Sự phát triển

Rối loạn tăng động-giảm chú ý ở trẻ em

Đến trả lời mới nhất
  • 2 Lượt chia sẻ
  • 142K Lượt đọc
  • 366 Trả lời

42 Người đang theo dõi

    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #1
    Rối loạn tăng động - thiếu chú ý
    Attention-dificit/hyperactivity disorder- ADHD)



    1.Khái niệm chung
    1. 3. Rối loạn tăng động giảm chú ý:

    1.1. Định nghĩa về RLTĐGCY:
    - RLTĐTCY là một hội chứng có đặc trưng là: Khởi bệnh sớm trước 5 tuổi. Sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiềm chế với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc. Các biểu hiện trên nổi lên trong các tình huống và kéo dài nhiều năm’’. Sự thiếu chú ý là nét trọng tâm của hội chứng (ICD-10 và DSM-IV)
    - Hôi chứng này, lúc đầu được gọi là tổn thuơng não tối thiểu (minimal brain damage), rối loạn chức năng não tối thiếu (minimal brain dysfuntion).
    - Tỷ lệ mắc bệnh khá cao, chiếm từ 3-5% các lứa tuổi, trong đó tuổi tiêu học tỷ lệ con trai chiếm 17% và 8% là con gái; tuổi vị thành niên con trai là 11% và con gái 6%. Với chuyên khoa tâm thần HCTĐTCY chiếm 40-50% số bệnh nhân ngoại trú, và 40-70% số bệnh nhân nội trú, thuờng xuyên liên hợp với các rối loạn tâm thần khác
    - RLTĐGCY bắt đầu sớm trong quá trình phát triển cơ thể (khoảng 10 năm đầu) do đặc điểm của tâm lý lứa tuổi. Các nét đặc trưng chính của chúng là thiếu sự kiên trì trong các hoạt động, đòi hỏi sự tham gia của nhận thức và khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, nhưng không hoàn thành cái nào cả, kết hợp vói một hoạt động quá đáng, thiếu tổ chức và kém điều tiết. Sự thiếu sót này thường kéo dài trong suốt quá trình đi học sang cả tuổi thành niên.

    Nhiều bất thường khác có thể kết hợp với rối loạn này. Những trẻ này thường dại dột, xung động, để bị tai nạn và bản thân chúng thường có những vấn đề về kỷ luật, do thiếu tôn trọng các quy tắc, việc thiếu tôn trọng này là kết quả của việc thiếu suy nghĩ (hơn là cố tình chống đối). Các quan hệ của chúng đối với người thành niên thường là thiếu kiềm chế về mặt xã hội, thiếu thận trọng và dè dặt, chúng không được các trẻ em khác thừa nhận và có thể trở nên bị cô lập. Các tật chứng về nhận thức cũng thường gặp và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ cũng gặp nhiều hơn một cách không cân xứng.

    1.3.2. Biểu hiện:
    Có 3 đặc trưng chính
    - Tật chứng về sự chú ý: biểu hiện sự ngừng trước giới hạn các việc đang làm, và bỏ dở các hành động trong khi chưa hoàn thành. Các trẻ thường chuyển từ một hành động này, sang một hành động khác, hình như trẻ thôi không chú ý đến công việc đang làm, vì chúng bị hấp dẫn bởi một công việc khác. Và không hoàn thành một công việc xuất sắc
    - Tăng hành động: bao gồm một sự hành động quá mức, đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi một sự yên tĩnh nào đó. Tuỳ theo hoàn cảnh, nó biểu hiện ở trẻ em chạy và nhảy liên tục, hoặc đứng dây khỏi chỗ trong khi được yêu cầu ngồi yên, nói quá mức và làm ồn, hoặc cựa quậy không ngừng trong khi ngồi.
    Tiêu chuẩn để đánh giá là mức hành động quá tăng, trong khuôn khổ người ta chờ đợi ở một đứa bé trong một hoàn cảnh nhất định ,và so sánh với một đứa trẻ cùng lưới tuổi cùng mức độ trí tuệ. Đặc điểm hành vi này biểu hiện rõ ràng hơn trong những hoàn cảnh có tổ chức và có cấu trúc đòi hỏi một sự kiểm tra bản thân ở mức cao.
    -Thiếu kiềm chế: trong các mối quan hệ xã hội, sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các qui tắc xã hội một cách xung động là nét đặc trưng của trẻ có rối loạn này
    Có thể biểu diễn bằng sơ đồ
    Khả năng Khả năng
    Kiềm chế chú ý



    Tăng động

    1.4. Lịch sử thuật ngữ RLTĐGCY
    Các nhà khoa học đã tranh luận nhiều xung quanh việc thay đổi thuật ngữ dạng rối loạn này, phản ánh xu hướng lịch sử trong việc khái niệm hoá cả về những nguyên nhân và điều chỉnh của hội chứng.
    Hội chứng này đã được mô tả trong nền y học cuối thế kỷ 19 bởi những thuật ngữ "mất trí", "thằng ngốc", "sự ức chế kém" (Thorley, 1984).
    Vào năm 1902, Still đã đưa ra những mô tả rõ ràng, có nhiều điểm tương tự như khái niệm này. Ông mô tả một đứa trẻ bị tăng động, không thể tập trung, có những khó khăn trong học tập và các vấn đề về hạnh kiểm. Ông gọi đứa trẻ đó là có sự thiếu hụt khả năng kiểm soát đạo đức. Ông cho rằng số trẻ nam mắc phải cao hơn nữ và do cả hai nguyên nhân môi trường và thể chất.

    Sau đó có sự chuyển hướng sang xem xét hội chứng có nguồn gốc từ cơ thể. Điều này, một phần do đại dịch cúm sau thế chiến I và dịch hôn mê viêm não xảy ra như một di chứng, những trẻ sống sót qua cơn hôn mê hình thành những biểu hiện rối loạn hành vi nghiêm trọng, tương tự như những miêu tả của Stick và được coi là "bị điểu khiển hữu cơ" (Kahn và Cohen, 1934) ở Anh. Lewin (1938,) đã tạo sự chú ý, khi ông miêu tả mối quan hệ giữa những tổn thương não nghiêm trọng và tình trạng bồn chồn, không yên ở người chậm khôn, cũng như ở những nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm. Cuối cùng, giả thuyết nguyên nhân cơ thể được Strauss và đồng nghiệp Mỹ nhấn mạnh, khi ông miêu tả một số trẻ chậm khôn, tăng động; đãng trí, hấp tấp, thiếu kiên trì và nhận thức kém. Ông coi những trẻ bị chậm khôn là do tổn thương não, kể cả khi không chứng minh được bị hôn mê não. Strauss gọi những đứa trẻ này mắc phải "hội chứng tổn thương não nhẹ".
    Một số nhà lâm sàng cùng thời điểm nhận ra những lập luận vòng vo ngụ ý cho rằng một đứa trẻ không nên bị gán cho tổn thương não chỉ vì những hành vi của nó, trừ phi chứng minh được có tổn thương này. Trong nỗ lực dàn xếp giữa một ý tưởng cho rằng một số rối nhiễu không do những tổn thương có thực ở hiện tại trong não của trẻ và ý tưởng coi môi trường là nguyên nhân (ý tưởng này cho rằng những khó khăn của trẻ là do bố mẹ).
    Clement và Peter (1962) đặt ra thuật ngữ "loạn chức năng não nhẹ" (minimal brain dysfuntion - MBD) thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi và được chấp thuận. Tuy nhiên, tại Hội nghị quốc tế tổ chức ở Oxford; 1962, Mc Keith đã đưa ra lời cảnh cáo trong bài tham luận có tựa đề "Tổn thương não nhẹ - một khái niệm lỗi thời" (1963), Mc. Keith cảnh báo rằng: "thuật ngữ MBD, thực sự tiến bộ hơn thuật ngữ cũ" lại bao gồm cả nhóm không đồng nhất những trẻ đáng ra phải được chia nhỏ trong tương lai. Mặc dù vậy, thuật ngữ MBD vẫn được sử dụng bất chấp lời chỉ trích là quá bao hàm.

    Những nỗ lực để tạo ra sự phân loại đáng tin cậy và có hiệu lực hơn bắt đầu với ICD- 99 (WHO, 1965) và DSM II (APA, 1968) khi thuật ngữ này được đổi là hội chứng tăng động ở tuổi nhỏ (hyperkinetic sydrome of child hood). ở Anh, thuật ngữ vẫn được dùng (sau nhanh chóng bị đổi trong ICD- 10) và đề cập đến một loại rối loạn tương đối hiếm: tăng động và không chú ý. Trẻ chậm khôn và hoặc trẻ có tổn thương não cũng được chẩn đoán xếp vào nhóm này, nhưng không giống ở Mĩ, những rối loạn về hạnh kiểm, thậm chí nếu đồng thời xảy ra, lại loại trừ trẻ khỏi chẩn đoán. Khác biệt giữa những tiêu chuẩn chẩn đoán này giữa lúc làm cho cho sự so sánh các nghiên cứu trở nên vô nghĩa.

    Trong thập niên trước, công trình của Puglas (1983) đã có ảnh hưởng lớn khi công nhận rằng những thiếu hụt cơ bản gây ra rối loạn là do không điều chỉnh được sự chú ý và kiểm soát ức chế. chính những thiếu hụt này cơ bản hơn so với tình trạng bồn chồn, không yên. DSM III nhận thấy quan điểm mới này và gọi tên lại: Rối loạn giảm chú ý có không không tăng động (Attention defiat disordor - ADDH). Ba cấu thành cơ bản của rối loạn cũng được mô tả, triệu chứng được liệt kê, ví dụ: không chú ý, xung động, sự bồn chồn.
    Sự phân biệt giữa 3 vấn đề cơ bản của hội chứng tồn tại ngắn và DSM III-R thay đổi thành RLTĐGCY (ADHD) (một lần nữa lại đặt sự không yên, bồn chồn quan trọng hơn). ADHD liệt kê 14 biểu hiện triệu chứng mà trong đó nếu có 8 biểu hiện là đã mắc phải.

    Tóm lại, điều tra lâm sàng của thuật ngữ nhấn mạnh:
    - Rối loạn được biết đến từ 100 năm trước.
    - Những thay đổi trong thuật ngữ phản ánh quan niệm thay đổi về nguyên nhân và khó khăn chính của hội chứng.

    2. Các thuyết về tăng động:
    2.1. Thuyết nguyên nhân vê sinh học

    Nguyên nhân của hội chứng chưa được biết. Những bằng chứng cho tới nay thấy rằng, một nguyên nhân đơn nhất không thể giải thích được cho những nhóm trẻ có rối loạn. Trước tiên, hội chứng có thể biểu hiện một cách chung đối với sự tổn thương sinh học và những biến số tương tác trước.
    Nếu có sự loạn chức năng hệ thần kinh trưng uơng, cơ bản giống nhau, bản chất của nó vẫn chưa được xác định. Những biểu hiện của loạn chức năng theo giả thiết này là những khó khăn trong việc kiểm tra tự điều chỉnh, như tổ chức quá trình thông tin, sự chú ý, sự phản ứng xã hội và sự kiềm chế thích hợp (Douglas, 1983, Cohalen, 1989).
    Mặc dù vào những năm 20, hội chứng được mô tả đầu tiên ở những trẻ em bình thường khi bị hôn mê viêm não. Tuy nhiên, tổn thương não như một kết quả của sự kiến trước, gần và sau khi sinh không được chứng minh là liên quan đến RLTĐGCY. Qua điểm ban đầu cho rằng có một chuỗi những thương vong xã hội liên tiếp (từ chậm phát triển hoặc chứng liệt não tới hội chứng tăng động và không có khả năng học tập) (trên diện rộng, vẫn chưa được xác nhận).

    2.1.1. ảnh hưởng của di truyền:
    Những nghiên cứu mà cho thấy tỷ lệ của rối loạn nhân cách chống đối xã hội, chứng nghiện rượu, lạm dụng ma tuý ở cha và hysteria ở mẹ của trẻ tăng động đã thất bại trong việc phân biệt những trẻ TĐGCY có kèm rối loạn đạo đức và những trẻ không kèm. Nhà nghiên cứu gần đây (August và Steward, 1983) cho rằng những rối loạn ở cha mẹ được kể ở trên đi kèm với TĐGCY, chỉ khi hội chứng cùng xảy ra với những rối loạn hướng ngoại khác. Tuy vậy, đáng kể cha của trẻ TĐGCY (không có những rối loạn khác), những biểu hiện tương tự của TĐGCY cũng có hoặc đã có, trong thời thơ ấu của họ. Điều này gợi ý là có sự chuyển giao di truyền cho một số trẻ tăng động. Tần xuất rối nhiễu ở những cha mẹ nuôi của trẻ tăng động không khác biệt với tần xuất ở cha mẹ của trẻ bình thờng. Điều phát hiện này làm giảm khả năng cho rằng tâm bệnh học chủ ý do môi trường gia đình. Ngược lại, những cha mẹ đẻ của trẻ tăng động mà ly hôn sớm có tỷ lệ khái niệm cao hơn cha mẹ nuôi. Những nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ cao ở anh chị em ruột của trẻ tăng động. Một nghiên cứu dân số rộng (dự án cộng tác gần

    sinh quốc gia úc) cho thấy nguy cơ đối với anh chị em ruột của trẻ TĐGCY gấp 2 lần nguy cơ mong đợi. Tất cả những nghiên cứu này đều bị phê phán phương pháp, tuy vậy, việc đóng góp của di truyền đối với hội chứng là đúng, như kết quả của toàn bộ sự tương đồng giữa nhiều nghiên cứu.

    2.1.2. Nghiên cứu hoá thần kinh:
    Bởi tác dụng trị bệnh mạnh của những chất kích thích đối với những triệu chứng của hội chứng, người ta cho rằng những rối loạn này là do sự loạn chức năng của quá trình gây tiết adrenatin hoặc hệ thống tiết huyết thanh.
    Những báo cáo trước đây cho bằng những sản phẩm chuyển hoá não như MHPG thấp hơn trong nước tiểu của trẻ tăng động, so với nước tiểu của trẻ bình thường. Những nghiên cứu gần đây hơn đo axit phenylatic tiết niệu, phenylalanine và tirosin và không tìm ra sự khác biệt. Có khả năng là những phép đo ngoại vi về sản phẩm chuyển hoá thần kinh, không nhất thiết phản ánh những giá trị trung tâm. Hơn nữa, theo những nghiên cứu, những chất kích thích làm suy giảm sự bài tiết MHPG trong hai tuần sau khi chúng bị gián đoạn. Điều này có thể giải thích cho những kết quả của các nghiên cứu trước. Đo đạc chất axit homovanitic (HVA) trong một nghiên cứu thấy rằng nó thấp hơn trong chất dịch xương sống của trẻ tăng động, tuy nhiên, trong các nghiên cứu khác thì chưa được chứng minh. Những nghiên cứu về chất dịch não tuỷ, nói chung thường là quy mô mẫu nhỏ, do đó hạn chế độ tin cậy. Zametkin và Rapoport (1987) kết luận rằng, những nghiên cứu so sánh monoamin và những sản phẩm chuyển hoá trong nước tiểu plasma và dịch não tuỷ trẻ TĐGCY và trẻ bình thường đáng không khác biệt.

