6%. Với chuyên khoa tâm thần HCTĐTCY chiếm 40-50% số bệnh nhân ngoại trú, và 40-70% số bệnh nhân nội trú, thuờng xuyên liên hợp với các rối loạn tâm thần khác
    - RLTĐGCY bắt đầu sớm trong quá trình phát triển cơ thể (khoảng 10 năm đầu) do đặc điểm của tâm lý lứa tuổi. Các nét đặc trưng chính của chúng là thiếu sự kiên trì trong các hoạt động, đòi hỏi sự tham gia của nhận thức và khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, nhưng không hoàn thành cái nào cả, kết hợp vói một hoạt động quá đáng, thiếu tổ chức và kém điều tiết. Sự thiếu sót này thường kéo dài trong suốt quá trình đi học sang cả tuổi thành niên.

    Nhiều bất thường khác có thể kết hợp với rối loạn này. Những trẻ này thường dại dột, xung động, để bị tai nạn và bản thân chúng thường có những vấn đề về kỷ luật, do thiếu tôn trọng các quy tắc, việc thiếu tôn trọng này là kết quả của việc thiếu suy nghĩ (hơn là cố tình chống đối). Các quan hệ của chúng đối với người thành niên thường là thiếu kiềm chế về mặt xã hội, thiếu thận trọng và dè dặt, chúng không được các trẻ em khác thừa nhận và có thể trở nên bị cô lập. Các tật chứng về nhận thức cũng thường gặp và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ cũng gặp nhiều hơn một cách không cân xứng.

    1.3.2. Biểu hiện:
    Có 3 đặc trưng chính
    - Tật chứng về sự chú ý: biểu hiện sự ngừng trước giới hạn các việc đang làm, và bỏ dở các hành động trong khi chưa hoàn thành. Các trẻ thường chuyển từ một hành động này, sang một hành động khác, hình như trẻ thôi không chú ý đến công việc đang làm, vì chúng bị hấp dẫn bởi một công việc khác. Và không hoàn thành một công việc xuất sắc
    - Tăng hành động: bao gồm một sự hành động quá mức, đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi một sự yên tĩnh nào đó. Tuỳ theo hoàn cảnh, nó biểu hiện ở trẻ em chạy và nhảy liên tục, hoặc đứng dây khỏi chỗ trong khi được yêu cầu ngồi yên, nói quá mức và làm ồn, hoặc cựa quậy không ngừng trong khi ngồi.
    Tiêu chuẩn để đánh giá là mức hành động quá tăng, trong khuôn khổ người ta chờ đợi ở một đứa bé trong một hoàn cảnh nhất định ,và so sánh với một đứa trẻ cùng lưới tuổi cùng mức độ trí tuệ. Đặc điểm hành vi này biểu hiện rõ ràng hơn trong những hoàn cảnh có tổ chức và có cấu trúc đòi hỏi một sự kiểm tra bản thân ở mức cao.
    -Thiếu kiềm chế: trong các mối quan hệ xã hội, sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các qui tắc xã hội một cách xung động là nét đặc trưng của trẻ có rối loạn này
    Có thể biểu diễn bằng sơ đồ
    Khả năng Khả năng
    Kiềm chế chú ý



    Tăng động

    1.4. Lịch sử thuật ngữ RLTĐGCY
    Các nhà khoa học đã tranh luận nhiều xung quanh việc thay đổi thuật ngữ dạng rối loạn này, phản ánh xu hướng lịch sử trong việc khái niệm hoá cả về những nguyên nhân và điều chỉnh của hội chứng.
    Hội chứng này đã được mô tả trong nền y học cuối thế kỷ 19 bởi những thuật ngữ "mất trí", "thằng ngốc", "sự ức chế kém" (Thorley, 1984).
    Vào năm 1902, Still đã đưa ra những mô tả rõ ràng, có nhiều điểm tương tự như khái niệm này. Ông mô tả một đứa trẻ bị tăng động, không thể tập trung, có những khó khăn trong học tập và các vấn đề về hạnh kiểm. Ông gọi đứa trẻ đó là có sự thiếu hụt khả năng kiểm soát đạo đức. Ông cho rằng số trẻ nam mắc phải cao hơn nữ và do cả hai nguyên nhân môi trường và thể chất.

