ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

Sự thật về mộ của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi

Đến trả lời mới nhất
  • 5 Lượt chia sẻ
  • 6.31K Lượt đọc
  • 7 Trả lời

0 Người đang theo dõi

    • 286 Bài viết

    • 80 Được cảm ơn

    #1
    Sự thật về mộ của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi
    15/10/2009 0752
    - Ở nghĩa trang liệt sĩ TP. HCM trên xa lộ Hà Nội, có ngôi mộ gắn bia “Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi…”. Nhưng Anh không yên nghỉ tại đây. Bee đăng câu chuyện về ngôi mộ của anh hùng này tròn 45 năm ngày mất của Anh.

    Tìm thấy mộ 2 ngày sau khi anh Trỗi bị xử bắn

    Đúng 9h45’ ngày 15/10/1964, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã vội vã xử bắn anh tại trường bắn Chí Hoà; dù trước đó đã thoả thuận trả tự do cho anh khi du kích quân Caracas (Venezuela) thả viên trung tá không quân Mỹ Michael Smolen.

    Chúng vội vã đưa thi hài anh về nghĩa trang lính Cộng hoà ở Gò Vấp, lúc 1h chiều. Nhưng Nguyễn Văn Trỗi là Việt Cộng, vậy là 5h chiều lại bí mật đưa anh về nghĩa trang Đô Thành (nay là công viên Lê Thị Riêng, Q.10, TP.HCM). Hôm đó vừa tròn 6 tháng kể từ ngày anh và chị Phan Thị Quyên làm lễ cưới.
    Chị Phan Thị Quyên, vợ anh Trỗi (đứng giữa) Cả ngày hôm ấy, chị Quyên chạy đôn đáo khắp nơi mà không biết anh chôn ở đâu. Sớm hôm sau đọc báo mới hay. Chị cùng ba anh đến nơi thì thấy có 3 ngôi mộ mới chôn, không biết cái nào của nhà mình. May mà dân ta có tuc lệ “mở cửa mả”. Sáng 17/10 đến thắp hương thì thấy 2 ngôi kế bên đã “mở”. Vậy là tìm được mộ anh.

    Bọn mật vụ bám riết chị xem có ai liên lạc. Sau ngày anh mất, chị Quyên theo ba anh về quê một thời gian cho khuây khỏa. Ở Sài Gòn, chẳng sợ liên luỵ, bà con cô bác cầu siêu suốt 7 tuần chay cho anh ở chùa Pháp Vân.

    Đầu năm 1965, tổ chức cho chị thoát ly ra vùng giải phóng. Ngày 25 tháng chạp, chị mang hương hoa ra viếng anh, tạm biệt để đi xa. Vì mộ anh trên “đất thí” (3 năm sau phải di dời) nên chị bàn với gia đình sẽ đưa anh về nghĩa trang Văn Giáp, ngay ngã 3 Giồng Ông Tố. Đêm 29, chị bí mật lên đường ra “R” (chiến khu).

    "Ai cho chuyển mộ Việt Cộng?"

    Nghe giọng Nam của chị, ai cũng nghĩ chị người Nam. Nhưng không phải vậy, chị quê gốc ở làng Văn Giáp, xã Bạch Đằng, Thường Tín, Hà Đông (ngay sát quốc lộ 1A, chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km).

    Vì đất chật người đông mà dân Văn Giáp tứ tán từ những năm đầu thế kỷ XX. Người đi phu Nam bộ, người phiêu bạt sang Nam Vang... Cứ thế cha con kéo nhau đi, họ hàng rủ nhau xuôi, nhà này rủ nhà kia. Đến những năm 50 có nửa làng sống trong Nam.

    Năm 1937, bố mẹ chị theo bà ngoại sang Nam Vang. Ông hành nghề cắt tóc, còn bà buôn bán nhỏ ở đồn điền cao su Chúp (Công-pông-chàm) và sinh chị năm 1944. Vì ông tham gia phong trào yêu nước, bị quây ráp mà năm 1956, cả nhà phải quay về Sài Gòn.

    Dân Văn Giáp tha hương, đùm bọc nhau. Năm 1956, họ mua được mảnh đất gần ngã tư Phú Nhuận xây ngôi chùa lấy tên Pháp Vân (thờ 2 bà Pháp Vân, Pháp Lôi người Văn Giáp). Cứ ngày 17 tháng giêng hay rằm tháng tư là dân Văn Giáp tứ xứ kéo về đây cúng tế, nhớ về quê cha đất tổ.

    Năm 1960, thấy dân Văn Giáp ở Sài Gòn ngày càng phát triển nên Hội Tương tế quyết định mua 10 công đất ở Giồng Ông Tố (nay thuộc Q2) làm nghĩa trang.

