SÁCH - TRUYỆN - THƠ

Truyện ngắn Trung Quốc chọn lọc

Đến trả lời mới nhất
  • 18 Lượt chia sẻ
  • 31.2K Lượt đọc
  • 41 Trả lời

  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3

Theo dõi Webtretho

Bài học lớn đằng sau câu chuyện nhỏ
f | Chia sẻ bài viết
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #1
    Mình rất yêu thích những truyện ngắn của Trung Quốc bắt đầu từ khi mình đọc Người mẹ điên. Từ đó, mình rất hay để ý và chọn lọc những chuyện của TQ để đọc, mình post mấy truyện ngắn này mình vừa đọc trong báo Tiền phong cuối tuần, mời các mẹ cùng xem
    Tiệc đêm trong nhà vệ sinh
    Người phụ nữ làm thuê ở gần nhà ông chủ. Đó là một gian trong ngôi nhà mái bằng cũ nát. Chị là một người mẹ sống đơn thân, có một đứa con trai bốn tuổi.
    Hàng ngày, chị dậy sớm giúp chủ nhà thu dọn, mọi việc xong chị trở về nhà mình. Chủ nhà thường mời chị ở lại, nhưng chị từ chối. Bởi vì chị là một người phụ nữ làm thuê, nên vô cùng tự ty.
    Hôm ấy, chủ nhà mời rất nhiều khách đến ăn cơm. Khách mời người nào cũng ngời ngời rạng rỡ. Chủ nhà nói với chị làm thuê: “Hôm nay chị có thể vất vả thêm một chút, có thể về nhà muộn hơn một chút được không?”
    Người phụ nữ nói: “Dạ được ạ, nhưng con trai không thấy tôi ở nhà, cháu sẽ sợ hãi.”
    Chủ nhà nói: “Thế thì dẫn cháu đến đây đi, biết đâu hôm nay sẽ có những điều lạ”.
    Khi ấy trời đã hoàng hôn, khách mời sắp đến hết. Chị làm thuê vội vàng về nhà, dẫn con trai đến. Con trai hỏi: “Chúng ta đi đâu hả mẹ?”.
    Người mẹ nói: “Mẹ cho con đi ăn tiệc đêm!”.
    Đứa bé bốn tuổi đâu có biết mẹ mình là một người làm thuê.
    Chị làm thuê dẫn con trai vào thư phòng của nhà chủ. Chị nói: “Con hãy ở yên trong này đã, bây giờ bữa tiệc tối vẫn chưa bắt đầu”.
    Sau đó, chị làm thuê đi vào nhà bếp, nấu ăn, bổ hoa quả , pha cà phê, tất bật luôn tay. Luôn luôn có khách nhấn chuông, chủ nhà hoặc chị làm thuê phải chạy ra mở cổng. Có lúc, chị tranh thủ vào thư phòng xem, vẫn thấy con trai đang ngồi yên ở đấy. Con trai hỏi: “Mẹ ơi! Tiệc đêm khi nào bắt đầu ạ?”
    Chị làm thuê nói: “Đừng nóng ruột, con cứ ngồi yên ở đây, đừng có nói năng gì”.
    Nhưng, luôn luôn có khách đến thăm thư phòng của chủ nhân. Họ biết bé trai là con của người phụ nữ làm thuê, hay là không biết? Các vị khách thân thiết xoa đầu bé trai, sau đấy lục xem những cuốn sách của chủ nhà, và luôn miệng tấm tắc khen những bức tranh treo trên tường. Đứa bé trước sau vẫn ngồi yên, nóng lòng đợi bữa tiệc đêm bắt đầu.
    Chị làm thuê hơi không yên tâm. Chỗ nào cũng có khách, chị không biết giấu con trai đi đâu. Chị không muốn con trai chị làm hỏng không khí vui vẻ của buổi tiệc. Càng không muốn đứa con trai thơ ngây biết sự khác nhau giữa chủ nhà và người làm thuê, giữa người giầu và kẻ nghèo.
    Nghĩ mãi, chị quyết định gọi con trai ra khỏi thư phòng, đưa con vào nhà vệ sinh. Ngôi nhà có hai cái toa-lét, một cái của ông chủ, một cái dành cho khách.
    Chị nhìn con trai, chỉ vào chiếc bồn cầu trong toa-let: “Đây là gian phòng dành riêng cho con” - Chị nói: “Đây là cái ghế!”
    Lại chỉ vào cái bàn giặt bằng đá hoa, chị nói tiếp: “Đây là một chiếc bàn”.
    Chị lấy từ trong bụng ra hai cái xúc xích, đặt vào đĩa.
    “Cái này là của con đây!” - Người mẹ nói: “Bây giờ tiệc đêm bắt đầu!”.
    Chiếc đĩa chị lấy trong nhà bếp của nhà chủ còn xúc xích chị mua trên đường về nhà (đã rất lâu chị không mua cho con trai xúc xích). Khi nói những lời này, chị làm thuê ráng sức kìm lại những giọt nước mắt. Không còn cách nào khác, toa-lét của chủ nhà là chỗ yên tĩnh duy nhất lúc này.
    Con trai chị lớn lên trong cảnh nghèo khó, từ trước đến giờ cậu chưa từng nhìn thấy ngôi nhà nào xa hoa lộng lẫy như thế này, càng không nhìn thấy nhà vệ sinh sang trọng. Cậu không biết bồn cầu giật nước, không biết bàn giặt bằng đá hoa. Cậu ngửi hương thơm thoang thoảng của bột giặt và xà phòng thơm, cảm thấy hạnh phúc vô chừng. Cậu ngồi xuống sàn, đặt đĩa lên trên nắp bồn cầu. Cậu nhìn chăm chăm không chớp mắt vào những lát xúc xích bày trong đĩa, hát những lời ca tự mừng cho mình.
    Khi tiệc đêm bắt đầu, đột nhiên chủ nhân nhớ đến con trai của chị làm thuê. Ông đi vào nhà bếp hỏi, chị làm thuê nói chị cũng không biết, có lẽ là nó chạy đi chơi chăng.
    Chủ nhân thấy ánh mắt chị làm thuê có vẻ giấu giếm, bèn lặng lẽ đi tìm.
    Cuối cùng, ông lần theo tiếng hát, thấy cậu bé đang ở trong toa-lét. Khi ấy, cậu bé đang đưa một miếng xúc xích vào miệng. Ông đứng ngây người ra.
    Ông hỏi: “Cháu nấp ở trong này làm gì?”.
    Cậu bé nói: “Cháu dự tiệc đêm ở đây, bây giờ cháu đang ăn tiệc”.
    Ông hỏi: “Cháu có biết đây là chỗ nào không?”
    Cậu bé nói: “Đương nhiên cháu biết chứ! Đây là phòng mà ông chủ buổi tiệc dành riêng cho một mình cháu”.
    Ông hỏi: “Có phải mẹ cháu nói với cháu như vậy phải không?”.
    Cậu bé nói: “Đúng thế, thực ra không cần mẹ nói, cháu cũng biết, đây là gian phòng tốt nhất mà chủ nhân bữa tiệc chuẩn bị cho cháu”.
    Rồi cậu bé chỉ vào những miếng xúc xích trong đĩa: “Cháu hy vọng sẽ có một người cùng cháu ăn những món này”.
    Mũi chủ nhân thấy cay cay, chua chua, không cần hỏi thêm nữa, ông đã hiểu rõ tất cả.
    Ông lặng lẽ quay về bàn tiệc nói với tất cả các vị khách: “Xin lỗi các vị, hôm nay tôi không thể tiếp tục cùng các vị ăn bữa tối nữa, tôi phải tiếp một vị khách đặc biệt!”.
    Sau đấy, ông lấy hai đĩa thức ăn trên bàn tiệc. Đến toa-lét, ông lịch sự gõ cửa. Sau khi được cậu bé cho phép, ông bước vào, đặt hai đĩa lên trên nắp bồn cầu.
    Ông nói: “Gian phòng đẹp như thế này, đương nhiên không thể để cháu một mình hưởng thụ, chúng ta sẽ cùng nhau ăn tối!”.
    Hôm ấy, ông và cậu bé nói rất nhiều chuyện. Ông muốn cậu bé tin tưởng rằng, toa-lét là gian phòng tốt nhất trong ngôi nhà này. Hai người ăn rất nhiều, hát rất nhiều bài trong toa-lét. Liên tục có khách gõ cửa, chào hỏi ông chủ và cậu bé.
    Họ mang tới mời ông chủ và cậu bé những cốc nước hoa quả thơm ngon và những cánh gà quay vàng ươm. Họ tỏ ra rất lịch sự và nhiệt tình. Sau đấy, họ đòi cùng vào trong cái toa-let nhỏ xinh, hát mừng cậu bé. Thái độ của mọi người đều rất chân thành, không có ai coi đây là một trò vui tếu táo.
    Nhiều năm sau, cậu bé đã trưởng thành. Anh có công ty riêng, có một ngôi nhà khang trang, cũng có hai cái toa-lét. Anh bước vào xã hội thượng lưu, trở thành tỷ phú.
    Hàng năm, anh đều trích ra một khoản tiền lớn cứu trợ những người nghèo, nhưng anh không bao giờ tổ chức những buổi quyên góp, ủng hộ, càng không cho những người nghèo biết tên của anh.
    Có người bạn hỏi về lý do, anh nói:
    - Tôi luôn luôn ghi nhớ một buổi tối nhiều năm trước, có một vị nhà giầu cùng rất nhiều người khác, đã vô cùng cẩn trọng bảo vệ lòng tự tôn của một cậu bé bốn tuổi!
    Chu Hải Lượng
    (Vũ Phong Tạo dịch)

    / [/IMG]


    G] [/URL]
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • Chuyện đã qua...

      Cô thích anh ngay từ lân đầu cô nhìn thấy anh, cũng thật lạ, 1 người bình thường như anh nhưng có...

    • Truyện cực ngắn Trung Quốc

      Viết một truyện dài để chuyển tải được những vấn đề mình cần nói đã là khó. Nhưng viết ngắn mà nói được nhiều, càng khó hơn gấp bội. Có những chuyện cực ngắn nhưng lại tấng tầng lớp lớp ý nghĩa. Mình đọc trong tập truyện Tặng một vầng trăng sáng có truyện ngắn : Di chúc. Chuyện chưa tới 1000 từ...

    • Mỹ nam của năm 2014, các chị hãy bình chọn cho người xứng đáng nhất

      Mấy năm khác coi đề cử mỹ nam của năm thấy hoàn toàn hài lòng, sao năm nay lại đưa Sơn Tùng vào...

    • Đàn bà “nước lọc”

      http://www.vnyeu.org/wp-content/uploads/2012/05/daukho.jpg Những người đàn bà như họ bị gọi là...

    • phim truyền hình Trung quốc - Cung tỏa tâm ngọc 2011

      Phim bộ dành cho các mek thích xem phim truền hình dài tập Tên tiếng Việt: Cung tỏa tâm ngọc Số tập: 39 Thời gian sản xuất phim: 8 tháng bắt đầu từ 7-2010 "Cung tỏa tâm ngọc" do biên kịch Vu Chính viết, liên kết với đài Hồ Nam chuyển thể từ bộ Thanh Xuyên hý kịch. Tháng 7/2010 sẽ khai máy tại...

    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #2
    Con vẹt xanh
    Lưu Tư Kinh là một nhân vật nổi danh ở Hà Thành. Anh ta tung hoành ngang dọc trên đảo Quỳnh, đã ba năm rồi mà chưa trở về nhà. Mẹ Lưu nhớ con da diết, nhiều lần nhờ người viết hộ thư gọi con về nhà xem sao.