    Sau đó có sự chuyển hướng sang xem xét hội chứng có nguồn gốc từ cơ thể. Điều này, một phần do đại dịch cúm sau thế chiến I và dịch hôn mê viêm não xảy ra như một di chứng, những trẻ sống sót qua cơn hôn mê hình thành những biểu hiện rối loạn hành vi nghiêm trọng, tương tự như những miêu tả của Stick và được coi là "bị điểu khiển hữu cơ" (Kahn và Cohen, 1934) ở Anh. Lewin (1938,) đã tạo sự chú ý, khi ông miêu tả mối quan hệ giữa những tổn thương não nghiêm trọng và tình trạng bồn chồn, không yên ở người chậm khôn, cũng như ở những nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm. Cuối cùng, giả thuyết nguyên nhân cơ thể được Strauss và đồng nghiệp Mỹ nhấn mạnh, khi ông miêu tả một số trẻ chậm khôn, tăng động; đãng trí, hấp tấp, thiếu kiên trì và nhận thức kém. Ông coi những trẻ bị chậm khôn là do tổn thương não, kể cả khi không chứng minh được bị hôn mê não. Strauss gọi những đứa trẻ này mắc phải "hội chứng tổn thương não nhẹ".
    Một số nhà lâm sàng cùng thời điểm nhận ra những lập luận vòng vo ngụ ý cho rằng một đứa trẻ không nên bị gán cho tổn thương não chỉ vì những hành vi của nó, trừ phi chứng minh được có tổn thương này. Trong nỗ lực dàn xếp giữa một ý tưởng cho rằng một số rối nhiễu không do những tổn thương có thực ở hiện tại trong não của trẻ và ý tưởng coi môi trường là nguyên nhân (ý tưởng này cho rằng những khó khăn của trẻ là do bố mẹ).
    Clement và Peter (1962) đặt ra thuật ngữ "loạn chức năng não nhẹ" (minimal brain dysfuntion - MBD) thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi và được chấp thuận. Tuy nhiên, tại Hội nghị quốc tế tổ chức ở Oxford; 1962, Mc Keith đã đưa ra lời cảnh cáo trong bài tham luận có tựa đề "Tổn thương não nhẹ - một khái niệm lỗi thời" (1963), Mc. Keith cảnh báo rằng: "thuật ngữ MBD, thực sự tiến bộ hơn thuật ngữ cũ" lại bao gồm cả nhóm không đồng nhất những trẻ đáng ra phải được chia nhỏ trong tương lai. Mặc dù vậy, thuật ngữ MBD vẫn được sử dụng bất chấp lời chỉ trích là quá bao hàm.

    Những nỗ lực để tạo ra sự phân loại đáng tin cậy và có hiệu lực hơn bắt đầu với ICD- 99 (WHO, 1965) và DSM II (APA, 1968) khi thuật ngữ này được đổi là hội chứng tăng động ở tuổi nhỏ (hyperkinetic sydrome of child hood). ở Anh, thuật ngữ vẫn được dùng (sau nhanh chóng bị đổi trong ICD- 10) và đề cập đến một loại rối loạn tương đối hiếm: tăng động và không chú ý. Trẻ chậm khôn và hoặc trẻ có tổn thương não cũng được chẩn đoán xếp vào nhóm này, nhưng không giống ở Mĩ, những rối loạn về hạnh kiểm, thậm chí nếu đồng thời xảy ra, lại loại trừ trẻ khỏi chẩn đoán. Khác biệt giữa những tiêu chuẩn chẩn đoán này giữa lúc làm cho cho sự so sánh các nghiên cứu trở nên vô nghĩa.

    Trong thập niên trước, công trình của Puglas (1983) đã có ảnh hưởng lớn khi công nhận rằng những thiếu hụt cơ bản gây ra rối loạn là do không điều chỉnh được sự chú ý và kiểm soát ức chế. chính những thiếu hụt này cơ bản hơn so với tình trạng bồn chồn, không yên. DSM III nhận thấy quan điểm mới này và gọi tên lại: Rối loạn giảm chú ý có không không tăng động (Attention defiat disordor - ADDH). Ba cấu thành cơ bản của rối loạn cũng được mô tả, triệu chứng được liệt kê, ví dụ: không chú ý, xung động, sự bồn chồn.
    Sự phân biệt giữa 3 vấn đề cơ bản của hội chứng tồn tại ngắn và DSM III-R thay đổi thành RLTĐGCY (ADHD) (một lần nữa lại đặt sự không yên, bồn chồn quan trọng hơn). ADHD liệt kê 14 biểu hiện triệu chứng mà trong đó nếu có 8 biểu hiện là đã mắc phải.