    Đến ngày 7/5/1967, ba anh Trỗi cùng bố mẹ chị và gia đình chuyển anh về nghĩa trang Văn Giáp. Khi làm thủ tục, viên quản lí nghĩa trang Đô Thành sinh nghi: Ai cho chuyển mộ Việt Cộng? Phải nói là trùng tên rồi chi ít tiền mới xong.

    Khi về nghĩa trang Văn Giáp, thấy bia đề “Nguyễn Văn Trỗi, 26 tuổi, mất ngày 15/10/1964” thì tên cảnh sát khu vực cũng sinh nghi. Cũng phải giở bài “trùng” và “chi” mới xong.

    Khi này chị đang ở “R”. Hè năm 1969, chị được đón ra Bắc. Cho mãi sau 30/4/1975, chị mới trở về viếng anh.

    5 bao xi măng góp xây mộ anh hùng

    Năm 1978, bố chị mất. Năm 1981, chị quyết định xây mộ cho anh. Vừa qua chiến tranh nên trăm bề thiếu thốn. Xây phải có xi măng, gạch, cát. Cô Ba Thy cho 5 bao xi măng nhưng mang giấy giới thiệu tới nơi thì kho vừa hết(!). Gặp anh Bảy Thân (phó chủ nhiệm HTX Mây, tre, lá thành phố) nhờ giúp. Anh quyết định trích quỹ công đoàn mua tặng số xi măng này.

    Báo cáo với Ban trị sự thôn Văn Giáp xin phép xây mộ. Các anh bảo sẽ lo gạch, cát và công. Bà con thuê cả thợ về khắc dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tư do” và ngôi sao 5 cánh gắn trên mộ. Làm bia mộ mới có gắn hình anh đang đứng giữa pháp trường.
    Cánh học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi chúng tôi hàng năm cứ vào ngày Thương binh, liệt sĩ 27/7, hay ngày anh Trỗi hy sinh 15/10 lại cùng chị Quyên lên thắp hương cho anh. Ngay khánh thành, chị mời Ban trị sự, anh Bảy Thân và bà con cô bác về dự để cảm ơn tấm lòng của nhân dân, cơ quan đối với anh.

    Trăm công ngàn việc, phải tới năm 1994 Sở LĐ-TB-XH mới mời gia đình lên bàn đón anh về NTLS TPHCM, ngay bên xa lộ Hà Nội. Chị có lời cảm ơn và đề nghị: “Tại pháp trường anh Trỗi bị địch bắn không chỉ 1 phát đạn; khi hy sinh anh vẫn phải chôn xuống đào lên tới 3 lần; thực tình gia đình không muốn anh phải đau thêm lần nữa.

    Gia đình cũng có ý chờ tổ chức nhưng đến năm 1981 đã được HTX Mây, tre, lá và bà con cô bác giúp đỡ xây mộ cho anh. Nay nếu chuyển đi sợ sẽ phụ lòng bà con, lãng phí tiền bạc, công sức bà con đã đóng góp.

    Thay mặt gia đình tôi xin phép cho anh được yên nghỉ tại đây. Nếu sau này thành phố có quy hoạch mới, nghĩa trang Văn Giáp phải di chuyển thì gia đình sẽ đưa anh về nghĩa trang liệt sĩ”. Chính vì vậy nghĩa trang liệt sĩ thành phố dành cho anh ngôi mộ còn trống.

    • Trần Kiến Quốc

    http://www.bee.net.vn/channel/1984/2...-Troi-1724885/
    :Applause:

    :LoveStruc:

    :Rose:Tình yêu cũng cần có sự nỗ lực. Nỗ lực để không thay đổi và tan vỡ. Đó mới là Tình Yêu Đích Thực... :Rose:

    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 374 Bài viết

    • 162 Được cảm ơn

    #2
    " Sống như Anh"! Người con Việt Nam là niềm tự hào mãi mãi của dân tộc.
    • 286 Bài viết

    • 80 Được cảm ơn

    #3
    Mình thấy g/đ anh Trỗi (đại diện là chị Quyên) nói không muốn di chuyển ngay mộ anh Trỗi về NTLS TP (do không muốn làm anh đau thêm lần nữa), nhưng nếu vậy thì vị trí dự kiến đặt mộ anh Trỗi cũng nên để trống (hoặc đánh dấu tên anh trên bản đồ của BQL) chứ không nên để cả bia mộ đề tên anh như vậymm dễ gây nhầm lẫn cho những người đến viếng thăm.
    :Applause:

    :LoveStruc:

    :Rose:Tình yêu cũng cần có sự nỗ lực. Nỗ lực để không thay đổi và tan vỡ. Đó mới là Tình Yêu Đích Thực... :Rose:

