ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Tài nguyên quốc gia, khai thác hay tàn phá?

Đến trả lời mới nhất
  • 0 Lượt chia sẻ
  • 1.09K Lượt đọc
  • 2 Trả lời

Theo dõi Webtretho

Luôn tự hào là nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy dành cho phụ nữ trưởng thành
f | Chia sẻ bài viết
    • 323 Bài viết

    • 20 Được cảm ơn

    #1
    Chúng ta thường nói: Nước ta rừng vàng, biển bạc. Nhưng trồng rừng không kịp tốc độ khai thác nên có người nói vui rằng: chúng ta đã hoàn thành căn bản việc phá rừng; còn các vùng biển ven bờ cũng đang phải oằn mình bởi nạn khai thác hủy hoại. Rồi đây không biết tại người bạc với biển hay biển bạc với người. Nhu cầu về tài nguyên trên thế giới tăng nhanh cùng với việc khai thác tài nguyên ở nước ta còn nhiều bất cập, đặt chúng ta trước những hệ lụy khôn lường.




    Vét cạn tài nguyên là có tội với tương lai


    Thảm họa từ những mỏ khai khoáng


    Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú với hơn 100 loại. Ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản luôn là một ngành công nghiệp mũi nhọn có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, các mỏ ở Việt Nam đa phần có quy mô vừa và nhỏ, khả năng khai thác công nghiệp bị hạn chế. Trong khi đó, việc quản lý khai thác, chế biến và sử dụng tài nguyên khoáng sản của chúng ta hiện nay còn nhiều bất cập. Mặc dù chúng ta đã có Luật Khoáng sản từ năm 1996 nhưng những quy định trong luật chỉ là nỗ lực của các nhà lập pháp mà ít được thực thi trong thực tế. Thực tế là, khai thác khoáng sản chỉ qua chế biến sơ bộ rồi đem bán: xúc cát trắng lên xuất khẩu là có trên 10 USD/tấn, gạt bỏ lớp phủ rồi xúc tràng thạch đem nghiền sơ bộ cũng bán được 300 ngàn đồng/tấn, 1m3 đá khối xuất khẩu được 500 - 800 USD/tấn tùy từng loại... Thế nên, dễ hiểu khi có nhiều người đổ xô vào lĩnh vực khai thác khoáng sản, bằng cách này hay cách khác.


    “Mỗi năm lũ lụt về cướp đi hàng trăm sinh mạng thì cả xã hội lại ồn ào, lại xót thương, lại quyên góp tiền hàng cứu trợ nhưng không có một cuộc điều tra nghiêm túc nào được tổ chức? Tại sao những thôn bản đã sống yên bình từ hàng trăm năm nay bỗng nhiên bị xóa sổ sau một đêm? Chúng ta có thể làm gì để ngăn ngừa thảm họa?...” - Thạc sĩ NGUYỄN ĐÌNH XUÂN

    Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu về tích lũy vốn rất lớn và đương nhiên chúng ta cần dựa vào tài nguyên, khoáng sản để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Nhưng với tình trạng khai thác như hiện nay thì nguy cơ thất thoát và mất mỏ là rất cao. Đó là chưa kể tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái luôn đe dọa, các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh. Hiện tại, chúng ta khai thác và chủ yếu là bán quặng thô, cho nên giá trị gia tăng thực tế thu được không lớn (1 tấn quặng titan chẳng hạn, giá xuất khẩu theo khai báo chỉ là 400.000 đồng, tức 25 USD nhưng nếu qua chế biến sẽ có giá xuất khẩu gấp 100 lần, khoảng 2.500 USD!). Bên cạnh đó, do công nghệ khai thác lạc hậu, chúng ta không tận thu được hàm lượng khoáng sản hữu ích, mà còn gây ra tình trạng mất rừng, xói lở đất, bồi lắng, ô nhiễm nước mặt, nước ngầm. Có thể nêu nhiều điển hình về sự ảnh hưởng của khai thác mỏ đến các nguồn nước.
    Ở khu mỏ thiếc Sơn Dương (Tuyên Quang), tổng lượng nước thải công nghiệp gồm bùn cát và nước khoảng 2.000 m3/ngày được xả ra các đập lắng với tổng dung tích > 74.000m3. Các đập lắng nước này đã làm tăng đáng kể diện tích mặt nước, thay đổi chế độ thủy văn của suối. Sau một thời gian đổ thải, hầu hết các hồ và nhiều đoạn suối đã bị lấp đầy bùn, cát. Đáy hồ cao hơn cốt cao tự nhiên từ 5 - 10m làm thay đổi dung tích, lưu lượng và hướng dòng chảy tự nhiên. Các hồ và suối trước đây là nguồn nước sản xuất nông nghiệp, hiện nay hoàn toàn không thể sử dụng được.