    Tóm lại, điều tra lâm sàng của thuật ngữ nhấn mạnh:
    - Rối loạn được biết đến từ 100 năm trước.
    - Những thay đổi trong thuật ngữ phản ánh quan niệm thay đổi về nguyên nhân và khó khăn chính của hội chứng.

    2. Các thuyết về tăng động:
    2.1. Thuyết nguyên nhân vê sinh học

    Nguyên nhân của hội chứng chưa được biết. Những bằng chứng cho tới nay thấy rằng, một nguyên nhân đơn nhất không thể giải thích được cho những nhóm trẻ có rối loạn. Trước tiên, hội chứng có thể biểu hiện một cách chung đối với sự tổn thương sinh học và những biến số tương tác trước.
    Nếu có sự loạn chức năng hệ thần kinh trưng uơng, cơ bản giống nhau, bản chất của nó vẫn chưa được xác định. Những biểu hiện của loạn chức năng theo giả thiết này là những khó khăn trong việc kiểm tra tự điều chỉnh, như tổ chức quá trình thông tin, sự chú ý, sự phản ứng xã hội và sự kiềm chế thích hợp (Douglas, 1983, Cohalen, 1989).
    Mặc dù vào những năm 20, hội chứng được mô tả đầu tiên ở những trẻ em bình thường khi bị hôn mê viêm não. Tuy nhiên, tổn thương não như một kết quả của sự kiến trước, gần và sau khi sinh không được chứng minh là liên quan đến RLTĐGCY. Qua điểm ban đầu cho rằng có một chuỗi những thương vong xã hội liên tiếp (từ chậm phát triển hoặc chứng liệt não tới hội chứng tăng động và không có khả năng học tập) (trên diện rộng, vẫn chưa được xác nhận).

    2.1.1. ảnh hưởng của di truyền:
    Những nghiên cứu mà cho thấy tỷ lệ của rối loạn nhân cách chống đối xã hội, chứng nghiện rượu, lạm dụng ma tuý ở cha và hysteria ở mẹ của trẻ tăng động đã thất bại trong việc phân biệt những trẻ TĐGCY có kèm rối loạn đạo đức và những trẻ không kèm. Nhà nghiên cứu gần đây (August và Steward, 1983) cho rằng những rối loạn ở cha mẹ được kể ở trên đi kèm với TĐGCY, chỉ khi hội chứng cùng xảy ra với những rối loạn hướng ngoại khác. Tuy vậy, đáng kể cha của trẻ TĐGCY (không có những rối loạn khác), những biểu hiện tương tự của TĐGCY cũng có hoặc đã có, trong thời thơ ấu của họ. Điều này gợi ý là có sự chuyển giao di truyền cho một số trẻ tăng động. Tần xuất rối nhiễu ở những cha mẹ nuôi của trẻ tăng động không khác biệt với tần xuất ở cha mẹ của trẻ bình thờng. Điều phát hiện này làm giảm khả năng cho rằng tâm bệnh học chủ ý do môi trường gia đình. Ngược lại, những cha mẹ đẻ của trẻ tăng động mà ly hôn sớm có tỷ lệ khái niệm cao hơn cha mẹ nuôi. Những nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ cao ở anh chị em ruột của trẻ tăng động. Một nghiên cứu dân số rộng (dự án cộng tác gần

    sinh quốc gia úc) cho thấy nguy cơ đối với anh chị em ruột của trẻ TĐGCY gấp 2 lần nguy cơ mong đợi. Tất cả những nghiên cứu này đều bị phê phán phương pháp, tuy vậy, việc đóng góp của di truyền đối với hội chứng là đúng, như kết quả của toàn bộ sự tương đồng giữa nhiều nghiên cứu.