    • 24 Bài viết

    • 8 Được cảm ơn

    #4
    Chị Quyên đẹp quá! Đó là sự thật. Anh Trỗi nhìn ảnh cũng rất đẹp trai. Chỉ tiếc là họ sống bên nhau ít quá!
    • 798 Bài viết

    • 418 Được cảm ơn

    #5
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Paven Xem bài viết
    " Sống như Anh"! Người con Việt Nam là niềm tự hào mãi mãi của dân tộc.
    Hồi còn nhỏ mình đọc truyện "Sống như Anh" xúc động lắm, vừa đọc vừa khóc. Mình còn nhớ là ttheo tác phẩm này, chị Quyên bị giam cùng phòng với chị Y. -hình như là bí danh của bác Trương Mĩ Hoa, bác ấy bị bọn Mĩ đóng đinh vào 10 đầu ngón tay. Bây giờ muốn đọc lại những quyển truyện như này thì tìm mua ở đâu các mẹ nhỉ?
    • 1,062 Bài viết

    • 493 Được cảm ơn

    #6
    Kỷ niệm ngày truyền thống thanh niên công nhân TPHCM 15-10

    Những kỷ vật của chị Quyên, anh Trỗi

    Tình cờ, tôi được làm... xe ôm chở chị Phan Thị Quyên, vợ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi tìm lại một số kỷ vật tình yêu của hai người ngay trên đất thủ đô Hà Nội...


    Anh Trỗi, chị Quyên ngày thành hôn (21-4-1964)

    Mấy năm nay, đã thành thông lệ, khi Báo Người Lao Động tổ chức trao giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi ở đâu, đều mời chị Phan Thị Quyên tham gia. Đây là giải thưởng dành cho giáo viên, học sinh các trường dạy nghề tiêu biểu trong cả nước nên sẽ là niềm động viên lớn lao cho người nhận giải nếu được chính tay vợ người anh hùng trao tặng.
    Lần này, trước khi ra Hà Nội cùng ban tổ chức giải, chị Quyên được người quen báo tin, hiện còn một số kỷ vật của anh Trỗi (mà chị đã trao cho giao liên đưa ra Bắc những năm tháng chiến tranh) đang được Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lưu giữ. Vậy là mới đặt chân lên đất thủ đô, chị vội tìm đến bảo tàng ngay.


    Chị Quyên đọc lại bài thơ chị thêu trên khăn tay tặng anh Trỗi, được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng VN

    Anh bảo vệ bảo tàng trẻ măng thoáng giật mình khi nghe tôi giới thiệu đây là chị Phan Thị Quyên, vợ anh Trỗi. Khó ai nhận ra chị Quyên đã ngoài 60 với hình ảnh chị Quyên tròn 20 xinh tươi đứng bên anh Trỗi trong ngày cưới năm nào, vậy mà chỉ cần nghe 3 chữ “vợ anh Trỗi”, anh bảo vệ vội vàng mời ngay chúng tôi vào chẳng cần một thứ giấy tờ chứng minh nào cả.

    “Chị là chị Quyên vợ anh Trỗi đây sao?”, người... sửng sốt thứ hai là chị Trần Hải Nhị, Trưởng phòng Kiểm kê, bảo quản của bảo tàng. Quá vui vì chuyến viếng thăm bất ngờ, chị cứ xoắn lấy chị Quyên thăm hỏi đủ thứ chuyện về anh Trỗi. Cả bảo tàng lặng lẽ trong cái rét của Hà Nội như bừng tỉnh khi hướng dẫn viên bất đắc dĩ Trần Hải Nhị đưa vị khách đặc biệt Phan Thị Quyên đi khắp các phòng ban của bảo tàng để “khoe”.

    Cây đàn măng-đô-lin của anh Trỗi là kỷ vật đầu tiên chúng tôi nhìn thấy được đặt trang trọng trong khung kính phòng trưng bày. Mắt đỏ hoe, chị Quyên lấy ngón tay sờ vào kính như cố tìm lại tiếng đàn réo rắt quen thuộc ngày nào.

    Đến phòng kiểm kê, bảo quản, “sếp” Nhị hãnh diện giới thiệu với “lính” trẻ: “Các em biết ai đây không? Đây là chủ nhân những kỷ vật của anh Trỗi được chúng ta giữ gìn bấy lâu nay”. “A, chị Quyên!”, một - hai giọng nói trong trẻo cất lên. Chị Quyên tươi cười đáp lại lời chào mà mắt rưng rưng. Và rồi, không thể kìm nén những giọt nước mắt được nữa khi chị run run lần giở lại những lá thư tình mộc mạc mà nồng thắm ngày nào.