    Cuối cùng Lưu Tư Kinh cũng thu xếp được thời gian về thăm mẹ. Mẹ Lưu trông thấy con trai trên ba mươi tuổi, hơi beo béo, mừng rơi nước mắt, ôm vai con trai nói: “Con ơi! Con quên nhà rồi sao? Quên luôn cả mẹ rồi sao?”.
    Khóe mắt của Lưu Tư Kinh cũng rơm rớm ướt, anh vội nói: “Mẹ ơi! Mẹ nói vậy, chứ con quên mẹ sao nổi!?”
    Anh đưa quà tặng mẹ - một chiếc lồng chim xinh xắn, bên trong nuôi một con vẹt xanh. Con chim ấy đầu tròn, mỏ trên to trông như cái móc câu, mỏ dưới ngắn nhỏ, lông vũ rất đẹp, toàn thân như khoác ngọc phỉ thúy. Con vẹt này Lưu Tư Kinh đã mua được mấy tháng, luôn mang theo bên mình và dày công dạy nó nói.
    Mẹ Lưu nghe con trai nói mua con vẹt mất chín ngàn đồng (tương đương 18 triệu đồng tiền Việt Nam – ND), bèn mắng con không biết quí trọng đồng tiền: “Con ơi là con! Kiếm được đồng tiền có dễ đâu, chi một khoản hoang phí thế này, thật là không thỏa đáng”. Mẹ Lưu vừa thương lại vừa giận, cằn nhằn mãi.
    Lưu Tư Kinh giãi bày: “Mẹ ơi! Con nghĩ thế này ạ! Con đang mở công ty, rất bận, không có nhiều thời gian về nhà thăm nom mẹ được. Nên để con vẹt này hầu chuyện mẹ già, mẹ có thể thường xuyên chuyện trò tâm tình với nó đấy!”.
    Mẹ Lưu nói: “Nó làm sao mà có thể nói chuyện với mẹ, thay được con chứ! Bố con mất sớm, nay mẹ cũng gần bảy mươi rồi!...”.
    Anh con trai không biết làm thế nào để an ủi mẹ, bèn bảo con vẹt nói. Con vẹt xanh nhại theo giọng của Lưu Tư Kinh: “Chào mẹ! Chào mẹ! Con là Lưu Tư Kinh, con là Lưu Tư Kinh!” Mẹ Lưu nghe, hởi lòng hởi dạ, cười: “Con vẹt xanh này ngoan quá!”.
    Ở nhà một vài ngày, Lưu Tư Kinh lên đường về nơi làm việc.
    Mẹ Lưu lại một mình một bóng. May mà có con vẹt xanh làm bạn. Sáng sớm, bà cho vẹt ăn, nó bèn nói: “Mẹ ơi! Con chào mẹ! Con là Lưu Tư Kinh!”. Buổi trưa, bà cho nó ăn, nó nói:”Mẹ ơi! Con chào mẹ! Con là Lưu Tư Kinh!”. Lúc sẩm tối bà cho vẹt ăn, nó nói: “Mẹ ơi! Mẹ vất vả quá, nghỉ ngơi một chút đi!...”.
    Mẹ Lưu cảm thấy vô cùng sung sướng, trong cuộc sống cô độc mà như có con trai ở bên mình. Bà càng yêu con vẹt hơn, lấy nước chải lông cho nó, vừa sợ nó lạnh, lại sợ nó nóng. Lúc rỗi rãi, bà đem nó ra công viên dạo chơi, để nó được hít thở không khí trong lành, gặp gỡ đồng loại của nó.
    Một năm trôi qua, mẹ Lưu bị bệnh, đột ngột từ trần vào một buổi sáng sớm. Cách xa hàng ngàn dặm, Lưu Tư Kinh vội vàng trở về, đến nhà thì chỉ thấy lọ tro của mẹ hiền, còn con vẹt xanh anh mua tặng mẹ không biết biến đâu, chỉ còn lại chiếc lồng trống không treo lơ lửng ở ban công.
    Lưu Tư Kinh quyết định ở lại nhà cũ thêm vài ngày nữa, để tưởng nhớ ơn dưỡng dục của mẹ hiền, cũng là bày tỏ nỗi ân hận không thể đưa mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng.
    Lưu Tư Kinh vào trong phòng ngủ nhỏ của ngôi nhà cũ. Tấm ảnh mẹ hiền đặt trên tủ lớn kê ngay trước giường, đang mỉm cười với con trai. Lưu Tư Kinh cởi áo lên giường nằm, mấy ngày đi đường vất vả, khiến mắt anh như sụp xuống.
    Cơn buồn ngủ ập đến khiến anh dần dần chìm vào giấc mơ. Trong chiêm bao, anh thấy mẹ già hiền từ đang khâu mấy chiếc cúc áo vét của anh bị đứt, dưới ngọn đèn mờ. Anh vô cùng sung sướng chạy đến bên mẹ, nhưng bà đã biến mất, bên tai vẫn văng vẳng tiếng nói: “Con ơi! Mẹ rất nhớ con!”.
    Anh bừng tỉnh, bên tai vẫn vang lên lời hỏi ân cần: “Con ơi! Con có khỏe không?” Anh bật đèn, nhìn quanh, không nhìn thấy bóng người nào cả. Anh nghĩ, chắc trong lòng nhớ mẹ da diết quá, mà sinh ra ảo giác chăng. Anh đi nằm lại, và chìm trong giấc mộng.
    Trong mơ, anh trông thấy mẹ cười, nhưng vừa chạy tới gần thì mẹ biến mất. Anh lại tỉnh giấc. Vẫn có tiếng vọng đến: “Con ơi! Mẹ nhớ con lắm!” Anh ngồi dậy mặc áo, sang phòng khách, tiếng gọi bên tai anh càng rõ hơn, trong hơn.
    “Con ơi! Mẹ nhớ con lắm!”. Âm thanh đó phát ra từ phía ban công. Lòng anh bỗng bồn chồn, rón rén bước tới. Dưới ánh trăng tỏ, anh nhìn thấy một con chim – con vẹt xanh đang đậu trên ban công. Nó nói: “Con ơi! Mẹ rất nhớ con!”.
    Quầng mắt thâm của Lưu Tư Kinh ướt đầm. Con vẹt này không sợ người. Rõ ràng nó gầy đi rất nhiều, lông cũng bù xù tơi tả. Nó lại kêu: “Con ơi! Con phải thường xuyên về thăm nhà, mẹ rất nhớ con!...”.
    Lưu Tư Kinh gào lên, nước mắt tuôn trào như mưa.
    Thì ra trước khi chết, mẹ anh đã thả con vẹt. Bà không ngờ được rằng, con vẹt xanh thông minh tình nghĩa ấy đêm đêm vẫn bay về nhà họ Lưu, truyền đạt nỗi nhớ niềm mong của người mẹ với con trai, khi bà còn sống.
    Thiệu Bảo Kiện
    Vũ Phong Tạo dịch

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    10 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #3
    Về chuyện tôi chết, thật ra tôi không chết
    Hôm ấy, giám đốc mỏ gọi tôi lên phòng làm việc. Vừa bước vào, tôi vội nói ngay: “Thưa giám đốc, thuốc nổ hôm trước không phải do tôi lấy trộm”.
    Giám đốc mỏ cười hề hề: “Ai cũng có thể lấy cắp được thuốc nổ của mỏ, chỉ anh không biết lấy thôi. Anh là một người trung thực, đốt đuốc đi tìm cũng không thấy đâu!”.
    Tôi mừng thầm trong bụng: “Vậy giám đốc gọi tôi lên làm gì ạ?”
    “Cùng anh bàn một chuyện. Tôi vừa nói, anh là một người thành thực, lại là một người thành thực khiến cho tôi đặc biệt an tâm”. Giám đốc ngồi xuống ghế sa lông, xoay người hai lần, nói: “Tôi cũng không vòng vo tam quốc nữa. Sự cố này cũng như mọi năm, đều thuộc về trách nhiệm của mỏ. Số người chết không được vượt quá chỉ tiêu. Anh cũng biết đấy, nếu vượt quá chỉ tiêu cho phép, thì sẽ dẫn đến hậu quả thế nào?”.
    “ Xí nghiệp phải đóng cửa, mọi người mất việc, tan tác!”.
    “Đúng thế, chỉ tiêu là ba người nhưng năm nay mới có hai người ra đi”.
    “May mà nhờ chính sách sáng suốt, mọi người cố gắng, ông Trời lại phù hộ mà! Chúng ta không được vượt chỉ tiêu, nhưng cũng không nên lãng phí chỉ tiêu. Hôm nay mời anh lên đây, dành một chỉ tiêu còn dư lại giao cho anh đấy!”.
    Tôi giật mình đánh thót, nói: “Cho tôi đi chết? Cuộc đời này, tôi còn chưa đụng chạm đến một người con gái nào”.
    “Ai bắt anh chết thật chứ? Anh thử nghĩ xem, trời cũng có mưa gió bất trắc, nếu như sang năm, số người chết vượt chỉ tiêu thì làm thế nào đây? Lãnh đạo mỏ muốn đem chỉ tiêu này dự trữ lại, nếu sang năm vạn nhất có điều gì xẩy ra, thì cũng có cái mà ứng phó!”.
    Tôi hiểu ra, nói: “Sang năm nếu như số người không may ra đi tăng thêm một, thì coi như anh ta chết năm nay, phải không ạ?”.
    Giám đốc mỏ vui hẳn lên: “Xem anh kìa, đầu óc anh còn sáng suốt hơn tôi đấy. Đúng, chỉ cần anh đồng ý, lãnh đạo mỏ cấp cho anh khoản tiền một trăm đồng làm tiền trợ cấp xóa tên, cắt quân số”.
    Tôi gãi gãi đầu, nhoẻn miệng cười: “Em nghe theo giám đốc, em nghe theo sếp!”
    Đến tháng 5 năm sau, giám đốc mỏ lại gọi tôi lên. Mặt ông trắng lợt. Tối hôm qua, bốn người xuống hầm mỏ, nhưng không một ai trở về.
    Giám đốc thở dài, nói: “Lần này thì anh chết thật rồi!”
    “Em chết rồi?” – Tôi ngớ người ra - “Tối hôm qua không phải phiên em đi làm, mà là A Tài, Cẩu Tử ra đi chứ!”.
    “Tôi muốn nói là anh đã cắt tên chết hờ từ năm ngoái, thì đến nay phải chết thật rồi!”.
    “Em vẫn không hiểu!”.
    “Lần này mất bốn người, vượt chỉ tiêu một người. Đành phải dùng đến chỉ tiêu mà anh đã cắt tên từ trước. Nếu không, thì mỏ phải đóng cửa”.
    “Ôi, việc này!...” – Tôi ngây người ra, hỏi - “Thưa sếp, thế khoản tiền cắt tên em của tháng này, có còn phát cho em nữa không ạ?”.
    “Vẫn phát! Tại sao lại không phát chứ? Hơn nữa, vẫn phát liên tục mãi chứ!” - Khẩu khí của giám đốc rất cứng rắn. Ông nhìn tôi chăm chăm, nói: “Nhưng, vẫn còn một việc cần bàn thêm với anh”.
    Tôi đang phấn khởi, cười nói: “Hề hề, em nghe đây!”.
    “A Tài thường nói mệnh cậu ta lớn, thế mà lần này cũng không qua được. Cậu ta coi như là đối tượng vượt chỉ tiêu. Việc này dứt khoát không được để lộ. Suy đi nghĩ lại, chỉ còn một cách là anh phải đổi tên thành A Tài thôi!”.
    “Không, không, không, không cát lợi, xui xẻo lắm!”.
    “Ai chà, tên của anh đã viết vào danh sách những người chết từ lâu rồi mà? Cái tên chết rồi của anh đã cho A Tài dùng rồi, để mọi người không biết anh dùng tên của A Tài vừa mới chết. Ôi, anh chẳng phải lại sống thêm một kiếp khác đó sao?”
    Câu nói đó của giám đốc tỏ ra rất khó bắt bẻ, khiến cho tôi lại hấp háy mắt.
    “Nói tóm lại, tên của cậu và A Tài thay đổi cho nhau rồi!”.
    “Gọi em là A Tài, phải không?”.
    “Đúng thế! Thiếu thừa vài nét, sự nhầm lẫn là chuyện thường mà!”- Giám đốc mỏ đi tới vỗ vỗ vai tôi, khuôn mặt đột nhiên nở nụ cười: “A Tài năm ngoái mới lấy vợ. Ôi, người đàn bà ấy đúng là một bông hoa, có phải thế không?”.
    Tôi cũng cười: “Người đàn bà ấy, đúng là một người đàn bà!”.
    “Nếu như, anh cũng tìm một người vợ như vậy?...”.
    “ Hề hề, em đâu có phúc phận ấy!”.
    “ Có chứ. Chỉ cần anh đồng ý đổi tên là A Tài, thì người ta tiếp tục làm vợ của anh - người mang tên A Tài. Tôi đã bàn xong xuôi rồi, cấp cho hai người năm mươi ngàn đồng (tương đương 100 triệu đồng Việt Nam – người dịch), coi như là tiền mừng của lãnh đạo mỏ”.
    “Thật, thật thế ư?” – Tôi không dám tin vào tai mình.
    “Coi như quyết định như thế nhé!”
    Tôi thở dài một cái.
    Khi trông thấy người đàn bà ấy, tôi mới biết, những lời nói của giám đốc là thật. Giám đốc mỏ nửa câu cũng không lừa tôi. Như thế là, tôi đổi tên thành A Tài, lại còn kiếm được một người vợ.
    Cái hôm động phòng, giám đốc mỏ còn đến thăm, lại luôn miệng khen tôi là đại ân nhân của lãnh đạo mỏ.
    Để cho cuộc sống ổn định, giám đốc mỏ bí mật bảo tôi dẫn người đàn bà xinh đẹp ra đi, mở một cửa hàng nhỏ, coi như là xong xuôi. Tôi biết, nếu như tiếp tục làm việc ở mỏ này, biết đâu đến một ngày nào đó, tôi sẽ làm lộ chân tướng sự việc. Tôi ha hả cười đồng ý. Bởi vì, khi bước vào động phòng, tôi bắt đầu bước vào cuộc đời vẫn được sống nhơn nhơn, hạnh phúc.
    Giám đốc giữ lời hứa, tiền trợ cấp cắt tên kia vẫn được cấp phát dài dài. Hơn nữa, không cần phải đến mỏ lĩnh, vì nó được chuyển thẳng vào tài khoản của tôi.
    Vương Quỳnh Hoa
    Vũ Phong Tạo dịch

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #4
    Người mẹ điên

    Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.
    Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.

    Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.

    Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

    Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.

    Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

    Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.

    Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

    Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?

    Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.

    Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!"

    Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.

    Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.

    Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.

    Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..."

    Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!"

    "A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!" Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!"

    Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!". Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

    Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

    Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra."

    Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.

    Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.

    Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

    Ngày...tháng... năm..., lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.

    Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...

    Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..." Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

    Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"
    Trang Hạ dịch

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    7 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #5
    Tình cha cay đắng
    Năm mười sáu tuổi, cha đưa tôi đến một Trung tâm huấn luyện vi tính, học một khóa máy vi tính. Những mệnh lệnh thao tác khô khan ấy, rất mau chóng khiến cho tôi mệt mỏi chán nản. Dần dần, hễ rỗi rãi là tôi mò đến một quán internet có tên là " Sáng thế kỷ" ở gần đấy, chơi trò chơi điện tử, những kiến thức về máy vi tính học chưa được bao nhiêu, nhưng đã làm cho tôi mê muội trò chơi điện tử thần kỳ xuất quỷ nhập thần này, thường thường chơi thâu đêm suốt sáng.
    Chủ quán internet là người đàn ông trung niên đầu sớm hói, trong rất nhiều dân chơi lên mạng, ông chỉ đặc biệt có ác cảm với tôi, một học sinh này, cứ đi đi lại lại giáo huấn tôi hai câu này: " Ham chơi mất chí, từ này cháu có hiểu không?"
    Trên đời này đâu có đạo lý chủ quán lại muốn đuổi khách hàng ra khỏi cửa? Những lời ông chủ cảnh báo, tôi bỏ ngoài tai, chỉ cốt sao được ở trong quán internet chơi tối ngày sáng đêm.
    Chính vào cái ngày hôm ấy, cha từ nhà quê lên thành phố thăm tôi. Tôi đang mê chơi trò " Xác chết và hiệp khách", đột nhiên nghe thấy đằng sau có một tiếng nói: " Hay! Tinh vi quá, an nhàn quá!".
    Câu nói đó rất quen tai, ở trên thành phố, phương ngôn thổ ngữ cực kỳ hiếm thấy. Tôi ngẩng phắt đầu lên, chỉ thấy cha tôi không biết đã đứng ở sau lưng tôi tự bao giờ. Trong giây phút ấy, tôi có cảm giác kẻ cắp bị bắt quả tang, có tật giật mình, vội đứng phắt dậy, buông thõng hai tay mà đứng nghiêm. Ngược lại, cha lại nắm chặt tay tôi với một thái độ rất lạ lùng, có vẻ say sưa, nói: " Chương Tử, tinh vi quá, nào, tiếp tục chơi!".
    Có nằm mơ tôi cũng không ngờ được rằng cha chẳng những không mắng chửi tôi, mà còn bảo tôi hướng dẫn ông chơi trò chơi điện tử. Cha tôi nói: " Chương Tử, cha mày là lão già nhà quê, chẳng biết chơi trò gì, hôm nay, mày dạy tao chơi cái trò chơi mới mẻ khoa học kỹ thuật cao này đi, để cha mày cũng được thể nghiệm cái thần kỳ của trò chơi trên mạng một tý!".
    Tôi phấn khởi nắm chặt tay cha, dạy ông sử dụng bàn phím như thế nào, rê con chuột như thế nào, đỡ đòn như thế nào, đánh đòn như thế nào. Không ngờ cha tôi lại học nhanh đến thế, chưa đến ba phút, ông đã quên mình đắm chìm vào trong cái trò chơi mê người này.
    Đã mấy lần, tôi đều muốn hỏi ông: " Bố, bố lên thành phố, có mang lên cho con tiền sinh hoạt phí không?" Nhưng, nhìn thấy cha đã mê đến nỗi quên mình, cuối cùng tôi không tìm ra cơ hội mở mồm.
    Nhoáng một cái bẩy ngày đã trôi qua. Trình độ chơi của cha tôi ngày càng cao minh, cũng ngày càng mê say nghiện ngập, mấy ngày đêm liền chơi thâu đêm suốt sáng trong quán internet, không nỡ rời xa nữa. Trong khi đó, trong túi áo tôi chỉ còn lại có ba mươi đồng tiền. Cha tôi mỗi tháng ăn tiêu tằn tiện, gửi cho tôi bốn trăm đồng sinh hoạt phí, ngược lại tôi đã dốc nó hết vào trò chơi điện tử mê người này. Xem ra, mới chưa qua nửa tháng, túi áo của tôi đã rỗng không rồi, vào lúc này lại đòi tiền cha, bảo làm sao mà tôi mở mồm mở miệng ra được chứ? Không ngờ, có một sự kiện phát sinh làm cho tôi trố mắt cứng họng.
    Ngày hôm ấy, cha tôi hỏi tôi: " Chương Tử, trong người còn tiền không? Đưa ra đây, để cha cũng chơi cho đã ghiền!".
    Vừa nghe câu hỏi ấy, đầu óc tôi ong ong lên, cảm thấy như muốn vỡ tung ra. Cha tôi không có bạn bè, không có thân thích trong thành phố, trong người không có tiền, thì ăn gì, ở đâu đây? Trở về nhà thế nào đây? Cha tôi là một quân nhân phục viên, chỉ nghe nói trong thành phố có một chiến hữu của ông tên là Phương Bá Hùng, trước kia cha tôi đã bảo tôi đi tìm bác ấy, nhưng tôi đâu có tâm tư đi tìm những người kiểu cổ bản cứng nhắc như vậy. Cha tôi đã đến thành phố, nhưng cũng không nghe thấy cha nhắc đến bác Phương Bá Hùng ấy, ai biết ở trong thành phố này, cha tôi có một người chiến hữu như thế không?
    Giữa chừng, ông chủ quán internet hói đầu đã đến thúc nộp tiền trò chơi điện tử mấy lần. Mỗi giờ hai đồng, kết toán lại, cha tôi đã nợ tới ba trăm đồng. Trước mắt, cha tôi đã lục hết các túi áo của ông, nhưng chẳng tìm ra một xu nào, lúc ấy tôi mới âm thầm mà cuống quýt lên.
    Ông chủ quán internet quắc đôi mắt hung dữ chưa từng có lên, đe nẹt nói nội trong ba tiếng đồng hồ nếu không trả hết nợ thì sẽ kéo cha tôi lên đồn công an. Cha tôi trố mắt ra nhìn tôi, tôi lấp lé liếc nhìn kiểu cách không đòi được nợ không chịu thôi của ông chủ quán internet, tự nhiên tim tôi đập thình thịch.
    Tôi tháo chiếc đồng hồ đeo tay đã mua bằng tám mươi đồng tiền cha tôi gửi cho, để thế chấp nợ, nhưng ông chủ quán internet vẫn không thèm mảy may để ý.
    Khi ấy, tôi nhìn thấy cha tôi chỉ lên chiếc áo khoác ni lông vừa mới mua hồi tết nguyên đán nay đang mặc trên người, sợ sệt nói: " Hay là, tôi, tôi cởi chiếc áo này gán cho ông?".
    Ông chủ quán internet khịt mũi một tiếng, nói: " Hừ! Một chiếc áo cũ của người nhà quê, thì đáng giá mấy đồng tiền ?".
    Người đến xem vòng trong vòng ngoài, vây kín chúng tôi, đến nước cũng không rỉ ra được. Tôi lao như điên ra khỏi đám đông, đi tìm những bạn học thân quen để mượn tiền, nhưng khi nhìn thấy tôi, họ hoảng hốt tránh xa, như gặp ông thần gây ra ôn dịch.
    "Trời ơi! Lúc này, tôi đến đâu kiếm ra tiền để giải cứu cha tôi đây?". Tôi cuống cuồng như kiến bò trong chảo nóng, nói lẩm bẩm mãi trong lòng.
    Khi tôi trở lại quán internet, những người bao quanh đều xỉa xói cha tôi: " Không có tiền mà cũng chơi trò chơi điện tử cái nỗi gì, hử ông lão nhà quê!". Khi ấy, tôi thấy cha tôi nhếch nhếch mép. Chính trong phút chốc đó, tôi cảm thấy những lời lẽ châm chọc ấy như roi da quất vào mặt tôi, khiến cho tôi vô cùng khó chịu.
    Trong chốc lát, tôi bỗng cảm thấy đau đớn và hối hận đan xen, hai đầu gối quỳ mọp xuống trước mặt cha, nước mắt tuôn rơi như mưa. Tôi đau khổ thất thanh nói: " Bố ơi! Thế là con đã hại bố rồi, con không nên dạy bố chơi trò chơi hại người ấy!".
    Cha tôi cũng nước mắt lưng tròng, ông kéo lấy tay tôi, nói: " Con ơi! Cuối cùng con cũng đã hiểu ra đạo lý ấy rồi, đó là "Ham chơi mất chí" đấy, đến đây, cha giới thiệu với con một người bác, bác ấy chính là bác Phương Bá Hùng - Một chiến hữu của cha mà ở nhà cha đã nhiều lần nhắc với con đấy!".
    Tôi nước mắt lã chã ngẩng đầu lên, nhìn theo hướng chỉ của cha, thì ra là ông chủ quán internet có thái độ khác thường, đang tủm tỉm cười đứng trước mặt tôi. Khi ấy tôi mới bỗng nhiên hiểu ra, ông chủ quán internet này chính là bác Phương Bá Hùng. Khi ấy, tôi cũng mới tỉnh ngộ ra, cha đã chơi trò chơi cuộc đời với tôi, chỉ có điều cha dẫn tôi vào trò chơi này quá ư là chua chát, quá ư là đắng cay…
    Vương Hy Chương

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    2 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #6
    Mẹ phải làm gương cho con
    Đó là một ngày khó quên nhất trong đời bà.

