Dị tật tim bẩm sinh là một trong những nỗi ám ảnh của thai phụ vì sự nguy hiểm và khó chẩn đoán của chúng. Theo thống kê tại bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Tp.HCM, các trường hợp mang thai lần đầu tiên mang dị tật tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ 0,8%, và 2- 6% ở các trường hợp mang thai lần 2; nếu trong gia đình đã có 2 người dị tật tim bẩm sinh thì nguy cơ di truyển sẽ khiến trẻ ra đời có khả năng mắc bệnh là 20 – 30%.

Các dị tật tim bẩm sinh ở trẻ em có thể đơn giản hoặc phức tạp; các loại dị tật tim bẩm sinh khác nhau sẽ ảnh hưởng sự phát triển và sức khỏe của trẻ khác nhau, nhưng nhìn chung đều gây ra tình trạng không bơm đầy đủ máu cho cơ thể.


ngang2
Dị tật về tim khiến trẻ gặp khó khăn trong hô hấp và ảnh hưởng đến sự phát triển (Ảnh: Internet)

Ở trẻ sơ sinh, dấu hiện đầu tiên để bác sỹ có thể chuẩn đoán về dị tật tim đó chính là âm thanh phát ra từ hoạt động co bóp của tim qua ống nghe khi tim bơm máu gặp trở ngại, từ đó sẽ có những bước kiểm tra cụ thể hơn để chuẩn đoán dị tật. Ngoài ra, bạn cần lưu ý những dấu hiệu sau: trẻ hay ho, thở khò khè và khó khăn (thở nhanh, lồng ngực hõm vào thấy rõ khi hít vào), hay bị viêm phổi, làn da tím xanh, nhợt nhạt, cơ thể có nhiệt độ thấp và vã mồ hôi. Trẻ cũng thường thở dốc, đau ngực, mệt mỏi, kém ăn thường xuyên, hay chóng mặt hoặc ngất xỉu,và huyết áp bất thường…

Dị tật tim được chia làm 3 nhóm sau:

- Nhóm tim bẩm sinh không có luồng thông: trong nhóm này thường trẻ không bị tím, lượng máu lên phổi bình thường hoặc giảm, bao gồm các dị tật: hẹp động mạch phổi, hẹp động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ...

- Nhóm tim bẩm sinh có luồng thông từ trái sang phải: có lỗ thông đưa máu đi từ các buồng tim bên trái sang tim bên phải.

- Nhóm tim bẩm sinh có luồng thông từ phải sang trái: có lỗ thông đưa máu đi từ các buồng tim bên phải sang tim bên trái, thường gây ra triệu chứng tím và lưu lượng máu đi qua phổi có thể tăng (tăng tuần hoàn phổi) hay giảm (giảm tuần hoàn phổi). Các dạng dị tật: tim một thất, tứ chứng Fallot, teo van ba lá, teo van động mạch phổi…