SÁCH - TRUYỆN - THƠ

Tư liệu lịch sử Việt Nam [Dành cho các thành viên yêu lịch sử]

Đến trả lời mới nhất
  • 0 Lượt chia sẻ
  • 710 Lượt đọc
  • 12 Trả lời

    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #1
    Lịch sử BTTM trong cuộc KCCP (1945-1954)

    Tên sách: Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
    Tác giả: Bộ Tổng Tham mưu
    Nhà xuất bản: Nhà in BTTM-Hà Nội
    Năm xuất bản: 1991
    Số hoá: ptlinh, chuongxedap

    Chỉ đạo nội dung:
    Đại tướng: HOÀNG VĂN THÁI
    Thượng tướng: TRẦN VĂN QUANG

    Ban biên tập:
    Chủ biên: Đại tá PHAN VĂN CẨN
    Phó chủ biên: Đại tá LÊ HỮU THANH

    Các biên tập viên:
    đại tá TÔN THẤT CẢNH
    Đại tá TRẦN QUANG ĐẨU
    Đại tá CAO KHẮC GIÁP
    Đại tá NGUYỄN BộI GIONG
    Đại tá PHAN HẠO
    Đại tá NGUYỄN VĂN NGẠN
    Đại tá PHẠM HỒNG THẮNG

    Lời giới thiệu

    Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu, Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ cho phát hành quyển “Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp

    Bộ Tổng Tham mưu là một trong những cơ quan quan trọng bậc nhất của Bộ Tổng Tư lệnh. Nó có quan hệ mật thiết với các cơ quan khác của Tổng hành dinh, đặc biệt là với Tổng Cục Chính trị và Tổng Cục Hậu cần. Nó luôn luôn được Bác Hồ, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quan tâm chỉ đạo và được các cơ quan khác trong quân đội cũng như các cơ quan dân chính đảng hết lòng giúp đỡ.

    Cuốn “Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp” là một công trình được xây dựng rất công phu. Tập thể cán bộ của Ban Biên tập đã sưu tầm được những tư liệu quý, nói chung phản ánh được những bước hình thành và phát triển của Bộ Tổng Tham mưu, đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, vừa học vừa làm, vừa làm vừa tiến bộ, đạt được những thành tựu ngày càng quan trọng.

    Tuân theo lời dạy của Bác Hồ khi Người trao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Văn Thái, người Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội ta, vào ngày 7 tháng 9 năm 1945, tập cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đã quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bạn trong Bộ Tổng Tư lệnh, phát huy trí tuệ và tài năng sáng tạo, bám sát thực tiễn của chiến trường, dốc lòng, dốc sức giúp cơ quan lãng đạo trong nhiều lĩnh vực: từ đánh giá địch ta, phát huy quy luật của chiến tranh, cho đến việc đề xuất những chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật…

    Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ vẻ vang, có những cống hiến xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ những cuộc chiến đấu ban đầu cho đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

    Công trình xuất bản lần đầu, mặc dầu đã có cố gắng lớn, nhưng không tránh khỏi thiếu sót và nhược điểm. Vì vậy, ban biên tập và tổng kết rất mong nhận được những ý kiến phê bình và bổ sung của đông đảo bạn đọc. Đặc biệt mong rằng các cán bộ trung cấp và cao cấp trong quân đội, với kiến thức và kinh nghiệm của mình, với quan điểm phân tích và tổng hợp lại tự những đỉnh cao của những thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, từ yêu cầu xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng ngày nay, mà nêu lên được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn ý nghĩa những kinh nghiệm về công tác tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm xưa, có những gợi ý xây dựng nhằm nâng cao chất lượng và hoàn chỉnh hơn công trình hôm nay ra mắt bạn đọc.

    Với tinh thần ấy, tôi có lời biểu dương cố gắng của tập thể ban biên tập và tổng kết và trân trọng giới thiệu với bạn đọc quyển lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Hà Nội, mùa xuân năm 1992.


    Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
    Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh QĐNDVN
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #2
    CHƯƠNG 1
    NHỮNG NGÀY ĐẦU MỚI THÀNH LẬP

    1. Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ:

    Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Châu Á.

    Nhân dân và quân đội ta vừa mới đứng lên giành quyền làm chủ vận mệnh của mình thì quân thù đã từ nhiều phía kéo đến trên cả hai miền đất nước1. Hiệp định Pô-x-dam (7/45) đã hợp pháp hóa hành động của bọn đế quốc Anh và bọn Tưởng Giới Thạch mượn tiếng tước vũ khí quân Nhật để thi hành một âm mưu thâm độc: thôn tính nước ta và buộc nhân dân ta trở lại cuộc đời nô lệ mới. Cách mạng Việt Nam vừa giành được chính quyền đã ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

    Nhưng cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên, “ toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập...”(Tuyên Ngôn độc lập).

    Đối với lực lượng vũ trang trong cả nước, sau khi cướp chính quyền, chúng ta đã có Bộ Quốc Phòng, Quân ủy Hội nhưng chưa kịp thành lập Bộ Tổng Tham mưu để giúp Ban chấp hành Trưng ương Đảng, Bộ Quốc Phòng và Quân ủy Hội xây dựng, chỉ huy và chỉ đạo lực lượng vũ trang trong cả nước. Đây là một công việc vô cùng cấp bách và quan trọng. Bộ Tổng Tham mưu ra đời trong lúc này nhằm đáp ứng lòng mong mỏi của toàn quân, toàn dân. Theo đề nghị của đồng chí Võ Nguyên Giáp với Thường vự Trung ương Đảng, ngày 7 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập cơ quan tham mưu quân đội cho đồng chí Hoàng Văn Thái tại Phủ Chủ Tịch2. Cùng tham dự giao nhiệm vụ có đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

    Khi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiều điều rất cơ bản có tầm quan trọng quyết định phương hướng xây dựng, hoạt động và tiến lên của Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan tham mưu các cấp trong toàn quân không chỉ cho buổi ban đầu ấy mà suốt cả trên hơn bốn mươi năm qua. Người nói đại ý: “Ta vừa giành được độc lập, tự do, cả nước đang tích cực xây dựng quân giải phóng và tự vệ để cùng toàn dân giữ gìn độc lập, tự do. Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức Bộ Quốc phòng nay Đoàn thể (Đảng) lập Bộ Tổng Tham mưu để chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước. Bộ Tham Mưu là cơ quan quân sự cơ mật của đoàn thể, là cơ quan quan trọng của quân đội, có nhiệm vụ: tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi; tổ chức nắm dịch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng.

    Bây giờ chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu biết về công tác tham mưu, có khó khăn đấy, nhưng phải cố gắng vừa làm vừa học, có quyết tâm làm thì khó mấy cũng làm được, thế nào ta cũng xây dựng được một ngành tham mưu vững mạnh, tài cán, xứng đáng với dân tộc Việt Nam mưu trí, sáng tạo và anh hùng bất khuất, để bảo vệ độc lập của Tổ quốc, tự do của dân tộc...”3.

    Đồng chí Hoàng Đạo Thúy báo cáo với hội nghị là Đoàn thể mới cử sang hai đồng chí Vũ Hán Thăng và Lê Dung đã từng ở trong nghề vô tuyến điện của Pháp. Ngoài ra còn có một số cựu binh sĩ cứu quốc. Các đồng chí đã kiếm được một số máy vô tuyến diện, đã liên lạc thử được với đài của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ nhưng khi trời xấu, phải nhờ đài Quảng Ngãi chuyển tiếp.

    Các đồng chí Hoàng Minh Đạo phụ trách bộ phận tình báo và Nguyễn Văn Trang... cũng báo cáo tình hình các bộ phận đầu tiên của mình đang trong quá trình hình thành.

    Cuộc họp vừa để ra mắt, vừa bàn về tổ chức và sinh hoạt của cơ quan đã diễn ra trong vòng trên một tiếng đồng hồ. Cuối cùng đồng chí Hoàng Văn Thái kết luận:

    - Hôm nay chúng ta mới bước đầu làm quen với nhau và cũng mới bàn được một số công việc trước mắt. Trước hết cần ổn định chỗ ở và nơi làm việc. Do cơ quan còn thiếu phương tiện sinh hoạt, các đồng chí có gia đình ở Hà Nội vẫn tạm thời được phép ăn ngủ ở nhà ban đêm, ban ngày đến làm việc. Các đồng chí khác ăn ở nhà ăn tập thể và ngủ ở căn nhà đằng sau cơ quan. Việc canh gác do đội vệ binh đảm nhiệm. Ngoài một số cán bộ sẽ được Thành ủy và Tổng bộ Việt Minh giới thiệu sang, các đồng chí cần tìm thêm những người quen biết tin cậy, báo cáo trên xét duyệt để đưa vào làm việc. Các đồng chí cựu binh sĩ cứu quốc sẽ làm việc riêng với tôi để bàn việc tổ chức cơ cấu của cơ quan ta. Chúng ta nghiên cứu tổ chức biên chế của cơ quan tham mưu nước ngoài nhưng có chọn lọc, cần vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta trong lúc này, nhất là yêu cầu nắm địch, nắm ta, theo rõi việc xây dựng lực lượng vũ trang, đồng thời bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt...

    Đồng chí căn dặn mọi người thân ái đoàn kết, cùng nhau góp công sức của mình, đem hiểu biết xây dựng cơ quan để guồng máy sớm hoạt động. Cần coi trọng giữ bí mật về tổ chức và công việc của cơ quan, giữ quan hệ tốt với nhân dân khu phố, nhất là đối với tự vệ và thanh niên. Mọi việc quan hệ về công tác chuyên môn với các đơn vị và địa phương nhất nhất đều phải báo cáo với cán bộ phụ trách...