    Buổi sáng tinh mơ đi lĩnh tiền trợ cấp khó khăn ấy, tiết trời cực kỳ trong lành, cả nhà vừa tờ mờ đã thức dậy, ăn cơm sáng xong, bà và con trai thay bộ quần áo tốt nhất, trong tiếng dặn dò “Trên đường cẩn thận” của chồng, ra khỏi cửa nhà, đi đến Cục Dân chính.
    Trong phòng họp của Cục Dân chính đã ngồi kín người, có những cư dân như bà đi lĩnh trợ cấp khó khăn, có cả rất nhiều phóng viên báo chí đến phản ánh việc này.
    Bà và mấy chục người đứng thành một hàng, nhận tiền trợ cấp khó khăn từ trong tay lãnh đạo, những ống kính to to nhỏ nhỏ nhằm thẳng về phía họ, ánh đèn láp nhấp nhoáng hết đợt nọ đến đợt kia. Đứng trước tình cảnh như vậy, trong lòng bà có một dư vị gì đó không thể nói rõ ra được, bà bất giác cúi thấp đầu, rất muốn mau chóng trốn ra khỏi. Trái lại, các phóng viên nhà báo lại yêu cầu họ giơ xấp tiền trong tay họ lên một lần nữa, tiếp đến là một đợt ánh đèn láp lóe lên…
    Bà bỗng nhiên nhớ lại tình cảnh đã xuất hiện trước đây – cũng là vô số ống kính nhắm vào bà, cũng là những đợt ánh đèn lóe lên không mở to mắt được, nhưng hồi đó lưng bà còn thẳng đứng, trên mặt nở nụ cười tươi rói, trên tay là bằng chứng nhận Lao động gương mẫu đỏ chót…
    Dắt tay con trai ra khỏi cổng, nước mắt bà không kìm được cứ trào ra. Trong nước mắt bà, vừa có vị chua cay, vừa có vị xấu hổ, càng nhiều hơn là có vị bi ai của số phận mình.
    Mười tám tuổi bà đã tham gia công tác, hai mươi tám tuổi là Lao động gương mẫu toàn thành phố, ba mươi lăm tuổi vì nhà máy đổ bể nên buộc phải nghỉ việc. Sau khi nghỉ việc, bà và chồng mở một cửa hàng siêu thị. Một ngày sau khi siêu thị khai trương được bốn tháng, bà cùng chồng đi nhập hàng, không may bị tai nạn xe cộ trên đường, từ đó chồng chỉ có thể ngồi trên xe lăn, bà bị què một chân. Sau cơn thập tử nhất sinh ấy, gia cảnh họ sa sút ghê gớm, cả nhà ba miệng ăn chỉ có thể dựa vào tiền bảo hiểm rất thấp của thành phố mà sống.
    Tiền bảo hiểm thấp mỗi tháng chỉ có 300 đồng, ba bữa ăn của cả nhà ba miệng ăn ở cả trong đó, tiền nước tiền điện tiền ga ở cả trong đó, tiền bồi dưỡng của chồng ở cả trong đó, tiền sách vở của con trai ở cả trong đó…Cuộc sống gian nan làm cho bà nghẹt thở. Nhìn chồng không thể động đậy, nhìn con trai mới mười tuổi, bà thậm chí đã từng nghĩ mua phắt một gói thuốc chuột, khi nấu cơm trộn vào trong gạo…
    Khi bà tuyệt vọng nhất, nhân viên công tác trong Ban đại diện dân phố thông báo cho bà một tin tốt lành: Đã liệt kê gia đình nhà bà vào đợt đầu những gia đình được trợ cấp khó khăn của thành phố, bắt đầu từ tháng sau, mỗi tháng nhà bà được lĩnh thêm 300 đồng ngoài số tiền bảo hiểm thấp.
    Đi trên đường phố, bà khẽ khàng lau những giọt nước mắt trên khóe mắt. Con trai kéo tay bà nũng nịu: “Mẹ! Hôm nay chúng ta có tiền rồi, mẹ cho con ăn thịt kho được không?”. Bà nhìn gương mặt bé nhỏ của con, trong lòng thấy chua chát khó nói ra: Tuy nói mình mỗi tuần đã bớt ra ít tiền mua ít thịt cải thiện bữa ăn cho con, nhưng con đang tuổi ăn tuổi lớn, một ít thịt đó với con mà nói có thấm tháp vào đâu?
    Bà dắt con vào chợ, vừa đi vừa tính toán sử dụng hợp lý số tiền 300 đồng trong tay. Đứng trước quầy thịt, bà chỉ vào miếng thịt rẻ nhất, nói với chủ quầy: “Mua một cân này!”.
    Con trai không chịu: “Mẹ ơi! Ít quá!”.
    Bà cắn răng nói: “Vậy thì mua một cân rưỡi!” Sau đó, bà cúi thấp đầu dỗ dành con trai: “Lát nữa mẹ lại mua thêm khoai tây, ninh với thịt thành một xoong, cho thêm hành hoa vào, sẽ thơm ngon lắm đấy!”.
    Xách thịt trên đường về nhà, con trai vẫn không vừa lòng: “Mẹ! Mẹ mua thêm ít nữa đi, nấu một xoong to, cả nhà ăn một bữa kha khá!”.
    Bà cười: “Tháng này tiêu hết sạch tiền, tháng sau không ăn cơm nữa ư?”.
    Con trai ngửng cao đầu nói: “Tháng sau chẳng vẫn phát tiền cho chúng ta hay sao? Tháng này tiêu hết, tháng sau mẹ lại đi lĩnh mà!”.
    Câu nói đó của con trai làm cho bà cảm thấy sốc chưa từng có, phảng phất như có một sợi dây thắt chặt trái tim bà, chặt đến mức không thể nói thành lời. Bà không ngờ con trai lại nghĩ như vậy - Chỉ vì có khó khăn này nọ, là có thể không cần lao động, không cần phấn đấu, là có thể an tâm đắc ý dựa vào sự giúp đỡ của người khác! Lẽ nào, sau này con trai sẽ phải cậy nhờ vào bảo hiểm thấp, dựa vào tiền trợ cấp khó khăn mà sống suốt đời ư?
    Buổi tối hôm ấy, nhìn những đồng tiền mới tinh nằm trên bàn, bà suốt đêm không chợp mắt được, câu mà con trai nói ban ngày cứ vang vọng bên tai bà hết lần này đến lần khác. Bà nói với mình: Tôi biết lao động, cũng có thể lao động, đã từng giành được những danh hiệu vinh dự có liên quan với lao động, lẽ nào bây giờ què một chân thì có thể không lao động ư? Tôi còn có hai cánh tay lành lặn khỏe mạnh, cần phải dựa vào bàn tay của mình mà nuôi sống cả gia đình, nuôi sống con trai! Tôi không thể để cho con trai sau này dựa vào lĩnh tiền trợ cấp mà sống…
    Một tuần lễ sau, tại một góc chợ, bà dựng lên một chõng bán bánh chẻo và vằn thắn. Bánh chẻo và vằn thắn của bà vỏ mỏng, nhân nhiều, hơn nữa tuyệt đối tươi mới và bảo đảm vệ sinh.
    Một năm sau, bà mở một quán ăn sáng, nhưng trong quán chỉ có thể để ba cái bàn vuông nhỏ. Hàng ngày cứ hai giờ sáng bà đã thức dậy, những người vội đi làm ca sáng bốn mùa trong năm đều có thể kịp ăn uống ở cái quán ăn sáng của bà.
    Ba năm sau, bà đã có một cái quán xếp được bảy cái bàn ăn.
    Và sau đó, quán ăn của bà mở trên đại lộ phồn hoa, mặt tiền đường hoàng, có thể nhận đặt những bữa tiệc lớn đủ kiểu…
    Hiện nay, những dịp lễ tết, bà có thể cùng những thành viên Ban đại diện dân phố đi thăm hỏi những hộ bảo hiểm thấp, tặng tiền tặng gạo tặng dầu… cho họ. Ngoài những lời an ủi và động viên chăm sóc, so với người khác, bà còn hay hỏi thêm một câu: “Trong quán của tôi có chỗ làm việc, anh chị có muốn đến làm không?”.
    Đương nhiên, con trai bà đã lớn lên thành một chàng trai, khỏe mạnh cường tráng, giống như những đứa bé khác cùng lứa tuổi. Có điều không giống chúng là, bắt đầu từ lên học phổ thông trung học, mỗi dịp lễ tết hay nghỉ hè, cậu đều làm việc ở trong quán của mẹ, cùng làm những việc như những nhân viên trong quán, cũng nhận lương như họ.
    Con trai luôn luôn nhớ đến chuyện xảy ra khi lên mười tuổi, không phải là cậu ta có trí nhớ tốt, mà là do mẹ hay nhắc lại những chuyện ngày ấy, nhắc lại câu nói mà cậu đã từng nói. Mỗi khi nói hết sự kiện ấy, mẹ thường hay nói thêm một câu:
    - Mẹ không muốn con sau này lớn lên lại trở thành một người sống dựa vào người khác, cho nên, con trai ơi, mẹ nhất định phải trở thành tấm gương của con!
    Con trai nói:
    - Kỳ thực, con ghi nhớ rõ ràng nhất là một sự kiện khác cơ. Ngày đầu tiên mẹ đi bán bánh chẻo và vằn thắn, rất khuya mới trở về, mẹ vừa bước chân vào trong nhà, đến tay cũng chưa kịp rửa, đã đi thẳng đến trước mặt con, đem một tờ năm đồng , một tờ hai đồng và bốn đồng tiền kẽm một hào xếp hàng ngang, chỉnh tề trên mặt cái bàn trước mặt con, nhìn con chăm chăm, nói: “Con trai ơi! Hôm nay mẹ kiếm được tiền rồi, đây là những đồng tiền mẹ kiếm được bằng lao động, không phải do người ta phát cho chúng ta…”.
    Nói đến đây, chàng trai trẻ cao một mét tám, khóe mắt đo đỏ.
    Lưu Hâm

