Mai mực được lấy từ con cá mực hay mực nang, mực ván. Người ta khai thác mực nang vào tháng 6 - 8. Mực bắt về, đem mổ lấy thịt, giữ lại mai, rửa sạch muối bám ở ngoài, phơi khô.

Dược liệu mai mực nguyên bản có hình bầu dục dài, dẹt, ở giữa dày, mép mỏng, dài 10 - 16cm, rộng 3,5 - 6,5cm. Mặt lưng màu trắng hoặc ngà, lấm tấm những nốt nhỏ chi chít, có một lớp màng cứng giòn. Mặt bụng màu trắng đôi khi phủ một lớp màng mỏng trong suốt màu vàng, có nhiều vân. Chất nhẹ, xốp giòn, dễ bẻ gãy. Thứ khô, chắc, màu trắng như phấn, không gãy vỡ là loại tốt. Thứ vàng hoặc thâm đen là kém phẩm chất. Thành phần hóa học của mai gồm các muối calci dưới thể carbonat, phosphat, sulfat, các chất hữu cơ và chất keo. Khi dùng, cạo sạch vỏ cứng ở ngoài mai, cắt thành miếng nhỏ hoặc tán bột, rây mịn.

Trong y học cổ truyền, mai mực với tên thuốc là ô tặc cốt hay hải phiêu tiêu, có vị mặn, chát, mùi hơi tanh, tính ấm, không độc, có tác dụng chỉ huyết, giảm đau, làm se, chống loét, chữa được nhiều bệnh.


Chữa ho ra máu, phụ nữ bị băng huyết, trẻ em chậm lớn: ngày uống 4 - 8g bột mai mực, có thể đến 12g. Dùng liền 7 - 10 ngày, nghỉ một tuần, sau lại tiếp tục nếu cần thiết.


Chữa đại tiện ra máu: mai mực nướng vàng, tán bột, mỗi lần uống 4 - 8g với nước sắc cây mộc tặc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:


Chữa đau loét dạ dày, tá tràng, ợ chua, đại tiện táo:


- Mai mực 20g, cam thảo 12g, thổ bối mẫu 6g, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống hai lần, mỗi lần 6g, trước bữa ăn khoảng nửa giờ.


- Mai mực 60g, mẫu lệ nung 30g, gạo tẻ sao vàng 30g, hoàng bá sao vàng 20g, màng mề gà sao vàng 20g, cam thảo 20g, hàn the phi 10g, Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống hai lần, người lớn mỗi lần 8g, trẻ em 5 -10 tuổi, mỗi lần 2g; trên 10 tuổi, mỗi lần 4g.


- Mai mực 120g, cam thảo 200g, màng mề gà 20g, hương phụ 20g, chế với giấm và nước tiểu, sao vàng, lá cà độc dược khô 12g, hàn the phi 10g, phèn chua phi 10g, vỏ quýt 8g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2 - 3lần vào khoảng giữa hai bữa ăn, Người lớn mỗi lần 4g, chiêu với nước ấm. Phụ nữ và trẻ em nhỏ tuổi không nên dùng.


Chữa cam tẩu mã, loét mũi, viêm tai chảy nước: Mai mực 12g, hoàng liên 12g, thanh đại 12g, hồng đơn 12g, tế tân 12g, ngũ bội tử 12g, nhân trung bạch 12g, phèn phi 8g, mai hoa 4g. Từng thứ sao riêng, trừ hồng đơn, mai hoa, thanh đại, rồi tán nhỏ mịn trộn đều. Khi dùng, rắc bột vào vết thương, vết loét.



Chữa chứng khò khè, thở gấp, đờm nhiều: Mai mực sấy khô, tán thành bột, mỗi lần uống 15g với ít đường đỏ (tài liệu nước ngoài)


Chữa viêm tai có mủ: Lấy bột mai mực rắc hoặc dùng tăm bông sạch thấm thuốc ngoáy vào tai.


Chữa chảy máu cam: Mai mực và hoa hòe (lượng bằng nhau) nửa để sống, nửa sao, tán bột, thổi vào mũi (Nam dược thần hiệu).


Một số bệnh viện đã dùng mai mực vót nhọn, ngâm vào dung dịch rễ hoàng liên với tỷ lệ 1 -5%, dùng đánh mắt, chữa đau mắt hột.


Để chữa bỏng nhẹ, lấy mai mực đốt thành than, rây bột mịn, trộn với dầu vừng hoặc dầu dừa thành một hỗn hợp sền sệt, bôi ngày hai lần. Khoảng một tuần, vết bỏng sẽ se lại và lành. Chú ý nếu bỏng nặng, bỏng sâu và rộng cần đưa đến bệnh viện để điều trị và chăm sóc theo dõi tránh biến chứng suy mòn và nhiễm khuẩn do bỏng.



Theo SK&ĐS