    Cuộc họp kết thúc trong không khí hồ hởi phấn khởi của những thanh niên đầy tinh thần yêu nước nhưng còn rất bỡ ngỡ về nhận thức đối với vai trò và tác dụng của cơ quan tham mưu chiến lược.
    ______________________________________
    1. Ở miền Bắc từ ngày 27-8-1945 trở đi 4 quân đoàn trung ương và địa phương của Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán là Tư lệnh lần lượt vượt biên giới vào nước ta. Tổng quân số lên tới gần 20 vạn quân: Quân đoàn 93 từ Lào Cai theo sông Hồng xuống, quân đoàn 62 theo đường Lạng Sơn sang đóng trên các trục giao thông từ Hà Nội đến đồng bằng Bắc Bộ. Quân đoàn 50 theo đường biển vào vùng Đông Bắc và Hải Phòng. Quân đoàn 60 đóng từ Hội An (Quảng Nam) trở ra. Một sư đoàn thuộc quân đoàn 60 vào Lào.
    Ở miền Nam Việt Nam lực lượng của Anh, Pháp gồm: một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 quân đội Hoàng gia Anh do tướng Gracey (Grê-xi) làm Tư lệnh kiêm Trưởng phái bộ Đồng minh từ vĩ tuyến 16 trở xuống Nam Bộ. Một đại đội của Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5eRiC) của Pháp đi theo quân Anh ngay từ ngày đầu (12-9-1945), 1400 tù binh Pháp thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11eRiC) bị Nhật cầm tù từ 9-3-1944 vừa mới được Anh thả ra vào khoảng 500 Pháp kiều có vũ trang.
    Dựa vào thế lực của Anh và trên 5000 lính Nhật đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xi-bin, ủy viên cộng hòa Pháp ở miền Nam Đông Dương quyết định nhanh chóng đánh chiếm Sài Gòn.

    2. Phủ Chủ Tịch hồi đó là Bắc Bộ Phủ (số 10 phố Ngô Quyền, nay là nhà khách của Chính Phủ).
    3. “40 năm chiến đấu và trưởng thành của BTTM” của Đại tướng Hoàng Văn Thái, trang 17. Tạp chí QĐND số tháng 9 năm 1985.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #3
    Tiếp Theo

    Vấn đề trăn trở đối với đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng trong những ngày này là tổ chức cơ quan như thế nào, gồm những bộ phận gì và tên gọi ra sao, cung cách tiến hành công việc phải như thế nào cho đúng chức năng nhiệm vụ. Trải qua nhiều ngày suy nghĩ và trao đổi ý kiến với nhóm được phân công nghiên cứu tổ chức cơ quan tham mưu1 và tranh thủ trao đổi ý kiến với các cán bộ ở các khu, các trung đoàn về họp ở Bộ, lại được sự gợi ý hướng dẫn của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Hoàng Văn Thái đã cùng cán bộ thống nhất định hình các tổ chức chính trong cơ quan là Tác chiến – Đồ bản, Tình báo, Thông tin liên lạc và Văn phòng.

    Hồi đó, các đồng chí trong cơ quan cũng không ai bàn cãi nhiều chung quanh vấn đề đặt tên ví như phòng Tình báo nên gọi là phòng 2 hay phòng 5, phòng Tác chiến nên gọi là phòng 1 hay phòng 3... Cứ theo việc mà đặt tên để làm việc đã. Cũng có ý kiến cho rằng Văn phòng đảm nhiệm quá nhiều công việc, cả Văn thư hành chính, cả quản lý nội bộ, lại còn bao gồm cả tổ nhân sự có nhiệm vụ theo rõi binh lực toàn quân. Có ý kiến cho rằng không nên để tổ mật mã trong phòng thông tin liên lạc v v… Những ý kiến chung cho rằng số cán bộ của cơ quan tham mưu lúc đầu chưa nhiều, bộ phận nào cũng đang trong quá trình định hướng công việc nên cứ tạm để trong Văn phòng như vậy, trải qua thực tế vừa làm vừa rút kinh nghiệm sẽ thay đổi, bổ khuyết dần...

    Thế là từ khoảng trung tuần tháng 10-1945, cơ cấu tổ chức cơ quan tham mưu bước đầu được hình thành cùng với sự phân công phân nhiệm trong nội bộ từng bộ phận và mối quan hệ hợp đồng giữa bộ phận này với bộ phận khác.

    Để cho guồng máy trong cơ quan bước đầu chạy được đều đặn, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng bắt đầu gặp trực tiếp từng bộ phận để xác định hướng đi cho họ:

    Về thông tin liên lạc đồng chí Hoàng Văn Thái bàn với đồng chí Hoàng Đạo Thúy nên tổ chức ngay một mạng thông tin vô tuyến điện, một mạng điện báo, một hệ thống truyền đạt công văn, và mở lớp huấn luyện sử dụng máy vô tuyến cho các chiến khu, các đơn vị để rồi đây khi có thêm người, thêm phương tiện thông tin, cần tập trung cho các địa phương đang có chiến sự ở trong Nam và các địa bàn xung yếu ngoài Bắc. Trước hết phải đảm bảo thông suốt từ các chiến khu về Trung ương. Bộ phận mật mã cần nghiên cứu bản luật mật mã để đảm bảo bí mật chỉ huy bằng vô tuyến điện và bằng điện thoại qua đường dây của Bưu điện, khi ngành quân sự chưa tổ chức được hệ thống điện thoại riêng đảm bảo bí mật chỉ huy.

    Ngày 29 tháng 10 đồng chí Hoàng Văn Thái tiếp tục trao đổi ý kiến với các đồng chí phụ trách bộ phận nắm địch là Hoàng Minh Đạo và Bùi Huy Bê2 để định hướng việc theo dõi tình hình địch của phòng tình báo. Cuộc họp kéo dài một ngày đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng quan hệ tới nghiệp vụ của bộ phận này.

    Mưu đồ “diệt Cộng - cầm Hồ”3 của Tưởng chính là mục đích hiện nay của chừng hai mươi vạn quân Tưởng vào miền Bắc, bề ngoài là để giải giáp mấy vạn quân Nhật. Yêu cầu đặt ra là cơ quan tình báo phải liên hệ mật thiết với giám đốc Nha Liêm Phóng (đồng chí Lê Giản) bám sát để kịp thời có kế hoạch phối hợp ngăn chặn hành động chống phá của quân Tưởng vào bọn Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng, tay sai của Tưởng.

    Ở miền Nam, theo tin tức chúng ta nhận được trong gần một tháng qua cho thấy chiến sự vẫn ngày càng ác liệt và chiến trường ngày càng mở rộng. Bàn tay của quân đội Anh nối giáo cho quân Pháp đã quá rõ ràng. Sau khi giúp cho quân Pháp đứng chân vững ở miền Nam Việt Nam quân Anh sẽ rút đi và quân Nhật cũng sẽ được hồi hương. Đối tượng chính còn lại mà ta cần tập trung theo dõi là quân đội Viễn chinh Pháp và số lính Pháp bại trận sau ngày 9-3-1945 còn bị giam trong nội thành Hà Nội, số tàn quân chạy trốn sang vùng Vân Nam (Trung Quốc) đang đợi thời cơ kéo về. Bọn Pháp kiều có vũ trang ở Hà Nội đang chờ thời cơ ngóc đầu dậy, và ở chính quốc chúng sẽ tiếp tục đưa sang. Phòng tình báo cần bố trí hệ thống nắm địch theo phương hướng như đã bàn bạc thống nhất.

    Từ sau ngày giành chính quyền, lực lượng vũ trang của ta ở các địa phương phát triển nhảy vọt theo chủ trương và nguyện vọng của từng nơi chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Trao đổi ý kiến với bộ phận Nhân sự, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng thấy yêu cầu đặt ra đối với cơ quan tham mưu là phải làm sao nắm cho được tình hình bộ đội ở các địa phương, các đơn vị, để đề đạt ý kiến về chỉ đạo xây dựng, tổ chức huấn luyện, các đơn vị cho thống nhất. Phải nắm lấy công việc động viên chi viện cho miền Nam làm trọng tâm trọng điểm và kiểm tra các địa phương đang thực hiện theo chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề này. Tình trạng Vệ quốc quân, du kích và tự vệ ở các nơi còn tự túc về trang bị theo khả năng của từng địa phương. Các cơ quan Quan nhu, Quân khí đã hình thành trong Bộ Quốc Phòng nhưng vì mới, chưa tới các đơn vị được. Cơ quan Nhân sự cần quan hệ với các cơ quan nói trên để bàn bạc, có kế hoạch thống nhất chỉ đạo sản xuất vũ khí trong phạm vi khả năng của ta và nhất là mua vũ khí của quân đội Tưởng và quân đội Nhật để ưu tiên trang bị cho lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh. Các đơn vị Vệ quốc đoàn còn do chính quyền tỉnh cấp dưỡng việc này ta cũng phải suy nghĩ thêm. Cần nghiên cứu nhanh chóng các mẫu biểu và chế độ báo cáo hướng dẫn cho các chiến khu các đơn vị để thống nhất từng bước biên chế, tổ chức, trang bị, phiên hiệu...