    Khai thác quặng titan tại miền Trung - Ảnh: T.Q.N
    Ở các mỏ thiếc, đá quý ở miền Tây Nghệ An, do quá trình đào bới và đổ thải, các khe Bản Sỏi, Khe Mồng, Tổng Huống - là nguồn cấp nước cho nông nghiệp của khu vực, bị xói lở bờ, bồi lấp dòng chảy, đổi dòng, giảm khả năng tưới từ đó gây ra giảm vụ, giảm năng suất cây trồng. Khe Nậm Tôn bị đục và ô nhiễm trên chiều dài hơn 20 km. Khai thác đá quý ở Quì Châu đã làm một số suối và công trình thủy lợi bị phá hủy, các hố khai thác sâu là nơi tích tụ chất thải làm ô nhiễm nguồn nước.
    Hàng trăm hecta đất rừng bị đào bới hoặc bỏ hoang đằng sau những quá trình khai thác. Ví dụ, theo công bố năm 2006, có khoảng 218 ha đất lâm nghiệp đã bị phá tại mỏ thiếc Bắc Lũng (Thái Nguyên); 200 ha rừng tự nhiên, rừng trồng bị phá tại khu khai thác Quỳ Hợp, Nghệ An. Ở Hòn Gai (Cẩm Phả) trong giai đoạn 1970 - 1997, các hoạt động khai thác than đã làm mất khoảng 2.900 ha (trung bình mỗi năm mất 100 - 110 ha) đất rừng các loại, trong đó khoảng 2.000 ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 4,7% vào năm 1997.


    Hiện tại việc cấp phép khai thác khoáng sản còn nhiều kẽ hở và chưa được công khai minh bạch. Trừ một số mỏ lớn có đánh giá trữ lượng, đa phần các mỏ nhỏ đều do doanh nghiệp tự thăm dò, khi thấy có lợi nhuận thì đưa vào quy hoạch để được cấp phép. Do buông lỏng quản lý, tình trạng khai thác trái phép cũng diễn ra phổ biến.

    Kinh phí hằng năm dành cho bảo vệ rừng là quá nhỏ so với những gì rừng mang lại. Triển khai Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chỉ tính riêng nguồn thu từ thủy điện và nhà máy nước, số tiền tỉnh Lâm Đồng dự kiến thu được sẽ vào khoảng 50 - 60 tỉ đồng, tức 270.000 đồng/ha rừng, gấp hơn 2 lần chi phí hiện Nhà nước đang chi cho công tác bảo vệ rừng.
    Lợi nhuận âm
    Sẽ là cực đoan nếu cho rằng cần phải đắp chăn trái đất này lại, không khai thác tài nguyên nữa để bảo vệ môi trường. Chúng ta vẫn cần khai thác nhiều tài nguyên để phát triển nhưng phải làm sao việc khai thác thực sự đem lại hiệu quả, giảm thiểu hậu quả.
    Hiện nay, rất nhiều hoạt động khai thác của chúng ta đang thu lợi âm, rõ nhất là tình trạng khai thác thủ công ở những mỏ kim loại màu, trữ lượng nhỏ. Giá trị thu được bằng tiền cho một vài cá nhân không thể so sánh được với những mất mát về môi trường mà hậu quả tất cả chúng ta sẽ phải gánh chịu trong nhiều chục năm tới. Các tổ chức bảo vệ môi trường thế giới có sử dụng khái niệm GDP xanh, là hiệu số của tổng sản phẩm quốc nội GDP với sự mất mát tài nguyên cũng như chi phí cần phải có để khắc phục ô nhiễm môi trường (GDP xanh = GDP - mất mát tài nguyên và ô nhiễm môi trường). Ví dụ như Viện khoa học xã hội Trung Quốc đã thử tính ở tỉnh Sơn Tây, GDP tăng trưởng bình quân là 9%/năm trong suốt 2 thập kỷ qua nhưng thiệt hại về tài nguyên và môi trường lên đến 15%/năm nên kết quả GDP xanh sẽ là -6%/năm.