    2.1.2. Nghiên cứu hoá thần kinh:
    Bởi tác dụng trị bệnh mạnh của những chất kích thích đối với những triệu chứng của hội chứng, người ta cho rằng những rối loạn này là do sự loạn chức năng của quá trình gây tiết adrenatin hoặc hệ thống tiết huyết thanh.
    Những báo cáo trước đây cho bằng những sản phẩm chuyển hoá não như MHPG thấp hơn trong nước tiểu của trẻ tăng động, so với nước tiểu của trẻ bình thường. Những nghiên cứu gần đây hơn đo axit phenylatic tiết niệu, phenylalanine và tirosin và không tìm ra sự khác biệt. Có khả năng là những phép đo ngoại vi về sản phẩm chuyển hoá thần kinh, không nhất thiết phản ánh những giá trị trung tâm. Hơn nữa, theo những nghiên cứu, những chất kích thích làm suy giảm sự bài tiết MHPG trong hai tuần sau khi chúng bị gián đoạn. Điều này có thể giải thích cho những kết quả của các nghiên cứu trước. Đo đạc chất axit homovanitic (HVA) trong một nghiên cứu thấy rằng nó thấp hơn trong chất dịch xương sống của trẻ tăng động, tuy nhiên, trong các nghiên cứu khác thì chưa được chứng minh. Những nghiên cứu về chất dịch não tuỷ, nói chung thường là quy mô mẫu nhỏ, do đó hạn chế độ tin cậy. Zametkin và Rapoport (1987) kết luận rằng, những nghiên cứu so sánh monoamin và những sản phẩm chuyển hoá trong nước tiểu plasma và dịch não tuỷ trẻ TĐGCY và trẻ bình thường đáng không khác biệt.

    Những cuộc thử nghiệm trị liệu được tiến hành với nhiều tác nhân khác nhau được biết đến là chủ vận (cơ) của những chất chuyển hoá thần kinh. Ví dụ: Piribidel và amantadine là những chất vận (cơ) của dopamine.... Những kết quả trị liệu rất không kết quả đã phủ nhận thuyết sự trao đổi chất của một chất truyền. Ba chất ức chế oxidaza monoaxit (MAO) đã được phát hiện ra để cải thiện hành vi của trẻ tăng động. Clorgyline là chất ức chế MAO A tuyển chọn, tranylcypromine ức chế cả MAO A và MAO B, deprenyl ức chế MAO B. Chất ức chế MAO A ảnh hưởng đến norepcnephrine và serotomin, chất ức chế MAO B ảnh hưởng đến plenylethylamines, dopamin chịu ảnh hưởng của cả MAO A và MAO B. Vì vậy, những kết quả trị bệnh tích cực của 3 chất ức chế MAO không cho phép chúng ta đánh giá tầm quan trọng của một chất này so với chất kia.
    Zametkin và Rapopoit kết luận rằng chức năng catecholamine và sự điều biến của nó rất có khả năng liên quan đến sự phát snh bệnh và chữa trị TĐGCY. Họ cho rằng việc thiếu các phản ứng đáp lại đối với một kích thích có thể dự đoán sự phản ứng nhanh đối với kích thích khác. Sự thay đổi chức năng của noradrenegre có vẻ như cần thiết nhưng phải là chủ đối với hiệu quả lâm sàng bởi vì những nhân tố như haloperidol cũng hiệu lực.

    Trong khi những đặc điểm chính chưa rõ ràng, một số các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ở trẻ TĐGCY, methylphenidate và dextroumphetamine gây ra việc tiết nhanh nhiều các hóc môn tăng trưởng.


    http://www.tamlyhoc.net/forum/index....6d&topic=188.0
    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

  1. Có thể bạn muốn xem:
    • 32 Bài viết

    • 38 Được cảm ơn

    #2
    2.1.3. Chì trong máu
    Một nghiên cứu gần đây (Thomson và cộng sự, 1989) trên 500 trẻ Fdimburg thông báo phát hiện về mối quan hệ phản ứng nhanh giữa mức chì trong máu và mức đánh giá hành vi trên thang đo cho giáo viên, thấy điểm tổng và điểm đo mục hành vi công kích, chống đối xã hội và tăng động. Nghiên cứu đã chứng thực rằng, mức chì trong máu cao có khả năng gây các vấn đề hành vi và nhận thức ở trẻ.

    2.1.4. Vai trò của thùy trước:
    Các nhà khoa học cùng tập trung quan tâm nghiên cứu vai trò ảnh hưởng của thùy trước đối với hội chứng. Thùy trước, bằng cách điều chỉnh
    adrenegic sử dụng những tác dụng ức chế lên các cấu trúc thể vân dưới, được điều chỉnh bởi dopamine. Điều này có thể giải thích được nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải thiện những triệu chứng của hội chứng vỏ não trước, thuộc quỹ đạo có khả năng liên quan đến các hành vi xung động và hung tính. Một số nghiên cứu gần đây sử dụng chụp cắt lớp bằng dòng positon (PET) đã chứng minh được những thay đổi về phát triển trong suốt thời thơ ấu và vị thành niên, theo mật độ của thụ thể dopamine, lượng máy não và sử dụng glucose ở thùy trước, như PET đo đạc trong một số nghiên cứu chỉ ra là có sự khác biệt giữa trẻ tăng động và trẻ bình thường. Hơn nữa, những sự phân phối methylphenidate dẫn đến có sự tăng lượng máu chảy tới não giữa và hạch cơ sở, trong khi những khu vực vỏ não vận động cho thấy sự giảm đi, điều này có thể giải thích được ảnh hưởng trị bệnh của chất kích thích đối với hội chứng. Trong khi rất nhiều những nghiên cứu vẫn đang trong thời kỳ khởi đầu, các nghiên cứu PET trong tương lai sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về loạn chức năng vỏ não ở trẻ TĐGCY.