    Thảo luận về công tác xây dựng bộ phận mật mã, đồng chí Hoàng Văn Thái nhất trí với đề nghị của đồng chí Hoàng Đạo Thúy là nên giao cho đồng chí Tạ Quang Đệ (Quang Đạm) tập trung vào việc nghiên cứu bản luật mật mã. Khi được giao nhiệm vụ đồng chí Tạ Quang Đạm chỉ được nghe ý kiến tầm quan trọng và yêu cầu của việc bảo đảm bí mật chỉ huy quân sự, còn nội dung cụ thể của công tác này đối với đồng chí vẫn còn là một ẩn số. Khi bắt tay vào nghiên cứu, đồng chí dựa trên cơ sở kinh nghiệm “trò chơi đọc thư mật” khi còn trong tổ chức Hướng đạo sinh mấy năm trước. Nhờ có trình độ văn hóa lại có thói quen tìm tòi nghiên cứu, đồng chí đã lập ra bảng luật bằng cách nghiên cứu từ ngữ trong các từ điển Việt - Việt,Việt - Pháp, Việt - Hán và nghiên cứu cả cuốn “ấm tự” (cryptographie) của một người Pháp. Cuối cùng một bảng luật đã hình thành, tuy “khóa” còn rất đơn sơ nhưng đã được đưa vào sử dụng. Quá trình vừa sử dụng vừa cải tiến, chỉ ba tháng sau, (cuối năm 1945) luật mật mã đã được đánh giá là “tương đối thích hợp và đạt trình độ tương đối tin cậy so với yêu cầu đề ra”.
    _______________________________________
    1. Trong nhóm nghiên cứu ngoài các cựu binh sĩ yêu nước còn có chuyên gia người Nhật tên là Lâm Sơn, một võ quan Nhật Bản sang hàng ngũ ta.
    2. Đồng chí Bùi Huy Bê là Phó phòng Tình báo.
    3. “Diệt Cộng – Cầm Hồ” là diệt Cộng sản, bắt giữ Chủ. tịch Hồ Chí Minh.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Instrumental; 20/08/2009 vào lúc 12:05 PM.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #4
    Tiếp Theo

    Tuy công việc rất bận, đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ làm thời nhưng vẫn được Hồ Chủ Tịch và Thường vụ Trung ương giao nhiệm vụ theo dõi và giúp đỡ chỉ đạo công tác quân sự, chuẩn bị quốc phòng. Đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng tranh thủ từng thời gian đề hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiều điều vướng mắc của cơ quan, để xác định hướng đi cho mình và cho đơn vị.

    Đầu tháng 10-1945 đồng chí Võ Nguyên Giáp đến thăm cơ quan ở số 18 Nguyễn Du. Sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình tổ chức cơ quan những việc đang làm và những việc đang nghiên cứu, đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn: về cơ cấu tổ chức cơ quan đồng chí nhất chí như định hình hiện nay nhưng cần cố gắng vừa làm vừa rút kinh nghiệm và chấn chỉnh dần dần. Về phương pháp công tác cần:

    - Cố gắng nắm được tình hình các khu, các tỉnh. Cần hiểu dưới đó các đồng chí đang làm gì, gặp khó khăn, thuận lợi gì, cần chúng ta giúp đỡ gì. Có như thế mới chỉ đạo, chỉ huy, hướng dẫn cho dưới đi đúng đường lối chủ trương của Đoàn thể.

    - Việc nắm tình hình các đơn vị bây giờ cũng có khác. Trung ương đã trao đổi với các khu về việc tổ chức cơ quan tham mưu, cần bàn với dưới nên tổ chức cơ quan tham mưu xuống tận cơ quan quân sự tỉnh, phải hướng dẫn cho anh em cách báo cáo thường xuyên. Trường hợp cần nắm sâu một địa phương nào, về một vấn đề gì thì chỉ hướng dẫn cho anh em cơ quan của Bộ xuống. Ngay trong cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Tham Mưu Trưởng cũng chỉ nên tập trung nắm một số đầu mối quan trọng còn thì giao cho tham mưu chủ nhiệm. Cần có chế độ họp nghe cán bộ theo dõi từng hướng, đơn vị báo cáo và hướng dẫn rút kinh nghiệm để cán bộ biết nắm tình hình và báo cáo tình hình.

    - Công việc của chúng ta lúc này thật nhiều. Nhưng phải nắm đâu là công việc chính, tình hình gì là chủ yếu cần nắm và lại phải hướng dẫn cho anh em cũng biết nắm tình hình nữa. Chúng ta không còn hoạt động trong một phạm vi nhỏ hẹp trong một địa phương như trước đây nữa mà việc chúng ta làm hiện nay có tính chất rộng lớn cả nước. Nắm tình hình cũng phải chú ý nhiều nhất trước nhất đến những vấn đề có ảnh hưởng tới cả nước. Giải quyết công việc hàng ngày cũng phải biết gạt bớt những cái gì vụn vặt. Nếu công việc nào không ảnh hưởng đến tình hình chung cả nước thì cứ để các địa phương và cấp dưới trong cơ quan bàn bạc tự do liệu lấy, sau khi đã góp ý kiến chỉ đạo để các đồng chí đi đúng phương hướng.

    Sau khi bộ máy được định hình, từ khoảng tháng 10, tháng 11, hoạt động của từng bộ phận đã đi vào nội dung cụ thể của chức năng nhiệm vụ, kết quả công việc đã bước đầu có hiệu suất, do đi đúng hướng mà đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng đã cùng anh em bàn bạc và tổ chức triển khai sau khi có sự hướng dẫn từng bước của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Nhìn chung lại, từ dây mới chính là quá trình vừa làm vừa học mà Bác Hồ đã vạch ra từ 2 tháng trước.

    Cùng với những buổi bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày được tổ chức thường xuyên, đều đặn ở từng phòng, là những buổi hội báo, nghe tin tức hàng tuần, có khi hàng ngày, những buổi tổng hợp tình hình và rút kinh nghiệm v.v... Nề nếp đó dần dần trở thành biện pháp tốt để anh chị em thấy cần tập trung vào những tin tức gì và làm thế nào để có những tin tức chính xác, báo cáo thế nào để trên nắm được tin tức kịp thời hơn, tranh thủ sự giúp đỡ, hướng dẫn của trên như thế nào để công tác đi đúng hướng và đạt hiệu suất cao hơn. Ngày nay những phương pháp làm việc trên đây thật là bình thường, nhưng phải sống trong bối cảnh đang trải qua những ngày đầu cơ quan mới thành lập thì mới thấy việc tìm được ra những phương pháp làm việc sơ đẳng ấy là cả một quá trình mày mò, từng bước.

    Một kinh nghiệm hay là cơ quan tham mưu biết mau chóng mở lớp đào tạo nhân viên chuyên môn, không những để thêm người cho cơ quan nghiệp vụ trên Bộ hoạt động đều mà còn nhằm rút kinh nghiệm huấn luyện cho các giáo viên chuẩn bị cho các lớp chính thức đào tạo nhân viên chuyên môn cho các địa phương và đơn vị. Ở mỗi phòng, như đã thành nếp, cứ có “lính mới” được bổ sung về là mở “lớp” dù chỉ vài ba người. Chính do không cầu toàn, không chờ đợi, lại biết xoáy vào những nội dung thiết thực và những kinh nghiệm đầu tiên (tuy còn rất ít ỏi và đơn sơ) mà những buổi bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên ở từng Phòng đã giúp cho nhiều anh em về cơ quan với hai bàn tay trắng về nghiệp vụ đã dần dần quen với công việc. Điều đó giải thích vì sao quá trình cán bộ được bổ sung về từng bước cũng là quá trình nhịp độ hoạt động của bộ máy nhịp nhàng và có hiệu quả hơn.

    Chiến sự đang lan rộng ở miền Nam, nhưng vì nhiều lý do, trước hết vì phương tiện thông tin hạn chế, báo cáo dưới lên chưa thành nền nếp, chế độ cho nên cơ quan tác chiến thời gian này chưa có điều kiện với tới các chiến trường xa được, chủ yếu là nắm tình hình ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ (khu 4). Ngoài việc thu thập tin tức chiến sự (nhưng cũng hạn chế vì phần lớn là ở miền Nam) phòng Tác chiến đồ bản còn lo sưu tầm các loại bản đồ của Sở địa chính Bắc Kỳ, phân loại, sắp xếp, can vẽ và in theo lối nhật chiếu1, bước đầu cung cấp cho các đơn vị đáp ứng một phần theo yêu cầu trước mắt.

    Một công việc thực tế thu hút nhiều hoạt động của phòng Tác chiến là phải đi dàn xếp những vụ xung đột do quân Tưởng gây ra, hầu như ngày nào cũng có, ngay ở Thủ đô Hà Nội. Xử trí với những chuyện gây rối của chúng trong điều kiện ngôn ngữ bất đồng thật là một việc đầy khó khăn phức tạp. Yêu cầu của trên đề ra là làm sao ngăn chặn được hành động của chúng nhâm đảm bảo chủ trương hòa hoãn, bảo vệ được chính quyền cách mạng, đồng thời tập trung được tinh lực để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang lan rộng ở miền Nam. Cán bộ tác chiến phải thấm nhuần phương châm mà Hồ Chủ Tịch đã đề ra là phải làm sao biến những cuộc xung đột to thành xung đột nhỏ, biến những cuộc xung đột nhỏ thành không có xung đột. Bằng những biện pháp vừa kiên quyết, vừa khéo léo mềm dẻo, dựa vào sự ủng hộ và hậu thuẫn của nhân dân, các đồng chí đã góp phần hạn chế ý đồ gây xung đột và phá hoại của quân đội Trưởng, đồng thời răn đe được bọn phản động trong các đảng phái phản cách mạng.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #5
    Tiếp Theo

    Phòng tình báo cũng tập trung vào việc theo dõi âm mưu và hoạt động của quân đội Tưởng và tay sai, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Mặc dù phòng được chính thức thành lập muộn hơn các phòng khác (25-10-1945) nhưng đồng chí Hoàng Minh Đạo, trưởng phòng ra sức tìm người để đưa vào hoạt động ngay sau khi đã tranh thủ bồi dưỡng cấp tốc cho các anh em một số kiến thức về “tình báo sơ giải”. Nhờ vậy mà cuối năm 1945 đã bố trí đối tượng bám sát quân Tưởng ở tất cả các tỉnh. Phòng đặt trụ sở ở 67 Bà Triệu Hà Nội. Đến khoảng tháng 2 năm 1946 Phòng tình báo đã có 26 cơ sở tình báo ở Bắc Bộ và 6 nơi ở Trung Bộ, tập trung vào vùng biên giới, duyên hải và dọc các đường giao thông quan trọng.

    Hình thức điều tra phố biển nhất là quan sát bằng mắt. Tình báo viên lợi dụng địa hình thuận tiện, kín đáo để quan sát theo rõi cổng trại lính Tưởng, đếm quân, đếm súng, đếm xe ra vào... Một vài nơi như ở Hà Nội, đã cài được người vào hàng ngũ chúng để điều tra một số tin quan trọng như chủ trương của bọn Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội sắp hành động gì ở đâu kể cả ý đồ bắt cóc cán bộ của ta v.v...