    Những cuộc thử nghiệm trị liệu được tiến hành với nhiều tác nhân khác nhau được biết đến là chủ vận (cơ) của những chất chuyển hoá thần kinh. Ví dụ: Piribidel và amantadine là những chất vận (cơ) của dopamine.... Những kết quả trị liệu rất không kết quả đã phủ nhận thuyết sự trao đổi chất của một chất truyền. Ba chất ức chế oxidaza monoaxit (MAO) đã được phát hiện ra để cải thiện hành vi của trẻ tăng động. Clorgyline là chất ức chế MAO A tuyển chọn, tranylcypromine ức chế cả MAO A và MAO B, deprenyl ức chế MAO B. Chất ức chế MAO A ảnh hưởng đến norepcnephrine và serotomin, chất ức chế MAO B ảnh hưởng đến plenylethylamines, dopamin chịu ảnh hưởng của cả MAO A và MAO B. Vì vậy, những kết quả trị bệnh tích cực của 3 chất ức chế MAO không cho phép chúng ta đánh giá tầm quan trọng của một chất này so với chất kia.
    Zametkin và Rapopoit kết luận rằng chức năng catecholamine và sự điều biến của nó rất có khả năng liên quan đến sự phát snh bệnh và chữa trị TĐGCY. Họ cho rằng việc thiếu các phản ứng đáp lại đối với một kích thích có thể dự đoán sự phản ứng nhanh đối với kích thích khác. Sự thay đổi chức năng của noradrenegre có vẻ như cần thiết nhưng phải là chủ đối với hiệu quả lâm sàng bởi vì những nhân tố như haloperidol cũng hiệu lực.

    Trong khi những đặc điểm chính chưa rõ ràng, một số các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ở trẻ TĐGCY, methylphenidate và dextroumphetamine gây ra việc tiết nhanh nhiều các hóc môn tăng trưởng.


    http://www.tamlyhoc.net/forum/index....6d&topic=188.0
    6 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #2
    2.1.3. Chì trong máu
    Một nghiên cứu gần đây (Thomson và cộng sự, 1989) trên 500 trẻ Fdimburg thông báo phát hiện về mối quan hệ phản ứng nhanh giữa mức chì trong máu và mức đánh giá hành vi trên thang đo cho giáo viên, thấy điểm tổng và điểm đo mục hành vi công kích, chống đối xã hội và tăng động. Nghiên cứu đã chứng thực rằng, mức chì trong máu cao có khả năng gây các vấn đề hành vi và nhận thức ở trẻ.

    2.1.4. Vai trò của thùy trước:
    Các nhà khoa học cùng tập trung quan tâm nghiên cứu vai trò ảnh hưởng của thùy trước đối với hội chứng. Thùy trước, bằng cách điều chỉnh
    adrenegic sử dụng những tác dụng ức chế lên các cấu trúc thể vân dưới, được điều chỉnh bởi dopamine. Điều này có thể giải thích được nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải thiện những triệu chứng của hội chứng vỏ não trước, thuộc quỹ đạo có khả năng liên quan đến các hành vi xung động và hung tính. Một số nghiên cứu gần đây sử dụng chụp cắt lớp bằng dòng positon (PET) đã chứng minh được những thay đổi về phát triển trong suốt thời thơ ấu và vị thành niên, theo mật độ của thụ thể dopamine, lượng máy não và sử dụng glucose ở thùy trước, như PET đo đạc trong một số nghiên cứu chỉ ra là có sự khác biệt giữa trẻ tăng động và trẻ bình thường. Hơn nữa, những sự phân phối methylphenidate dẫn đến có sự tăng lượng máu chảy tới não giữa và hạch cơ sở, trong khi những khu vực vỏ não vận động cho thấy sự giảm đi, điều này có thể giải thích được ảnh hưởng trị bệnh của chất kích thích đối với hội chứng. Trong khi rất nhiều những nghiên cứu vẫn đang trong thời kỳ khởi đầu, các nghiên cứu PET trong tương lai sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về loạn chức năng vỏ não ở trẻ TĐGCY.

    2.2.Thuyết nguyên nhân tâm lý xã hội:
    Bởi vì các bằng chứng sinh học quyết định trên của hội chứng TĐGCY là yếu, hơn nữa những nguyên nhân sinh học mang tính thăm dò này có thể không đặc trưng cho TĐGCY, nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến các yếu tố tâm lý xã hội.
    Một số báo cáo chỉ ra sự liên quan giữa stress gia đình và địa vị kinh tế xã hội thấp với tỷ lệ mắc phải cao và hành vi có vấn đề ở nhóm trẻ tham khảo 3 tuổi trước tuổi đến trường. Hơn nữa, mối quan hệ mẹ - bé không được gắn bó, thu được qua lời thuật của mẹ cũng như quan sát của người phỏng vấn, dự đoán sự dai dẳng của vấn đề được xác định ở tuổi nhỏ. Điều này khiến nảy sinh ý kiến là những nhân tố gia đình cũng đóng góp vào sự nghiệm trọng của rối loạn cũng như thời gian kéo dài. Sự hiện diện của tình trạng dễ bị thương tổn sinh học (ví dụ những khó khăn kiểm soát ức chế) mà bản chất của nó chưa được thiết lập, có thể làm cho trẻ dễ gặp nguy hiểm hơn trẻ bình thường, những trẻ bị ảnh hưởng xấu bởi bất kỳ dạng gia đình và stress ở trường học nào. Những trẻ như vậy có thẻ sẽ trở thành nơi trút giận, chịu báng cho những cơn tức giận của cha mẹ hoặc cô giáo hơn là những trẻ bình thường có tính khí phức tạp hơn.
    Trong xã hội cạnh tranh và đẩy nhanh khoa học kỹ thuật của chúng ta, việc học tập kém của trẻ (hành vi của chúng lại càng làm cho tình huống xấu đi) gây chấn sang, lo âu cho cha mẹ, nảy sinh sự sợ hãi rằng trẻ sẽ không thể xin được việc làm thích hợp khi lớn lên. Cùng lúc đó, với sự gia tăng ly hôn, cha (mẹ) độc thân, gia đình pha tạp và cha mẹ làm việc suốt ngày, cha mẹ và cô giáo ít thời gian và ít quan tâm, chăm sóc những trẻ mà vẻ ngoài là có tiềm năng tốt nhưng không tỏ ra cố gắng vươn lên, những trẻ tăng động. Một nghiên cứu 25 năm về trẻ em Kawai bị biến chứng lúc gần sinh phát hiện ra rằng những gia đình hạnh phúc, nguyên vẹn - những gia đình có thể tạo ra được các tác nhân gia đình trong nhà có thể hoàn toàn bù đắp được những rủi ro khi gần sinh, chỉ trừ trường hợp trẻ bị tổn thương quá nặng (như: chậm phát triển) (Wernen, 1989). Trong một nhóm trẻ giống như nhóm trẻ bị TĐGCY, sự bền vững gia đình và chất lượng làm cha mẹ tác động với các yếu tố ở trẻ để dự đoán những hậu quả lâu dài (Weiss và Hechtman, 1986). Sự tương tác này và quyền lực được dự đoán bố mẹ là sự phát hiện được thiết lập chắc chắn.
    Mối quan hệ giữa mất chức năng gia đình, cha mẹ đơn, tình trạng chăm sóc và tăng động (không bị rối loạn đạo đức) đã được tìm ra trong nhiều nghiên cứu khác ngoài nghiên cứu sức khoẻ trẻ em Ontario gần đây.
    Tóm lại, sự dễ tổn thương sinh học và tâm lý xã hội, nhân tố kinh tế (đó là môi trường tổng thể của trẻ) tương tác vòng tròn gây ra nguyên nhân, tính phức tạp và hậu quả của rối loạn.

    http://www.tamlyhoc.net/forum/index....6d&topic=188.0
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 19 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #3
    Mình rất muốn biết rõ hơn biểu hiện về rối loạn tăng động ở trẻ em con mình cung đang có một số biểu hiện. Rất mong moi người giúp để mình tìm hiểu
    • 22 Bài viết

    • 39 Được cảm ơn

    #4
    Bạn thân mến,
    Hội chứng giảm chú ý - tăng động ở trẻ em là một rối loạn đa nguyên nhân, đa yếu tố với các biểu hiện : trẻ kém khả năng duy trì sự tập trung chú ý vào bất kỳ một hoạt động naò trong một khoảng thời gian tương đối (20 phút), gia tăng hành vi với biểu hiện tay chân ngọ ngoạy không yên, liên tục bắt chụp mọi vật trong tầm tay, không lường được nguy hiểm. Hai rối loạn naỳ thường cùng xuất hiện hoặc có thể xuất hiện đơn lẻ biểu hiện thành hội chứng giảm chú ý - tăng động.
    Tuy nhiên, đó chỉ là những mô tả khaí quát, chung nhất. Và việc chẩn đoán muốn chính xác thường phaỉ sau 3 tuổi và cần được thực hiện bơỉ các bác sĩ tâm thần nhi hoặc các nhà chuyên môn khác. Bởi vì, như các bậc phụ huynh đã biết, trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 3 rất hiếu động, do đó rất dễ lầm lẫn với hội chứng ADHD. Hơn nữa, tuỳ theo môi trường sống và giaó dục của trẻ, cũng như mức độ dung nạp của phụ huynh trước những hành vi hiêú động của trẻ mà có thể trẻ được xem là hành vi gia tăng quá mức đối với người naỳ, nhưng laị trong giới hạn bình thường đối với người khác.
    Về mặt nguyên nhân, đây là một hội chứng do nhiều yếu tố căn nguyên (nghĩa là vẫn chưa xác định được đâu là nguyên nhân chính xác, chắc chắn) và còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.
    Các biểu hiện cơ bản của trẻ mà phụ huynh có thể dễ dàng nhận thấy :
    _ Trong độ tuổi 1- 6
    Trẻ hay khóc và khóc lâu
    Ngủ Ít
    Hung hăng, dễ nổi nóng
    Hành vi gây hấn : nắm tóc, đấm đá hoặc tự đấm đá khi không vừa ý...
    Tay chân không yên, leo treò, nhaỷ nhót liên tục. Không biết sợ khi bị la, không biết nguy hiểm, không rút kinh nghiệm sau khi bị đau(trường hợp naỳ tôi có 1 bệnh nhân nam, 3 tuôỉ, bị gaỹ chân P vì nhaỷ từ trên cao xuống, sau khi băng bột, bé tiếp tục nhaỷ làm gaỹ luôn chân còn laị. Và bé vẫn không chiụ nằm yên, chaỵ nhảy đến mức nát bột cả 2 chân trước khi được cắt bột )
    _ Sau 6 tuổi
    Hiếu động quá mức, luôn nhún nhaỷ, leo trèo
    Chen ngang vaò câu chuyên của người lớn
    Không kiên nhẫn, không biết chờ đến lượt mình khi chơi với các bạn
    Thô baọ
    Không biết lôĩ, không hôí hận
    Khả năng tập trung kém
    Không hoàn tất được việc gì, rất mau chán
    Luôn bị thầy cô phàn nàn là hay đứng lên đi ra khỏi chỗ ngồi trong giờ học...

    Trên đây là một số caí nhìn mà các bậc cha mẹ có thể quan sát được trên con mình. Tôi sẽ đi sâu vào chuyên môn trong mục khác khi có dịp.
    Thân aí.
    • 22 Bài viết

    • 39 Được cảm ơn

    #5
    Về vấn đề con của bạn có các dấu hiệu trên, bạn cần cho biết thêm là môi trường sinh hoạt của bé thế nào? Bé có đủ không gian để vận động thật thoải mái hay không? Bé có được thoải mái vận động theo ý thích hay không? Bạn có quá khắt khe, luôn muốn giữ con mình phải thật nghiêm túc, thuỳ mị như một "tiểu thư" trưởng thành không?
    Thứ hai, trong giai đoạn dưới 6 tuổi, con bạn có các biểu hiện như tôi đã nêu trong mục < 6 tuổi không?
    Từ khi nào theo bạn bé bắt đầu xuất hiện các biểu hiện bất thường?
    Ở lớp bé biểu hiện thế nào? Giáo viên có thường xuyên than phiền về vấn đề lăng xăng không yên của bé không? Theo giáo viên nhận xét con bạn có khả năng tập trung chú ý không? có chịu làm theo cô và các bạn không? Công việc yêu thích nhất của bé có thể giữ chân bé trong khoảng thời gian tối đa là bao nhiêu lâu? học lực của bé ở mức độ nào?
    Các biểu hiện trên có xuất hiện mọi lúc mọi nơi không? (Đi đến nơi chốn lạ, bé có ngọ ngoạy tay chân liên tục không? hay bé trở nên đầm tính hơn?)
    Sau khi bạn cho thêm thông tin về các vấn đề trên, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận.
    Thân chào.
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 373 Bài viết

    • 48 Được cảm ơn

    #6
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Me2congai
    Theo các dấu hiệu được BS LQ Mai Anh cho trẻ trên 6 tuổi, thì con nhà tôi hội tụ gần đầy đủ biểu hiện của căn bệnh này.

    (Các) Bác sỹ có thể nói kỹ hơn về cách nhận biết (bằng các bài kiểm tra hoặc 1 phương pháp cụ thể nào đó) cách hạn chế, các biện pháp điều trị và địa chỉ để thăm khám bênh này ở Hà nội hoặc ở Việt NAm không ạ.

    Xin cám ơn Bác sỹ.
    Bạn ơi, nếu bạn ở Hà nội thì bạn đưa con vào Khoa Tâm bệnh của Bệnh viện Nhi TW để khám hoặc đến phòng khám ABC ở Giang Văn Minh.
    • 373 Bài viết

    • 48 Được cảm ơn

    #7
    Bác sỹ Lý Quốc Mai Anh thân mến, cảm ơn bác sỹ đã bớt chút thời gian để đến với các bé trong diễn đàn này.