    2.2.Thuyết nguyên nhân tâm lý xã hội:
    Bởi vì các bằng chứng sinh học quyết định trên của hội chứng TĐGCY là yếu, hơn nữa những nguyên nhân sinh học mang tính thăm dò này có thể không đặc trưng cho TĐGCY, nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến các yếu tố tâm lý xã hội.
    Một số báo cáo chỉ ra sự liên quan giữa stress gia đình và địa vị kinh tế xã hội thấp với tỷ lệ mắc phải cao và hành vi có vấn đề ở nhóm trẻ tham khảo 3 tuổi trước tuổi đến trường. Hơn nữa, mối quan hệ mẹ - bé không được gắn bó, thu được qua lời thuật của mẹ cũng như quan sát của người phỏng vấn, dự đoán sự dai dẳng của vấn đề được xác định ở tuổi nhỏ. Điều này khiến nảy sinh ý kiến là những nhân tố gia đình cũng đóng góp vào sự nghiệm trọng của rối loạn cũng như thời gian kéo dài. Sự hiện diện của tình trạng dễ bị thương tổn sinh học (ví dụ những khó khăn kiểm soát ức chế) mà bản chất của nó chưa được thiết lập, có thể làm cho trẻ dễ gặp nguy hiểm hơn trẻ bình thường, những trẻ bị ảnh hưởng xấu bởi bất kỳ dạng gia đình và stress ở trường học nào. Những trẻ như vậy có thẻ sẽ trở thành nơi trút giận, chịu báng cho những cơn tức giận của cha mẹ hoặc cô giáo hơn là những trẻ bình thường có tính khí phức tạp hơn.
    Trong xã hội cạnh tranh và đẩy nhanh khoa học kỹ thuật của chúng ta, việc học tập kém của trẻ (hành vi của chúng lại càng làm cho tình huống xấu đi) gây chấn sang, lo âu cho cha mẹ, nảy sinh sự sợ hãi rằng trẻ sẽ không thể xin được việc làm thích hợp khi lớn lên. Cùng lúc đó, với sự gia tăng ly hôn, cha (mẹ) độc thân, gia đình pha tạp và cha mẹ làm việc suốt ngày, cha mẹ và cô giáo ít thời gian và ít quan tâm, chăm sóc những trẻ mà vẻ ngoài là có tiềm năng tốt nhưng không tỏ ra cố gắng vươn lên, những trẻ tăng động. Một nghiên cứu 25 năm về trẻ em Kawai bị biến chứng lúc gần sinh phát hiện ra rằng những gia đình hạnh phúc, nguyên vẹn - những gia đình có thể tạo ra được các tác nhân gia đình trong nhà có thể hoàn toàn bù đắp được những rủi ro khi gần sinh, chỉ trừ trường hợp trẻ bị tổn thương quá nặng (như: chậm phát triển) (Wernen, 1989). Trong một nhóm trẻ giống như nhóm trẻ bị TĐGCY, sự bền vững gia đình và chất lượng làm cha mẹ tác động với các yếu tố ở trẻ để dự đoán những hậu quả lâu dài (Weiss và Hechtman, 1986). Sự tương tác này và quyền lực được dự đoán bố mẹ là sự phát hiện được thiết lập chắc chắn.
    Mối quan hệ giữa mất chức năng gia đình, cha mẹ đơn, tình trạng chăm sóc và tăng động (không bị rối loạn đạo đức) đã được tìm ra trong nhiều nghiên cứu khác ngoài nghiên cứu sức khoẻ trẻ em Ontario gần đây.
    Tóm lại, sự dễ tổn thương sinh học và tâm lý xã hội, nhân tố kinh tế (đó là môi trường tổng thể của trẻ) tương tác vòng tròn gây ra nguyên nhân, tính phức tạp và hậu quả của rối loạn.