    Nhờ đội ngũ tình báo viên dần dần được tăng cường, nên mạng lưới cơ sở được mở rộng, dần dần đã hình thành được những cá nhân và tổ chuyên trách theo dõi quân đội Tưởng và tay sai, theo dõi quân đội Pháp bị giam lỏng trong thành và Pháp kiều có vũ trang đang chuẩn bị hoạt động và cả bọn phản động đội lốt tôn giáo lén lút hoạt động dưới sự chỉ đạo của Lê Hữu Từ.

    Bộ phận nhân sự mới hình thành, quân số còn ít ỏi (4 người), chưa có trình độ nghiệp vụ, trong khi đó nề nếp chế độ báo cáo ở dưới lên chưa có, mẫu biểu chưa được quy định thống nhất nên chưa thể nắm được tình hình phát triển của lực lượng vũ trang ở các đơn vị, các địa phương. Thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch cho các Chiến Khu, các tỉnh phải nhanh chóng chấn chỉnh và củng cố quân giải phóng ngày 15-9-1945, sau khi trao đổi bàn bạc trong bộ phận nhân sự các đồng chí thấy việc cử người xuống các đơn vị, các địa phương trọng điểm là biện pháp phù hợp nhất để nắm tình hình về mọi mặt quân số, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang.

    Khi xuống các khu, tỉnh và các đơn vị cơ sở đề đảm bảo nắm quân số chính xác các đồng chí mượn quân số của Khu của Tỉnh, đối chiếu với quân số của các chi đội, trung đoàn, lấy sổ ghi quân số ăn hàng ngày của quản lý đại đội, tiểu đoàn đối chiếu với sổ nắm quân của cấp chỉ huy đơn vị cơ sở.

    Qua thời gian xuống cơ sở nắm tình hình, Bộ Tổng Tham Mưu đã đánh giá được thực trạng chung tình hình lực lượng vũ trang của ta ở các địa phương, các đơn vị:

    Từ khi cách mạng tháng Tám thành công đến nay các lực lượng vũ trang địa phương phát triển khá nhanh, nhưng các đơn vị tập trung trực thuộc Trung ương vẫn còn ít: chỉ có hai chi đội giải phóng quân từ chiến khu về, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ. Biên chế tổ chức mỗi nơi một khác, chưa thống nhất. Vũ khí đạn dược rất thiếu và chất lượng không đảm bảo. Việc nuôi dưỡng bộ đội hầu như hoàn toàn dựa vào các địa phương, phần lớn cán bộ và chiến sĩ của các đơn vị mới thành lập chưa được huấn luyện cơ bản về quân sự theo một chương trình thống nhất.

    Chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng và Chính phủ phân chia lại chiến trường: Bắc Bộ có 3 chiến khu, Trung Bộ có 3 chiến khu, Nam Bộ có 3 chiến khu1. Theo chỉ thị của đồng chí Võ Nguyên Giáp, cuối tháng 10-1945 Bộ Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc hội nghị để bàn việc củng cố hệ thống tổ chức chỉ huy, phân chia lại lực lượng vũ trang và chuẩn bị một số nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang để đề đạt lên Thường vụ Trung ương phê duyệt. Thành phần hội nghị gồm các ủy viên quân sự khu, tỉnh, thành phổ và cán bộ chỉ huy chi đội, trung đoàn từ khu 4 trở ra.

    Mở đầu hội nghị đồng chí Hoàng Văn Thái phổ biến chỉ thị của Hồ Chủ Tịch là từ nay giải phóng quân đổi tên là Vệ Quốc Đoàn.

    Hội nghị đã thống nhất đề nghị về tổ chức biên chế của các đơn vị Vệ Quốc Đoàn như sau: Các đơn vị tổ chức theo hệ thống tam tam chế (mỗi phân đội, tức trung đội) có 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 người. Mỗi trung đội (tức đại đội) có 3 phân đội hay trung đội. Mỗi trung đoàn có 3 đại đội tức 3 tiểu đoàn. Từ trung đội trở lên có chính trị viên. Từ cấp chiến khu có chính trị ủy viên.
    ______________________________________
    1. Bắc Bộ có 3 chiến khu 1, 2, 3.
    + Chiến khu 1 gồm 13 tỉnh: Lai Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, do đồng chí Lê Quảng Ba làm khu trưởng, Thanh Phong làm phó, Tạ Xuân Thuỳ chính trị viên ủy viên.
    + Chiến khu 2 gồm 8 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nội, Sơn Tây, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình do đồng chí Hoàng Sâm làm khu trưởng. Văn Tiến Dũng làm chính trị ủy viên.
    + Chiến khu 3 gồm 8 tỉnh thành: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh, Hải Phòng do các đồng chí Hoàng Minh Thái làm khu trưởng, Lê Quang Hòa chính trị ủy viên.

    Trung Bộ có 3 chiến khu 4, 5, 6.
    + Chiến khu 4 có 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
    + Chiến khu 5 có 5 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kông Tum, Gia Lai.
    + Chiến khu 6 có 6 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

    Nam bộ có 3 chiến khu 7, 8, 9
    + Chiến khu 7 có 7 tỉnh: Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn, Bà Rịa.
    + Chiến khu 8 có 5 tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc.
    + Chiến khu 9 có 9 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #6
    Tiếp Theo

    Đối với vấn đề trang bị, hội nghị thống nhất nhận định đây là một vấn đề khó khăn nhất của toàn quân cần phải tích cực tháo gỡ để các đơn vị có đủ súng đạn chiến đấu. Đề nghị phòng quân giới Bộ Quốc phòng tích cực tìm kiếm, mua đổi vũ khí, đạn dược, tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí nhất là sản xuất loại đạn DAM1.

    Hội nghị cũng đã nhất trí những nguyên tắc cơ bản về tổ chức lực lượng vũ trang chi viện cho chiến trường miền Nam. Những nguyên tắc này sau đó đã được Thường vụ Trung ương chuẩn y.

    Hội nghị khẳng định: chiến sự ở miền Nam đang ngày càng mở rộng. Quân địch đang tiếp tục đưa viện binh từ Pháp và các thuộc địa ở Châu Phi sang. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Bộ Tổng Tham Mưu cũng như các cấp chỉ huy quân sự các địa phương đối với tiền tuyến miền Nam là tiếp tục tổ chức tốt những dân quân Nam tiến và chuyển vũ khí quân trang quân dụng chi viện cho chiến trường trong Nam. Việc tổ chức vả bảo đảm mọi mặt cho các đơn vị lên đường là do tỉnh thành phụ trách, theo kế hoạch chung của BTTM đã được Thường vụ Trung ương thông qua. Binh lực nhiều hay ít sẽ do Bộ quy định, xét theo khả năng của từng địa phương, chủ yếu là coi trọng chất lượng. Thành phần các đơn vị Nam Tiến là những chiến sĩ tình nguyện, có tinh thần kỷ luật tốt và đã được huấn luyện ngắn ngày hoặc đã có ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Việc lựa chọn cán bộ chỉ huy phải được tiến hành chặt chẽ. Vũ khí của các đơn vị Nam Tiến phải chọn những khẩu súng tốt, có phụ tùng thay thế, có cơ số đạn nhiều nhất...

    Sau hội nghị Bộ Tổng Tham Mưu đã cử phái viên xuống một số đơn vị và địa phương để giúp dưới triển khai kế hoạch tổ chức chấn chỉnh các đơn vị Vệ Quốc Đoàn nói chung và các đơn vị Nam Tiến nói riêng theo biểu biên chế mới. Ngành quân sự được quyền ưu tiên sử dụng đường sắt vào việc chuyển quân. Việc ăn uống hoàn toàn dựa vào sự ủng hộ của nhân dân các tỉnh thành dọc đường xe lửa Bắc Nam.

    Đoàn quân Nam Tiến đầu tiên xuất phát từ Thủ đô Hà Nội ngày 26-9-1945, đúng vào ngày Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đoàn gồm 3 đại đội Bắc Sơn, Bắc Cạn và Hà Nội được tổ chức thành một chi đội do đồng chí Hoàng Thơ chỉ huy, đồng chí Vũ Nam Long làm phó. 72 cán bộ trong số gần 400 học viên vừa tốt nghiệp trường Quân chính Trung ương tại Hà Nội, cũng có mặt trong chuyến đi này.

    Từ đó, suốt hai tháng hầu như không ngày nào không có quân Nam Tiến, hầu như không có chuyến tàu nào không chở quân Nam Tiến. Và cán bộ của cơ quan nhân sự của Bộ Tổng Tham Mưu luôn luôn có mặt để tổ chức cho các đoàn đi. Tiếp theo có các chi đội Bắc Bắc, Đông Triều, Nam Định, Ninh Bình, các đơn vị của Kiến An, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi v.v...

    Từ tháng 11-1945 Bộ Tổng Tham Mưu còn tổ chức các chuyến tàu vũ khí, đạn dược, xăng dầu, lương thực thuốc men, quân trang quân dụng, vải v.v... chi viện cho chiến trường miền Nam.

    Các loại hàng này đều được chuyển bằng đường xe lửa vào khu 5. Còn từ khu 5 vào Nam Bộ các đồng chí chuyến tải rất linh hoạt khi thì bằng ô tô, khi thì bằng thuyền.

    Sang tháng 4-1946 Bộ Tổng Tham Mưu lại được lệnh của Thường vụ Trung ương tổ chức một chuyến tàu chở vũ khí đạn dược và quân trang quân dụng vào khu 5 rồi chuyển tiếp xuống thuyền vào Nam Bộ. Chuyến hàng này do đồng chí Nguyễn Thị Định cùng đi theo và áp tải, đến địa phận Bến Tre an toàn.