    Đối với trẻ tăng động, xin bác sỹ giúp cho một số phương pháp can thiệp để giúp trẻ có thể tập trung học bài và tập trung trên lớp.
    Xin cảm ơn bác sỹ nhiều.
    • 22 Bài viết

    • 39 Được cảm ơn

    #8
    @linhanh:

    Như bài viết tôi đã gửi trước đây, mức độ tăng động của trẻ là rất thay đổi từ trẻ này sang trẻ khác, đôi lúc mang trẻ đến những tình huống vô cùng nguy hiểm (nếu xét đến các nguy cơ trẻ có thể gặp phải, thì môi trường trong nhà là vô vàn những bẫy nguy hiễm gây cho trẻ những khả năng bị thương tật: như ổ điện, vật nhọn sắc...). Và cũng chính sự gia tăng hành vi ở trẻ làm trẻ không có khả năng chú ý tậo trung như trẻ bình thường khác. Vì vậy, để tránh cho trẻ những nguy hại do tăng động và để phần nào cải thiện khả năng chú ý của trẻ, trẻ cần đến khám ở nhà chuyên môn để được đánh giá chính xác mức độ gia tăng hành vi, từ đó sẽ có chỉ định loại thuốc và liều lượng thuốc thích hợp để điều chỉnh. Ngoài ra, cũng sẽ có một số thuốc làm tăng khả năng tập trung chú ý cho trẻ.
    Nếu đơn thuần các hành vi của trẻ còn trong mức chịu đựng và "khống chế" được của người thân và môi trường xung quanh, bạn cần có chế độ học tập hợp lý với khả năng tập trung chú ý của trẻ. Chẳng hạn dùng phương thức giảng dạy gây hứng thú nhất để lôi kéo trẻ đến vấn đề đang được nói đến, chia nhỏ bài tập theo khả năng duy trì chú ý của trẻ, chấp nhận việc trẻ chỉ học được 1/3 --> 1/2 tiết học thông thường, sau đó sẽ tiếp tục sau vài phút thư giãn.

    Thân ái.
    3 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của N&M
    • N&M
      Offline
    • 11 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 1,490 Bài viết

    • 617 Được cảm ơn

    #9
    Mình có đọc rong một quyển sách về dnh dưỡng cho trẻ thấy nói rằng tại Mỹ người ta đã nghiên cứu thấy phụ gia thực phẩm như chất tạo màu và mùi là một trong nhưng nguyên nhân gây rối laoij tăng động giảm chú ý. Người ta đưa ra 3 nhóm thực phẩm cần tránh
    - Nhóm thứ nhất gồm cam, nho, táo và một vài loại quả khác (mình không nhớ rõ)
    - Nhóm thứ hai tất cả các loại thức ăn có phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo
    - Tất cả các loiaj ngũ cốc có phụ gia tạo màu và mùi.
    Trong khuyễn cáo này có ghi rõ chỉ có những phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo chứ không phải chất bảo quản.
    Mình nghĩ nếu các mẹ có con bị bệnh này cho con ăn kiêng những thực phâm nay thì chỉ có lợi chứ không có hại gì.
    Họ cũng hướng dẫn cách giảm hết các loại thuhwjc phẩm có chát này sau đó tăng dần từng laoij và theo dõi để tìm cách xác định laoij nào tác động tới con bạn.
    Vì ở đây mình không có quyển sách ấy nên hôm nào mình sẽ tìm cách post toàn bộ phần này cho các mẹ.
    Hình như quyển sách đó là "thức ăn bổ dưỡng trẻ em tập 2", ở phần cuối cùng.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 22 Bài viết

    • 39 Được cảm ơn

    #10
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Me2congai
    Cám ơn BS đã quan tâm và đưa ra các câu hỏi sâu về trường hợp của con tôi. Xin BS xem các câu trả lời của tôi ở dưới đây và gia đình tôi rất mong nhận được sự quan tâm của BS:
    Ở lớp bé biểu hiện thế nào? Me2congai: Ví dụ khi các bạn đang chơi trong lớp một trò chơi tập thể thì bé hay bỏ đi tha thẩn sờ mó vào các đồ vật, bé nhớ tên các bạn cùng lớp tương đối kém(bé chỉ nhớ tên các bạn hay chơi với mình, còn các bạn khác khi chợt nhìn thấy hoặc được hỏi đến thì bé thường mất 1 lúc mới nhớ ra hoặc không nhớ ra tên bạn)===Theo giáo viên nhận xét con bạn có khả năng tập trung chú ý không? Me2congai:Có===. : các cô nhận xét bé thiếu tập trung trong giờ học=== Có chịu làm theo cô và các bạn không? me2congai: Không rõ====Công việc yêu thích nhất của bé có thể giữ chân bé trong khoảng thời gian tối đa là bao nhiêu lâu? Me2congai: nếu để chúa thoải mái ngồi vẽ thì khoảng 50-60 phút====học lực của bé ở mức độ nào?Me2congai: trung binh
    Các biểu hiện trên có xuất hiện mọi lúc mọi nơi không? (Đi đến nơi chốn lạ, bé có ngọ ngoạy tay chân liên tục không? hay bé trở nên đầm tính hơn?)Me2congai: Đi đến chốn lạ bé không sợ sệt gì cả, thường chạy lung tung và sờ mó khắp mọi nơi=====.

    Trên đây là những câu trả lời của tôi, mong BS bớt thời gian nghiên cứu và cho gia đình những tư vấn hữu ích.

    Một lần nữa xin cám ơn BS.
    Trước mắt, theo những thông tin mà bạn gửi, thì nhận thấy bé chưa đủ các dấu hiệu để gợi ý "hội chứng giảm chú ý tăng động". Bé chỉ có các nét của một trẻ hiếu động. Do đó, nếu mức độ hiếu động của trẻ nằm trong giới hạn chập nhận được của gia đình và thầy cô giáo(bé không bị xem là "tai hoạ" cho lớp học, hay "kẻ phá bỉnh") thì không cần phải khám bệnh gì thêm. Quan trọng là bạn dành nhiều hơn thời gian để giáo dục trẻ, nhằm hướng tới sự thay đổi thái độ cho trẻ, đừng gò ép trẻ bằng các quy tắc cứng nhắc hay kỷ luật sắt, có thể gây phản ứng dữ dội. Đôi khi cũng nên nhương bộ(nếu xét thấy có thể), để trẻ không có khuynh hướng chống đối bùng nổ do quá gò bó, chèn ép.
    Nếu các hành vi của trẻ nhiều lúc làm bạn không tưởng tượng nổi, có nguy cơ đem lại nguy hiểm cho chính trẻ thì nên đưa trẻ đến khám trực tiếp tại nhà chuyên môn, để có thể đưa ra kết luận chính xác và có thể chỉ định cho con bạn một số điều trị đặc hiệu giúp cải thiện tình hình.

    Chúc bạn thành công
    Thân chào
    • 22 Bài viết

    • 39 Được cảm ơn

    #11
    Trích dẫn Nguyên văn bởi N&M
    Mình có đọc rong một quyển sách về dnh dưỡng cho trẻ thấy nói rằng tại Mỹ người ta đã nghiên cứu thấy phụ gia thực phẩm như chất tạo màu và mùi là một trong nhưng nguyên nhân gây rối laoij tăng động giảm chú ý. Người ta đưa ra 3 nhóm thực phẩm cần tránh
    - Nhóm thứ nhất gồm cam, nho, táo và một vài loại quả khác (mình không nhớ rõ)
    - Nhóm thứ hai tất cả các loại thức ăn có phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo
    - Tất cả các loiaj ngũ cốc có phụ gia tạo màu và mùi.
    Trong khuyễn cáo này có ghi rõ chỉ có những phụ gia tạo màu và mùi nhân tạo chứ không phải chất bảo quản.
    Mình nghĩ nếu các mẹ có con bị bệnh này cho con ăn kiêng những thực phâm nay thì chỉ có lợi chứ không có hại gì.
    Họ cũng hướng dẫn cách giảm hết các loại thuhwjc phẩm có chát này sau đó tăng dần từng laoij và theo dõi để tìm cách xác định laoij nào tác động tới con bạn.
    Vì ở đây mình không có quyển sách ấy nên hôm nào mình sẽ tìm cách post toàn bộ phần này cho các mẹ.
    Hình như quyển sách đó là "thức ăn bổ dưỡng trẻ em tập 2", ở phần cuối cùng.
    Đúng là bạn là một người tham khảo rất nhiều tài liệu về vấn đề này. Điều đó chứng tỏ bạn vô cùng quan tâm đến các bé.
    Trên thế giới, bởi vì qua rất nhiều công trình nghiên cứu, người ta vẫn không tìm ra được phương thức nào có thể điều trị triệt để được hội chứng ADHD nên người ta lại quay về với "thiên nhiên", với y học cổ truyền nhằm tìm một cứu cánh, và từ đó ra đời chế độ ăn Feingold. (người ta cho phân tích sinh hoá chi tiết máu các trẻ ADHD và thấy có sự hơi gia tăng của một số chất, mà các chất này có nguồn gốc từ thực phẩm. Và sẽ thật ngạc nhiên lẫn "thích thú" nếu bạn nhìn thấy một đứa trẻ Somali không đuổi nổi ruồi lại có thể tung tăng, hung tợn như trẻ ADHD.!!!))Đây đã từng là một vấn đề rất sôi nổi cho các chuyên gia trong lĩnh vực này. Nhưng nếu bạn đọc được chi tiết bản danh sách bao gồm gần 100 loại thực phẩm cần hạn chế tối đa có thể thì: con bạn sẽ "chết" vì không có gí trên thế giới này trẻ có thể ăn được


    Do đó, đến nay đây vẫn còn trong vòng nghiên cứu, chưa có cơ sở cho thấy hiệu quả của phương pháp này cũng như về khả năng áp dụng thực tế.
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • Avatar của N&M
    • N&M
      Offline
    • 11 năm
    • Thành viên bị khoá
    • 1,490 Bài viết

    • 617 Được cảm ơn

    #12
    Trích dẫn Nguyên văn bởi BS LY QUỐC MAI ANH
    Đúng là bạn là một người tham khảo rất nhiều tài liệu về vấn đề này. Điều đó chứng tỏ bạn vô cùng quan tâm đến các bé.
    Trên thế giới, bởi vì qua rất nhiều công trình nghiên cứu, người ta vẫn không tìm ra được phương thức nào có thể điều trị triệt để được hội chứng ADHD nên người ta lại quay về với "thiên nhiên", với y học cổ truyền nhằm tìm một cứu cánh, và từ đó ra đời chế độ ăn Feingold. (người ta cho phân tích sinh hoá chi tiết máu các trẻ ADHD và thấy có sự hơi gia tăng của một số chất, mà các chất này có nguồn gốc từ thực phẩm. Và sẽ thật ngạc nhiên lẫn "thích thú" nếu bạn nhìn thấy một đứa trẻ Somali không đuổi nổi ruồi lại có thể tung tăng, hung tợn như trẻ ADHD.!!!))Đây đã từng là một vấn đề rất sôi nổi cho các chuyên gia trong lĩnh vực này. Nhưng nếu bạn đọc được chi tiết bản danh sách bao gồm gần 100 loại thực phẩm cần hạn chế tối đa có thể thì: con bạn sẽ "chết" vì không có gí trên thế giới này trẻ có thể ăn được


    Do đó, đến nay đây vẫn còn trong vòng nghiên cứu, chưa có cơ sở cho thấy hiệu quả của phương pháp này cũng như về khả năng áp dụng thực tế.
    Trong quyển sách mình đọc thì những thực phẩm họ giới hạn không quá nhiều và họ nhấn mạnh là nên cho bé ăn các thực phẩm được chuẩn bị tại nhà cho bé, các thực phẩm không có chất tạo mùi , màu nhân tạo. Mình nghĩ kể cả đối với các bé bình thường thì việc này cũng chỉ có ích chứ không có hại gì. Còn đối với một số hoa quả như táo, cam,v..v thì mình lại không tin mấy :4: :4: , nếu những loại hoa quả đó có từ nguồn gốc sạch. Và theo như phương pháp họ đưa thì chỉ giới hạn một thời gian để tìm thực phẩm nào tác động tới bé thôi, rồi sau một thời gian sẽ cho bé ăn trở lại. Mai mình sẽ post nguyên văn phần đó cho mọi người tham khảo. Về phần mình thì từ lâu bé nhà mình không ăn uống các loại sữa có chất tạo mùi màu, chất bảo quản v..v một khi mình có thể cho bé uống loại khác, kể cả các loại bánh trái, đồ ăn sẵn . Mặc dù mẹ làm dở hơn :4: , và không bắt mắt bằng.
    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #13
    Davison G. C. & Neale J. M. Abnormal Psychology. Senventh Edition. John Wiley & Sons, Inc. 1998. 408-413.


    Rối loạn tăng động/giảm chú ý

    Từ hiếu động (tăng động) quen thuộc với hầu hết mọi người, đặc biệt là phụ huynh và giáo viên. Trẻ vận động liên tục, gõ các ngón tay, đung đưa chân, làm phiền người khác mà không thấy lý do rõ ràng, nói không biết chờ lượt mình, và cựa quậy nhúc nhích luôn, được gọi tăng động. Những trẻ này, theo cách nói thông thường, dồn cha mẹ và giáo viên vào chỗ khó xử. DSM đã thay sự tập trung từ tăng hoạt động sang khó khăn của trẻ trong tập trung vào các nhiệm vụ sắp tới trong một khoảng thời gian và bao gồm các hoạt động quá mức không mục đích. Thuật ngữ chẩn đoán hiện nay là rối loạn tăng hoạt động/giảm chú ý (ADHD).

    ADHD được chẩn đoán một cách điển hình khi trẻ gặp phải môi trường học đường nơi cần chúng thích nghi với môi trường lớp học.

    Những trẻ giảm chú ý này dường như khó khăn trong kiểm soát hành vi trong các tình huống yêu cầu phải ngồi yên, như khi ở trong lớp học hoặc giờ ăn. Khi cần đến sự im lặng, chúng thường không thể ngừng nói hay vận động. Chúng thường phá rối, cư xử thất thường, kém lịch sự, bướng bỉnh, và hống hách. Các hoạt động và vận động của chúng dường như bừa bãi, lung tung. Chúng nhanh chóng làm rách giầy và quần áo, đập phá đồ chơi, và làm kiệt sức gia đình và thầy cô giáo. Dù sao, chúng cũng gặp khó khăn khi nhận ra được những quy tắc khi chơi, khi có một vài hạn chế cho hành vi của trẻ.

    Nhiều trẻ tăng động có những khó khăn quá mức trong việc hòa nhập với các bạn cùng lứa và kết bạn (Whalen & Henker, 1985), có thể hành vi của chúng thường có tính gây hấn và nói chung làm người khác khó chịu. Mặc dù những trẻ này thường thân thiện và thích nói, chúng vẫn thường kém tinh tế (nhạy cảm), như việc chú ý (để ý thấy) khi bạn cùng chơi tỏ ra chán (hết hứng thú) với hoạt động liên miên của chúng. Chúng cũng thường xuyên hiểu sai ý muốn và mục đích của bạn bè và gây nên những lỗi do vô ý, như là khăng khăng đòi ở lại ăn tối ở nhà một người bạn mà không được mời trong khi trẻ bình thường sẽ hiểu rằng đã đến lúc phải về nhà. (Những lỗi về nhận thức như vậy cũng được nhận thấy ở một số trẻ rối loạn hành vi). Trẻ ADHD có thể biết hành động xã hội đúng nào trong các tình huống giả định (giả thuyết) nhưng không có khả năng chuyển những hiểu biết này thành hành vi thích hợp trong những tương tác xã hội của cuộc sống thực (Whalen & Henker, 1985).