    Dù cho sóng gió bão bùng
    Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn
    Cầu mong anh được bình an
    Nước nhà thống nhất vinh quang anh về

    Bài thơ trên chiếc khăn thêu vẫn đỏ rực như ngày chị gởi tặng anh trong khám tử tù. “Anh còn bảo chị gởi kim chỉ vào để anh em trong tù dạy anh thêu, dù lúc đó đã bị kêu án tử hình”, chị Quyên kể. Và cứ thế, căn phòng sôi động hẳn lên bởi những mẩu chuyện về anh Trỗi và bởi hiếm hoi lắm mới có dịp được nghe chính người trong cuộc kể chuyện thế này. Hình như lúc ấy, trước mắt mọi người không phải là bác Quyên, cô Quyên với mái tóc hoa râm của tuổi 60 mà vẫn là chị Quyên của anh Trỗi ngày nào...

    Ý định ban đầu của chị Quyên là xin lại những bức thư tình của 2 người, nhưng khi chia tay ra về, chị lại hứa... gởi thêm cho bảo tàng một số kỷ vật! “Thật ấm lòng khi những kỷ vật của anh Trỗi được gìn giữ trân trọng như thế này”. Trong cái rét lất phất mưa phùn của Hà Nội ngày cuối năm, tôi cảm nhận sự nồng ấm qua câu nói và ánh mắt rạng ngời hạnh phúc của chị...

    Thăm trường Nguyễn Văn Trỗi ở Cuba
    Chị Quyên chụp ảnh lưu niệm với các em học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi ở Cuba

    Chị Phan Thị Quyên đã tháp tùng đoàn của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang Cuba dự Hội nghị Thượng đỉnh các nước phong trào không liên kết lần thứ 14 được tổ chức vào giữa tháng 9-2006. Lần thứ hai trở lại đất nước này, chưa đi đâu, chị đã bị... phát hiện. Một bạn trẻ Cuba vô tình đọc thấy tên chị trong danh sách khách mời đã tìm đến thăm hỏi rồi tự hào khoe: “Em là cựu học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi!”
    Đâu đâu trong ngôi trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi xinh xắn mà chị đến thăm cũng đều có bóng dáng anh Trỗi: trong phòng là bức chân dung, ngoài sân là pho tượng được đặt nơi trang trọng... Nhưng món quà bất ngờ nhất mà chị Quyên nhớ mãi là hoạt cảnh các em tái hiện hình ảnh của anh Trỗi lúc ra pháp trường: “Nhìn các em mới 8,9 tuổi đọc vanh vách tiểu sử và diễn thật sống động giờ phút hào hùng của anh Trỗi, mình quá bất ngờ.”

    Rời Cuba, chị tiếc vì chưa đi thăm hết được những nơi mang tên anh Trỗi và băn khoăn mãi khi chỉ mang có 10 kg kẹo làm quà cho các em, “chắc là không đủ chia vì dường như cả trường đều có mặt để chào đón mình”.
    Ngọc Cúc

    Sau này có nhiều người xuất thân từ trường Trỗi (HN) khá thành danh. Một trong những người đó là bác Nguyễn Thiện Nhân.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Aquabb; 15/10/2009 vào lúc 09:10 PM. Lý do: chỉnh dòng
    • 1,062 Bài viết

    • 493 Được cảm ơn

    #7
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Binhminh0406 Xem bài viết
    Hồi còn nhỏ mình đọc truyện "Sống như Anh" xúc động lắm, vừa đọc vừa khóc. Mình còn nhớ là ttheo tác phẩm này, chị Quyên bị giam cùng phòng với chị Y. -hình như là bí danh của bác Trương Mĩ Hoa, bác ấy bị bọn Mĩ đóng đinh vào 10 đầu ngón tay. Bây giờ muốn đọc lại những quyển truyện như này thì tìm mua ở đâu các mẹ nhỉ?
    Con chữ nào, nhân cách ấy

    CAND - 07/06/2008
    Cách đây đã 6 năm, tôi được đi cùng với nhà báo Lưu Vinh, Phó Tổng biên tập Báo CAND xin vào Phủ Chủ tịch để được gặp đồng chí Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thực hiện cuộc phỏng vấn cho số báo Tết Quý Mùi. Dù rất bận, nhưng có lẽ vì quý mến tờ báo của Bộ Công an, chiều muộn ấy, bà Phó Chủ tịch nước đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện rất thân tình suốt 2 tiếng đồng hồ…

    Đối với Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, nhiều người đã từng biết bà chính là nhân vật chị Y trong tác phẩm "Sống như Anh" của nhà văn Trần Đình Vân viết về cuộc đời Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

    Chị Trương Mỹ Hoa hồi ấy hoạt động cách mạng, 19 tuổi bị chính quyền Sài Gòn bắt giam tại khám Chí Hoà (1964), sau bị đày ra Côn Đảo mãi tới ngày 17/3/1975 mới được trả tự do.