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)
    • 9,797 Bài viết

    • 26,085 Được cảm ơn

    #7
    Đọc xong cảm động quá. Ban tiếp tục post lên cho tôi đọc cùng với. Cám ơn nhiều
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #8
    Người bới rác
    Nơi góc phía tây của thành phố này có một khu chế xuất lớn, số nông dân tới đây tham gia xây dựng, có đến hàng trăm, ông Bát Quý là một người trong số đó, ông tham gia xây dựng trên một khu công trường.
    Tối tối Bát Quý mệt mỏi đến chừng như không nuốt nổi miếng cơm. Đêm khuya, vắng người tịch mịch, khi những người bạn thợ ngủ ngáy như sấm, Bát Quý ngồi dậy, quặt tay về phía sau, đấm lưng mình. Ông không muốn rên rỉ, nhưng nhịn không được, nỗi thống khổ chỉ có thể biến thành tiếng rên, mới có được niềm an ủi thư giãn.
    Có một đêm, ông cai thầu đi kiểm tra, từ rất xa, ông ta đã nghe thấy những tiếng rên kỳ quái, tiếng rên ấy khiến cái đêm rét mướt này cũng phải rùng mình, phát run lên. Ông cai đi đến bên cửa sổ, nhìn thấy một người đang ngồi giữa chiếc giường đơn, đấm đấm lưng mình, mỗi lúc một mạnh hơn, những tiếng rên chính là từ kẽ răng người này bật ra.
    Ông cai rọi đèn pin vào đó, Bát Quý vội vã nằm sập xuống, và đau đớn nuốt nỗi thống khổ vào bụng như nuốt hột óc chó (hột hạch đào), khô khốc, rắn đanh…
    Nhưng ông cai đã nhận ra ông, nên gọi:
    - Bát Quý! Bát Quý! Ra đây!
    Bát Quý đi ra bên ngoài, ông cai nhìn nhìn, ngắm nghía ông, nói:
    - Xem ra công việc ở đây ông không kham nổi đâu.
    Bát Quý cuống lên, nói:
    - Hai hôm nay, tôi có hơi bị cảm…
    Ông cai nhìn những vết nhăn, dúm dó, chằng chịt, trên mặt Bát Quý, hỏi:
    - Thực ra, ông bao nhiêu tuổi rồi?
    Bát Quý đáp:
    - Thì tôi đã chẳng nói với ông rồi là gì? Kém hai tuổi đầy năm mươi!
    Ông cai bảo Bát Quý đi ngủ tiếp, rồi mình cũng rời khỏi công trường…
    Ngày hôm sau, ông cai lặng lẽ tìm ông đảng ủy xã, người đã chứng thực tuổi tác vào giấy tờ của Bát Quý, con số làm ông cai giật mình: Bát Quý đã sáu chục tuổi chẵn!
    Ông cai đi đến bên Bát Quý, ở chỗ cạnh chiếc máy trộn bê tông, mô tơ đang kéo chạy quay tít, trả cho Bát Quý số tiền công gấp đôi, để ông nghỉ việc.
    Ông cai nói:
    - Ông lão ạ, nên về quê mà nghỉ ngơi dưỡng sức, tội gì phải khổ cái thân già thế!
    Bát Quý cầm tiền, đau khổ, bùi ngùi, rời khỏi công trường.
    Ông đi như kẻ mất hồn lạc phách trên đường phố, nghĩ bụng, mình sẽ chẳng còn kiếm ra được công việc gì nữa, bởi công việc ở cái công trường này, ông kiếm ra được đâu có phải dễ dàng gì? Ai ngờ, mới làm chưa được hai tháng, đã bị mất việc. Tất cả chỉ tại cái tấm lưng khốn khổ của ông gây ra! Nghĩ tới đây ông thấy bực mình quá đỗi, ông nắm chặt hai nắm tay đấm huỳnh huỵch vào lưng mình…
    - Ối! Ái!
    Một người đàn bà, chừng ngót năm mươi tuổi đang đứng bới rác trong thùng rác, bên cạnh đấy, nghe tiếng Bát Quý kêu đau thì ngạc nhiên chăm chăm nhìn ông, nhưng chẳng thấy ông có phản ứng gì, nên lại tiếp tục cúi đầu xuống thùng rác, bới bới móc móc. Bát Quý cũng nhìn thấy người đàn bà ấy, rồi ngay lập tức mắt ông chợt lóe sáng:
    - Ờ! Tại sao mình không đi bới rác nhỉ?
    Ngay hôm ấy, Bát Quý đeo chiếc sọt lên lưng, tay xách chiếc túi xác rắn, đang đi xuyên ngang qua một con phố, ông thấy có một thanh niên độ mười tám, mười chín tuổi, đẩy một chiếc xe đạp mới tinh đến trước mặt ông, hỏi:
    - Ông ơi, ông có mua chiếc xe đạp này cháu bán cho?
    Bát Quý cười:
    - Tôi không biết đi xe!
    Cậu thanh niên nói.
    - Không biết đi cũng không sao! Ông để tất cả các thứ lên xe mà đẩy, có phải nhẹ mình hơn không?
    Bát Quý vẫn từ chối, không mua. Cậu thanh niên bật lên khóc, nói rằng mình đói, không có tiền ăn cơm, nên mới phải đem chiếc xe đạp thân yêu quý hóa của mình bán đi, mà chỉ bán lấy một trăm tệ…
    Nói xong, cậu thanh niên giơ cao cánh tay phải của mình lên, ông lão nhìn thấy năm ngón tay của bàn tay ấy đều bị khoèo, co gập lại, đó là dấu tích của một lần bỏng nặng.
    Bát Quý thấy thương cậu thanh niên, đành rút ra cả trăm bạc mua chiếc xe đạp ấy.
    Ngay cả việc đẩy xe, ông cũng không biết đẩy, chiếc xe cứ xiêu xiêu, vẹo vẹo, nghiêng nghiêng, ngả ngả, nhưng rõ ràng là, trên tay, trên lưng, thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Theo thói quen, ông vô tình, vặn lưng mình một cái, ông cảm thấy cái trò chơi này của người dân thành phố cũng là rất hay…
    Ông liêu xiêu đẩy chiếc xe đi qua mấy đường phố. Khi ông đi ngang qua một khu nhà ở tập thể, ông thấy, người bảo vệ khu tập thể bỗng nhảy chồm lên, chộp lấy, và bắt giữ lấy, chiếc xe đạp của ông.
    Bát Quý chẳng hiểu sự thể ra làm sao, nhưng người bảo vệ khu tập thể đã nói:
    - Đây chính là chiếc xe đạp của tôi! Ông đã đánh cắp xe của tôi, ông là tên trộm cắp.
    Mỗi nếp nhăn trên khuôn mặt Bát Quý đều như hằn thêm lên những nỗi ô nhục.
    Ông thanh minh:
    - Đây là chiếc xe đạp của tôi mới mua!
    Nhưng người bảo vệ không cần nghe thanh minh thanh tra gì hết, vứt tung tóe những túi rác xuống mặt đất, đẩy chiếc xe vào bên trong cổng khu tập thể, Bát Quý không chịu, bắt đầu giằng co chiếc xe với người bảo vệ…
    Có thêm hai người bảo vệ nữa chạy ra, lôi luôn Bát Quý tới đồn công an gần đó…
    Chiếc xe đạp đích xác là của người bảo vệ, nó đã bị mất từ hai hôm nay.Nhưng công an cũng tin rằng Bát Quý không phải là kẻ trộm cắp, và hỏi ông là người ở đâu?
    Bát Quý đáp:
    - Tôi là người ở nhà quê, cách đây rất xa.
    Công an đòi ông cho xem chứng minh thư, Bát Quý làm gì có chứng minh thư?
    Công an lại hỏi ông giấy tạm trú, Bát Quý cũng làm gì có giấy tạm trú?
    Họ hỏi ông, hiện đang ở đâu?
    Bát Quý nói:
    - Cứ chỗ nào ngủ được thì ngủ!
    Thì ra, ông là người “ba không”, cần kiểm tra nghiêm ngặt của thành phố này.
    Công an chuyển ông vào nhà gọi là “thu dung tạm giữ”, bảo rằng, trong vòng ba hôm, sẽ thông báo cho người nhà, đến đón về…
    Vợ của Bát Quý đã qua đời từ hăm nhăm năm trước, ông có hai người con, thì người con lớn đã mắc bệnh lao từ mươi năm nay, người con thứ hai đang học thi thạc sĩ ở Bắc Kinh, ông ra thành phố kiếm tiền để chu cấp cho các con, tức là cho con lớn chữa bệnh, cho con nhỏ ăn học…
    Ông ngồi mèm, bó gối, trong nhà tạm giữ, suy nghĩ rất nhiều, ông cảm thấy, trong cuộc sống, dù là có đi đến đâu cũng là sự công bằng của cái số cả. Nhưng có chỗ, ông còn rất lấy làm chua xót, là thứ nhất, người thanh niên kia đã lừa dối ông, thứ hai là người bảo vệ đã gọi ông là tên trộm cắp.
    Ông không phân biệt được thế nào là nhà tạm giữ với nhà tù, chỉ biết rằng mình, hiện nay đang bị giam giữ, và chỉ có người xấu mới bị giam giữ mà thôi, ông cảm thấy như mình đúng là kẻ phạm tội, thật không còn mặt mũi nào, mà đi gặp ai nữa…
    Ông chỉ ở trong nhà tạm giữ có một ngày, công an đã thả ông ra…
    Lúc này, Bát Quý mới chảy nước mắt, cảm ơn không hết lời những người công an.
    Sau đó, ông lại tiếp tục đi bới rác ở thành phố này.
    Vào một buổi chiều bảng lảng nửa tháng sau, Bát Quý đi bán rác, rồi quay trở về chỗ, vẫn là nơi “tạm trú” của ông. Khi ông đi qua một ngõ hẻm, nhìn thấy trong một góc tường khuất, một người mặt mũi đầm đìa máu me, nằm còng queo tại đó, như đã chết, Bát Quý bước gần lại để nhìn cho rõ! Trời đất ơi! Đó chính là cậu thanh niên đã bán xe đạp cho ông. Tuổi trẻ, còn dại mà!
    Ông lấy tay đặt vào mũi cậu ta, vẫn còn thở. Bát Quý buông một tiếng thở dài, đứng lặng một lát, và như trút nỗi bực dọc ra với ai đó:
    - Người đấy…
    Ông vất vả lắm mới đặt được cậu thanh niên lên lưng, cõng thẳng tới bệnh viện.
    Cậu thanh niên, khi lại ăn cắp xe đạp, bị bắt quả tang, và phải ăn một trận đòn đau.
    Bốn trăm tệ tiền viện phí, điều trị, Bát Quý phải trả đủ. Khi cậu thanh niên tỉnh lại trên giường bệnh, nhìn thấy Bát Quý, cậu sợ hãi co dúm vào một góc giường, đau đớn, vò đầu bứt tai khốn khổ.
    Người y tá nói cho cậu biết:
    - Đây là ông lão đã cõng cậu tới bệnh viện.
    Cậu thanh niên bật dậy, từ trên giường tụt xuống, quỳ dưới đất, khấu đầu, lễ Bát Quý.
    Bát Quý kéo cậu ta đứng dậy, trong lòng đau như dao cắt nói:
    - Người đấy!
    Cậu thanh niên thấy mình như không còn đất dung thân, nên nói lại cho Bát Quý nghe về thân thế mình: Cậu ta là người của thành phố này, mồ côi, lang thang, không có nhà cửa gì, ngay từ năm 15 tuổi đã phải đi làm thuê làm mướn kiếm sống, nhưng vì năm ngón tay bị co quắp, khoèo lại như thế, nên mỗi nơi, chỉ làm được vài ba ngày, là đã bị người ta đuổi việc.
    Cậu ta thấy sống không nổi, nên đành phải đi đánh cắp xe đạp. Nhưng là mới đi trộm cắp, chiếc xe bán cho Bát Quý là chiếc xe đầu tiên cậu đánh cắp được, khi đi ăn trộm chiếc xe thứ hai, thì bị bắt, và bị đánh…
    Bát Quý nói:
    - Người càng phải chịu đau khổ nhiều, lại càng phải nghĩ nhiều tới cái đức!
    Cậu thanh niên khóc không thành tiếng.
    Mấy ngày sau, cậu thanh niên khoèo năm ngón tay được xuất viện…
    Từ đó… sau lưng Bát Quý, bao giờ cũng có một cậu thanh niên mười tám mười chín tuổi đi theo, họ cùng nhau đi bới rác, cùng nhau đi ăn uống, đến tối lại cùng nhau chui vào chiếc chăn bông cũ rách, của Bát Quý mang theo từ dưới quê lên. Trước khi đi ngủ, bao giờ Bát Quý cũng nằm cho cậu thanh niên đấm lưng hộ.
    Số tiền bán rác bới được cũng chia đôi. Người thanh niên nhanh chóng trả được, ngoài số tiền 400 tệ viện phí do Bát Quý trả hộ, còn trả thêm cả 100 tệ tiền chiếc xe đạp nữa, sau đó ngoài việc chi tiêu cho ăn uống, sinh hoạt, không đáng bao nhiêu, cậu thanh niên còn có tiền để dành.
    Cậu thanh niên nói:
    - Ông ơi! Vài ba năm nữa, con sẽ cưới vợ, thành gia thất…
    Bát Quý cười khùng khục… Bát Quý cũng cảm thấy hạnh phúc.
    La Vĩ Chương