    Khoảng từ 20 đến 25% trẻ em ADHD bị loạn hoạt năng học tập (xem trang 420) với các môn toán, tập đọc hay chính tả (Barkley, DuPaul, & McMurray, 1990), và nhiều trẻ ADHD được đưa vào các chương trình giáo dục đặc biệt bởi những khó khăn của chúng trong việc thích nghi với môi trường lớp học điển hình.

    Chẩn đoán ADHD không hoàn toàn thích hợp với những người ít tuổi dễ nổi nóng, hoạt động, hay sao nhãng ở mức độ không đáng kể, cho các trẻ trong những năm học đầu tiên cũng thường xuyên như vậy (Whalen, 1983). Việc sử dụng tên gọi một cách chính xác bởi vì đứa trẻ sống động hơn và khó khăn hơn trong việc điệu khiển hơn là phụ huynh hay giáo viên miêu tả sử dụng không đúng thuật ngữ. Chẩn đoán ADHD là để dành riêng cho những trường hợp thực sự nghiêm trọng và kéo dài.

    Bởi vì các triệu chứng của ADHD là đang dạng, DSM-IV đã đưa ra ba kiểu phụ: (1) trẻ mà vấn đề chủ yếu là tập trung kém; (2) trẻ có những khó khăn chủ yếu do hành vi tăng động-xung động; và (3) trẻ có cả hai loại vấn đề. Kiểu phụ thứ ba gồm phần lớn trẻ ADHD. Trẻ với những vấn đề chú ý và tăng hoạt động có vẻ sẽ phát triển thành những vấn đề về hành vi và hành vi chống đối, được đưa vào những lớp đặc biệt cho những trẻ rối loạn hành vi, và có những khó khăn trong quan hệ với bạn cùng lứa (Barkley, DuPaul, & Mc Murray, 1990). Trẻ có các vấn đề về chú ý nhưng mức độ hành vi bình thường có vẻ có nhiều vấn đề với tập trung chú ý hoặc tốc độ xử lý thông tin (Barkley, Grodzinsky, & DuPaul, 1990), được giả thuyết là bắt nguồn từ một số vấn đề ở thùy trán phải (Posner, 1992). Các nghiên cứu cũng gợi ý rằng sẽ là tốt hơn nếu cho là hai rối loạn riêng biệt (Barkley, 1990); dù sao, hầu hết các giả thuyết và nghiên cứu đã không đưa ra sự khác biệt.

    Sự chẩn đoán phân biệt khó khăn giữa ADHD và rối loạn hành vi, mà chúng ta sẽ xem qua, bao gồm sự phá rối thô bạo các quy tắc xã hội. Có sự trùng lặp từ 30 đến 90% giữa hai loại (rối loạn) (Hinshaw, 1987) là lý do mà một số nhà nghiên cứu quả quyết rằng hai dạng hành vi không thể kiểm soát thực ra là rối loạn cùng loại (Quay, 1979). Dù sao cũng có những sự khác nhau. Tăng động thường liên quan nhiều đến những hành vi bỏ, không hòan thành các nhiệm vụ ở lớp học, suy yếu về nhận thức và hòan thành công việc, và tiên lượng dài hạn tốt hơn. Trẻ rối loạn hành vi biểu hiện ở ngoài trường học và các nơi khác và có vẻ gây hấn hơn và có những nguồn gốc chống đối xã hội; cuộc sống ở nhà của chúng được ghi dấu bởi thái độ chống đối gia đình và tình trạng kinh tế xã hội thấp kém, và chúng có nguy cơ rất lớn phạm tội và duy trì ứng xử xấu ở tuổi thanh thiếu niên (Hinshaw, 1987; Loney, Langhorne, & Paternite, 1978). Khi hai rối loạn này xuất hiện ở cùng một trẻ, những đặc điểm tồi tệ nhất được thể hiện; những trẻ như vậy biểu lộ hành vi chống đối xã hội nghiêm trọng nhất và có tiên lượng xấu nhất (Biederman, Newcorn, & Sprich, 1991; Cadoret & Stewart, 1991; Moffitt, 1990). Trong thực tế, người ta mới đề nghị rằng việc trẻ có kết hợp ADHD/CD hình thành một kiểu phụ riêng rất có thể tiến triển nên những kiểu bệnh tâm thần ở người lớn của rối loạn nhân cách chống đối xã hội (Lynam, 1996). Theo một cách khác thì ADHD có trước, với những hành vi trầm trọng thêm của trẻ do những phản ứng thù địch với bạn cùng lứa và người lớn. Sự leo thang của ngày càng nhiều sự tấn công, phản công, kết quả là những hành vi gây hấn đặc trưng của rối loạn hành vi, như chúng ta sẽ thấy. Để kết luận cho sự xem xét cẩn thận những tài liệu so sánh hai rối loạn này, Hinshaw (1987) đã đề nghị tiếp tục xem xét tăng động và rối loạn hành vi như là những rối loạn khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Thật không may, nhiều nghiên cứu trên trẻ tăng động đã làm lẫn lộn ADHD với các vấn đề hành vi và gây hấn, làm cho những điều đã được tìm ra về tăng động lại ít rõ ràng hơn.

    Thật khó để tìm ra tỉ lệ mắc của ADHD bởi những định nghĩa khác nhau qua thời gian và những mẫu dân cư. Ước lượng biến đổi từ 1 đến 20% (DuPaul, 1991; Ross & Ross, 1982, Szatmari và cộng sự, 1989), với sự thống nhất từ 3 đến 5% trẻ đang mắc ADHD (Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, 1994). Người ta tin rằng rối loạn này có ở con trai nhiều hơn con gái, nhưng con số chính xác phụ thuộc vào mẫu được nhắc đến trong lâm sàng (con trai có vẻ được nhắc đến nhiều hơn bởi có khả năng cao hơn có những hành vi gây hấn thêm vào các triệu chứng ADHD) hay từ dân số nói chung. Một số nghiên cứu dịch tễ học đã thất bại trong việc tìm ra sự khác nhau giữa tỉ lệ mắc ADHD giữa nam và nữ. Mọt số nghiên cứu trên nữ mắc ADHD, nhưng chỉ một vài sự khác nhau được tìm thấy giữa con gái mắc ADHD và con trai mắc ADHD (Breen, 1989; Horn, Wagner, & Ialongo, 1989; McGee, Williams, & Silva, 1987).

    Mặc dù nhiều trẻ chưa đến tuổi đi học bị bố mẹ và giáo viên coi như là giảm chý ý và hoạt động quá mức, phần lớn những trẻ này đang đi qua giai đoạn phát triển bình thường sẽ không bị ADHD (Campbell, 1990). Nói cách khác, hầu hết trẻ em sẽ phát triển thành ADHD biểu hiện những hoạt động quá mức và hành vi thất thường trong giai đoạn đầu của cuộc đời. Tính tò mò không thể thỏa mãn và trò chơi sôi nổi khiến cho sự ngăn ngừa trẻ là cần thiết để tránh những bi kịch như tai nạn bị nhiễm độc, ngã cầu thang, rơi ra khỏi cửa sổ. Mặc dù những năm trước khi đi học là rất căng thẳng cho phụ huynh có trẻ ADHD, nhưng những vấn đề sẽ nổi lên khi trẻ đi học và bất ngờ phải ngồi yên trong thời gian dài, hoàn toàn độc lập, và phải biết hòa hợp với bạn bè.

    Có một thời gian người ta đã cho rằng tăng động hết hoàn toàn khi đến tuổi thanh thiếu niên. Tuy nhiên, quan điểm này đã bị thách thức bởi nhiều nghiên cứu bổ dọc (theo thời gian) hòan thành vào những năm 1980 (Barkley và cộng sự, 1990; Gittelman và cộng sự, 1985; Mannuzza và cộng sự, 1991; Weiss & Hechtman, 1986). Trong một nghiên cứu đã có hơn 70% trẻ mắc ADHD vẫn có những tiêu chuẩn chẩn đoán khi ở tuổi thanh thiếu niên (Barkley và cộng sự, 1990). Cùng với sự cựa quậy không yên, thiếu tập trung, hành vi xung động, thanh thiếu niên ADHD phải bỏ học nhiều hơn bạn cùng lứa rất nhiều. ở tuổi trưởng thành, mặc dù hầu hết đều có công việc và độc lập về tài chính, nhưng nói chung họ có mức thấp hơn về tình trạng kinh tế xã hội và đổi việc thường xuyên hơn là sự trông đợi thông thường.

    Mặc dù hầu hết những người trưởng thành có bệnh sử ADHD tiếp tục biểu hiện một số triệu chứng của rối loạn này, nhưng hầu hết họ cũng học cách thích nghi với những triệu chứng này, có thể là bằng cách tìm kiếm cho mình một chỗ thích hợp trong thế giới công việc.

    Các nguyên nhân sinh học của ADHD

    Việc tìm kiếm nguyên nhân của ADHD khá phức tạp bởi tính không thuần nhất của những trẻ đã được chẩn đoán này; một vài yếu tố được thấy là kết hợp với hội chứng có thể có sự liên quan với chỉ một vài của những yếu tố chứa đựng chẩn đoán.

    Các yếu tố di truyền (gen). Một tố bẩm (bẩm chất) cho ADHD có thể được thừa kế (di truyền). Trong một nghiên cứu trên 238 cặp song sinh, Goodman và Stevenson (1989) đã tìm ra sự phù hợp cho chẩn đoán lâm sàng tăng động ở 51% các cặp sinh đôi cùng trứng và 33% các cặp sinh đôi khác trứng. Người ta vẫn chưa biết chính xác cái gì được di truyền, nhưng những nghiên cứu gần đây đã nêu lên một số khác biệt trong chức năng não. Trao đổi chất ở não thấp hơn mức bình thường ở nữ mắc ADHD, nhưng không phải ở nam (Ernst và cộng sự, 1994), mặc dù điều này có thể là do tình trạng rối loạn nặng nề hơn ở những phụ nữ đã được nghiên cứu (những người tham gia thuộc một tổ chức ADHD). Trong một nghiên cứu quan trọng trong 10 năm của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, Catellanos và cộng sự (1996) đã so sánh những lớp chụp cộng hưởng từ MRI (cf. p. 88) ở nam giới bình thường và bị ADHD và đã phát hiện ra thùy trán nhỏ hơn ở những trẻ mắc rối loạn. Bằng chứng từ những nghiên cứu khác đã chỉ ra hoạt động kém hơn của trẻ ADD ở những trắc nghiệm tâm lý-thần kinh về chức năng của thùy trán (như việc kiềm chế những đáp ứng hành vi) đã ủng hộ ý kiến cho rằng một sự suy yếu đáng kể ở phần này của bộ não có thể liên quan đến rối loạn (Barkley, 1997; Chelune và cộng sự, 1986; Heilman, Voeller, & Nadeau, 1991).

    Các độc tố từ môi trường. Các lý thuyết phổ biến của ADHD qua nhiều năm đã chú ý tới vai trò của các độc tố từ môi trường trong sự tiến triển của tăng động. Một thuyết về hóa sinh của tăng động được đưa ra bởi Feingold (1973) đã gây nhiều sự chú ý trong nhiều năm. Ông cho rằng thực phẩm có chất phụ gia gây rối loạn cho hệ thần kinh trung ương của trẻ tăng động, và ông quy định một chế độ ăn kiêng tự nguyện cho chúng. Mặc dù không chắc là có một tỉ lệ các trường hợp tăng động bị gây ra bởi sự nhạy cảm với các chất phụ gia thực phẩm. Những nghiên cứu dựa trên đối chứng chặt chẽ theo chế độ ăn của Feingold đã nhận thấy rằng một số trẻ đáp ứng tích cực với điều này (Goyette & Conners, 1977). Tương tự, nhiều người cũng nhận thấy quan điểm đường tinh chế có thể gây ADHD (Smith, 1975) đã không được sự xác nhận của nghiên cứu kỹ lưỡng (Gross, 1984; Wolraich và cộng sự, 1985). Mặc dù một số bằng chứng nói lên rằng nhiễm độc chì có thể kết hợp với một mức độ nhỏ các triệu chứng của tăng động và các vấn đề chú ý (Thompson và cộng sự, 1989), hầu hết trẻ mắc ADHD không có lượng chì cao hơn mức bình thường trong máu.

    Nicôtin, đặc biệt là việc hút thuốc ở người mẹ, là một độc tố từ môi trường có thể đón vai trò trong tiến triển của ADHD. Milberger và cộng sự (1996) mới báo cáo rằng 22% người mẹ của những trẻ mắc ADHD hút trên một bao thuốc mỗi ngày trong suốt quá trình mang thai, so với nhóm đối chứng chỉ có 8%. Hơn nữa, những nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng nicôtin làm tăng giải phóng dopamin và gây ra tăng động (Fung và Lau, 1989; John và cộng sự, 1982). Dựa trên nền tảng của những số liệu này, Milberger và những người cộng tác giả thuyết rằng hút thuốc ở người mẹ có thể ảnh hưởng đến hệ thống tiết dopamin của bào thai đang phát triển, để lại kết quả ở mất phản xạ có điều kiện hành vi và ADHD.

    Hút thuốc lá trong suốt thời kỳ mang thai được cho là có liên quan đến tăng nguy cơ mắc ADHD cho trẻ.