    Rừng bị đốt thành... tro ở Quảng Ngãi - Ảnh: Hiển Cừ
    Khoáng sản là những thứ tài nguyên không thể tái tạo lại, cho nên chúng ta cần phải cân nhắc hết sức thận trọng khi khai thác. Khi chúng ta chưa thể tinh chế hoặc sử dụng một cách có hiệu quả nhất thì hãy để cho các thế hệ sau có cơ hội làm việc đó. Bằng không, vài chục năm nữa con cháu chúng ta sẽ phải đi nhập tài nguyên với giá rất cao. Theo một số báo cáo thì chỉ khoảng năm 2012 chúng ta sẽ phải bắt đầu nhập khẩu than và trong vòng 30 năm nữa chúng ta hết sạch than. Trong khi đó, hiện nay xuất khẩu than (chính thức) chiếm 50% sản lượng của ngành than và tỷ trọng xuất khẩu khoáng sản chiếm đến 21,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Một con số đáng buồn, nhất là khi chúng ta chủ yếu là xuất khoáng sản thô.
    Cần phải nhắc lại, các quy định của pháp luật (Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường) có yêu cầu chặt chẽ về bảo vệ môi trường, khôi phục hiện trạng (hoàn nguyên) hiện tại vẫn rất ít được thực thi. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại một cách khoa học và chính xác về các chính sách, chiến lược đối với tài nguyên khoáng sản nếu không muốn bị tương lai phán xét. Việc khai thác tài nguyên là cần thiết nhưng phải dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, khoa học, công khai, minh bạch.




    Chỉnh sửa lần cuối bởi Mecungcon; 01/04/2009 vào lúc 11:54 PM.
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 2,631 Bài viết

    • 1,165 Được cảm ơn

    #2
    tán phá vơ vét cạn kiệt chứ khai thác cái giống gì. Ngày xưa cứ bảo thằng Pháp nó bóc lột của mình. Giờ mình còn phá gấp trăm lần nó. Chán. Tư duy tiểu nông nó chỉ đến thế thôi. Chả hiểu cái Bộ Tài Nguyên và Môi trường làm gì mà để tình trạng này cứ diễn ra dài dài ko thèm quàn lý
    Closed !
    • 323 Bài viết

    • 20 Được cảm ơn

    #3
    Đừng ăn vào vốn tài nguyên!

    Tài nguyên được xem là nguồn vốn quý của quốc gia, nhưng không phải là vô hạn. Tình trạng khai thác lãng phí, thiếu quy hoạch càng làm cho nguồn vốn này mau cạn kiệt.