    http://www.tamlyhoc.net/forum/index....6d&topic=188.0
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

    • 19 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #3
    Mình rất muốn biết rõ hơn biểu hiện về rối loạn tăng động ở trẻ em con mình cung đang có một số biểu hiện. Rất mong moi người giúp để mình tìm hiểu

    • 22 Bài viết

    • 37 Được cảm ơn

    #4
    Bạn thân mến,
    Hội chứng giảm chú ý - tăng động ở trẻ em là một rối loạn đa nguyên nhân, đa yếu tố với các biểu hiện : trẻ kém khả năng duy trì sự tập trung chú ý vào bất kỳ một hoạt động naò trong một khoảng thời gian tương đối (20 phút), gia tăng hành vi với biểu hiện tay chân ngọ ngoạy không yên, liên tục bắt chụp mọi vật trong tầm tay, không lường được nguy hiểm. Hai rối loạn naỳ thường cùng xuất hiện hoặc có thể xuất hiện đơn lẻ biểu hiện thành hội chứng giảm chú ý - tăng động.
    Tuy nhiên, đó chỉ là những mô tả khaí quát, chung nhất. Và việc chẩn đoán muốn chính xác thường phaỉ sau 3 tuổi và cần được thực hiện bơỉ các bác sĩ tâm thần nhi hoặc các nhà chuyên môn khác. Bởi vì, như các bậc phụ huynh đã biết, trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 3 rất hiếu động, do đó rất dễ lầm lẫn với hội chứng ADHD. Hơn nữa, tuỳ theo môi trường sống và giaó dục của trẻ, cũng như mức độ dung nạp của phụ huynh trước những hành vi hiêú động của trẻ mà có thể trẻ được xem là hành vi gia tăng quá mức đối với người naỳ, nhưng laị trong giới hạn bình thường đối với người khác.
    Về mặt nguyên nhân, đây là một hội chứng do nhiều yếu tố căn nguyên (nghĩa là vẫn chưa xác định được đâu là nguyên nhân chính xác, chắc chắn) và còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.
    Các biểu hiện cơ bản của trẻ mà phụ huynh có thể dễ dàng nhận thấy :
    _ Trong độ tuổi 1- 6
    Trẻ hay khóc và khóc lâu
    Ngủ Ít
    Hung hăng, dễ nổi nóng
    Hành vi gây hấn : nắm tóc, đấm đá hoặc tự đấm đá khi không vừa ý...
    Tay chân không yên, leo treò, nhaỷ nhót liên tục. Không biết sợ khi bị la, không biết nguy hiểm, không rút kinh nghiệm sau khi bị đau(trường hợp naỳ tôi có 1 bệnh nhân nam, 3 tuôỉ, bị gaỹ chân P vì nhaỷ từ trên cao xuống, sau khi băng bột, bé tiếp tục nhaỷ làm gaỹ luôn chân còn laị. Và bé vẫn không chiụ nằm yên, chaỵ nhảy đến mức nát bột cả 2 chân trước khi được cắt bột )
    _ Sau 6 tuổi
    Hiếu động quá mức, luôn nhún nhaỷ, leo trèo
    Chen ngang vaò câu chuyên của người lớn
    Không kiên nhẫn, không biết chờ đến lượt mình khi chơi với các bạn
    Thô baọ
    Không biết lôĩ, không hôí hận
    Khả năng tập trung kém
    Không hoàn tất được việc gì, rất mau chán
    Luôn bị thầy cô phàn nàn là hay đứng lên đi ra khỏi chỗ ngồi trong giờ học...

    Trên đây là một số caí nhìn mà các bậc cha mẹ có thể quan sát được trên con mình. Tôi sẽ đi sâu vào chuyên môn trong mục khác khi có dịp.
    Thân aí.