    Các thuyết về tâm lý của ADHD
    Nhà phân tâm học trẻ em Bruno Bettelheim (1973) đã đưa ra thuyết tạng nhạy cảm với stress, giải thích rằng tăng động phát triển khi đứa trẻ sinh ra vốn có một bẩm chất hướng đến rôi snhiễu này lại đi kèm với cách giáo dục độc đoán của bố mẹ. Nếu trẻ có tạng (khí chất) hướng tới tăng động và khí sắc thất thường dễ bị stress, do nghiên mẹ sớm trở nên kém kiên trì dễ bực bội thì đứa trẻ có thể mất khả năng thỏa mãn những đòi hỏi buộc phải vâng lời của người mẹ. Và khi người mẹ càng trở nên bực tức cáu bẳn thì quan hệ mẹ-con càng sớm trở nên xung đột. Với mối quan hệ không vâng lời và bị phá vỡ đã được thiết lập, đứa trẻ khó thích nghi với những đòi hỏi của nhà trường, và hành vi của chúng thường xuyên vi phạm các quy định của lớp học.
    Việc học tập cũng có thể góp phần vào tăng động. Tăng hoạt động có thể được củng cố bằng việc kém chú ý, theo cách ấy mà tăng lên về tần số hoặc cường độ. Hoặc là, như Ross và Ross (1982) đã nêu ra, hành vi tăng động có thể được mô hình hóa từ hành vi của bố mẹ hay anh chị em ruột.
    Mối quan hệ bố mẹ-con cái là mối quan hệ hai chiều. Chỉ cần bố mẹ của những trẻ ADHD ra nhiều mệnh lệnh và có những tương tác tiêu cực với trẻ thì chúng sẽ biểu hiện ít phục tùng mệnh lệnh hơn và có những tương tác tiêu cực hơn với bố mẹ (Barkley, Karlson, & Pollard, 1985; Tallmadge & Barkley, 1983). Như chúng ta sẽ đề cập qua một chút, các thuốc hưng phấn tâm thần đã được chứng minh là giảm tăng động và tăng cường sự nghe lời ở trẻ ADHD. Thật ý nghĩa, khi những thuốc như thế được sử dụng, những mệnh lệnh của bố mẹ và những hành vi tiêu cực cũng sẽ giảm xuống (xem Barkley, 1990), đã gợi ý rằng điều đó, ít nhất là đến phần nào đó, hành vi của trẻ ảnh hưởng tiêu cực đến cha mẹ hơn là ngược lại.

    .
    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #14
    Điều trị ADHD

    Các thuốc hưng phấn tâm thần, chủ yếu là methylphenidate, hay Ritalin, đã được kê đơn cho ADHD từ đầu những năm 1960 (Sprague & Gadow, 1976). Hiệu quả hoạt động của các loại thuốc này là làm dịu trẻ ADHD và tăng cường khả năng tập trung. Một cuộc khảo sát đã thấy rằng 6% trẻ học sinh các lớp (tiểu học, trung học) cơ sở và 25% ở các lớp giáo dục đặc biệt có sử dụng các thuốc này (Safer & Krager, 1988). Việc kê đơn các loại thuốc này đôi khi tiếp tục khi trẻ đến tuổi thanh thiếu niên và thậm chí tuổi trưởng thành khi vẫn còn những vết tích nhẹ của triệu chứng ADHD không phải sẽ luôn mất đi theo thời gian.

    Ritalin có hiệu quả không? Nhiều nghiên cứu đối chứng so sánh thuốc với thuốc vờ (placebo) đã được loại trừ sai sót đã chỉ ra sự tăng cường ngắn hạn sự tập trung, hành vi có mục đích, hành vi trong lớp học, các hoạt động vận động tốt và giảm gây hấn và xung động ở những trẻ mắc ADHD (Hinshaw, 1991; Weiss, 1983). Một nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng Ritalin giúp trẻ chơi bóng chày và chiếm lấy vị trí thuận lợi trong khu vực cửa thành và theo dõi được tình trạng của trận đấu, trong khi trẻ dùng thuốc vờ thường ném hay đá găng tay của mình khi trận đấu đang diễn ra (Pelham và cộng sự, 1990).
    Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các loại thuốc này không cải thiện thành tích học tập qua một thời gian dài (Whalen và Henker, 1991), hay tăng cường kỹ năng bắt và ném bóng, cho vấn đề đó! Hơn nữa, các thuốc này có tác dụng phụ. Ngoài việc giảm nhẹ sự ngon miệng và giấc ngủ, một nguy cơ tác dụng phụ của việc kê đơn phổ biến của thuốc hưng phấn (kích thích) đã nổi lên: Tuần báo đã báo cáo rằng những trẻ con bắt đầu sử dụng thuốc Ritalin và các thuốc kích thích khác nhận được từ anh chị em ruột hoặc bạn bè như là các thuốc để tiêu khiển (Leland, 1995).

    Điều trị trẻ ADHD dựa trên điều kiện hóa thao tác (tạo tác, quan sát được) được chứng minh là ít nhất trong giai đoạn ngắn tăng cường cả hành vi xã hội và học đường. Trong những cách điều trị này, hành vi của trẻ được kiểm soát ở nhà và ở trường học, được củng cố để ứng xử phù hợp hơn, ví dụ, để duy trì việc ngồi yên ở ghế và làm bài tập được giao. Hệ thống cho điểm và mô hình sao là những thành phần đặc trưng của chương trình này. Trẻ giành được điểm và những trẻ nhỏ hơn giành được saokhi ứng xử theo những cách phù hợp; và trẻ có thể đổi điểm, sao lấy phần thưởng. Các chương trình này được tập trung để tăng cường việc học tập, hoàn thành các việc vặt trong nhà, hoặc học những kỹ năng xã hội đặc trưng, hơn nữa làm giảm những dấu hiệu của tăng động, như chạy nhảy hay ngọ nguậy (O’Leary và cộng sự, 1976). Các nhà trị liệu đã sáng tạo ra những can thiệp này dựa trên khái niệm cho rằng tăng động là sự suy yếu ở một số kỹ năng hơn là việc coi là sự thái quá của những hành vi tiêu cực, phá rối. Mặc dù các trẻ tăng động đáp ứng tốt với những chương tình này, nhưng cách trị liệu tối ưu cho rối loạn này nên sử dụng cả thuốc và liệu pháp hành vi (Barkley, 1990; Gittelman và cộng sự, 1980; Pelham và cộng sự, 1993).

    Phương thức thưởng điểm và mô hình sao, thường thấy ở trong lớp học, đặc biệt hữu ích cho trị liệu rối loạn tăng động giảm chú ý
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #15
    Kiki D Chang, MD, Director, Pediatric Mood Disorders Clinic, Assistant Professor, Department of Psychiatry, Division of Child Psychiatry, Stanford University School of Medicine. Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder, emedince. June 17, 2004.

    Kiki D. Chang, Bác sĩ Y khoa, Trưởng chuyên khoa Rối loạn Khí sắc trẻ em, Phó Giáo sư, Khoa Nhi, Khu Tâm thần Nhi, Trường Đại học Y khoa Stranford.
    Kiki D. Chang, Bác sĩ Y khoa là thành viên của các hội y khoa sau đây: Viện Tâm thần trẻ em và Thanh thiếu niên Hoa Kỳ, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ và Hội Hàn lâm Tâm thần học.


    Kiến thức chung:
    Rối loạn tăng động/giảm chú ý (ADHD) là một bệnh tiến triển do sự thiếu chú ý và đãng trí, đi kèm hoặc không tăng hoạt động. Trước đây, nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả bệnh này, bao gồm hội chứng tăng động và, từ Sổ tay Chẩn đoán và Phân loại các Rối loạn Tâm thần, lần thứ ba (DSM-III), “loạn chức năng não nhẹ.” Trong DSM-III điều chỉnh lại, bệnh này được đổi lại tên là ADHD. Trong DSM-IV, người lớn hay trẻ em phải có một triệu chứng khởi phát trước 7 tuổi gây ra sự suy yếu có ý nghĩa về mặt xã hội hay học tập. Gần đây, người ta bắt đầu quan tâm đến các dạng ADHD ở người lớn, hầu như chắc chắn đã được chẩn đoán không đầy đủ.

    Bệnh sinh lý (Sinh bệnh học): Vấn đề bệnh học của ADHD không rõ ràng. Những nghiên cứu chỉ ra rằng những chất kích thích tâm thần (làm thuận lợi cho giải phóng dopamine) và sự giải phóng noradrenalin ba vòng để điều trị bệnh này đã dẫn tới suy đóan cho rằng một vài khu vực não liên quan tới sự tập trung bị suy giảm trong dẫn truyền thần kinh. Chất dẫn truyền thần kinh dopamin và sự giải phóng noradrenalin có liên quan đến ADHD.
    Vùng dưới vỏ não được cho là chủ yếu và bao hàm vùng trán và vùng trên trán. Trong một nghiên cứu chức năng MRI, trẻ mắc ADHD làm những bài tập về sự hạn chế đã bộc lộ ra có sự hoạt hóa khác nhau ở khu vực nếp nhăn vùng trán so với trẻ bình thường. Người lớn mắc ADHD cũng biểu hiện những hạn chế trong hoạt hóa vành đai phía trước khi làm những bài tập trương tự.

    Tỷ lệ:
    - Tại Hoa Kỳ: Tỷ lệ mắc ở trẻ trong độ tuổi đến trường ước tính từ 3-7%.
    - Thế giới: Tại nước Anh, tỷ lệ mắc được báo cáo là ít hơn 1%. Sự khác nhau về tỉ lệ giữa Anh và Mỹ có thể do văn hóa và do tính không đồng nhất của ADHD (ví dụ, rất nhiều nguyên nhân gây nên không tập trung/giảm chú ý/tăng hoạt động). Hơn nữa, tiêu chuẩn của Bảng phân loại Bệnh Quốc tế, lần thứ 10 (ICD-10) dành cho ADHD được sử dụng ở Anh có thể được coi là chặt chẽ hơn tiêu chuẩn DSM-IV.

    Tỷ lệ tử vong/Sự hoành hành của bệnh:
    - Không có tương quan giữa tỷ lệ chết tồn tại trong ADHD. Dù sao, những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tuổi thơ mắc ADHD thì khi lớn lên có nguy cơ lớn với cách cư xử sau này và những vấn đề về hành vi sai trái, điều có thể mang đến cái chết thực sự.
    - ADHD có thể dẫn đến những khó khăn học đường hay nghề nghiệp và những khó khăn xã hội có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển bình thường. Dù sao, chính xác sự nguy hại của bệnh cũng chưa được chứng minh.

    Giới tính:
    - Đối với trẻ em mắc ADHD, nam gấp 3-5 lần nữ. Một số báo cáo về tỷ lệ là 5:1. Phần lớn của dạng giảm tập trung của ADHD được thấy ở nữ nhiều hơn là nam.
    - Đối với người lớn, tỷ lệ giới tính là ngang bằng.

    Tuổi
    - ADHD là một rối loạn phát triển cần có những triệu chứng khởi phát trước 7 tuổi. Sau tuổi trẻ em, các triệu chứng có thể vẫn tồn tại đến tuổi thanh thiếu niên và trưởng thành, hoặc chúng có thể được cải thiện hoặc biến mất.
    - Tỷ lệ phần trăm ở mỗi nhóm không được chứng minh rõ ràng, nhưng ước tính ít nhất 15-20% trẻ mắc ADHD vẫn còn nguyên những chẩn đoán bệnh đến khi trưởng thành. Khoảng 65% số trẻ này sẽ mắc ADHD hay những triệu chứng còn lại của ADHD khi trưởng thành.
    - Tỷ lệ thường thấy ở người lớn ước tính từ 2-7%.

    Thể chất:
    - Không có khám phá nào về thể chất có liên quan đến ADHD.
    - Kiểm tra trạng thái tâm thần có thể thấy những dấu hiệu sau:
    + Sự xuất hiện: Thường xuyên nhất là nhiệm vụ rất khó cấu được cấu trúc và lưu lại bởi tăng hoạt động và giảm tập trung. Trẻ em với ADHD có thể biểu hiện hay cựa quậy, hấp tấp và không thể ngồi yên, hoặc chúng có thể chạy liên tục quanh phòng. Người lớn bị ADHD có thể hay đãng trí, đứng ngồi không yên và hay quên.
    + Cảm xúc/Khí sắc: Cảm xúc thường xuyên thích hợp và có thể hoan hỉ, nhưng không phải khoái cảm. Khí sắc thường xuyên bình thường, ngoại trừ những giai đoạn ít được tôn trọng và tăng khí sắc (loạn khí sắc). Khí sắc và cảm xúc không phải bị ảnh hưởng chủ yếu bởi ADHD.
    + Lời nói/quá trình suy nghĩ: Lời nói có tốc độ bình thường nhưng có thể to hơn do xung động bên trong. Quá trình suy nghĩ được định hướng nhưng có thể gặp khó khăn với một chủ đề hay nhiệm vụ. Bằng chứng về suy nghĩ hay lời nói nhanh chưa được nói đến. Những triệu chứng này có thể phù hợp hơn với trạng thái vui buồn bất thường (rối loạn lưỡng cực).
    + Nội dung suy nghĩ/tự sát: Nội dung bình thường, không có bằng chứng về tự sát/giết người hay triệu chứng tâm thần.
    + Nhận thức: Sự tập trung và lưu trữ lại trí nhớ tạm thời bị ảnh hưởng. Bệnh nhân ADHD có thể gặp khó khăn với những bài tập tính toán và những nhiệm vụ đòi hỏi trí nhớ tạm thời. Sự định hướng, trí nhớ dài hạn, hay ý nghĩ trừu tượng không bị ảnh hưởng.

    Các nguyên nhân:
    - Di truyền:
    + Sự giống nhau của ADHD ở những cặp sinh đôi cùng trứng nhiều hơn sinh đôi hai trứng, nêu lên sự đóng góp của di truyền vào nguyên nhân bệnh.
    + Những nghiên cứu về con nuôi cũng nêu lên nguyên nhân di truyền cho ADHD.
    + Không rõ về sự liên quan đến gen hay nhiễm sắc thể.
    - Môi trường:
    + Giả thuyết đang tồn tại bao gồm bị lộn dạ con ra ngoài đến chất độc, thực phẩm có phụ gia hay nhiều màu sắc, hay nguyên nhân dị ứng. Dù sao, ăn kiêng, đặc biệt là đường, không phải là nguyên nhân của ADHD.
    + Vai trò của môi trường gia đình dẫn đến phát sinh bệnh ADHD như thế nào là chưa rõ, nhưng chắc chắn nó có thể làm các triệu chứng thêm trầm trọng.

    Phân biệt với các bệnh:
    Rối loạn lo âu.
    Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
    Trầm cảm.
    Rối loạn khí sắc
    Tăng năng huyết áp
    Rối loạn Stress sau sang chấn
    Rối loạn giấc ngủ

    Những vấn đề khác như:
    Làm giảm khả năng hóc môn tuyến giáp
    Rối loạn học tập
    Kém dinh dưỡng
    Tác dụng phụ của thuốc tăng hoạt động
    Xáo trộn trao đổi chất

    Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:

    - Chẩn đoán ADHD dựa trên đánh giá lâm sàng. Không có trắc nghiệm nào dựa trên thí nghiệm y học có thể chứng thực chẩn đoán.
    - Những nghiên cứu cơ bản giúp củng cố chẩn đoán và sự trợ giúp trong trị liệu bao gồm:
    + Đếm huyết thanh CBC.
    + Chất điện phân.
    + Trắc nghiệm chức năng của người bệnh (trước khi bắt đầu trị liệu).
    + Kiểm tra chức năng tuyến giáp.