    Triển khai thực hiện kế hoạch đã bàn bạc, thống nhất với đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng, được sự giúp đỡ của các cơ quan bạn. Phòng thông tin có thêm điều kiện mở rộng mạng liên lạc xa hơn so với những ngày đầu mới thành lập. Sau khi Chính phủ chuẩn y đề nghị đặt sở vô tuyến điện thuộc quyền điều hành của Bộ Quốc phòng
    2 ngành thông tin quân sự có thêm một số máy, một số xe. Cuối tháng 9-1945 các Chiến Khu 1, 2, 3 và một số tỉnh trọng điểm đã liên lạc được với Trung ương bằng những máy vô tuyến điện đặt trên xe du lịch do Sở Hải quan chuyển sang BTTM. Ngày 1-10 được coi là ngày triển khai xong hệ thống thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện trong toàn quốc. Chữ toàn quốc đây dùng với nghĩa hẹp là ta có thể liên lạc được với đài Nam Bộ, khu 5 (Quảng Ngãi), chiến khu 1, chiến khu 2 và chiến khu 3.

    Cùng với mạng liên lạc vô tuyến điện được mở rộng, bảng luật mật mã bước đầu được cải tiến, mỗi đài vô tuyến điện đã có một nhân viên mật mã. Hệ thống truyền đạt công văn bằng đường bộ của đội “liên lạc đặc biệt” đã bắt đầu hoạt động trên mấy tuyến đường chính: Hà Nội, Vinh, Huế, Khu 5, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Lao Cai. Nhưng hệ thống điện thoại còn phải dựa vào đường dây của Bưu Điện.

    Cũng ngày 1-10 phòng thông tin liên lạc đã khai giảng một lớp báo vụ vô tuyến điện gồm 20 đồng chí. Lớp đã kết thúc vượt mức trong vòng 1 tháng. Tháng 11-1945 các báo vụ viên đã được việc. Trong buổi lễ bế mạc lớp học đồng chí Hoàng Văn Thái đã đến thăm, biểu dương và khen ngợi kết quả, tinh thần khẩn trương và chủ động của lớp học.

    Khi chiến sự nổ ra ở Sài Gòn, do không kịp mang máy vô tuyến điện ra ngoại thành nên liên lạc giữa Nam Bộ với miền Bắc đã có lúc bị gián đoạn. Các báo vụ viên của Nam Bộ đã có sáng kiến chạy về Mỹ Tho nhờ đài ở đây để liên lạc với đài Trung ương, khi trời xấu nhờ đài Khu 5 (Quảng Ngãi) chuyển tiếp, nên việc liên lạc giữa Trung ương và Nam Bộ lại được thông suốt. Còn việc liên lạc giữa miền Đông và miền Tây vẫn tốt, nhờ ta vận dụng được các máy vô tuyến điện lấy được từ một máy bay rơi của Pháp.

    Trên miền Bắc, dự kiến tình hình liên lạc sẽ khó khăn khi xẩy ra chiến sự nên Phòng thông tin đã bố trí thêm một đài vô tuyến điện dự bị ở ngoại thành Hà Nội, sẵn sàng cơ động khi có lệnh.
    ________________________________________
    1. Đạn DAM là loại đạn dùng cho súng trường của Pháp như Rơ-manh-tông, Mút-cờ-tông v.v…
    2.Theo sắc lệnh số 61 ngày 21-11-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #7
    Tiếp Theo

    Với tinh thần phòng xa cuối năm 1945 đầu năm 1946, Phòng thông tin phân công nhau đi khắp nơi tìm kiếm thêm máy thu, máy phát, máy nổ, các phương tiện, linh kiện thông tin rải rác ở các cơ quan mang về phân loại sắp xếp vào một kho vật tư thông tin dự bị ở Thanh Oai Hà Đông nhờ vậy mà sau này lên Việt Bắc có phương tiện thay thế sử dụng. Và cũng thời gian này các đồng chí thông tin đã bí mật đưa được 1 máy vô tuyến điện 1KW ở nhà máy điện Hải Phòng do quân Tưởng gác lên giấu ở Bắc Cạn. Chiếc máy này sau này làm đài dự bị cho Đài tiếng nói Việt Nam trong chiến dịch Việt Bắc.

    Đi đôi với việc cố gắng tháo gỡ những khó khăn trong công tác chuyên môn, việc chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan cũng được coi trọng. Ban quản lý nội bộ
    1 tuy ít người (4 đồng chí) đã chú ý tổ chức tốt việc ăn ở cho các đồng chí trong cơ quan và khách, ngoài ra còn bảo đảm các nhu cầu về văn phòng phẩm cho toàn cơ quan, đến cuối năm 1946 mới chuyển công tác này sang cho Văn phòng. Chế độ ăn uống ở cơ quan từ thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đến cán bộ và chiến sĩ đều thống nhất một chế độ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “toàn dân chống đói”, hàng tuần cơ quan nhịn ăn một bữa vào chiều thứ sáu, hàng tháng nộp số gạo để dành được vào kho Nhà nước. Về trang phục chưa có chế độ cấp phát quân trang như sau này, mỗi người tự túc lấy quần áo của mình vì vậy mỗi người ăn mặc một kiều chỉ giống nhau ở chiếc mũ ca-lô có quân hiệu sao vàng thêu trên nền đỏ hình tròn (cấp tiểu đội), quân hiệu thêu viền trắng, phân đội (trung đội) trở lên quân hiệu thêu viền vàng. Riêng trung đội vệ binh2 ăn mặc tương đối thống nhất hơn: áo sơ mi bằng ka ki vàng quần có chít ống3. Một số cán bộ có nhiệm vụ giao thiệp với quân đội đồng minh hay với Pháp thì được may mỗi người một bộ quân phục bằng vải ka ki vàng trong áo sơ mi trắng đeo cà vạt đen như kiểu quân phục của sĩ quan Pháp. Toàn cơ quan có một y sĩ trông nom sức khỏe4.

    Cán bộ nhân viên đi công tác được cấp giấy công lệnh. Vì vậy đi tầu, đi ô tô bên ngoài không phải trả tiền. Toàn cơ quan được trang bị một chiếc ô tô du lịch kiểu “Ford” cũ, thường chỉ đưa đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng đi công tác xa.

    Tuy cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu mới thành lập (đến cuối năm 1945 quân số đã lên tới trên dưới 50 người), nhưng thủ trưởng và cấp ủy đã rất coi trọng đẩy mạnh công tác Đảng, công tác chính trị trong cơ quan.

    Về xây dựng Đảng, toàn cơ quan có 3 đảng viên, được tổ chức thành một tổ Đảng nằm trong chi bộ Bộ Quốc Phòng
    5. Tuy số lượng đảng viên còn ít và sinh hoạt bí mật, song tổ Đảng đã đề ra được nội dung lãnh đạo thiết thực kịp thời, tập trung vào khâu tăng cường xây dựng tư tưởng tốt đoàn kết nội bộ, xây dựng cơ quan dần dần giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tích cực học tập về chính trị, quân sự, văn hóa, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ và chiến sĩ nhờ vậy mà tạo được một không khí hồ hởi phấn khởi tin tưởng trong toàn cơ quan. Để mở rộng diện cảm tình của Đảng, Việt Minh đoàn được tổ chức cuối năm 1945 do đồng chí Tham Mưu chủ nhiệm Lâm Cẩm Như (Tổng Tham Mưu Phó) phụ trách. Việt Minh đoàn6 rèn luyện những cán bộ, nhân viên chiến sĩ tốt về mọi mặt để dần dần kết nạp vào Đảng.

    Công tác chính trị trong cơ quan được tiến hành đều đặn. Các buổi học tập chính trị, đọc báo hàng ngày được duy trì liên tục. Mỗi khí có tình hình mới, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng trực tiếp nói chuyện thời sự cho toàn cơ quan. Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được đẩy mạnh; các buổi ca kịch, lửa trại, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn được tổ chức đều dặn, có khi tiến hành trong nội bộ cơ quan, có khi tổ chức cùng với thanh niên đường phố vào các ngày nghỉ, ngày lễ v.v... Một số cán bộ có trình độ văn hóa và quân sự xung phong tham gia dậy bình dân học vụ cho nhân dân và tổ chức huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ, nhờ vậy mà xây dựng được tình đoàn kết gắn bó giữa cơ quan và nhân dân khu phố.

    Cuối tháng 11-1945, nhân dịp Ban Chấp hành Trung ương ra chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” (25-11-1945 đồng chí Võ Nguyên Giáp đến truyền dạt tinh thần cơ bản chỉ thị của Trung ương cho cơ quan.

    Sau khi phác qua tình hình thế giới, tình hình trong nước đồng chí đi vào giải thích chỉ thị của Trung ương, đồng chí nói: Việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới thành lập đã phải đối phó với một tình thế vô cùng phức tạp. Trung ương đã nêu lên những nhiệm vụ trong nước lúc này là “phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân”. Đồng chí nhấn mạnh Đoàn thể ta đã phân tích tình hình địch: Mỹ tuy ngoài miệng nói giữ thái độ trung lập trong vấn đề Đông Dương nhưng đã ngầm giúp đỡ Pháp bằng cách cho mượn tàu chở quân sang Việt Nam. Trong quan hệ với Pháp, Anh, Mỹ gặp phải mâu thuẫn, một mặt muốn tranh giành quyền lợi ở Đông Dương và Đông Nam Á, một mặt khác muốn hòa hoãn để cùng lập mặt trận bao vây Liên Xô. Bọn Tưởng kéo quân sang ta với âm mưu lúc đầu nhằm lật đổ chính quyền do Đảng ta tổ chức ra, thay vào đó một chính phủ bù nhìn tay sai. Nhưng sau khi thấy toàn dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, chúng đành đặt quan hệ với Chính phủ ta. Chúng vẫn sợ ta là cộng sản và sợ “Cộng sản Đông Dương liên minh với Cộng sản Trung Quốc xích hóa Hoa Nam” nên chúng âm mưu cải tổ Chính phủ lâm thời của ta, đưa tay chân của chúng vào.