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #9
    Tình 419
    Lý Tơ Tơ và A Cận là bạn học cùng lớp đại học, sau khi tốt nghiệp cô xin được vào làm ở cơ quan tỉnh, tiền đồ sáng sủa. A Cận chọn đi miền Nam tìm công việc.
    Một năm sau, A Cận có được chỗ đứng ở miền Nam, vì tình yêu, Lý Tơ Tơ từ bỏ công việc nhiều người ao ước, chạy theo A Cận. Không ngờ vừa mới gặp nhau A Cận đã nói lời chia tay. Hóa ra anh ta đã sống chung với một cô gái khác rồi.
    Lý Tơ Tơ vốn là một cô gái có tính tự tôn cao, cô xách hành lý ngay lập tức rời khỏi nơi ở của A Cận. Đêm về khuya, một thân gái nơi đất khách quê người, chẳng biết tìm nơi nào để trú chân đây?
    Cô chậm bước lang thang không biết đi đâu, sau đó khi đã thực sự thấm mệt, cô nhìn thấy bên đường có một quán bar mang số 419, bèn đi vào, gọi một cốc rượu đỏ, ngồi ngây ra trong một góc khuất.
    Bỗng có một chàng trai tuấn tú cầm chén rượu bước tới, anh ta nhìn xuống đống hành lý của Lý Tơ Tơ rồi cười nói: "Em trông giống như một cô công chúa rơi vào cảnh hoạn nạn".
    Lý Tơ Tơ cũng cười phá lên: "Tôi là kẻ hoạn nạn mà, nhưng rất tiếc tôi không phải là công chúa ".
    Họ quen nhau nhau trong hoàn cảnh như vậy. Chàng trai ăn nói rất có duyên và đầy thiện cảm, Lý Tơ Tơ nghĩ mình đã tìm được một người để thổ lộ hết nỗi lòng, vì thế họ uống hết chén này đến chén khác.
    Cũng có thể là do tác dụng của rượu, cũng có thể do trái tim quá đau đớn mà Lý Tơ Tơ đã đem hết chuyện của mình kể cho người đàn ông xa lạ nghe.
    Chàng trai an ủi: "Lúc thất tình không nên đến chỗ này, cô nên tìm một khách sạn để ngủ. Đời người không chỉ yêu có một lần, chẳng có ai rời bỏ ai mà không thể sống nổi". Nói xong, chàng trai đưa cô gái rời khỏi quán bar, gọi chiếc taxi để lái xe đưa Lý Tơ Tơ tìm một khách sạn nghỉ ngơi.
    Tắm nóng lạnh xong, nằm thoải mái trên chiếc giường mềm mại của khách sạn, Lý Tơ Tơ nghĩ, đúng rồi, không có ai rời xa ai mà không thể sống được, không đi nữa, mình sẽ ở lại thành phố này, phải làm cho cuộc sống của mình tươi đẹp hơn để cho A Cận xem.
    Ngày thứ hai, Lý Tơ Tơ bắt đầu đi tìm việc, thật may mắn, cô tìm được việc ở một công ty quảng cáo, làm nhân viên văn phòng.
    Lý Tơ Tơ là một nhân viên có năng lực, có nhiều ý tưởng sáng tạo, dần dần, cô được chọn vào phòng kế hoạch quảng cáo. Một ngày kia, Lý Tơ Tơ đi từ trong hành lang văn phòng công ty ra đón một vị khách. Người đàn ông đó đứng khựng lại, kinh ngạc thốt lên: "Công chúa hoạn nạn!".
    "A, là anh sao?" Lý Tơ Tơ cũng nhận ra người đàn ông đó chính là người mà cô đã gặp ở quán bar 419 tối hôm nào.
    Chàng trai đến để bàn việc quảng cáo sản phẩm. Anh ta tự giới thiệu tên là Đào Lỗi. Cũng vì anh ấy là người đầu tiên Lý Tơ Tơ quen ở thành phố này nên cô cảm thấy anh thân thiết và đáng tin cậy.
    Cuối tuần, Đào Lỗi đưa Lý Tơ Tơ đi mua sắm, đột nhiên Lý Tơ Tơ thấy A Cận đi với một cô gái khác cũng đang tiến tới.
    Lý Tơ Tơ mặc dù đã không còn căm ghét con người ấy nữa nhưng cô vẫn lúng túng, vội vàng kéo tay Đào Lỗi nói: "Anh hãy đóng giả là bạn trai của em nhé, kẻ mặc bộ quần áo âu phục màu đậm đằng trước là người đã phụ bạc em". Đào Lỗi lập tức hiểu ngay, vội kéo Lý Tơ Tơ sát vào bên cạnh mình.
    Qua đoạn đường vòng, Lý Tơ Tơ muốn rời ra nhưng Đào Lỗi vẫn nắm chặt tay cô. Lý Tơ Tơ khẽ nói: "Anh ta không nhìn thấy nữa, có thể bỏ tay ra được rồi".
    Đào Lỗi vẫn không bỏ ra, cười mỉm nói: " Không bỏ là không bỏ, cả cuộc đời này không bỏ".
    Lý Tơ Tơ phát hoảng, tim đập loạn xạ kêu "thùm thụp", cô cũng không còn ý định rút tay lại nữa. Tình yêu là như vậy, đúng lúc không chủ ý, Lý Tơ Tơ đã bước vào tình yêu mới nhẹ nhàng như vậy đấy. Có người hỏi Lý Tơ Tơ, có phải là khi Đào Lỗi đến bàn chuyện quảng cáo, vừa nhìn thấy cô đã yêu anh ta luôn không?
    Lý Tơ Tơ hạnh phúc nói: "Không phải, gặp lần thứ hai mới yêu, bởi vì trước khi gặp nhau ở công ty, trước đấy chúng tôi đã gặp nhau một lần rồi, là quen nhau ở trong quán bar 419 ".
    Mọi người nghe xong liền cùng nhau phá lên cười, nụ cười đầy vẻ chế nhạo mỉa mai khiến cô không hiểu vì sao họ lại cười. Cô hỏi nguyên do, cô bạn đồng nghiệp kia nói: "Chẳng lẽ cậu không biết số 419 mang ý nghĩa gì sao? "
    Lý Tơ Tơ kinh ngạc pha chút hoảng, hỏi: "419 nghĩa là sao?"
    Cô bạn đồng nghiệp nói: "Phát âm số 419 theo tiếng Anh là four one nine với biến âm là for one night nghĩa là tình một đêm đó. Đó là quán bar "tình một đêm". Đây là bí mật công khai, ở cái thành phố này ai mà chẳng biết, người vào đó đều là những người đi tìm kiếm mối tình một đêm".
    Lời của đồng nghiệp như gáo nước lạnh dội lên người khiến Lý Tơ Tơ lạnh buốt từ đầu tới chân. Đào Lỗi chắc chắn biết ý nghĩa của quán bar 419, vậy anh ấy thường vào quán bar đó để làm gì?
    Lý Tơ Tơ cảm thấy thật bất an, cô bèn từ chối những cuộc hẹn hò với Đào Lỗi, thậm chí còn bí mật theo dõi Đào Lỗi. Cô phát hiện Đào Lỗi quả nhiên thường xuyên đi quán bar 419, điều này càng khiến cho Lý Tơ Tơ thêm thất vọng. Ít lâu sau, cô quyết tâm chia tay với Đào Lỗi. Đào Lỗi hỏi lí do tại sao, Lý Tơ Tơ chỉ nói ngắn gọn năm chữ: "Chúng ta không hợp nhau".
    Nhưng tại sao Đào Lỗi lại đi tìm loại phụ nữ tình một đêm? Lý Tơ Tơ thấy thật không thể hiểu nổi.
    Do đó, cứ mỗi tối Lý Tơ Tơ bí mật đến quán bar 419, ngồi ở chỗ khuất, người đứng ngoài không nhìn thấy, đợi xem Đào Lỗi.
    Cô nhận thấy tâm trạng của Đào Lỗi không được vui, lúc nào cũng ngồi một mình ở đó uống rượu, cũng không chủ động làm quen hay nói chuyện với bất kỳ cô gái nào, cho dù có không ít cô gái chủ động đến làm quen với anh ta, trong số đó có cả những cô gái xinh đẹp.
    Dường như Đào Lỗi chỉ thích cái đẹp của tâm hồn chứ không phải hình thức, cho nên anh ta cũng chẳng nói chuyện nhiều với các cô gái đó, cũng chẳng cùng ai sánh vai nhau rời khỏi quán bar. Lần nào anh ta cũng đều ngồi đến 12 giờ đêm mới ra về.
    Điều đó khiến cho Lý Tơ Tơ rất khó hiểu, Đào Lỗi chưa gặp được người mình thích, hay là anh ấy cũng không biết đây là quán bar "tình một đêm", hay chỉ là tâm trạng không tốt nên đi uống rượu?
    Đành như vậy đi, Lý Tơ Tơ giống như bộ đội đặc công, ngồi ẩn nấp ở quán bar khoảng hơn 10 ngày. Cho đến một ngày hình như Đào Lỗi tìm được mục tiêu, chưa đầy mười phút đã rời khỏi quầy bar. Lý Tơ Tơ vội vàng gọi taxi bám đuổi theo xe của Đào Lỗi.
    Đột nhiên Lý Tơ Tơ thấy xe của Đào Lỗi vượt qua đầu chiếc xe chạy phía trước, đồng thời ép chiếc xe đó vào sát lề đường. Bước ra từ chiếc xe đó là một thanh niên có bộ tóc màu đỏ hung, Đào Lỗi chẳng nói chẳng rằng ra tay đấm một cú vào mặt gã thanh niên kia. Hai người đánh nhau rất kịch liệt, gã thanh niên tóc đỏ bị đánh ngã xuống đất, đúng lúc đó cảnh sát cũng kịp thời đến giải quyết.
    Một tiếng sau, Đào Lỗi quay về xe của mình, Lý Tơ Tơ không còn giữ được lòng tự tôn nữa, từ chỗ vắng xa xa chạy tới gọi to: "Đào Lỗi!".
    "Sao em lại ở đây?" Đào Lỗi ngạc nhiên hỏi.
    Lý Tơ Tơ không còn che giấu, bèn kể hết sự tình về những ngày qua bí mật theo dõi cho Đào Lỗi nghe.
    Đào Lỗi cười khổ, nói: "Anh thật không thể nào hiểu được lý do tại sao đột nhiên em chia tay anh, hóa ra là vì anh đi quán bar 419. Ái chà, tại sao em không nói rõ, anh đi quán bar 419 là để bắt kẻ khốn nạn kia".
    Đào Lỗi chậm rãi lái xe, vừa đi vừa kể cho Lý Tơ Tơ nghe một câu chuyện thương tâm. Đào Lỗi có cô em gái tên là Đào Đào, do phát hiện ông chồng không chung thủy, vì muốn trả thù nên đã đi đến quán bar 419.
    Vào tối hôm ấy, nó và tên thanh niên tóc đỏ hung kia đã cùng nhau trải qua tình một đêm. Nó đâu biết được hắn ta không chỉ là một kẻ đi tìm tình một đêm mà còn bí mật quay cảnh ái ân, sau đó tống tiền Đào Đào.
    Đào Đào không chịu trả tiền, hắn liền gửi đĩa hình quay trộm đến cơ quan Đào Đào. Đào Đào không có cách nào khác phải đối diện với cái nhìn miệt thị của mọi người, nên đã tự sát. Đào Lỗi thề sẽ rửa hận cho em gái, anh đã liên hệ với cảnh sát nhờ giúp đỡ.
    Do vậy, chỉ là vấn đề thời gian, nên tối nào anh cũng đến quán bar 419 đợi hắn. Gã thanh niên tóc đỏ hung cũng cảm thấy sự việc xảy ra là một tội lỗi lớn nên hắn biến mất, một thời gian dài không xuất hiện. Nhưng hôm nay, cuối cùng Đào Lỗi cũng đã đợi bắt được hắn.
    Nghe Đào Lỗi kể xong, Lý Tơ Tơ không khỏi nghĩ đến cái ngày đầu tiên đến quán bar 419, nếu lúc đó có người mê hoặc cô, chắc chắn cô cũng sẽ đi tìm kẻ đó trả thù. Bây giờ nghĩ lại cô thấy hối hận, may mắn cho cô đã gặp được Đào Lỗi, được anh đưa cô thoát khỏi quán bar đó.
    Đào Lỗi lại nói: "Anh thường xuyên đến đó, không có việc gì thì ngồi xem người ta, những người đến đấy đều đi tìm tình một đêm, nhìn là biết ngay. Anh cảm thấy em không giống những người bọn họ, nên đã chủ động đến nói chuyện và làm quen với em...".
    "Cảm ơn anh! Chúng mình có thể làm lại từ đầu không? Em đã hiểu nhầm anh nên mới đòi chia tay, anh tha thứ cho em nhé?" Lý Tơ Tơ cẩn trọng khẽ hỏi.
    Đào Lỗi chân thành nói: "Anh quả không nhìn nhầm người, em đúng là một cô gái tốt. Nhưng, khi em và anh chia tay, anh đã rất đau khổ, em còn không cho anh cơ hội để giải thích, em nói xem, nên phạt em như thế nào đây?"
    Lý Tơ Tơ khẽ trả lời: "Tùy anh".
    Đào Lỗi cười, nói: "Vậy đầu tiên anh phải ghi lại câu nói này, cuộc đời dài lắm, cái quyền lớn như vậy anh phải giữ đến lúc quan trọng mới dùng".
    A Từ
    Lý Xuân Thạch dịch