    Chẩn đóan hình ảnh:
    + Hình ảnh não, ví dụ như MRI chức năng hay quét chụp X quang bằng phát ra photon đơn (SPECT) rất hữu dụng trong nghiên cứu, nhưng không có chỉ dẫn lâm sàng nào cho những thủ tục này bởi chẩn đoán phải là lâm sàng.

    Những trắc nghiệm khác:
    - Test tâm lý
    + Thang đánh giá Conners cho Cha mẹ-Giáo viên là một bộ câu hỏi được dùng cho cả bố mẹ và giáo viên của trẻ.
    + Bộ câu hỏi Tình huống ở nhà Barkley.
    + Thang đánh giá Wender Utah có thể hữu dụng trong chẩn đoán ADHD ở người lớn.
    + Trắc nghiệm Thực thi Tiếp diễn (CPTs) dựa trên những bài tập của máy tính và thường đường dùng để kiểm tra sự chú ý và có thể được dùng kết hợp với những thông tin lâm sàng để đánh giá. Một ví dụ được biết nhiều là Trắc nghiệm Nhiều loại Chú ý (TOVA). Khi những trắc nghiệm này có thể hỗ trợ cho chẩn đoán trong một đánh giá lâm sàng đầy đủ, chúng có tính xúc cảm và tính đặc trưng thấp và không phải là nền tảng cơ bản để đánh giá.
    - Thị giác và thính giác nên được kiểm tra.

    Dùng thuốc: Những số liệu gần đây đã nói lên rằng liệu pháp y dược hiệu quả hơn liệu pháp hành vi hay chăm sóc tại cộng đồng (thuốc được kê bởi các bác sĩ nhi khoa). Với những khu vực chức năng, như kỹ năng xã hội và trường học, thuốc kết hợp với liệu pháp hành vi được khuyến cáo. Liệu pháp bao gồm những điều sau đây:
    - Thuốc (methylphenidate, dextroamphetamine)
    + Đây là liệu pháp số một và chắc chắn là liệu pháp hiệu quả nhất.
    + Tất cả thuốc có hiệu quả như nhau nhưng khác nhau ở liều lượng, thời gian hiệu lực, và tác dụng phụ ở những bệnh nhân riêng lẻ. Nên cẩn trọng bằng việc bắt đầu với liều lượng thấp nhất và chuẩn độ dần cho hiệu lực lâm sàng hay tính không dung nạp thuốc.
    + Triệu chứng nhắm tới bao gồm xung động, giảm tập trung, khó hòan thành bài tập, tăng hoạt động và thiếu chú ý.
    + Một số thuốc được duy trì liên tục, có thể tăng liều lượng hàng ngày. Cách khác, mỗi lần uống nên cách nhau từ 4-6 giờ.
    + Cần lưu ý không uống thuocó quá gần lúc đi ngủ bởi thuốc có thể gây mất ngủ.
    + Những tác dụng phụ khác của thuốc bao gồm mất ngon miệng và giảm cân, nhức đầu, và ảnh hưởng khí sắc (trầm cảm, dễ bị kích thích).
    + Thuốc có thể làm tăng tíc ở trẻ em vốn đã mắc rối loạn tíc.
    + Việc lớn lên có bị ảnh hưởng hay không khi trẻ dùng thuốc vẫn chưa rõ ràng. Dùng thuốc vào ngày nghỉ (nghỉ hè hay cuối tuần) có thể hoặc không được khuyến cáo cho giai đoạn lớn bình thường. Quyết định tùy thuộc vào biểu đồ lớn lên của trẻ và liệu pháp hành vi và nhận thức và không dùng thuốc.
    - Magiê pemolin có thể được dùng, nhưng liên quan một chút với hậu quả không tốt có thể gây tổn thương cho gan nên là loại thuốc thứ hai hoặc thứ ba.
    - Những số liệu gần đây nói lên rằng pupropion hay venlafaxine có thể có hiệu quả. Liều lượng tương đương như dành cho liều trầm cảm.
    - Thuốc chống suy nhược ba vòng (imipramine, desipramine, nortriptyline) được sử dụng cho trẻ ADHD. Nếu những thuốc này được dùng, cần đo ECG bởi những thuốc này có thể ảnh hưởng đến tim. Một vài báo cáo đã miêu tả những cái chết bất ngờ của nam giới dùng desipramine, nhưng nguyên nhân chính xác cái chết vẫn không rõ ràng và có thể không liên quan đến việc sử dụng desipramine.
    - Clonidine và guanfacine được sử dụng với những báo cáo tổng hợp về hiệu quả. Những cái chết bất ngờ của trẻ em được báo cáo khi trẻ dùng clonidine với methylphenidate lúc đi ngủ. Nhưng, nguyên nhân cái chết vẫn không rõ, và điều này để lại một chủ đề gây tranh luận.
    - Liệu pháp hành vi thường hiệu quả khi được sử dụng kết hợp với chế độ thuốc hiệu quả.
    + Làm việc với bố mẹ trẻ và nhà trường để chắc chắn rằng những môi trường này là có lợi cho sự tập trung và chú ý là điều cần thiết.
    + Liệu pháp hành vi hay chương trình sửa đổi hành vi có thể giúp giảm bớt dự định không chắc chắn và tăng cường sự tổ chức.
    + Đối với người lớn bị ADHD, lao động để thiết lập cách giảm bớt sự sao lãng và tăng cường kỹ năng tổ chức có thể có ích.
    - Trong nhiều thập kỷ, nghiên cứu và cả truyền miệng cho rằng thực phẩm còn chất bảo quản hoặc thực phẩm nhiều màu hoặc thực phẩm nhiều đường đơn có thể làm trầm trọng ADHD. Nhiều nghiên cứu kiểm tra đã thí nghiệm với vấn đề này. Đến nay, chưa có số liệu đầy đủ nào chứng minh cho sự suy đoán này.
    Mặc dù các bác sĩ nhi khoa, cha mẹ và giáo viên hy vọng vào các liệu pháp hiệu quả và phương pháp đó không bao gồm việc dùng thuốc cho trẻ ADHD, nhưng những bằng chứng cho đến nay nói lên rằng những triệu chứng đặc hiệu của ADHD được điều trị rất kém nếu không có thuốc. Có thể những ca ADHD nhẹ nhất có thể được điều trị với thành công ở mức độ vừa phải với sắp sếp lại môi trường và liệu pháp hành vi, nhưng khác với những tình trạng hạn chế này, liệu pháp dược lý vẫn cần thiết.

    Chăm sóc bệnh nhân ngoại trú.
    - Việc thường xuyên theo dõi trong thời gian dài là cần thiết với người bị ADHD. Cũng giống như bệnh cao huyết áp hay đái tháo đường, ADHD không phải là một bệnh mà mọi người có thể trao cho người bệnh một đơn thuốc và yên tâm bình phục với thuốc.

    Tiên lượng
    - Tuổi nhỏ bị ADHD có thể mang nguy cơ lớn tiên lượng về những hành vi rối loạn và hành vi xâm hại tới tuổi thanh thiếu niên và người lớn. Có thể có những rối loạn tiên phát cùng tồn tại hoặc những rối loạn thứ phát với những rối loạn ADHD chưa được xử lý hoặc xử lý không được.
    - Hầu hết trẻ em mắc ADHD có cuộc sống tâm thần tương đối tốt khi trưởng thành.
    - ADHD tiếp tục tồn tại một cách hòan toàn ít nhất 15-20% đến lúc trưởng thành, khoảng 65% có thể tiếp tục có những triệu chứng không rõ ràng của ADHD gây trở ngại đến việc nhận ra đúng bệnh hay công việc của người bệnh.

    Việc giáo dục/rèn luyện cho bệnh nhân:

    - Việc giáo dục cho người bệnh và các thành viên gia đình họ là rất quan trọng. Các thành viên gia đình bao gồm bố mẹ và anh chị em ruột của trẻ, vợ chồng riêng hay con của người lớn, trẻ lớn hay những bệnh nhân nhiều tuổi hơn. Khuyến khích việc dùng thuốc, giáo dục vào thời điểm đã được kế hoạch hóa và điều khiển hành vi, tập luyện kỹ năng xã hội, cần thường xuyên điều chỉnh lại nhận thức.

    Những liên quan đặc biệt:
    - ADHD có thể đi cùng với những bệnh tâm thần sau:
    + Các rối loạn học tập khác.
    + Rối loạn hành vi hoặc rối loạn chống đối.
    + Rối loạn lưỡng cực.
    + Hội chứng Tourette.
    + Rối loạn phát triển lan tỏa.
    + Chậm phát triển tâm thần.
    - Khi đánh giá một bệnh nhân với những rối loạn trên, cần rất thận trọng cũng như tỉ mỉ khi đánh giá ADHD, ADHD, như rối loạn lưỡng cực, có thể dễ dàng điều trị.
    - ADHD là một rối loạn phát sinh dị loại có thể bao gồm cả những bệnh tâm thần khác. Những triệu chứng của ADHD có thể thấy ở những rối loạn khác, hoặc những dấu hiệu và triệu chứng này có thể là điềm báo trước ở tuổi nhỏ đến những rối loạn sau đó như rối loạn lưỡng cực hoặc tâm thần phân liệt.
    4 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #16
    Lisa Flores Dumke, M.A., Robert Segal, M.A., Tina de Benedictis., Ph.D., and Jeanne Segal, Ph.D., contributed to this article. Last modified on: 2/9/06.
    http://www.helpguide.org/mental/adhd...strategies.htm


    Nuôi trẻ ADD/ADHD: Chiến lược cho gia đình và ở nhà.


    Phụ huynh có trẻ mắc ADD/ADHD có thể cảm thấy nản lòng và tuyệt vọng khi cố gắng dạy con ứng xử. Đây là những thứ mà cha mẹ có thể làm để giảm thiểu nét tăng hoạt động của trẻ, mà không cần nhiều sức lực, tính vui đùa và cảm giác về một điều kỳ diệu ở mỗi trẻ. (Barry Belt).

    Quá thường xuyên, môi trường tại các gia đình có trẻ ADD/ADHD trở thành một bãi chiến trường. Bố mẹ trẻ ADD/ADHD thường xuyên phản ánh về cuộc sống hàng ngày:
    - Thật khó để hòan thành bài tập và công việc nhà.
    - Họ và con cái họ thường xuyên nản lòng.
    - Họ phải theo dõi đứa con ADD/ADHD của họ không ngớt.

    Các thành viên trong gia đình có thể cảm thấy như thế này-hoặc tồi hơn, có thể thực sự là-“chạy” theo trẻ ADD/ADHD và chúng cần quá nhiều thời gian giành riêng và sự quan tâm chú ý. Một kiểu mẫu hình (trẻ gây rối, bố mẹ chạy theo…) có thể phát triển nơi mà bố mẹ nhận ra “vấn đề” của con một cách không khó khăn gì, nhưng lại bỏ qua những lúc trẻ làm tốt, từ đó tạo ra một chu trình nơi mà mọi người bắt đầu cảm thấy thật tồi tệ về chính họ.
    Không hề có một quy định nào rằng cứ có ADD/ADHD trong gia đình thì nghĩa là cuộc sống gia đình sẽ hỗn độn, đáng thất vọng và đầy thách thức. Tài liệu này không chỉ cung cấp những chỉ dẫn để cha mẹ quản lý trẻ ADD/ADHD ở nhà, mà còn giúp trẻ có thể quản lý thành công rối loạnh của mình trong tất cả các khía cạnh khác của cuộc sống. Một điều bắt buộc phải làm là cha mẹ trẻ ADD/ADHD phải giành thời gian và có được sự hỗ trợ cần thiết để có được sự kiên nhẫn, sự hướng dẫn, cấu trúc , và quản lý hành vi ở nhà.

    Làm thế nào để dạy dỗ thành công trẻ ADD/ADHD?

    Trẻ mắc ADD/ADHD cần nhiều sự giúp đỡ hơn những trẻ khác để phát triển qua những giai đoạn khác nhau của thời niên thiếu. Bố mẹ của những trẻ này có thể cũng cần nhiều hơn những sự trợ giúp từ bên ngoài hơn những phụ huynh khác, đặc biệt nó là chắc chắn khi họ thấy được những nhu cầu đặc biệt của con mình.

    Hơn nữa, bố mẹ trẻ ADD/ADHD cũng cần quan tâm đặc biệt tới chính bản thân họ bởi họ phải đối phó với những thách thức và khó khăn của bệnh ADD/ADHD-như là trong đa số trường hợp-bố mẹ thậm chí phải đối mặt với những thách thức lớn hơn để có thể giúp đỡ được con mình.
    Bố mẹ trẻ ADD/ADHD cần phải:
    - Kiên nhẫn và nghị lực để kiểm soát được lo âu bởi có một đứa con với những nhu cầu riêng biệt,
    - ý thức sắc sảo/tinh nhạy trong liên kết thành tổ chức với sự mềm dẻo-và khả năng thiết kế mô hình cho trẻ,
    - Sự sẵn sàng xin gặp và khả năng phối hợp với những sự hỗ trợ và dịch vụ; bao gồm cả giáo viên, nhà trị liệu và bác sĩ.
    - Khả năng xây dựng nên cấu trúc và theo sát tất cả các kế hoạch kiểm soát hành vi,
    - Sự sẵn sàng để tham gia các khóa học về ADD/ADHD, sẵn sàng để thách thức sự phủ nhận thường đi kèm với nó, và
    - Tinh thần lạc quan và các cách để làm dịu sự căng thẳng của bản thân.

    Cũng rất có ích nếu các bậc phụ huynh nhớ:
    - Hành vi của con bạn liên quan chặt chẽ đến một rối loạn và xét về đại thể thì không phải do trẻ cố ý làm,
    - Con của bạn có những khả năng và đặc điểm rất đáng nể trọng,
    - Con của bạn có khả năng học và thành công,
    - Tập trung vào cách giúp trẻ thay đổi hành vi không phù hợp,
    - Hãy luôn đứng sau lưng/bênh vực trẻ cho tới khi trẻ có thể tự bênh vực, và
    - Hãy tin tưởng và ủng hộ con bạn.

    Có lẽ quan trọng nhất là, bố mẹ phải có vai trò chính (làm chủ) của sự kết hợp giữa lòng yêu thương và sự kiên định. Sống trong gia đình có cả tình thương và nền nếp sẽ là nơi tốt nhất cho trẻ học cách kiểm soát được khó khăn của mình.
    Nếu trong nhà bạn có trẻ trong độ tuổi 13-19 mắc ADD/ADHD, nhiều chiến lược được giới thiệu cho trẻ có thể mang lại hiệu quả. …………………

    Làm thế nào để giúp trẻ biết kiểm soát hành vi?