    Thường vụ Trung ương Đảng đã nêu lên một nhận định mới: “Trước sau, Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi quan trọng”. Từ những phân tích, nhận định trên, nhiệm vụ của giai cấp vô sản và của dân tộc đã được xác định, khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng. Phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Nhiệm vụ của đoạn thể đề ra là:

    “Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác triệt để, làm vườn không nhà trống”

    Tiếp đó đồng chí biểu dương ưu điểm của cơ quan là chỉ trong một thời gian ngắn mà đã cố gắng tích cực xây dựng bước đầu có kết quả, tạo điều kiện cho bước trưởng thành sau này. Đồng chí động viên mọi người cố gắng làm việc, vừa làm vừa kịp thời rút kinh nghiệm trong thực tế công tác hàng ngày để không ngừng tiến bộ. Đồng chí nhắc nhở phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức chi viện người và vũ khí cho cuộc chiến đấu của đồng bào, đồng chí ở miền Nam, đồng thời bám sát và kịp thời đối phó, ngăn chặn một cách có hiệu quả âm mưu và hành động của quân đội Tưởng và tay sai ở ngoài Bắc...
    _______________________________________
    1. Ban quản lý nội bộ gồm các đồng chí: Trang, Hoan, Kiếm, Roãn.
    2.Đội trưởng đội vệ binh của Bộ Tổng Tham Mưu thời gian này là đồng chí Thái Dũng.
    3.Thành ủy Hà Nội có phát cho trung đội vệ binh mỗi- người 1 bộ quân áo lính khố xanh để khi canh gác mặc cho thống nhất.
    4.Y sĩ Nguyễn Văn Ngạn.
    5.Ba đảng viên đầu viên trong Bộ Tổng Tham Mưu năm 1945 là: các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phạm Toàn, Hồ Tôn Vinh.
    6.Việt Minh đoàn: gồm những đồng chí cảm tình của Đảng.
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #8
    Tiếp Theo

    Một kỷ niệm sâu sắc không bao giờ quên của Bộ Tổng Tham Mưu là ngày thứ năm 20-12-1945, nhân dịp kỷ niệm ngày ra đời của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu. Sự kiện lịch sử này đánh dấu một cái mốc vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của cơ quan.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mà không báo trước. Bác đi thẳng vào bếp và người đầu tiên cố trấn tĩnh lại để chào Bác là đồng chí “hỏa thực”1 Nguyễn Văn Roãn. Bác hỏi thăm tình hình ăn uống của cán bộ chiến sĩ ra sao. Có thiếu thốn lắm không, hàng tuần có nhịn một bữa để góp gạo cứu đói không?... Rồi Bác bước vào nhà ngủ, nhà vệ sinh. Và lên ngay đằng sau khu làm việc. Đồng chí Hoàng Văn Thái lúc này mới biết vội vã chạy đến chào Bác và hướng dẫn Bác đi thăm các phòng. Thấy nhà ngủ tập thể bụi bặm nhiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đồng chí Hoàng Văn Thái nên xây dựng thành nề nếp hàng tuần cho anh em dọn dẹp, làm vệ sinh chung. Đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng mời Bác lên phòng họp chung trên gác. Vừa lên cầu thang Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa hỏi:

    - Thế nào, công việc cơ quan chú tổ chức đến đâu rồi? Chú đã biết làm tham mưu chưa?

    Đồng chí Hoàng Văn Thái báo cáo với Bác: Quân số của cơ quan hiện nay đã lên gần 50. Đã hình thành một số phòng, một số bộ phận đảm nhiệm những công tác cấp bách trước mắt như tác chiến đồ bản, tình báo, thông tin, nhân sự, quản lý nội bộ, văn phòng v.v... Đã giao cho một số đồng chí biết tiếng nước ngoài nghiên cứu cách tổ chức tham mưu các nước đế quốc để tham khảo. Anh chị em trong cơ quan đoàn kết, thương yêu nhau, có nhiều tiến bộ trong công tác. Tuy có việc còn lúng túng, bỡ ngỡ nhưng rồi đây chắc chắn sẽ quen dần.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi kỹ thêm về kết quả chi viện chiến trường miền Nam ra sao? Tổng Tham Mưu Trưởng báo cáo là đã cùng với các địa phương tổ chức chấn chỉnh biến chế, huấn luyện bổ sung và đã đưa vào Nam 6 đợt, xuất phát từ Hà Nội. Tất cả các địa phương ở miền Bắc, miền Trung du tham gia đầy đủ. Phần lớn các đơn vị Nam Tiến đều có các chiến sĩ Giải phóng quân làm nòng cốt, cán bộ phụ trách đã có ít nhiều kinh nghiệm đánh du kích trước đây. Vũ khí trang bị tuy còn kém nhưng các đơn vị lên đường đều mang theo những loại tốt nhất mà ta có lúc này.

    Bác gật đầu và căn dặn: phải coi trọng công tác huấn luyện, chú ý giúp đỡ trường quân chính Trung ương và của các chiến khu đào tạo khẩn trương cán bộ (cả quân sự lẫn chính trị) phải hướng dẫn các đơn vị, các địa phương huấn luyện thiết thực, nhất là coi trọng huấn luyện cách đánh du kích, tránh “một hai - một hai” hình thức...

    Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển sang nói chuyện với toàn thể cán bộ và chiến sĩ trong cơ quan, Bác nói đại ý:

    - Cơ quan ta mới thành lập cũng như chính quyền ta mới thành lập, mọi việc đều mới mẻ. Chú Thái vừa báo cáo rằng các cô, các chú đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, vừa học vừa làm, nên mới qua mấy tháng mà bước đầu đã đạt được thành tích, bước đầu, đã tiến bộ. Như vậy là tốt, Bác thay mặt Đoàn thể khen ngợi các cô, các chú....

    Sắp tới các bộ phận cần đi sâu nghiên cứu hơn nữa công tác chuyên môn của mình để giúp cho bộ đội học tập công tác tiến bộ, đồng thời phục vụ Trung ương Đảng và Bộ Quốc Phòng chỉ huy và chỉ đạo tốt bộ đội. Muốn vậy phải hết sức khiêm tốn học tập, thân ái đoàn kết, giữ nghiêm kỷ luật và bí mật...

    - Hiện nay ở Nam Bộ, giặc Pháp đang âm mưu mở rộng chiến tranh. Ta phải chi viện mạnh hơn nữa cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam kháng chiến. Chúng ta phải vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Nhiệm vụ chính của Vệ quốc đoàn là chống giặc ngoại xâm, song không được coi nhẹ các công việc khác như vận động tổ chức nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm... các chú các cô phải cố gắng làm như thế, Bác chúc toàn thể dồi dào sức khỏe hoàn thành tốt nhiệm vụ, và dặn đồng chí Hoàng Văn Thái cuối năm nhớ báo cáo những đồng chí có thành tích lên Người để khen thưởng.

    Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra về các Phòng, Ban dành thời gian còn lại của buổi sáng làm tổng vệ sinh nơi ăn ngủ, nơi làm việc. Dần dần thành nền nếp, một nền nếp được duy trì cho đến ngày nay: thứ năm hàng tuần, toàn cơ quan làm tổng vệ sinh doanh trại.

    Đêm giao thừa Tết Bính Tuất (1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi điện thoại đến Bộ Tổng Tham Mưu, không có ai trả lời vì không có người trực máy. Sáng hôm sau, mồng 1 tết Bác lại gọi xuống. Gặp đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng ở máy, Bác chúc Tết rồi phê bình nhẹ nhàng:

    - Tối hôm qua giao thừa, đón xuân, Bác định chúc Tết các cô, các chú, nhưng gọi mãi không có ai trả lời cả. Là cơ quan Tham mưu mà mất cảnh giác thì không được. Chú là tham mưu, phải làm gương cho toàn quân về tinh thần cảnh giác và chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ quy định...

    Trong cuộc họp đầu năm đồng chí Hoàng Văn Thái đã tự kiểm điểm trước cơ quan:

    “… Chỉ vì sự chểnh mảng của chính mình, cơ quan chúng ta không được đón nhận sự quan tâm ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào lúc giao thừa… Tôi càng thấm thía trước những lời Bác nhắc nhở về sự thiếu cảnh giác, không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ trực ban, trực nhật của cơ quan…”

    Nhìn lại nửa năm đã qua, tập thể cán bộ và chiến sĩ cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu vô cùng phấn khởi thấy rằng tổ chức cơ quan đã dần dần hình thành và bước đầu phát triển (quân số đến nay đã lên tới 100 người), guồng máy đã dần dần hoạt động đều đặn, tương đối có nền nếp. Được như vậy là nhờ sự quan tâm lãnh đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ của các cơ quan bạn và sự cố gắng phấn đấu rèn luyện của tập thể cán bộ, chiến sĩ của BTTM, đứng đầu là đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái.

    Những ngày đầu mới thành lập cơ quan, mấy ai có khái niệm đầy đủ rõ ràng về công tác tổ chức – cán bộ, mấy ai đã hiểu tiêu chuẩn người sĩ quan tham mưu chiến lược của một đất nước đang bị giặc ngoài, thù trong uy hiếp. Nhân sự của từng bộ phận là do những người đứng đầu phòng ban được đoàn thể giới thiệu về đề nghị đưa thêm những người tin cậy vào cơ quan tham mưu, nhờ đó mà phát triển, nhân dần lên. Tiêu chuẩn xét chọn để đưa vào là người tốt, yêu chế độ mới, nếu biết ngoại ngữ thì càng tốt nhưng phần lớn là những anh em chưa có tay nghề, nếu có chuyên môn kỹ thuật thì càng thêm điều kiện thuận lợi để nhanh chóng nắm được công việc, nhanh chóng đưa lại hiệu quả công tác tốt hơn nhưng lại rất ít, khó tìm.

    Hầu hết cán bộ làm việc trong Bộ Tổng Tham Mưu trong thời kỳ đầu chưa phải là đảng viên, thậm chí chưa có nhận thức rõ ràng về Đảng, về giai cấp. Nhưng yếu tố chủ yếu giúp anh em sớm gắn bó với nhau, đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau trên bước đường mò mẫm về nghiệp vụ, là tinh thần yêu nước, giác ngộ dân tộc, là quyết tâm giữ vững lời thề Độc lập, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được. Thực tế mấy năm sau cho thấy được sự giáo dục của Đảng, nhiều anh em đã tiến một bước dài từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, đã sớm được đứng trong hàng ngũ của Đảng...