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #10
    Cấp cứu thợ mộc Ngô Nhị
    Chiều 17 tháng 4, sau khi kiểm tra và điều trị cho bệnh nhân nằm ở giường 13 phòng 204, Trần Gia Khánh phát hiện ra giường bên cạnh có một bệnh nhân lạ hoắc nằm.
    Trần Gia Khánh cảm thấy rất kỳ lạ, buổi sáng sau khi bệnh nhân nằm giường 14 vừa ra viện, anh chưa xếp bệnh nhân nào đến nằm. Anh là chủ nhiệm khu bệnh nhân này, lại là bác sĩ trực ban ngày hôm nay, không được anh đồng ý, bệnh nhân không được vào phòng bệnh.
    Anh hỏi hộ lý Giai Huệ, đứng bên cạnh, Giai Huệ cũng nói chị cũng cảm thấy rất kỳ lạ. Trần Gia Khánh nghi ngờ trí nhớ của mình xảy ra nhầm lẫn, anh quan sát kỹ lưỡng khuôn mặt phù thũng nọ, xác nhận mình chưa nhìn thấy bệnh nhân này, quay người đi tìm hộ lý trưởng Hướng Mai. Hướng Mai nói chị chưa xếp bệnh nhân nào đến giường số 14.
    Hướng Mai nói: “Không được sự đồng ý của anh, tôi đâu dám đưa bệnh nhân vào chứ!?”.
    Bác sĩ Trần Gia Khánh lại đến phòng số 204, Hướng Mai cũng vội vàng chạy theo. Trần Gia Khánh hỏi bệnh nhân lạ: “Ai xếp anh vào nằm ở đây?”. Bệnh nhân không nói không rằng, chỉ một mực tuôn trào nước mắt.
    Trần Gia Khánh nói: “Tại sao anh lại không nói chứ?”.
    Bệnh nhân vẫn cứ không nói.
    Trần Gia Khánh quay sang hỏi bệnh nhân nằm ở giường 13.
    Bệnh nhân nằm giường 13 nói: “Tôi cũng cảm thấy rất kỳ lạ, giữa trưa một nam một nữ đưa anh ta vào, đặt lên trên giường, không nói một câu, liền bỏ đi ngay, sau đấy chẳng có ai hỏi han anh ta. Tôi hỏi anh ta, anh ta không nói!”.
    Trần Gia Khánh nói: “Một nam một nữ có phải là thầy thuốc không?”.
    Bệnh nhân nằm giường 13 nói: “Không mặc blu trắng, có khả năng là người nhà của anh ấy”.
    Trần Gia Khánh hỏi bệnh nhân lạ: “Người nhà của anh đâu?”. Bệnh nhân không nói, vẫn chỉ tuôn trào nước mắt.
    Trần Gia Khánh lại hỏi: “Nhà anh ở địa phương nào? Số điện thoại bao nhiêu?”. Bệnh nhân vẫn không nói.
    Trần Gia Khánh cáu kỉnh, nói: “Tại sao anh không nói chứ? Anh tưởng anh không nói, thì chúng tôi cho anh ở lại ư ? chữa chạy cho anh ư ? Hoang đường, còn lâu mới có chuyện này!?”.
    Bệnh nhân đột nhiên thở dốc, sắc mặt trước tiên tím tái, rồi trắng bệch, cuối cùng hôn mê. Hướng Mai và Giai Huệ lúng túng, không biết làm thế nào, đến khi Trần Gia Khánh ra tay làm hiệu cho hai người, họ mới chân tay tất bật cấp cứu bệnh nhân.
    Khi Giai Huệ cho bệnh nhân thở ôxy, Hướng Mai tìm thấy trong túi của bệnh nhân có một quyển bệnh án của bệnh viện số 2 của tỉnh. Bìa cuốn bệnh án, mục họ tên ghi hai chữ siêu vẹo Ngô Nhị, mục nghề nghiệp ghi thợ mộc, còn mục địa chỉ chỉ ghi hai chữ Hà Nam.
    Trần Gia Khánh giở xem bệnh án, bệnh nhân mắc bệnh gan xơ cứng, tĩnh mạch cao áp, đường tiêu hóa bị xuất huyết, chẩn đoán lần cuối cùng là ngày 19 tháng 3.
    Quan sát kỹ chữ ký của bác sĩ, Trần Gia Khánh nhận ra đó là Trần Minh, cùng học lớp bổ túc tại Bắc Kinh, anh lập tức đi ra hành lang, lấy điện thoại cầm tay liên lạc với khu bệnh số 6, bệnh viện số 2 của tỉnh. Người nhận điện thoại chính là Trần Minh.
    Bác sĩ Trần Minh nói: “Khi ấy, chúng tôi cũng hết cách, biết anh ta cứ như thế mà về nhà thì rất nguy hiểm, nhưng anh ta không nộp được kinh phí phẫu thuật, nên đành để cho anh ta về nhà, không ngờ chú và chị dâu của anh ta lại đưa anh ta đến chỗ các vị. Biện pháp duy nhất của các vị bây giờ là tìm cho thấy vợ và em trai anh ta”.
    Trần Gia Khánh nói: “Nhưng, tôi không biết nhà anh ta ở địa phương nào, số điện thoại bao nhiêu!”.
    Trần Minh nói: “Hỏi bản thân anh ta xem sao!”.
    Trần Gia Khánh nói: “Hỏi qua mấy lần rồi, anh ta không nói!”.
    Trần Minh nói: “Thế thì lạ thật nhỉ! Tôi cũng không biết nhà anh ta ở đâu, điện thoại là bao nhiêu, chỉ biết nhà anh ta ở bên bờ sông Đông”.
    Trần Gia Khánh nói: “Bên bờ sông Đông, rộng như thế tìm ra sao được chứ?”.
    Trần Minh nói: “Anh tìm dần dần xem, gặp sự cố bấn bách như thế này, tôi kiểm tra lại xem sao, có tin gì tôi sẽ báo cho anh!”.
    Ngô Nhị vẫn đang thở ôxy, Trần Gia Khánh trở về phòng làm việc, gọi điện thoại cho giám đốc bệnh viện.
    Giám đốc bệnh viện nói: “Tôi làm sao mà trả lời anh được, anh bảo tôi trả lời thế nào đây? Đúng là chuyện lạ trên đời, tôi không biết bệnh nhân vào phòng bệnh bằng cách nào? Các anh làm việc như thế nào hử?”.
    Trần Gia Khánh tắt điện thoại, gọi Hướng Mai và Giai Huệ vào trong phòng làm việc, nói:
    - Lần này, chúng ta gặp rắc rối to rồi, biện pháp duy nhất trước mắt là tìm cho ra gia đình của bệnh nhân, bảo họ đưa bệnh nhân trở về. Trước khi tìm được người nhà của bệnh nhân, chúng ta không thể vất anh ta ra ngoài đường, không thể để anh ta xảy ra chuyện tại đây, Giai Huệ phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, có tình hình gì thì gọi Vương Đồng, vạn bất đắc dĩ phải dùng thuốc tiêm, thì đành phải dùng trước đã!
    Trần Gia Khánh và Hướng Mai đi xe taxi đến Ủy ban phường Đông Viên, Chủ tịch Ủy ban phường họ Lưu nói không biết Ngô Nhị. “Hơn một trăm hộ sống lưu động ở ven bờ sông Đông, chỉ có hai cậu ở Tứ Xuyên giúp chúng tôi khơi dòng sông ở hạ lưu, là tôi biết, còn thì tôi đều không biết”.
    Trần Gia Khánh nói: “Thế thì làm sao đây? Nếu như tìm không ra người nhà của anh ta, thì tôi thật sự không biết làm như thế nào nữa?”.
    Chủ tịch Lưu nói: “Các vị nhất định phải tìm, tôi có thể cùng đi với các vị, song các vị không nên có hy vọng quá lớn”.
    Họ đi ra ven sông Đông, từ đông hỏi sang tây, không có một ai biết Ngô Nhị. Chủ tịch Lưu gọi điện thoại cho cảnh sát khu vực Ngô Quế Bảo.
    Ngô Quế Bảo nói: “Hỏi anh Lý thọt chân ở đầu cầu xem sao, nếu như anh ta không biết, thì các anh đừng có phí công dã tràng, bởi vì anh ấy là ma xó đấy!”.
    Ba người tìm thấy Lý thọt chân ở cửa hàng tạp hóa đầu cầu. Lý thọt chân dẫn họ ra một gian nhà nhỏ ven sông. Cửa ngôi nhà nhỏ khép hờ, Trần Gia Khánh đẩy cửa ra, trong nhà trừ một thùng giấy rách nát, thì chẳng có một tý gì cả.
    Trần Gia Khánh nói: “Thế người đâu?”.
    Lý thọt chân nói: “Tôi chỉ biết anh ta tên là Ngô Nhị, ở tại đây, chuyên môn giúp người ta đóng sàn nhà, ngoài ba điều ấy, tôi không biết gì nữa”.
    Trần Gia Khánh nói: “Thế vợ và em trai của anh ta, họ đi đâu?”.
    Lý thọt chân nói: “Tôi nói rồi, ngoài ba điều vừa nói, tôi không biết gì nữa!”.
    Trở về đến bệnh viện thì trời đã tối. Ngô Nhị vẫn đang thở ôxy. Trần Gia Khánh gọi Giai Huệ vào phòng làm việc.
    - Hỏi anh ta chưa?
    Giai Huệ nói: “Hỏi rồi, vừa hỏi là anh ta lại khóc!”.
    Trần Gia Khánh đi đi lại lại trong phòng mấy vòng, lại gọi điện thoại cho giám đốc bệnh viện.
    Giám đốc bệnh viện nói: “Tôi làm sao mà trả lời các anh, các anh bảo tôi trả lời sao đây?”.
    Trần Gia Khánh bảo Hướng Mai đi gọi bác sĩ và hộ lý khu bệnh 4 đến phòng làm việc.
    Trần Gia Khánh nói với mọi người: “Tôi và Hướng Mai vừa đi trên đường vừa phân tích tình hình, bây giờ cơ bản khẳng định gia đình của bệnh nhân cố ý quẳng bệnh nhân vào bệnh viện chúng ta.
    Không có tiền không chịu đi mượn, không tìm cách khắc phục, lén lút quẳng bệnh nhân vào phòng bệnh của chúng ta, còn mình lủi mất thế là may. Người có chút lương tâm, người có chút trách nhiệm, không thể làm những chuyện như thế này.
    Bây giờ, trước mắt chưa tìm ngay được họ, bệnh viện cũng không thể chi tiền chữa trị cho bệnh nhân. Chọn lựa duy nhất của chúng ta là khênh bệnh nhân đi. Song, chúng ta không thể làm như vậy.
    Bệnh tình của bệnh nhân cũng không cho phép chúng ta làm như vậy. Gia đình bệnh nhân vô lương tâm, chúng ta có lương tâm. Gia đình bệnh nhân vô đạo đức, chúng ta có đạo đức. Chúng ta chẳng những để bệnh nhân ở lại đây, mà còn phải chữa trị cho anh ta, tiến hành phẫu thuật cho anh ta.
    Phẫu thuật, điều trị đều cần tiền, tiền lấy đâu ra đây? Trước mắt biện pháp duy nhất là quyên góp. Trước tiên, tôi quyên góp một ngàn đồng (tương đương 2 triệu VNĐ), mọi người có thể quyên góp nhiều, có thể quyên góp ít, không quyên góp cũng không sao cả, tiền xin nhờ chị Hướng Mai thu nhận hộ”.
    Chuyện các bác sĩ và hộ lý khu bệnh 4 quyên tiền, ủng hộ Ngô Nhị mau chóng lan truyền rộng ra cả bệnh viện. Các bác sĩ, hộ lý, nhân viên bệnh viện, bệnh nhân, gia đình bệnh nhân nô nức đến khu bệnh 4 quyên góp ủng hộ Ngô Nhị. Giám đốc bệnh viện cũng cử chánh văn phòng bệnh viện mang tới 500 đồng.
    Ngay đêm hôm ấy, bác sĩ Trần Gia Khánh triệu tập mấy vị bác sĩ điều trị chính đến thảo luận phương án phẫu thuật. Chồng của Hướng Mai là phóng viên tờ báo “Giang Thành buổi sáng”, đến bệnh viện đón Hướng Mai, biết được chuyện này, ngay trong đêm viết bài “Chú và chị dâu thất đức quẳng người thân ở lại bệnh viện, bác sĩ hữu tình dang rộng cánh tay chi viện”.
    Sau khi bài báo này đăng trên đầu trang 2 báo: “Giang Thành buổi sáng” ngày hôm sau, gây tiếng vang trong toàn thành phố, mọi người nhất trí phê phán hành vi bất nghĩa của em trai và chị dâu, tán dương tinh thần tận tình cứu chữa bệnh nhân của các thầy thuốc, nô nức quyên góp tiền ủng hộ Ngô Nhị.
    Cuộc chiến đấu cấp cứu thợ mộc Ngô Nhị diễn ra rầm rộ, rung chuyển cả khu vực Giang Thành. Các tòa soạn báo viết, đài truyền hình, đài phát thanh, báo điện tử, tuyên truyền toàn diện, nhân rộng phong trào.
    Nhiệt tình quyên góp của nhân dân thành phố như những đợt sóng trào, đợt sóng sau cao hơn đợt sóng trước. Bệnh viện một mặt thành lập văn phòng quyên góp, mặt khác giao cho phòng bảo vệ phối hợp với đồn cảnh sát đi tìm vợ và em trai của Ngô Nhị.
    Ngô Nhị vẫn như lúc đầu, cho dù ai hỏi cũng không nói, chỉ một mực tuôn trào nước mắt. Sau đó, Trần Gia Khánh lo anh ta có thể không chịu đựng nổi, không cho phép mọi người hỏi anh ta nữa, càng không cho phép báo chí phỏng vấn anh ta.
    Sau khi hoàn thành ca phẫu thuật cho Ngô Nhị không lâu, thì Trần Gia Khánh sang Nhật Bản tham gia một khóa bổ túc tại Trường Đại học Quốc gia Y khoa.
    Trước khi lên đường, anh đến phòng bệnh, chia tay Ngô Nhị. Ngô Nhị tuôn trào nước mắt nắm chặt tay bác sĩ Trần Gia Khánh, muốn nói gì nhưng không dám mở miệng.
    Trần Gia Khánh vỗ vỗ tay Ngô Nhị, nói: “Đừng nói nữa! Đừng nói nữa! Tôi biết rồi!”.
    Trần Gia Khánh trong thời gian học bổ túc ở Nhật Bản vẫn thường xuyên gọi điện thoại cho Hướng Mai, cũng không quên hỏi thăm Ngô Nhị.
    Hướng Mai nói: “Bác sĩ cứ yên tâm, anh ta rất khỏe, chúng tôi đã đưa anh ta trở về ven sông Đông rồi!”.
    Trần Gia Khánh nói: “Thế vợ và em trai anh ta thì sao?”.
    Hướng Mai nói: “Vẫn chưa tìm thấy. Chúng tôi đã sắp xếp cho anh ta yên ổn rồi, mua cho anh ta một cái giường và một cái chăn, tiền quyên góp còn dư bao nhiêu cũng đưa cho anh ta cả”.
    Bác sĩ Trần Gia Khánh gặp Ngô Nhị một lần nữa, là ngày thứ ba sau khi từ Nhật Bản trở về.
    Tối hôm ấy, anh cùng bạn học đi ăn ở nhà hàng, đi qua bờ sông Đông, đột nhiên ma xui quỷ khiến thế nào lại muốn đi thăm Ngô Nhị một cái.
    Trần Gia Khánh đi ra bờ sông, nhìn thấy gian nhà nhỏ sáng đèn, đi thẳng tới, đẩy cửa ra, nhìn thấy Ngô Nhị ngồi trên giường, một người phụ nữ mặc áo hoa đang xoa cánh tay cho anh ta, một chàng thanh niên cởi trần đang trồng cây chuối ở góc tường. Trông thấy Trần Gia Khánh tiến vào, chàng trai đang trồng cây chuối bỗng lật người, đứng bật dậy.
    Ngô Nhị vừa đứng thẳng người lên, vừa kêu toáng lên: “Bác sĩ Trần, Bác sĩ Trần!”.
    Trần Gia Khánh cảnh giác nhìn một người đàn bà, một người đàn ông.
    Thấy vậy, Ngô Nhị chỉ tay về phía người đàn bà đứng sau lưng anh, nói: “Đấy là vợ tôi!”, rồi chỉ tay về người đàn ông, nói: “Nó là em trai tôi!”.
    Trần Gia Khánh không nói không rằng, quay đầu đi luôn. Ngô Nhị gào lên nói: “Bác sĩ Trần ơi! Bác sĩ Trần ơi! Hãy nghe tôi nói!”.
    Trần Gia Khánh chạy thẳng lên phía cầu.
    Em trai của Ngô Nhị đuổi theo nói: “Bác sĩ Trần, Bác sĩ Trần, đừng trách anh trai em, đấy là chủ mưu của em bày ra đấy!”.
    Trần Gia Khánh không nói, tiếp tục đi về phía trước.
    Em trai của Ngô Nhị nói: “Nếu như không làm như vậy, đưa anh trai em đến bệnh viện, anh trai em chết là cái chắc. Anh trai em sống chết không chịu đi viện, mà là do em bắt buộc đưa anh đi. Chúng em không thể để cho Bệnh viện tìm thấy chúng em, chỉ cần tìm thấy em và chị dâu em, thì bệnh viện nhất định sẽ bắt bọn em đưa anh trai trở về”.
    Trần Gia Khánh nói: “Nếu như chúng tôi không hỏi han đến thì sao nào?”.
    Em trai của Ngô Nhị nói: “Sau khi đưa anh trai em vào viện, chị dâu em cứ khóc hoài, cứ một mực đòi đến bệnh viện, em nói hễ chị đi thì anh sẽ mất mạng đấy!”.
    Trần Gia Khánh nói: “Thế các người đi đâu?”.
    Em trai Ngô Nhị nói: “Em và chị dâu của em ở trong gầm cầu đối diện với bệnh viện. Chị dâu em ở đầu gầm cầu phía đông, em ở đầu gầm cầu phía tây!”.