    Với những gia đình phải đối phó với ADD/ADHD, tiếp cận hành vi được ứng dụng tại nhà và có thể là chìa khóa để quản lý vấn đề hành vi và duy trì không khí gia đình êm ấm và hạnh phúc. Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, tiếp cận hành vi “được sử dụng vào điều trị ADD/ADHD để cung cấp cho trẻ cấu trúc và củng cố hành vi thích hợp.”
    Tiếp cận hành vi cần sự tận tụy (cam kết) của bố mẹ và những nhà chuyên nghiệp làm việc với họ, ví dụ như:
    - Nhà tâm lý học,
    - Cán bộ thầy cô giáo trường học
    - Nhà trị liệu sức khỏe tâm thần địa phương, và
    - Bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu.
    Theo Bộ Giáo dục, các kiểu tiếp cận hành vi cho trẻ ADD/ADHD bao gồm:
    - Tập huấn về hành vi cho bố mẹ và giáo viên biết cách quản lý trẻ,
    - Một chương trình hệ thống bao gồm sự quản lý ngẫu nhiên, ví dụ như học để biết củng cố tích cực và/hoặc thời gian tách biệt,
    - Trị liệu lâm sàng hành vi, ví dụ như tập huấn về kĩ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng xã hội, và
    - Trị liệu nhận thức-hành vi, cũng như tự kiểm soát bản thân.
    Với mỗi kiểu tiếp cận, bố mẹ được học để biết chính xác họ cần làm gì ở nhà để quản lý hành vi trẻ A. Bố mẹ phải làm việc thực hiện và theo sát theo cách tiếp cận tại gia đình dựa trên một nền tảng đều đặn và nhất quán.

    Một số chiến lược hành vi cụ thể/riêng biệt mà phụ huynh có thể dùng cho trẻ ADD/ADHD?
    Dựa theo những chiến lược dành cho cha mẹ để giúp đỡ trẻ A. (Những ý kiến này được phỏng theo và thích nghi từ Bộ Giáo dục và Gợi ý Cải thiện Hành vi của Con bạn từ trang web Attention Deficit Specialists (Các chuyên gia về Giảm chú ý).)

    Phần thưởng, Hậu quả/trừng phạt , và Quy tắc nhất quán cho Hành vi
    - Tập trung vào những phần thưởng và Hậu quả cho hànhvi phù hợp và không phù hợp:
    + Những phần thưởng và thiết đãi rõ ràng
    + Buổi tối đi xem phim cho một tuần tốt đẹp ở trường học
    + Sự thay đổi những quyền lợi (phần thưởng)
    + Đưa trẻ ra khỏi những tình huống thuận lợi cho những hành vi không phù hợp
    - Luôn luôn theo sát với phần thưởng và trừng phạt - Như các bậc cha mẹ, phải luôn nhất quán và một khi bạn đã nói gì thì phải làm cái đó.
    - Đừng nói “Được” chỉ vì nói như vậy thì dễ hơn - Hãy luôn luôn tôn trọng quy tắc nhất quán, kể cả khi bạn mệt hay khi con bạn hét rất to để chống đối.
    - Có thời gian chuyển thích hợp cho hành vi sai - Như đa số các sách hướng dẫn, đối với con bạn, độ dài của thời gian chuyển (tính theo phút) nên ngang bằng với tuổi của trẻ (tính theo năm).
    - Dạy bằng những ví dụ - Khi bố mẹ yêu cầu trẻ “làm theo bố/mẹ nói, không làm theo bố/mẹ làm” là họ làm cho trẻ rối tung lên và hy sinh những bài học đạo đức tốt đẹp mà họ đang cố truyền đạt.
    - Hãy giải thích rõ ràng về những quy định - Hãy nói cho con bạn biết những lời răn trước khi hành vi không phù hợp diễn ra để cho con bạn hiểu tại sao trẻ phải chịu sự trừng phạt. Một số phụ huynh thỏa thuận một “tín hiệu” với con họ, để cảnh báo khi trẻ bắt đầu hành vi sai.
    - Có những chỉ dẫn và lời nhắc ngắn và đơn giản - Sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và chính xác. Đưa ra những chỉ dẫn …………………………….. (one step at a time, and make requests one at a time)
    - Hãy gây nên những cuộc vật lộn/đánh nhau - Không phải mọi lỗi lầm hay hành vi sai ở trẻ đều cần có can thiệp của bố mẹ. Hãy cho trẻ một chút tự do để gây lên lỗi và giúp trẻ học từ những lỗi lầm đó.
    - Luôn giữ trong đầu thái độ tích cực về con bạn - Viết ra một danh sách những nét tích cực của con bạn. Khi chỉ ra những lỗi và hành vi sai, điều chỉnh câu trả lời của bạn một cách tích cực để chỉ rõ cách tốt hơn để làm mọi thứ. Điều này sẽ cho thấy rằng con của bạn sẽ tin tưởng vào những sự thành công của chúng.
    - Hãy luôn ghi nhận thấy những lúc ngoan của con bạn - Trẻ ADD/ADHD thường xuyên bị bố mẹ và giáo viên để ý những lỗi sai. Thay vì đó, hãy ca ngợi trẻ thật nhanh sau đó và thật hào phóng, thậm chí với những điều đạt được nhỏ nhất. Và đừng bỏ qua những hành vi tốt thông thường bởi đó là thứ mà bạn mong chờ con bạn làm.

    Cấu trúc
    - Đặt lịch đều đặn hàng ngày và phải theo sát lịch. Giờ đi ngủ và chuẩn bị tới trường sẽ dễ dàng hơn nếu đã được sắp xếp trong cấu trúc đó. Có những thời gian biểu riêng cho bài tập về nhà.
    - Giảm những kích thích ngẫu nhiên/tùy tiện và tăng cường cấu trúc - Rất nhiều thời gian không được cấu trúc (không được sắp xếp trong thời gian biểu) có thể gây ra những hành vi bột phát ở trẻ. Hãy đăng ký cho con bạn một vài lớp thể thao và văn hóa. Một số trẻ ADD/ADHD đáp ứng tốt với các hình thức nghệ thuật hoặc những môn thể thao đơn (không cần đội). Những hoạt động như vậy tác động mạnh tới cấu trúc thời gian của con bạn và tạo lối thoát ra cho mức năng lượng cao (của trẻ).
    - Giúp con bạn luôn được tổ chức chặt chẽ - Hãy thiết lập cuộc sống gia đình theo cách khuyến khích sự tổ chức và tự chịu trách nhiệm. Ví dụ, dành một chỗ riêng trước cửa ra vào để con bạn đặt những bài tập đã hòan thành và sách học mỗi tối trước khi đi ngủ để những thứ này không bị quên đi vào buổi sáng mai. Hay cho con bạn cuốn sổ ghi chép riêng để ghi lại những bài tập. Dành cho con bạn một nơi yên tĩnh trong nhà để làm bài tập.
    - Có những lưu ý (nhắc nhở) cụ thể:
    + Một chiếc đồng hồ to trong phòng ngủ;
    + Bảng ghi những việc vặt trong nhà;
    + Tập giấy phân công việc để ghi lại bài tập về nhà và một hộp riêng biệt để ghi những công việc đã hòan thành; và
    + Giành lấy sự chú ý của trẻ trước khi nói với trẻ. Cần những ý kiến phản hồi từ phía trẻ về những việc quan trọng.
    - Những giờ nghỉ ngơi/giải lao sau khi làm việc hoặc học tập cần nhiều sự tập trung chú ý:
    + Sử dụng thiết bị bấm giờ trong nhà bếp để nhắc trẻ giờ nghỉ tiếp sau là gì.
    + Dành thời gian để chơi thoải mái ngòai trời.
    + Đặt kế hoạch thời gian cho những hoạt động vui vẻ cùng với gia đình.

    Những gợi ý khác

    - Loại bỏ những thực phẩm có cafêin và nhiều đường - Dinh dưỡng không phù hợp và thực phẩm nhạy cảm có thể làm tăng sự tăng hoạt động. Những bữa ăn cân đối cùng với gia đình, cũng tạo cơ hội giao tiếp cho trẻ.
    - Dạy trẻ những kỹ thuật thở sâu và thư giãn - Nhiều trẻ tăng động dễ bị xáo trộn và mất khả năng điều khiển cảm xúc. Để giúp trẻ đối phó với những suy nghĩ căng thẳng như vậy, học một vài kỹ thuật thư giãn, và dạy trẻ biết cách làm bằng cách cùng nhau thực hành.

    Một kỹ thuật làm như sau: Hít vào thật chậm. Khi bạn hít vào, hãy giãn rộng bụng và ngực khi đếm đến ba. Tập trung vào hơi thở vào thật chậm, sâu, nhẹ nhàng, và đều đặn. Sau đó, khi bạn thở ra, hãy trút hơi ra thật từ từ và sâu, làm bụng xẹp xuống. Chọn những từ hay câu để nhắc lại khi thở ra. Hãy làm điều này với con bạn khi trẻ cáu giận hay phá rối. Nó sẽ giúp cả hai lấy lại và giữ lại được sự kiểm soát xúc của của mình, và vì vậy bạn có thể đối phó với tình huống đó một cách bình tĩnh.
    - Cung cấp cho trẻ kiến thức xã hội - Giúp con bạn giải quyết những vấn đề với anh chị em ruột và bạn bè đồng lứa.

    “Thời gian xanh” là gì và nó có thể giúp gì cho trẻ ADD/ADHD?
    Nghiên cứu của trường Đại học Illinois ở Thành phố-Nông thôn đã chỉ ra rằng trẻ mắc ADHD có thể có lợi từ việc giành thời gian ngòai trời trong thiên nhiên. Theo những tác phẩm mới, một nghiên cứu, bắt đầu từ tháng 9 năm 2004 được đăng trên báo Báo Sức khỏe Nhân dân Hoa Kỳ, đã thấy rằng “đỉnh cao của kiểu “trị liệu” này cho trẻ từ 5 đến 18 tuổi… là sự giảm đáng kể các triệu chứng.” Nghiên cứu đã đưa ra những câu hỏi đáng suy nghĩ về “trị liệu tự nhiên” có thể bổ trợ như thế nào cho những cách trị liệu ADHD khác.
    Trong khi đợi những nghiên cứu sâu hơn về “thời gian xanh, ” phụ huynh cũng nên chú ý tới cách tiếp cận nhiều triển vọng này để kiểm soát ADHD. Giành thời gian ngòai thiên nhiên không chỉ không hề đắt mà còn dễ làm, nhưng khi phụ huynh đưa con họ vào “thời gian xanh,” họ có thể cũng cần nhiều đến không khí trong lành và thở sâu cho chính họ.

    Các bài tập thể dục có thể giúp trẻ ADD/ADHD như thế nào?
    Tập thể dục, đặc biệ là chương trình đều đặn đúng giờ giấc và tích cực, có thể giảm bớt những triệu chúng của ADD/ADHD. Đầu tư cho con bạn vào những lớp thể thao hay văn hóa hấp dẫn. Một số trẻ ADD/ADHD phát triển tốt với những môn thể thao đơn/cá nhân cần sự tập trung tinh thần cao độ, như thể dục, nghệ thuật tạo hình, võ thuật, hay đánh kiếm, hơn là những môn thể thao đồng đội, có thể có nhiều thời gian chết. Các bài tập thể dục có thể tăng cường sự tập trung và sự dẫn truyền thần kinh, cũng như giảm trầm cảm, lo âu và thúc đẩy sự phát triển não bộ.
    Stephen C. Putnam đã viết một cuốn sách về thể dục như là một sự lựa chọn điều trị cho ADHD có tên Ritalin tự nhiên cho chú ý maratông: Chăm sóc trẻ ADHD của bạn với những bài tập thể dục. Putnam tin rằng những bài thể dục nhịp điệu có hiệu quả lên não cũng như thuốc Ritalin và những chất tác động tâm thần khác (thuốc khác). Ông đề nghị thiết lập chương trình thể dục hấp dẫn con bạn và có vẻ sẽ tạo ra những thay đổi cho những triệu chứng ADD/ADHD. Tập thể dục là sự lựa chọn điều trị lành mạnh cho ADD/ADHD mà có thể có nhiều tác động tích cực khác tới thể chất và sức khỏe tinh thần của trẻ.
    5 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 32 Bài viết

    • 41 Được cảm ơn

    #17
    Thay đổi thực đơn hàng ngày và chế độ dinh dưỡng có thể giúp trẻ ADD/ADHD không?

    Thực đơn hàng ngày và dinh dưỡng có tầm quan trọng với trẻ ADD/ADHD theo những phương diện sau:
    - Đúng là trẻ ADHD cần giấc ngủ đầy đủ để hoạt động tốt nhất, trẻ cũng cần chế độ dinh dưỡng tốt và thói quen ăn uống lành mạnh để có những hoạt động tối ưu.
    - Trẻ em và người lớn mắc ADD/ADHD có xu hướng rối loạn ăn uống, bao gồm việc ăn uống quá mức và béo phì.

    Sự xung động và sự sao nhãng là những triệu chứng của ADD/ADHD gây trở ngại cho việc ăn uống lành mạnh. Sau đây là một số gợi ý để giúp con bạn phát triển thói quen ăn uống tốt:
    - Bố trí những bữa ăn ngồi của cả gia đình nơi mà con bạn có thể cho con ăn một bữa cơm lành mạnh, cân đối. Thời gian bữa ăn cũng cần được sắp xếp chặt chẽ trong thời gian biểu, nhất là khi con bạn dễ quên ăn. Hãy làm cho việc ăn uống trở thành một việc đáng lưu tâm.
    - Hãy luôn dự trữ (có trong tay) những thức ăn lành mạnh cho những bữa ăn nhanh. Một kho của những thanh protein, hạt hướng dương, trái cây khô, sữa chua, quả hạch không ướp muối, nước sốt táo không đường, và rau quả và trái cây tươi như là táo, cam, chuối, ……(bell peppers), cần tây, và cà rốt.
    - Hãy đóng gói bữa trưa thật đầy đủ và lành mạnh cho con bạn thay cho những bữa ăn nhanh buổi trưa (ở trường). Tránh những lúc đói ở trường hay khi tan học khi mà con bạn có thể bị lôi cuốn bởi những bữa ăn nhanh không lành mạnh hay nước xô-đa (sủi bọt có hương vị thơm) từ những máy bán hàng tự động.
    - Cung cấp cho trẻ một bữa ăn nhanh lành mạnh khi con bạn mới từ trường về.
    - Hãy tạo ra mô hình ăn uống tốt và thói quen ăn những bữa nhỏ.
    - Đừng dự trữ nước xô-đa và khoai tây rán. Và hạn chế số lượng pizza mà gia đình bạn ăn.
    - Phát huy việc nấu nướng những bữa ăn nhanh, lành mạnh, tốt hơn là nhờ cậy vào những nhà hàng thức ăn nhanh khi bạn không có nhiều thời gian để nấu nướng.
    - Hãy chắc chắn rằng con bạn có ăn bữa trưa. Việc tập trung ở trường là đủ khó khăn với trẻ ADD/ADHD, ngay cả khi chưa có sự tác động của bụng đói.
    - ủng hộ trường mà trẻ học để cung cấp những thức ăn lành mạnh hơn trong quán quán ăn tự phục vụ ở trường hay máy bán thức ăn.