    • 22 Bài viết

    • 37 Được cảm ơn

    #5
    Về vấn đề con của bạn có các dấu hiệu trên, bạn cần cho biết thêm là môi trường sinh hoạt của bé thế nào? Bé có đủ không gian để vận động thật thoải mái hay không? Bé có được thoải mái vận động theo ý thích hay không? Bạn có quá khắt khe, luôn muốn giữ con mình phải thật nghiêm túc, thuỳ mị như một "tiểu thư" trưởng thành không?
    Thứ hai, trong giai đoạn dưới 6 tuổi, con bạn có các biểu hiện như tôi đã nêu trong mục < 6 tuổi không?
    Từ khi nào theo bạn bé bắt đầu xuất hiện các biểu hiện bất thường?
    Ở lớp bé biểu hiện thế nào? Giáo viên có thường xuyên than phiền về vấn đề lăng xăng không yên của bé không? Theo giáo viên nhận xét con bạn có khả năng tập trung chú ý không? có chịu làm theo cô và các bạn không? Công việc yêu thích nhất của bé có thể giữ chân bé trong khoảng thời gian tối đa là bao nhiêu lâu? học lực của bé ở mức độ nào?
    Các biểu hiện trên có xuất hiện mọi lúc mọi nơi không? (Đi đến nơi chốn lạ, bé có ngọ ngoạy tay chân liên tục không? hay bé trở nên đầm tính hơn?)
    Sau khi bạn cho thêm thông tin về các vấn đề trên, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận.
    Thân chào.
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

    • 373 Bài viết

    • 48 Được cảm ơn

    #6
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Me2congai
    Theo các dấu hiệu được BS LQ Mai Anh cho trẻ trên 6 tuổi, thì con nhà tôi hội tụ gần đầy đủ biểu hiện của căn bệnh này.

    (Các) Bác sỹ có thể nói kỹ hơn về cách nhận biết (bằng các bài kiểm tra hoặc 1 phương pháp cụ thể nào đó) cách hạn chế, các biện pháp điều trị và địa chỉ để thăm khám bênh này ở Hà nội hoặc ở Việt NAm không ạ.

    Xin cám ơn Bác sỹ.
    Bạn ơi, nếu bạn ở Hà nội thì bạn đưa con vào Khoa Tâm bệnh của Bệnh viện Nhi TW để khám hoặc đến phòng khám ABC ở Giang Văn Minh.

    • 373 Bài viết

    • 48 Được cảm ơn

    #7
    Bác sỹ Lý Quốc Mai Anh thân mến, cảm ơn bác sỹ đã bớt chút thời gian để đến với các bé trong diễn đàn này.

    Đối với trẻ tăng động, xin bác sỹ giúp cho một số phương pháp can thiệp để giúp trẻ có thể tập trung học bài và tập trung trên lớp.
    Xin cảm ơn bác sỹ nhiều.

    • 22 Bài viết

    • 37 Được cảm ơn

    #8
    @linhanh:

    Như bài viết tôi đã gửi trước đây, mức độ tăng động của trẻ là rất thay đổi từ trẻ này sang trẻ khác, đôi lúc mang trẻ đến những tình huống vô cùng nguy hiểm (nếu xét đến các nguy cơ trẻ có thể gặp phải, thì môi trường trong nhà là vô vàn những bẫy nguy hiễm gây cho trẻ những khả năng bị thương tật: như ổ điện, vật nhọn sắc...). Và cũng chính sự gia tăng hành vi ở trẻ làm trẻ không có khả năng chú ý tậo trung như trẻ bình thường khác. Vì vậy, để tránh cho trẻ những nguy hại do tăng động và để phần nào cải thiện khả năng chú ý của trẻ, trẻ cần đến khám ở nhà chuyên môn để được đánh giá chính xác mức độ gia tăng hành vi, từ đó sẽ có chỉ định loại thuốc và liều lượng thuốc thích hợp để điều chỉnh. Ngoài ra, cũng sẽ có một số thuốc làm tăng khả năng tập trung chú ý cho trẻ.
    Nếu đơn thuần các hành vi của trẻ còn trong mức chịu đựng và "khống chế" được của người thân và môi trường xung quanh, bạn cần có chế độ học tập hợp lý với khả năng tập trung chú ý của trẻ. Chẳng hạn dùng phương thức giảng dạy gây hứng thú nhất để lôi kéo trẻ đến vấn đề đang được nói đến, chia nhỏ bài tập theo khả năng duy trì chú ý của trẻ, chấp nhận việc trẻ chỉ học được 1/3 --> 1/2 tiết học thông thường, sau đó sẽ tiếp tục sau vài phút thư giãn.