    Mùa xuân năm 1946 chính trong bối cảnh tổ chức cơ quan như vậy cũng là lúc tình hình và nhiệm vụ đòi hỏi mỗi người phải có nhận thức mới và nỗ lực hoạt động cao hơn trước yêu cầu mới. Đó là yêu cầu do chủ trương “Hòa để tiến” của Thường vụ Trung ương đặt ra trước toàn dân, toàn quân, trong đó có cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu.
    __________________________________
    1. Nuôi quân.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 211 Bài viết

    • 252 Được cảm ơn

    #9
    Chưa hẳn thời gian sau này, sau nữa nó có giá trị lịch sử !
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #10
    Trích dẫn Nguyên văn bởi ngominhman Xem bài viết
    Chưa hẳn thời gian sau này, sau nữa nó có giá trị lịch sử !
    Có thể tương lai xa nữa các thế hệ trẻ sẽ không còn quan tâm đến những tư liệu lịch sử về chiến trường, về các trận đánh, các tướng lĩnh hay lịch sử Việt Nam. Nhưng lịch sử và những trang vàng đã ghi sâu những công lao đó, chúng ta những con người kế cận sau chiến tranh hào hùng đó vẫn muốn đọc và lưu giữ.

    Mục đích của mình đưa lên đây để khi lướt wtt vẫn có thể ngồi đọc lại... :Battin ey: Bộ truyện về Quân Sử Việt Nam còn khá dài mình sẽ cố gắng đưa hết lên đây, sau đó sẽ là những bộ truyện, hồi ký về chiến dịch Điện Biên Phủ và giải phóng miền Nam :Smiling:
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Instrumental; 20/08/2009 vào lúc 07:35 PM.
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #11
    Tiếp Theo

    2. Thực hiện chủ trương “Hòa để tiến”

    Mỗi khi có chủ trương chỉ thị mới của Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp thường đến phổ biến cho cơ quan...

    Ngày 5 tháng 3 năm 1946 đồng chí đã đến truyền đạt cho toàn thể cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu chỉ thị mới quan trọng của Thường vụ Trung ương nhan đề “Tình hình và chủ trương” ký ngày 3-3-1946. Đồng chí đã giúp cán bộ trong cơ quan nhận thức được bối cảnh hai miền nam Bắc sau nửa năm vừa chiến đấu vừa bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, thấy được sách lược của Đảng trong tình hình mới:

    Tại miền Nam, chiến sự đã mở rộng từ các đô thị về nhiều vùng nông thôn. Địch đã kiểm soát được nhiều thành phố và đường giao thông quan trọng. Lực lượng của chúng đã bị căng mỏng để tiếp nhận các vùng do quân Anh trao lại trước khi rút về nước. Có tin một sư đoàn sắp được tăng viện từ Pháp sang. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp đang ráo riết ổn định tình hình vùng tạm chiếm miền Nam để đưa lực lượng ra Bắc sau kết quả cuộc đàm phán Pháp – Hoa ở Trùng Khánh.

    Ở ngoài Bắc, bọn tàn quân Pháp thất trận trong cuộc đảo chính Nhật ngày 9-3-1944 từ vùng biên giới đông bắc và Vân Nam (Trung Quốc) đang rục rịch kéo về, phối hợp với bọn tù binh Pháp bị Nhật giam giữ trong nội thành Hà Nội và lực lượng viễn chinh từ miền Nam ra. Trong khi đó, sau khi thất bại trong âm mưu lật đổ chính quyền của ta, quân Tưởng đang tiếp tục gây sức ép với chính phủ ta để bọn tay sai được tham gia Quốc Hội và chính quyền Trung ương. Theo lệnh quan thầy, bọn tay sai lại càng tích cực chống phá chính quyền cách mạng điên cuồng hòng ép ta nhượng bộ. Chúng hy vọng bọn tay chân đạt được ý đồ chính trị trước khi quân Tưởng rút về nước để đối phó với cuộc nội chiến đang có nguy cơ mở rộng.

    Dự kiến trước khả năng nhân nhượng và thỏa hiệp giữa Pháp và Tưởng về vấn đề Đông Dương và trước việc Pháp muốn thương lượng chính thức với ta, ngày 24-2-1946 Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương: “Ta nên nói chuyện với Pháp nhưng đồng thời phải chuẩn bị kháng chiến. Vì hoàn cảnh thế giới và trong nước, ta có thể chủ trương điều đình để bảo toàn lực lượng, nhưng với điều kiện ta phải có Chính phủ tự chủ, nằm trong Liên bang Đông Dương, Liên hiệp Pháp. Pháp có thể cử cố vấn do chính phủ ta lựa chọn. Ta cho quân Pháp thay quân Tưởng, Pháp phải giải quyết vấn đề Nam Bộ thống nhất với cả nước. Ta cho Pháp duy trì một số quyền lợi kinh tế và văn hóa…”.

    Đúng như Thường vụ Trung ương đã dự kiến, ngày 28-2-1946 hiệp định Pháp - Hoa đã được ký kết sau nhiều tháng điều đình kéo dài giữa Pháp và Tưởng. Nội dung chủ yếu là Trùng Khánh thuận cho Pháp đưa quân vào thay thế quân đội Tưởng từ bắc vĩ tuyến 16 trở ra, đổi lấy những nhân nhượng của Pháp về mặt kinh tế1. Trước tình hình đó, Thường vụ Trung ương nhận định rằng “hiệp ước Pháp - Hoa không phải là chuyện riêng của Tưởng và Pháp. Nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng”. Nhưng do khó khăn nội bộ của chúng và trước sự lớn mạnh của cách mạng Việt Nam, nên cả Pháp và Tưởng đều “muốn dàn xếp với ta về việc quân Pháp kéo vào miền Bắc nước ta”.

    Trước tình hình đó, Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương: “Nếu Pháp quyết định để cho Đông Dương tự trị theo bản tuyên ngôn ngày 24-3-19452 thì nhất định đánh, và rất có thể đánh lâu dài theo lối du kích, nhưng nếu Pháp công nhận Đông Dương tự chủ thì có thể hòa, hòa để phá tan âm mưu của bọn Tưởng Giới Thạch, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Pháp còn sót lại, chúng định hãm ta vào tình thế cô độc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc để thực lực ta tiêu hao...”

    Sau khi phân tích những thuận lợi, khó khăn nếu thực hiện chủ trương tạm thời hòa hoãn với Pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp giải thích rõ những nội dung quan trọng sau đây trong bản chỉ thị ngày 3-3-1946 của Trung ương để mọi cán bộ tham mưu quán triệt và hành động cho đúng:

    “Vấn đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh - Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng... Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến (công việc) sửa soạn ấy...”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: Cơ quan tham mưu cần nắm điều mà Thường vụ Trung ương Đảng dự kiến đó là “bọn thực dân Pháp có thể tăng thêm lực lượng trên đất ta để một ngày kia bội ước diệt ta”. Vấn đề đặt ra với Tham mưu là phải chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất.

    Sau cuộc họp, đồng chí Hoàng Văn Thái đã lần lượt chỉ thị cho các Phòng các Ban có liên quan đến công tác sẵn sàng chiến đấu triển khai ngay công tác của mình: Phòng tình báo phải theo dõi tin hạm đội Pháp từ trong Nam ra, đã vào hải phận Vịnh Bắc Bộ. Âm mưu của Lơ-cờ-léc là định dùng lực lượng quân sự để gây sức ép với chính quyền cách mạng chứ không phải vì lý do thủy triều như chúng đã nêu lên3 vì cuộc thương thuyết giữa Chính phủ ta và Pháp hiện nay đang dừng lại trên một số vấn đề cơ bản đồng thời bám sát động tĩnh của quân Tưởng; chú ý phối hợp với công an và tự vệ theo dõi hoạt động của ngoại kiều, trước hết là Pháp kiều và Hoa kiều, hoạt động của bọn Việt-Quốc, Việt-Cách và các lực lượng phản động khác, kể cả bọn phản động đội lốt thầy tu.
    ___________________________________
    1. Pháp trả lại cho Tưởng các tô giới: Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Châu Loan. Nhượng lại đường xe lửa Côn Minh Hà Khẩu cho Tưởng. Cảng Hải Phòng biến thành cảng tự do, miễn thuế hàng hóa của Tưởng quá cảnh Việt Nam.
    Trung Quốc đồng ý cho quân Pháp thay thế quân Tưởng từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc từ ngày 1 đến ngày 15-3-1946, chậm nhất là đến ngày 31-3-1946.

    2. Do Đờ Gôn ký ở Bờ-ra-da-vin.
    3. Trong hồi ký của Sa-lăng sau này cũng thú nhận điều đó vi trong tháng 3 có 2 đợt thủy triều vào các ngày 6 - 18-3-1946. Hơn nữa tầu đổ bộ cỡ nhỏ có thể vào dễ dàng các cửa sông bất cứ nơi nào.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,479 Bài viết

    • 1,753 Được cảm ơn

    #12
    Tiếp Theo

    Phòng tác chiến và Phòng nhân sự phải nắm chắc tình hình các đơn vị, nhất là ở Hà Nội và Hải phòng. Phải chuẩn bị phái viên sẵn sàng đi đến nơi dự kiến sẽ có thể nổ ra xung đột, nắm chắc tình hình và báo cáo về Bộ. Đồng chí Trưởng phòng nhân sự Trần Văn Lư được cử sang bàn với các Cục nghiệp vụ bên Quốc phòng về kế hoạch bổ sung đạn dược cho bộ đội Vệ Quốc đoàn và các đơn vị tự vệ tập trung trước hết ở Hà Nội; Hải Phòng, dọc đường 5 và cả một số đơn vị biên giới đông bắc, tây bắc1 để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình hình xấu nhất có thể xảy ra trong tình hình căng thẳng hiện nay giữa ta với Pháp và quân Tưởng và cả giữa những người đại diện của Pa-ri và Trùng Khánh ở Hà Nội.