    Tại khám Chí Hoà, có thời gian chị Trương Mỹ Hoa bị biệt giam cùng buồng với chị Phan Thị Quyên, vợ của anh Nguyễn Văn Trỗi. Theo lời chị Quyên kể lại, chị Hoa là người đã dạy chị Quyên hát "Bài ca hy vọng" của nhạc sĩ Văn Ký trong ngục tối của chế độ giam cầm hà khắc Mỹ - Thiệu, giúp chị Quyên hiểu việc làm của chồng mình, nhờ thế mà ngày một vững vàng vượt qua thử thách gian khổ với sự giúp đỡ của những chiến sĩ cách mạng như chị Y…

    Đó là những sự kiện trong nhiều tư liệu khác về chị Trương Mỹ Hoa mà anh Lưu Vinh dặn tôi phải sưu tầm, chuẩn bị kỹ trước khi tổ chức cuộc phỏng vấn.

    Hôm đó, cuộc trò chuyện của Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã để lại cho 2 nhà báo chúng tôi nhiều ấn tượng đặc biệt. Bà đã không né tránh bất cứ câu hỏi nào, da diết, khắc khoải về những kỷ niệm, thẳng thắn, điềm tĩnh trước những vấn đề lớn của đất nước.

    Trong câu chuyện chiều cuối đông, có lúc giọng của bà thảng thốt khi nhắc về những đồng đội cũ, nhắc về những bà con từng kiên trung nuôi cán bộ như chị, thuỷ chung với cách mạng nhưng hiện vẫn còn sống rất nghèo ở nhiều vùng đất của Tổ quốc.

    Cứ mỗi lần nhắc tới Bác Hồ, chị dừng lại hướng về phía Lăng Bác khóc rất lâu, nước mắt chảy tràn. Có lẽ chị không muốn giấu đi cảm xúc ấy trước mắt các nhà báo dẫu biết mình đang ở cương vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước. Chúng tôi cũng ngồi lặng đi trân trọng giây phút thiêng liêng ấy của đồng chí Phó Chủ tịch…

    Ba ngày sau, đúng hẹn, tôi mang bản thảo bài viết cuộc trò chuyện để bà Trương Mỹ Hoa xem lại. Anh Lưu Vinh và tôi chắc mẩm bài viết ấy đã cẩn thận lắm, vì vừa bóc băng ghi âm, vừa đối chiếu với sổ tay, hi vọng có thể bà Phó Chủ tịch nước hài lòng mà duyệt ngay vì báo Tết đang chờ lên khuôn. Chúng tôi cũng không ngờ bà đọc nhanh đến thế.

    Qua thư ký, bà hẹn chúng tôi vào Phủ Chủ tịch để trao đổi thêm về bài báo. Chúng tôi hiểu vậy là bài báo có điều gì chưa ổn. Khi chúng tôi đến thì bà đã đợi sẵn. Bà ghi vào lề của bản thảo: "Bài báo cảm động, chân thật, thuyết phục tình cảm người đọc (nhất là người trong cuộc). Do vấn đề thật, có tính lịch sử nên tôi đã điều chỉnh một số đoạn cho phù hợp trình tự thời gian. Và dù là người thật, việc thật, nhưng tôi muốn từ ngữ nên vừa phải vì bài viết về tôi, mong các đồng chí thông cảm, hiểu cho". Bà nói thêm, "Tuy nhiên, có một số đoạn sửa chữa thì phải trực tiếp trao đổi, vì thế mà mời 2 nhà báo cùng vào làm việc".

    Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, như vậy là bài viết có thể sử dụng được. Bà bảo 2 chúng tôi ngồi hai bên, bà ngồi ở giữa để cả ba có thể xem rõ được bản thảo. Tôi liếc qua thấy những nét chữ của bà viết bằng bút bi mảnh mai và nắn nót, những đường nét, mũi tên vòng lên vòng xuống chú thích rất rõ ràng.

    Sợ chúng tôi không "dịch" được, bà đọc từng đoạn, từng câu; xong dừng lại giải thích cho chúng tôi hiểu vì sao bà sửa như thế, các nhà báo có ý kiến gì thì cứ nói. Dĩ nhiên, những chỗ bà Phó Chủ tịch sửa giúp cho chúng tôi càng nghe càng thấy quả là một ngòi bút, một "nhà biên tập" bậc thầy!