    Loạt bài Tài nguyên quốc gia, khai thác hay tàn phá? (Thanh Niên khởi đăng từ 31.3.2009) thật sự chỉ mới phản ánh được một phần nhỏ của tình hình thực tế. Đề cập đến vấn nạn này, điều mà Thanh Niên mong muốn là các cấp, ngành liên quan sẽ đề ra những giải pháp quyết liệt hơn nữa để “rừng vàng, biển bạc” nước ta không trở nên cạn kiệt.
    Các cụ ta thời xưa thường nói: “Buôn tàu, buộc bè không bằng ăn dè, hà tiện”. Cũng chính nhờ cách làm ăn tằn tiện, chắt chiu mà chúng ta mới được hưởng những cái mà cha ông để lại cho ngày nay. Tuy nhiên, rất tiếc là xem ra thế hệ con cháu nhiều người chưa hiểu hết điều đó, mà lại thích chạy theo kiểu “bóc ngắn, cắn dài”. Đây là con đường kiếm tiền nhàn hạ nhất, nhanh nhất nhưng cũng là nguyên nhân gây nên những hậu quả không ai lường hết được.
    Có thể nói tài nguyên thiên nhiên đối với nước ta là nguồn vốn rất quý và khá lớn. Báo Thanh Niên trong những ngày qua có gần chục bài đăng tải về Tài nguyên quốc gia, khai thác hay tàn phá? rung lên hồi chuông báo động về sự cạn kiệt ngày một nhanh tài nguyên của đất nước như rừng, cát, đá, vàng, titan, nước ngầm, vùng ven biển... gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của người dân. Khai thác tài nguyên và ô nhiễm môi trường luôn song hành với nhau. Rõ ràng chúng ta đang ăn vào vốn mà nếu không nhanh chóng nhận ra thì sẽ đến lúc hết vốn, phải ngửa tay đi vay thiên hạ cũng không xong!

    Các yếu tố giúp cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư, khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng suất tổng hợp. Cả ba yếu tố này đều có giới hạn của nó, giới hạn về khối lượng, về quá trình tự nhiên và về khoa học công nghệ. Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người tác động vào tự nhiên cũng đều đưa đến hai mặt lợi và hại. Vấn đề đặt ra là làm sao cho cái lợi thu được là lớn nhất và cái hại là ít nhất trong phạm vi tiêu chuẩn cho phép.
    Mục tiêu phát triển kinh tế lâu nay chủ yếu vẫn là tăng GDP. Với mặt bằng kinh tế thấp, cần cấp bách xóa đói, giảm nghèo nên tập trung vào khai thác tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản cũng là điều dễ hiểu. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, đòi hỏi phải rà soát, điều chỉnh lại mục tiêu phát triển vì đất nước nói chung, vì chất lượng cuộc sống của thế hệ hôm nay và vì tương lai con cháu chúng ta.
    Bài học lớn nhất cho những người quản lý điều hành đất nước là khi xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển quốc gia thì phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Muốn khai thác tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản phải đánh giá môi trường chiến lược, các dự án phải nằm trong quy hoạch và đánh giá tác động môi trường (EIA) một cách bài bản và khoa học. Đối với các dự án phức tạp, “nhạy cảm” có tác động lớn đến cuộc sống của người dân thì phải coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội để đạt được sự đồng thuận cao.
    Gần đây, các cơ quan có trách nhiệm cũng đã nhận thấy việc khai thác tài nguyên nếu chỉ xuất khẩu sản phẩm thô thì ta lời một, còn thiên hạ chỉ cần qua bước tinh chế sẽ lời năm, bảy lần. Một số loại khoáng sản như sắt, măng-gan, thiếc, chì, kẽm... đã được cấm không cho xuất dưới dạng thô để tăng giá trị sản phẩm là rất đúng đắn.
    Tuy nhiên, do công nghệ tinh chế của ta còn lạc hậu nên nhiều hợp phần quý đi kèm như trong quặng đồng có nguyên tố đất hiếm; trong quặng chì kẽm ngoài bạc còn có nguyên tố như Cd, In không thu hồi được, gây lãng phí và hiệu quả chưa cao như ý muốn. Rõ ràng là phải tiếp cận với công nghệ cao khi khai thác khoáng sản để tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm việc thải các chất độc hại ra môi trường. Xin lưu ý, trong các chất thải thì chất thải độc hại là đáng sợ nhất vì ta chưa rõ hết tác động về lâu dài và tương tác giữa chúng với nhau. Nhà nước cần phải quy định cộng phí bảo vệ môi trường vào giá thành sản phẩm để có quỹ tái lập, phục hồi hoàn thổ bề mặt sau khi khai thác và có chế tài cụ thể.



    Nhìn các nước xung quanh chúng ta như Nhật Bản, Singapore là các quốc gia rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng GDP vào loại hàng đầu thế giới. Đó là nhờ họ biết chắt chiu, tằn tiện, khai thác sử dụng tài nguyên một cách rất khôn ngoan, hiệu quả.