    Sáng 6-3-1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã mời đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng đến Bộ Nội vụ để nghe phổ biến tình hình đấu tranh ngoại giao giữa ta và Pháp, dẫn đến bản Hiệp định sơ bộ sẽ được ký kết chiều nay tại Hà Nội. Nội dung khiến đồng chí quan tâm nhiều là quân Pháp sẽ có mặt ở miền Bắc để thay thế quân Tưởng. Ta phải tổ chức một vạn quân để cùng quân Pháp tiếp phòng quân Tưởng, phải cử một số cán bộ tham gia ủy ban liên lạc và kiểm soát để kiểm tra việc thi hành hiệp định 6-3-1946 và giải quyết những vấn đề của hiệp định liên quan đến mặt quân sự; nhất là phải tranh thủ thời gian tạm thời hòa hoãn với Pháp mà khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố cơ quan chỉ huy các cấp, đào tạo cán bộ, sản xuất vũ khí, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế...

    Mặc dù đồng chí Hoàng Văn Thái đi họp về muộn nhưng các cán bộ chủ chốt trong cơ quan vẫn tề tựu đông đủ vì biết là sẽ có cuộc họp quan trọng sau khi thủ trưởng cơ quan về.

    Đi vào cuộc họp, đồng chí nói: theo hiệp định 15.000 quân Pháp sẽ vào miền Bắc nước ta. Chúng có thể sẽ có mặt tại các điểm nút giao thông ở biên giới, ở vùng mỏ, các bến cảng, dọc các đường chiến lược và các thành phố lớn, kể cả Thủ đô Hà Nội. Vấn đề đặt ra với chúng ta là cần nắm cho được quân số trang bị của chúng ở từng nơi mà chúng được đóng quân, ý đồ của chúng và mối liên hệ của quân Pháp với Pháp kiều và các lực lượng phản động tại địa phương. Quân Tưởng sẽ lần lượt rút khỏi miền Bắc. Có thể sẽ hoàn tất trong tháng 3 này, nhưng trên dự kiến chúng sẽ kiếm cớ để dây dưa kéo dài sự có mặt của chúng trên đất nước ta. Một mặt, chúng hy vọng tiếp tục hậu thuẫn cho bọn tay sai về mặt chính trị, mặt khác, chúng nấn ná để kiếm chác thêm về kinh tế. Như vậy ta cần tiếp tục bám sát động tĩnh của quân Tưởng và tay sai cho đến khi những đơn vị cuối cùng của chúng rút khỏi miền Bắc.

    Về cơ cấu bộ máy quân sự Trung ương, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng cho biết, về mặt đoàn thể, Trung ương Quân ủy (thành lập hồi tháng 1-1946) do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm bí thư, có nhiệm vụ giúp Thường vụ Trung ương lãnh đạo quân đội; về mặt chính quyền, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội ngày 2-3-1946 đã nhất trí giao Bộ Quốc Phòng cho hai nhân sĩ không đảng phái (các ông Phan Anh và Tạ Quang Bửu) đảm nhiệm. Chức năng của Bộ Quốc Phòng là chỉ đạo việc xây dựng, tổ chức biên chế, trang bị, huấn luyện và cấp dưỡng quân đội. Còn việc điều khiển quân đội trong toàn quốc vẫn thuộc quyền Ủy ban kháng chiến toàn quốc. Cũng trong cuộc họp ngày 2-3-1946 đồng chí Hoàng Văn Thái chính thức được Quốc hội trao nhiệm vụ Tổng Tham mưu Trưởng

    Về tổ chức nội bộ cơ quan tham mưu, để hợp lý hóa và phù hợp với chức năng nhiệm vụ của các phòng, đồng chí Hoàng Văn Thái nêu lên một số thay đổi như sau: Tổ nhân sự tách khỏi Văn phòng thành một phòng Nhân Sự do đồng chí Trần Văn Lư phụ trách, với chức năng nắm quân số, phối hợp với bên Quốc phòng nghiên cứu việc tổ chức, biên chế của toàn quân, Tổ Quân nhu cũng tách khỏi Văn phòng, tổ chức thành phòng Quân nhu - Kế toán do đồng chí Nguyễn Quý Tín phụ trách, với chức năng phối hợp với cơ quan Quốc phòng, nghiên cứu cấp phát quân nhu và trang bị cho toàn quân. Tổ Mật mã tách khỏi phòng Thông tin liên lạc, tổ chức thành một Ban, vẫn do đồng chí Tạ Quang Đạm phụ trách. Ban Mật mã trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng về mặt nghiệp vụ và với Văn phòng về mặt hành chính. Bộ phận Bản đồ tổ chức thành một Ban trong phòng tác chiến để tiện chỉ đạo và phối hợp công tác. Thành lập Ban khảo cứu, có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề quân sự do đồng chí Lê Văn Xứng làm Trưởng ban.

    Trước đây việc phân công, phân nhiệm giữa Bộ Quốc Phòng, và Bộ Tổng Tham Mưu chưa thật rõ ràng nên có nhiều việc đều do tham mưu làm theo sự ủy nhiệm của trên. Nay Bộ Quốc Phòng
    2 đã bao gồm các cục chuyên ngành nên Bộ Tổng Tham Mưu có điều kiện đi sâu vào nhiệm vụ chủ yếu theo các chức năng của mình là giúp Trung ương Quân ủy chỉ huy và chỉ đạo toàn quân. Trong các vấn đề quan hệ đến quản lý bộ đội, tham mưu phải phối hợp chặt chẽ với các cục nghiệp vụ của Bộ Quốc phòng để tiến hành cho tốt.

    Trao đổi công việc trước mắt của Bộ Tổng Tham Mưu, đồng chí Hoàng Văn Thái nói rõ: cơ quan tham mưu vẫn phải chú ý tình hình cả Pháp, Tưởng và tay sai, nhưng do đã có Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 nên đối tượng chủ yếu trước mắt và lâu dài của công tác nắm địch là Pháp, kể cả quân Pháp, Pháp kiều và những tên tay sai có thể ngóc đầu dậy.

    Địch vét quân ra Bắc, lực lượng của chúng, dù có được tăng viện, cũng vẫn phải căng mỏng ra để kiểm soát những vùng tạm chiếm. So sánh lực lượng trên chiến trường sẽ thay đổi chiều hướng có lợi cho ta. Đây là một cơ hội thuận lợi để đồng bào và chiến sĩ miền Nam nổi dậy diệt tề, trừ gian, phát triển lực lượng và đánh địch, nhất là đánh các đội tuần tiễu nhỏ của chúng trên bộ và trên sông, nếu địch ngoan cố không chịu thi hành các điều khoản đình chiến ở miền Nam. Yêu cầu đặt ra với các Phòng, Ban, nhất là tình báo, tác chiến và thông tin liên lạc, là phải phối hợp chặt chẽ, nắm vững tình hình, báo cáo kịp thời để có phương hướng chỉ đạo. Việc chi viện cho miền tuy không khẩn trương cấp bách như hồi sau Tổng khởi nghĩa, nhưng vẫn phải tiếp tục theo nguyên tắc trên đã chỉ thị điều hòa lực lượng giữa hai miền Bắc và miền Nam. Trước yêu cầu sẵn sàng đối phó với âm mưu địch trong tình hình mới, miền Bắc dần dần sẽ trở thành chiến trường thu hút nhiều lực lượng. Cho nên như chỉ thị của Đoàn thể, không vì có chủ trương tạm thời hòa hoãn với Pháp mà lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Theo chỉ thị của Quân ủy, Bộ Tổng Tham Mưu tiếp tục mở trường quân chính Bắc Sơn trong tháng 3-1946; sẽ phối hợp với cục quân huấn Bộ Quốc Phòng khai giảng trường Võ bị Trần Quốc Tuấn sau khi chuẩn bị xong cả về nội dung huấn luyện và đội ngũ giáo viên. Trên đã chấp nhận cho Ủy ban kháng chiến miền Nam tổ chức trường Lục quân ở phía Nam, có thể ở Quảng Ngãi. Ngoài các trường đào tạo này, trên còn chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu chuẩn bị mở một số lớp bổ túc cho cán bộ đại đội và tiểu đoàn, trong khi các khu và trung đoàn mở trường quân chính đào tạo và bổ túc cán bộ trung đội và tiểu đội.
    ________________________________________
    1.Trung tuần tháng 11-1945 BTTM đã điều 5 đại đội ở đồng bằng lên tăng cường cho Tây Bắc và thành lập chi đội Sơn La. Để chuẩn bị đối phó với đoàn quân của Pháp từ Vân Nam về Lai Châu (Tây Bắc 20-2-1946. Quân số khoảng 3.500 tên (3 tiểu đoàn).
    2.Bộ Quốc Phòng có 10 cục: Cục Chế tạo quân nhu, Cục Chế tạo quân giới. Cục Chính trị, Cục Tình báo, Cục Quân chính, Cục Quân huấn, Cục Công chính giao thông, Cục Quân pháp, Cục Quân nhu, Cục Quân y. (sắc lệnh số 34/SL ký 25-3-1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.)
    Chỉnh sửa lần cuối bởi Instrumental; 20/08/2009 vào lúc 07:33 PM.
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 219 Bài viết

    • 163 Được cảm ơn

    #13
    Trích dẫn Nguyên văn bởi ngominhman Xem bài viết
    Chưa hẳn thời gian sau này, sau nữa nó có giá trị lịch sử !
    Lịch sử mãi là lịch sử...hậu thế trong từng giai đoạn cụ thể nào đó có thể có cách nhìn nhận đánh giá khác nhau...về giá trị...hay về những yếu tố khác, nhưng con người , sự kiện, hoàn cảnh , không gian, thời gian thì không thể khác...Đơn giản vì đó là lịch sử.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)