    Thân ái.
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

    • Avatar của N&M
    • N&M
      Offline
    • 11 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 1,490 Bài viết

    • 614 Được cảm ơn

    #9
    Mình có đọc rong một quyển sách về dnh dưỡng cho trẻ thấy nói rằng tại Mỹ người ta đã nghiên cứu thấy phụ gia thực phẩm như chất tạo màu và mùi là một trong nhưng nguyên nhân gây rối laoij tăng động giảm chú ý. Người ta đưa ra 3 nhóm thực phẩm cần tránh
    - Nhóm thứ nhất gồm cam, nho, táo và một vài loại quả khác (mình không nhớ rõ)
    - Nhóm thứ hai tất cả các loại thức ăn có phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo
    - Tất cả các loiaj ngũ cốc có phụ gia tạo màu và mùi.
    Trong khuyễn cáo này có ghi rõ chỉ có những phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo chứ không phải chất bảo quản.
    Mình nghĩ nếu các mẹ có con bị bệnh này cho con ăn kiêng những thực phâm nay thì chỉ có lợi chứ không có hại gì.
    Họ cũng hướng dẫn cách giảm hết các loại thuhwjc phẩm có chát này sau đó tăng dần từng laoij và theo dõi để tìm cách xác định laoij nào tác động tới con bạn.
    Vì ở đây mình không có quyển sách ấy nên hôm nào mình sẽ tìm cách post toàn bộ phần này cho các mẹ.
    Hình như quyển sách đó là "thức ăn bổ dưỡng trẻ em tập 2", ở phần cuối cùng.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)

    • 22 Bài viết

    • 37 Được cảm ơn

    #10
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Me2congai
    Cám ơn BS đã quan tâm và đưa ra các câu hỏi sâu về trường hợp của con tôi. Xin BS xem các câu trả lời của tôi ở dưới đây và gia đình tôi rất mong nhận được sự quan tâm của BS:
    Ở lớp bé biểu hiện thế nào? Me2congai: Ví dụ khi các bạn đang chơi trong lớp một trò chơi tập thể thì bé hay bỏ đi tha thẩn sờ mó vào các đồ vật, bé nhớ tên các bạn cùng lớp tương đối kém(bé chỉ nhớ tên các bạn hay chơi với mình, còn các bạn khác khi chợt nhìn thấy hoặc được hỏi đến thì bé thường mất 1 lúc mới nhớ ra hoặc không nhớ ra tên bạn)===Theo giáo viên nhận xét con bạn có khả năng tập trung chú ý không? Me2congai:Có===. : các cô nhận xét bé thiếu tập trung trong giờ học=== Có chịu làm theo cô và các bạn không? me2congai: Không rõ====Công việc yêu thích nhất của bé có thể giữ chân bé trong khoảng thời gian tối đa là bao nhiêu lâu? Me2congai: nếu để chúa thoải mái ngồi vẽ thì khoảng 50-60 phút====học lực của bé ở mức độ nào?Me2congai: trung binh
    Các biểu hiện trên có xuất hiện mọi lúc mọi nơi không? (Đi đến nơi chốn lạ, bé có ngọ ngoạy tay chân liên tục không? hay bé trở nên đầm tính hơn?)Me2congai: Đi đến chốn lạ bé không sợ sệt gì cả, thường chạy lung tung và sờ mó khắp mọi nơi=====.

    Trên đây là những câu trả lời của tôi, mong BS bớt thời gian nghiên cứu và cho gia đình những tư vấn hữu ích.

    Một lần nữa xin cám ơn BS.
    Trước mắt, theo những thông tin mà bạn gửi, thì nhận thấy bé chưa đủ các dấu hiệu để gợi ý "hội chứng giảm chú ý tăng động". Bé chỉ có các nét của một trẻ hiếu động. Do đó, nếu mức độ hiếu động của trẻ nằm trong giới hạn chập nhận được của gia đình và thầy cô giáo(bé không bị xem là "tai hoạ" cho lớp học, hay "kẻ phá bỉnh") thì không cần phải khám bệnh gì thêm. Quan trọng là bạn dành nhiều hơn thời gian để giáo dục trẻ, nhằm hướng tới sự thay đổi thái độ cho trẻ, đừng gò ép trẻ bằng các quy tắc cứng nhắc hay kỷ luật sắt, có thể gây phản ứng dữ dội. Đôi khi cũng nên nhương bộ(nếu xét thấy có thể), để trẻ không có khuynh hướng chống đối bùng nổ do quá gò bó, chèn ép.
    Nếu các hành vi của trẻ nhiều lúc làm bạn không tưởng tượng nổi, có nguy cơ đem lại nguy hiểm cho chính trẻ thì nên đưa trẻ đến khám trực tiếp tại nhà chuyên môn, để có thể đưa ra kết luận chính xác và có thể chỉ định cho con bạn một số điều trị đặc hiệu giúp cải thiện tình hình.

    Chúc bạn thành công
    Thân chào