    Tôi có thể giúp con bị ADD/ADHD như thế nào với những mối quan hệ?

    Ngòai sự lo lắng về học đường và khả năng trong cuộc đời sau này, các bậc cha mẹ cũng thường xuyên lo nghĩ rằng trẻ ADD/ADHD của họ sẽ không thể kết bạn và duy trì những mối quan hệ quan trọng. Quả thực là trẻ mắc ADD/ADHD thường xuyên có những khó khăn với những tương tác xã hội thông thường và tuân theo vai trò xã hội của mình. Mặc dù vậy, trẻ ADD/ADHD cũng có thể học để trở nên thành công trong các mối quan hệ cũng như học để thành công trong các nhiệm vụ/bài tập và công việc vặt hàng ngày. Bởi vì nhiều trẻ ADHD khá thông minh và sáng tạo, những điều đó giúp chúng hiểu các chiến lược để hòa đồng với người khác. Chúng trở nên đặc biệt hài hước hay lôi cuốn, biết cách nói những gì mà những người khác muốn nghe.
    Những mối quan hệ đầu tiên của trẻ là với người lớn, anh chị em ruột, và bạn cùng lứa. Sau đây là một số gợi ý để giúp trẻ thành công trong mỗi loại quan hệ:

    Quan hệ với người lớn
    - Theo những hướng dẫn ở trên để giúp con bạn (thưởng, phạt, quy định, và cấu trúc), và khuyến khích những những người lớn xung quanh trẻ (giáo viên, những người thân trong gia đình, cô trông trẻ) tuân theo nguyên tắc chỉ đạo.
    - Nói chung, nếu bạn có lòng kiên nhẫn và thái độ tích cực về con bạn, những người lớn khác xung quanh trẻ cũng sẽ theo bạn.
    - Chia sẽ những công việc làm cho con bạn với những người sẽ chăm sóc trẻ, nhưng cũng nên mềm dẻo/linh hoạt và đừng để bản thân trở nên quá lo lắng rằng con bạn sẽ ứng xử như thế nào khi những người lớn khác chăm sóc.
    - Sử dụng những sự giao tiếp hàng ngày và những việc lặt vặt là cơ hội tốt để giúp con bạn cư xử và có những hành vi phù hợp. Sẽ rất khó khăn, nhưng không phải là không thể làm, để dạy con bạn kiên nhẫn và sẽ mất thời gian của con nếu chúng nhìn thấy bạn luôn vội vã, bất lịch sự với những người bán hàng chậm chạp, hay gõ chân một cách thiếu kiên nhẫn khi đợi ở lối đi ở bưu điện. Luôn luôn nhớ rằng trẻ đang dõi theo việc bạn ứng xử như thế nào - bạn có vai trò là kiểu mẫu cho những hành vi phù hợp. Trẻ em đặc biệt vẫn hòa hợp với những người chăm sóc đầu tiên - cách bạn ứng xử như thế nào thực sự ảnh hưởng đến cách trẻ học ứng xử.

    Quan hệ với anh chị em ruột
    - Cạnh tranh/ghen tị giữa anh chị em ruột có thể nổi lên khi trẻ ADD/ADHD cảm thấy rằng chúng luôn luôn là duy nhất cho những hành vi sai, hay khi anh chị em của chúng cảm thấy rằng chúng được nhận được sự quan tâm thiếu cân bằng (quá nhiều) từ phía bố mẹ. Hãy nhận thức được tầm quan trọng của việc phân chia thời gian ngang bằng cho tất cả con bạn, của việc nêu bật tính cách và khả năng của mỗi trẻ, và có những quy định mà mọi người trong gia đình phải tuân theo.
    - Dạy anh chị em của trẻ về ADD/ADHD và những thách thức thực sự đi cùng với nó, nhưng không cho phép trẻ lấy ADD/ADHD như là một lý do bào chữa cho những hành vi sai.
    - Hãy đặt kế hoạch cho những hoạt động để cả gia đình bạn có thể làm theo mà không khó thực hiện với trẻ ADD/ADHD. Ví dụ, chơi những đoạn ngắn của trò chơi…… (long board) mà cần đến sự duy trì liên tục tập trung. Khi bạn làm điều này, dù sao, hãy tránh những câu nói như, “làm cho nó dễ hơn cho Johnny.”

    Quan hệ với bạn bè cùng lứa
    Hãy khuyến khích những mối quan hệ với bạn cùng lứa có vẻ phù hợp với con bạn, và quan sát lúc trẻ chơi cùng nhau để xem chúng tương tác với nhau như thế nào. Sự thành thục, mức độ của kỹ năng, và sự phát triển thể chất của mỗi trẻ có thể quyết định tốt hay xấu cho tình bạn.
    - Khi con bạn có những hẹn gặp chơi cùng bạn, hãy đưa ra những luật lệ ở chỗ chơi và để mắt tới con bạn để giúp chúng tuân theo luật lệ và giải quyết những cuộc cãi cọ. Đừng ngại ngần can thiệp trước mặt bạn của trẻ hay kết thúc buổi hẹn chơi nếu xung động của con bạn dẫn tới những hành vi thực sự không thể chấp nhận được. (Nếu bạn làm như vậy, dù sau, hãy chắc chắn rằng nó sẽ giúp con bạn học từ những kinh nghiệm và tạo cơ hội cho những hành vi tốt hơn trong tương lai.)
    - Giúp con bạn và bạn của chúng đạt tới những hoạt động thích hợp dựa trên những sở thích và khả năng của con bạn.
    - Hãy tuân theo những chỉ dẫn ở trên về việc giúp con bạn trong những mối quan hệ bạn bè, nhưng đừng quá thận trọng/cầu toàn - hãy để cho con bạn có khoảng trống để học cách có những mối quan hệ thành công.
    - Hãy lưu tâm tới việc đăng ký tên con vào những nhóm kỹ năng xã hội phụ vụ cho trẻ ADD/ADHD. Hãy hỏi ý kiến của nhà tâm lý học học đường hay nhà lâm sàng về sức khỏe tâm thần để có những sự tham khảo về những nhóm kỹ năng xã hội địa phương. Hãy chắc chắn tìm ra nhóm kỹ năng xã hội có lưu tâm đến sự xung động của ADD/ADHD, nơi mà có thể can thiệp vào sự đáp ứng từ những gì được học từ kỹ năng xã hội. (?) Những nhóm kỹ năng xã hội như vậy se giúp con bạn thử những kỹ năng xã hội trong cuộc sống thực.
    - Hãy nhạy cảm với vấn đề lòng tự trọng của con bạn, điều có thể gây nhiều khó khăn cho trẻ ADD/ADHD. Giúp con bạn xây dựng lòng tự tin và niềm tin vào khả năng của bản thân để được giống như những người khác.
    - Với lượng (sự) giúp đỡ thích hợp từ người bố/mẹ luôn kiên nhẫn và ủng hộ, trẻ ADD/ADHD có thể thiết lập và duy trì thành công những mối quan hệ.
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 3,438 Bài viết

    • 22,500 Được cảm ơn

    #18
    Trích dẫn Nguyên văn bởi BS LY QUỐC MAI ANH
    Bạn thân mến,
    Hội chứng giảm chú ý - tăng động ở trẻ em là một rối loạn đa nguyên nhân, đa yếu tố với các biểu hiện : trẻ kém khả năng duy trì sự tập trung chú ý vào bất kỳ một hoạt động naò trong một khoảng thời gian tương đối (20 phút), gia tăng hành vi với biểu hiện tay chân ngọ ngoạy không yên, liên tục bắt chụp mọi vật trong tầm tay, không lường được nguy hiểm. Hai rối loạn naỳ thường cùng xuất hiện hoặc có thể xuất hiện đơn lẻ biểu hiện thành hội chứng giảm chú ý - tăng động.
    Tuy nhiên, đó chỉ là những mô tả khaí quát, chung nhất. Và việc chẩn đoán muốn chính xác thường phaỉ sau 3 tuổi và cần được thực hiện bơỉ các bác sĩ tâm thần nhi hoặc các nhà chuyên môn khác. Bởi vì, như các bậc phụ huynh đã biết, trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 3 rất hiếu động, do đó rất dễ lầm lẫn với hội chứng ADHD. Hơn nữa, tuỳ theo môi trường sống và giaó dục của trẻ, cũng như mức độ dung nạp của phụ huynh trước những hành vi hiêú động của trẻ mà có thể trẻ được xem là hành vi gia tăng quá mức đối với người naỳ, nhưng laị trong giới hạn bình thường đối với người khác.
    Về mặt nguyên nhân, đây là một hội chứng do nhiều yếu tố căn nguyên (nghĩa là vẫn chưa xác định được đâu là nguyên nhân chính xác, chắc chắn) và còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.
    Các biểu hiện cơ bản của trẻ mà phụ huynh có thể dễ dàng nhận thấy :
    _ Trong độ tuổi 1- 6
    Trẻ hay khóc và khóc lâu
    Ngủ Ít
    Hung hăng, dễ nổi nóng
    Hành vi gây hấn : nắm tóc, đấm đá hoặc tự đấm đá khi không vừa ý...
    Tay chân không yên, leo treò, nhaỷ nhót liên tục. Không biết sợ khi bị la, không biết nguy hiểm, không rút kinh nghiệm sau khi bị đau(trường hợp naỳ tôi có 1 bệnh nhân nam, 3 tuôỉ, bị gaỹ chân P vì nhaỷ từ trên cao xuống, sau khi băng bột, bé tiếp tục nhaỷ làm gaỹ luôn chân còn laị. Và bé vẫn không chiụ nằm yên, chaỵ nhảy đến mức nát bột cả 2 chân trước khi được cắt bột )
    _ Sau 6 tuổi
    Hiếu động quá mức, luôn nhún nhaỷ, leo trèo
    Chen ngang vaò câu chuyên của người lớn
    Không kiên nhẫn, không biết chờ đến lượt mình khi chơi với các bạn
    Thô baọ
    Không biết lôĩ, không hôí hận
    Khả năng tập trung kém
    Không hoàn tất được việc gì, rất mau chán
    Luôn bị thầy cô phàn nàn là hay đứng lên đi ra khỏi chỗ ngồi trong giờ học...

    Trên đây là một số caí nhìn mà các bậc cha mẹ có thể quan sát được trên con mình. Tôi sẽ đi sâu vào chuyên môn trong mục khác khi có dịp.
    Thân aí.
    Gay quá.Mĩnh cũng đang nghĩ bé nhà mình bị chứng quá hiếu động. Bé đầu cũng rất hiếu động nhưng cháu hoc tập rất tốt, khả năng tập trung cao nên chắc không phải. Bé thứ hai mới 9 tháng nhưng rất hiếu động, tay chân ko bao giờ ngừng nghỉ, luôn thích bò hoặc trèo hoặc đi lại,và cũng chỉ hiếu động quá trong khoảng hai tháng gần đây. Đặc biệt khi ăn mà bé không vừa lòng là bé rất hay tự túm tóc giật hoặc cấu mẹ. Khi muốn làm một điều gì mà bé không được đáp ứng là bé cào cấu vào mặt ngưòi khác, rất đanh đá. Không hiêu như vậy bé có hiếu động quá không. Mong bác sĩ trả lời dùm. Cảm ơn nhiều.
    Yêu lắm 2 công chúa và hoàng tử bé của mẹ :Rose::Rose::Rose:
    • 29 Bài viết

    • 5 Được cảm ơn

    #19
    Trích dẫn Nguyên văn bởi BS LY QUỐC MAI ANH
    Trước mắt, theo những thông tin mà bạn gửi, thì nhận thấy bé chưa đủ các dấu hiệu để gợi ý "hội chứng giảm chú ý tăng động". Bé chỉ có các nét của một trẻ hiếu động. Do đó, nếu mức độ hiếu động của trẻ nằm trong giới hạn chập nhận được của gia đình và thầy cô giáo(bé không bị xem là "tai hoạ" cho lớp học, hay "kẻ phá bỉnh") thì không cần phải khám bệnh gì thêm. Quan trọng là bạn dành nhiều hơn thời gian để giáo dục trẻ, nhằm hướng tới sự thay đổi thái độ cho trẻ, đừng gò ép trẻ bằng các quy tắc cứng nhắc hay kỷ luật sắt, có thể gây phản ứng dữ dội. Đôi khi cũng nên nhương bộ(nếu xét thấy có thể), để trẻ không có khuynh hướng chống đối bùng nổ do quá gò bó, chèn ép.
    Nếu các hành vi của trẻ nhiều lúc làm bạn không tưởng tượng nổi, có nguy cơ đem lại nguy hiểm cho chính trẻ thì nên đưa trẻ đến khám trực tiếp tại nhà chuyên môn, để có thể đưa ra kết luận chính xác và có thể chỉ định cho con bạn một số điều trị đặc hiệu giúp cải thiện tình hình.

    Chúc bạn thành công

    Thân chào
    Cám ơn Bác sỹ rất nhiều đã cho chúng tôi biết được cách nhận biết bệnh ở trẻ. Cháu tôi có rất nhiều những biều hiển trong mô tả của trẻ mắc bệnh TDGCY. Mẹ cháu cũng đã cho cháu đi bác sỹ tâm lý nhung cháu cũng không cải thiện được nhiều. Tuy nhiên mẹ cháu và gia đình tôi chưa biết được một phương pháp cũng như chế độ ăn uống, thuốc uống và cách giáo dục sao cho phù hợp với cháu. Cháu hiện đã học hết lớp một và đang học hè. Tuy nhiên việc học đối với cháu là khó khăn, mẹ cháu rất strees và nhiều lúc nghĩ đến việc không cho cháu đi học nữa. Gia đình tôi rất muốn biết nơi khám và Bác sỹ nào khám hướng dẫn phương pháp điều trị,thuốc uống chế độ ăn uống phù hợp cho cháu. Rất mong bác hương dẫn giùm. Cảm ơn bác sỹ rất nhiều. Tôi và gia đình mong tin bác sỹ.
    • 234 Bài viết

    • 19 Được cảm ơn

    #20
    Chào các bố mẹ.

    Mình đang rất buồn. Hôm qua cho con đi khám ở PKhám ABCD. Bác sĩ kết luận: Con bị rối loạn tăng động giảm chú ý. BÁc sĩ kê đơn cho uống 2 loại thuốc. Thuốc thì mình chưa cho uống, còn phương pháp điều trị thì cũng chẳng có gì cả.

    Có ai biết về bệnh này thì chia sẻ cho mình với.