    Tôi còn nhớ, có một đoạn trong bài, chúng tôi viết rằng: "Ba thì đi tập kết, năm 1957-1958, má chị bị bắt giam do một tên chỉ điểm, do không khai thác được gì, hơn 1 năm, chúng buộc phải thả má chị ra. Để tránh sự kiểm soát của địch, má chị phải đưa chị và chị Hai lên Sài Gòn để tiếp tục hoạt động. Vậy là gia đình chị bị xé làm ba. Ba chị thì đi tập kết, 3 mẹ con lên Sài Gòn, 4 đứa em nhỏ trụ lại ở Gò Công, Mỹ Tho".

    Đọc đến đấy, bà nói với chúng tôi: "Các em dùng từ "trụ lại" với mấy chị em chị thời điểm này là chưa chính xác. Chị xin sửa lại như thế này "còn 4 đứa em gửi cô dì, chú bác mỗi nhà nuôi mỗi đứa", vì lúc ấy mấy em của chị còn nhỏ chưa thể "trụ" được. Nếu sơ suất in như bản thảo, bà con chị mà đọc được dễ hiểu lầm, biết đâu có người thân lại bảo, "con nhỏ" này "làm lớn" quên công ơn hồi xưa, lại bảo là "trụ"…

    Tôi giật mình suýt thốt lên, quả là may quá. Bởi nhiều khi chỉ một chữ dùng sai, có khi làm hỏng cả một việc lớn, có đính chính được thì hậu quả thật khó khắc phục.

    Ở một đoạn khác trong bản thảo, chúng tôi đặt câu hỏi: Thưa chị, có lần chị Quyên, vợ của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi kể rằng, sau ngày anh Trỗi hy sinh, chị Quyên được đưa ra vùng giải phóng, chị Quyên đã mang tên của chị khai trong tù là Nguyễn Thị Tâm để đặt cho mình, sự thật là như thế nào?

    Bà Trương Mỹ Hoa đã dùng bút bi biên tập câu hỏi ấy, viết rõ tên chị Phan Thị Quyên. Bà bảo, phải gọi đầy đủ họ tên như thế là tôn trọng người được nhắc đến. Ngay như trong bản thảo, có đoạn chúng tôi viết rằng: Trong tù, chị Trương Mỹ Hoa đọc nhiều bài thơ của Tố Hữu cho chị Quyên nghe, dạy chị Quyên hát "Bài ca hi vọng"… Bà bảo: "Các em phải ghi rõ "Bài ca hy vọng" của nhạc sĩ Văn Ký để thêm một lần tôn vinh nhạc sĩ. Vì chị nhớ, lúc sáng tác bài hát này, nhạc sĩ Văn Ký chưa phải là đảng viên…". Chúng tôi thật thấm thía và lập tức sửa ngay tại chỗ.

    Có một chi tiết nữa mà trong bản thảo, chúng tôi thật vô tâm. Khi diễn đạt thời gian bà Trương Mỹ Hoa bị kẻ thù biệt giam ở Côn Đảo, chúng tôi đã viết: "Suốt cả năm không được tắm, tối ngủ cát thổi vào ngàn ngạt, muốn ăn cơm phải gạt lớp cát đi…", bà đã lấy bút sửa lại "cơm ăn trộn cát" và tâm sự đại ý: "Nếu bạn đọc nào chưa bị đi tù ở Côn Đảo, có thể đọc câu của các em viết "muốn ăn cơm phải gạt lớp cát đi" sẽ không chú ý, có thể bỏ qua. Nhưng nhà chị, cả má chị và 5 chị em đều bị địch bắt giam (tổng cộng đến 48 năm tù), chồng chị cũng bị địch bắt đày ra Côn Đảo, còn bao nhiêu bà con, đồng đội thân thiết nữa, chỉ cần đọc câu các em viết, biết ngay là, hoặc do tác giả không hiểu, hoặc do chị diễn đạt không đúng. Nhiều khi một từ dùng không chính xác như thế, gây phản cảm, làm người đọc giảm sự tin cậy đối với toàn bộ bài báo…

    Còn nhiều những đoạn văn, chi tiết trong bản thảo của chúng tôi được bà Phó Chủ tịch nước trực tiếp sửa chữa, biên tập. Đoạn nào cũng chí lý, chí tình, trước bản thảo ấy, tôi trở thành người học trò nhỏ.

    Sau đó, bài phỏng vấn đã được in trang trọng trên Báo CAND số Tết Quý Mùi, nhưng bạn đọc sẽ không có cơ hội biết được những nét bút, tình cảm cao đẹp của một nhân cách lớn mà gần 10 năm qua, chúng tôi vẫn lưu giữ những nét bút của bà như một báu vật của nghề báo.

    Nhân dịp Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21/6, chúng tôi kể lại câu chuyện này để tự răn mình. Thật hạnh phúc nếu trong cuộc đời làm báo gặp được nhiều người thầy như bà. Bởi con chữ sống lâu hơn cuộc đời. Con chữ nào văn hoá ấy, con chữ nào nhân cách ấy…
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,062 Bài viết

    • 493 Được cảm ơn

    #8
    Kỷ niệm không thể nào quên với chú Sáu Dân

    Tiền Phong - 13/06/2008
    TP - Sáng 11/6, vừa nghe tin từ Sài Gòn về chú Sáu Dân - nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi vội bấm máy cho chị Phan Thị Quyên (vợ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi). Chị ngậm ngùi xác nhận: “Đúng rồi, em ạ…”.



    Chú Sáu Dân (giữa) chụp ảnh vợ chồng chị Phan Thị Quyên (1973)

    Không kìm được sự xúc động, chị kể lại…”. Mới cách đây chưa đầy 2 tháng, chị đến thăm chú. Trò chuyện hồi lâu, chú thăm hỏi xem giờ anh Trỗi yên nghỉ ở đâu.

    Khi biết anh an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Văn Giáp, tại quận 2, chú khẽ nhăn trán rồi khuyên: “Chú còn phần đất tổ chức dành cho ở Nghĩa trang thành phố trên Thủ Đức. Cháu đưa Trỗi về đó!”.

    Nghe chú khuyên chân thành, chị cảm động nhưng vội giải thích: “Từ sau khi mất, mộ anh phải di dời đến mấy lần nên cháu muốn anh được yên ổn. Thành phố cũng đã dành một phần đất cho anh ở Nghĩa trang liệt sĩ, phòng khi khu vực nghĩa trang hiện nay phải quy hoạch lại”.

    Khi đó chú mới gật đầu yên tâm”.

    *

    …Sau khi anh Trỗi hy sinh, đúng 30 Tết đầu 1965, chị Quyên được tổ chức bí mật đưa ra “Y tư” – đại bản doanh của Bộ chỉ huy Mặt trận Sài GònGia Định đóng tại Hố Bò (Củ Chi), từ đây ra vùng giải phóng trên Tây Ninh.

    Khoảng tháng 9 năm đó, đồng chí Sáu Dân từ Y4 về họp với cơ quan Phụ nữ giải phóng. Qua các chị, bên Phụ nữ biết chị mới từ thành phố ra, chú Sáu thăm hỏi và gửi cho chị 100 “ria” (tiền Miên). Từ đó, mỗi lần về họp, chú đều có quà.

    Ngày 16/5/1969, chị được tổ chức cho ra Bắc theo đường Campuchia cùng chị Nguyễn Thị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư, tử tù Côn Đảo). Từ 1970, chị được về học tại trường Phổ thông Lao động Trung ương sơ tán tại Từ Hồ, Bần Yên Nhân, Hưng Yên (trường có mật danh là HT2).

    Trường có đến cả ngàn học viên và chia làm 2 khối: khối A cho cán bộ miền Bắc, khối B cho cán bộ miền Nam.

    Trong số cán bộ miền Nam đi học đa số là cán bộ của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đổ ra tới Quảng Trị; còn số anh chị em ở B2 (từ khu 6 đổ vào tới Khu 9, Cà Mau) rất ít, không quá 20 người. Vì thế anh chị em B2 thương yêu nhau như trong một nhà.

    Họ thường gặp gỡ, kể nhau nghe chuyện quê hương, gia đình. Đặc biệt, anh em miền Nam có biệt tài bắt cóc. Tối thứ Bảy, nếu không bận, họ lại rủ nhau ra bờ sông bắt cóc. Các anh thì bắt cóc bỏ bao tải, còn các chị thì xách bao tải cóc về nhà. Cả nhóm tối đó tập trung làm thịt cóc, nấu cháo và ăn xì xụp.

    Chủ nhật, các anh chị thường đi chợ, mua thịt cá, rau sống về “cải thiện”. Trong số này có anh Thiện nấu ăn rất giỏi, có thể chế biến các món ăn Nam Bộ. Anh chị thân thiết rồi nảy nở tình cảm yêu thương.

    Cũng năm 1973, nhân dịp tiễn chị Châu và chị Duy Liên về lại miền Nam tại nhà chú Lê Toàn Thư – Phó ban Thống nhất Trung ương, chị Châu ghé tai chị Quyên nói nhỏ: “Chú Sáu Dân và chú Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) đang ra ngoài này họp. Chị đã xin phép chú Thư cho lại thăm chú Sáu và chú Mười để hỏi thăm tình hình quê hương và cơ quan trong đó. À, mà chị có kể chuyện của em và anh Thiện cho chú Sáu nghe đấy”.

    Lần đó, chú Thư và chú Tô Lâm (nguyên Phó ban Tuyên huấn Trung ương cục) đưa chị Quyên và anh Thiện tới thăm chú Sáu. Gặp chú, anh Thiện chào:

    - Chào anh Sáu!

    - Trời, mày đó hả Tư Dũng? – Chú bắt chặt tay anh và quay sang chị Quyên – Nghe Châu nói, học ở ngoài này, cháu có quen thân với thằng Thiện, mà Thiện có thời gian làm cơ yếu ở Y4. Chú nghĩ hoài mà không nhớ có ai tên Thiện. Té ra, Thiện chính là Tư Dũng, Lê Tâm Dũng.

    Chả là hồi đầu 1965, anh Tư Dũng được phân công về làm cơ yếu ở Y4. Dịp Mậu Thân 1968, anh được cùng chú Sáu trực tiếp xuống chỉ đạo mặt trận Sài Gòn - Gia Định.

    Sau khi về lại “R”, anh được tổ chức phân công sang Sứ quán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại PhnômPênh và do yêu cầu bảo mật, anh phải đổi tên là Lê Trung Thiện. Năm 1970, sau khi Chính phủ Xi-ha-nuc bị đảo chính, anh được ra Bắc. Đến đầu 1971, anh vào học tại HT2.

    Nghe kể lại, chú Sáu cười:

    - Thôi, Tư Dũng thì cứ xưng hô “anh, em” cho tiện, còn Quyên cứ giữ nguyên cách gọi “chú, cháu”. Tiện tao đang ở ngoài này, hai đứa làm đám cưới đi!

    Mừng quá, nhưng chị lại mách:

    - Ở ngoài này cưới phức tạp lắm chú ơi, phải đi đăng ký kết hôn. Khi đăng ký, Uỷ ban lại đưa tên hai người lên bảng để nhân dân xem có đúng là anh chưa vợ, chị chưa chồng; nếu đúng thì một tuần lễ sau mới cho đăng ký… Mà thôi, để cháu học xong rồi về Nam cưới luôn thể.

    - Không nên vậy, nếu cháu học xong phải mất 4-5 năm. Lâu lắm. Năm nay Quyên đã 29, còn Tư Dũng đã 37 rồi. Cưới đi, nhất là dịp này đang có chú ở ngoài này. Thế hiện nay 2 đứa quân số ở đâu?

    - Dạ, quân số trong Nam quản lý ạ. Vì quân số trong Nam, nên khi có bầu cử ngoài này, tụi cháu không được đi bỏ phiếu.

    Khi đó, chú Sáu cười và quay sang chú Thư:

    - Nếu là quân số trong Nam thì có thể cưới không đăng ký. Trong chiến trường miền Nam, thủ tục rất đơn giản. Khi hai anh chị yêu thương yêu nhau và quyết định xây dựng gia đình thì chỉ cần báo cáo tổ chức là xong, sau đó sẽ làm đám cưới mời mọi người. Nên ta có thể tổ chức cho Quyên và Tư Dũng cưới “kiểu miền Nam”.

    - Ý anh như vậy thì ta sẽ tổ chức cho hai đứa cưới “không đăng ký”- Chú Thư trả lời.

    Vậy là vào dịp nghỉ lễ Lao động quốc tế năm đó, tối hôm 29/4, đám cưới “không đăng ký kết hôn” của anh Thiện và chị Quyên đã được tổ chức tại nhà đồng chí Lê Toàn Thư ở 57 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Chú Thư đứng ra làm chủ hôn.

    Tối đó, các cô chú ở Ban Thống nhất Trung ương, cả chú Sáu Dân và các anh chị bên Trung ương Đoàn, các anh chị trong Nam ra đang học chung với chị và anh Tư, cùng bà con họ hàng chị ở thôn Văn Giáp (Thường Tín, Hà Đông)… đến dự đông đủ. Đám cưới tổ chức theo kiểu “đời sống mới” thật đơn giản, chỉ có kẹo bánh, thuốc lá, nước trà, nhưng thật là vui.

    *

    Chị Quyên rưng rưng: “Thấy sức khoẻ của chú Sáu Dân đã yếu, Ban Bảo vệ sức khoẻ đưa chú vào Bệnh viện Thống Nhất rồi chục ngày trước, đưa chú sang Singapore. Nghe nói Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng trực tiếp điện sang nhờ ông Lý Hiển Long giúp đỡ. Với trang bị hiện đại và trình độ cao, bạn hết sức tận tình chữa trị, nhưng…”.

    Hà Nội, chiều 11/6/2008

    Trần Kiến Quốc