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #11
    Chuông gió
    Có 2 chiếc chuông gió treo nơi đầu giường của Tiều Mai. Một chiếc được làm bằng giấy, một chiếc đựơc làm bằng bạc.
    Tiểu Mai và Quân yêu nhau trong cảnh bần hàn. Một hôm, hai người đi chơi phố rẽ vào một cửa hàng thấy trong tủ kính có treo một cái chuông gió. Tiểu Mai buột miệng khen:
    - Anh Quân ơi! Cái chuông gió kia xinh biết bao!
    Quân nói với ngưòi yêu:
    - Nếu em thich anh sẽ mua cho em.
    Nhưng khi nhìn thấy mảnh giấy nhỏ đính trên chiếc chuông gió khi giá 100 nghìn thì anh ngượng ngùng nhìn Tiểu Mai và nở một nụ cười như cáo lỗi với cô.
    Về nhà. Quân lấy giấy gấp một chiếc chuông gió giống hệt như chiếc chuông gió bằng bạc treo ở cửa hàng. Chiếc chuông gió ấy cũng xinh như thế, cũng sơn màu tím như thế và anh đem tặng Tiểu Mai.
    Tiểu Mai đã treo chiếc chuông gió bằng giấy Quân làm tặng cô treo ở đầu giường của mình. Mỗi khi gió từ cửa sổ hé mở lùa vào, chiếc chuông gió đung đưa phát ra tiếng kêu sột soạt, khô khốc nhưng Tiểu Mai nghe vẫn thấy tiếng chuông ngân vang lảnh lót. Cặp mắt Tiểu Mai lúc này ánh lên chứa chan hạnh phúc. Cô tự nhủ: “Mình sẽ mãi mãi treo chiếc chuông gió này trong trái tim của mình”.
    Số phận đẩy đưa thế nào, cuối cùng Tiểu Mai lại ko lấy Quân mà lấy Tân. Khi Tiểu Mai vào phòng riêng của hai vợ chồng, cô liền lấy từ trong túi ra chiếc chuông gió mà Quân làm bằng giấy treo lên đầu giường.
    Tân thấy vậy liền nói vớI Tiểu Mai:
    - Cái chuông này làm bằng giấy thì treo lên làm gì?
    Tiểu Mai bướng bỉnh nói:
    - Nhưng em thấy nó đẹp, em cứ treo.
    Tân nói:
    - Chiếc chuông ấy là do Quân làm tặng em chứ gì? Thảo nào!
    Tiểu Mai im lặng… Cuối cùng Tân thở dài nói:
    - Thôi em cứ treo lên cũng đựơc!
    Hôm sau, Tân ra cửa hàng mua về một chiếc chuông gió được làm bằng bạc. Gió khẽ thổi chuông cũng đong đưa và phát ra tiếng kêu tinh tag, rất vui tai.
    Khi con trai của Tân và Tiểu Mai lên ba tuổi, nó nghịch vặt đi một quả chuông nhỏ trong chiếc chuông giấy rồi xé vụn đi, Tiểu Mai giận quá phát thằng bé mấy cái thật đau. Thấy vậy, Tân chỉ im lặng. Anh lấy giấy ra gấp một quả chuông, cũng tô màu tím rồi xâu chỉ vào chiếc chuông gió rồi treo lên như cũ. Thấy thế, Tiểu Mai rưng rưng nước mắt, cô nói với Tân:
    - Anh thật tốt với em!
    Thằng con trai sợ mẹ, nên ko còn dám nghịch vào chiếc chuông ấy nữa. Nó chỉ nghịch chiếc chuông làm bằng bạc. Nó rất thích nghe tiếng chuông gió kêu tinh tang tinh tang cất lên từ cái chuông làm bằng bạc ấy.
    Nghe chán, thằng bé cũng vặt từ chiếc chuông bằng bạc ra một quả để chơi. Thấy thế, Tiểu Mai cũng ko đánh mà cũng chẳng mắng gì nó. Tân cũng mặc kệ. Anh cũng ko treo quả chuông đó lên chiếc chuông bạc nữa. Thế là chùm chuông bạc ấy thiếu đi một quả. Nó vẫn được treo lên đầu giường cùng chiếc chuông làm bằng giấy. Khi có gió thổi, chiếc chuông gió bằng bạc lại reo lên tinh tang tinh tang từng hồi.
    Rồi ko may, nhà Tân bị hoả hoạn.Tân vội bế con và nắm tay vợ kéo chạy ra ngoài. Nhưng Tiểu Mai lại giằng tay ra và chạy vào trong nhà. Tân kéo vợ ta, Tiểu Mai lại quẩy ra. Cô nói với Tân:
    - Em vào lấy cái này.
    Tân bảo:
    - Để anh vào lấy ra cho!
    Nói xong, anh xông vào căn nhà đang xông khói mù mịt để giật chiếc chuông giấy rồi chạy ra ngoài. Chẳng may, Tân vấp phải ngưỡng cửa ngã sóng xoài. Khi bò dậy đựơc thì ngọn lửa đã cháy xém cả mặt anh.
    Tân thoát ra khỏicửa thì ngất lịm đi, nằm vật ra đất. Chiếc chuông gió được làm bằng giấy vẫn còn nguyên ko mảy may bị suy suyển. Vừa lúc đó thì đội cứu hoả đến. Ngọn lửa nhanh chóng được dập tắt.
    Sau một thời gian điều trị, Tân đựoc tháo băng. Trong gương hiện lên một khuôn mặt nhăn nhúm toàn sẹo. Tân uất ức đấm vỡ tan cái gương. Tay anh bị mảnh kính rạch toạc ra, máu từng giọt, từng giọt nhỏ xuống mặt đất.
    Ra viện, Tân và đứa con bỏ đi biệt tích.
    Khi đi, Tân viết lại cho Tiểu Mai một bức thư:
    “Mai!
    Em hãy đi tìm và sống với Quân, người mà em vẫn yêu đi! Đừng tìm anh làm gì. Em có tìm cũng ko thấy đâu. Cầu mong cho em được hạnh phúc”.
    Tiểu Mai đầm đìa nước mắt, cô nói:
    - Anh Tân ơi! Sao anh lại đối xử với em như thế? Em yêu anh cơ mà!
    Tiểu Mai ấp cái chuông bạc vào ngực mình. Nứơc mắt cô từng giọt, từng giọt nhỏ xuống chiếc chuông bạc.
    Mấy năm sau, Quân li dị vợ. Anh đến tìm Tiểu Mai. Thế là Tiểu Mai lại bứơc vào nhà Quân. Cô lại lấy từ trong túi ra chiếc chuông gió bằng bạc vào treo lên đầu giường. Mặt Quân trắng bệch ra như phủ một lớp băng giá. Quân ko muốn có một kỷ vật gì của người đàn ông khác lưu lại trong nhà anh.
    Cảm nhận được sự lạnh lẽo toát ra từ khuôn mặt Quân. Tiểu Mai thấy rùng mình. Cô lặng lẽ gỡ chiếc chuông gió xuống rồi xếp nó vào trong túi. Sau đó, cô xách túi đi ra khỏi nhà Quân.
    Quân gọi:
    - Tiểu Mai! Em đi đâu? Ở lại đây với anh!

    Tiểu Mai lạnh lùng đáp:
    - Anh đừng giữ tôi lại làm gì!
    Tiểu Mai lại quay về ở trong ngôi nhà của Tân. Cô lấy chiếc chuông gió làm bằng giấy và bật diêm đốt đi. Trong tích tắc, ngọn lửa đã biến cái chuông gió làm bằng giấy thành một dúm tro tàn.
    Tiểu Mai lại treo chiếc chuông gió bằng bạc lên đầu giường. Cô thẫn thờ ngồI ngắm mãi chiếc chuông bằng bạc ấy.
    Gió thổi. Quả chuông lại đong đưa đong đưa. Tiếng chuông lại kêu tinh tang tinh tang theo gió bay đi xa mãi.
    Nước mắt Tiểu Mai lại trào ra, cô lẩm nhẩm gọi:
    “Anh Tân ơi! Anh có nghe thấy tiếng chuông gió tinh tang tinh tang ko anh?”.

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #12
    Có lẽ đây ko phải là một truyện ngắn song mình đọc thấy hay nên post vào đây
    Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ
    (Không rõ tác giả- Trang Hạ dịch)
    Lời người dịch:
    Truyện dài "Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ" đăng tải lần đầu trên mạng Văn học mạng Trung Quốc vào tháng 4 năm 2006. Ngay sau đó, nó trở thành một tác phẩm văn học mạng kinh điển, tuy nhiên tác giả truyện này chỉ xuất hiện một lần duy nhất trên mạng và gần một năm nay không quay trở lại trả lời hàng nghìn lời nhắn. Thậm chí một nickname gửi hộ truyện này tham gia cuộc thi Văn học mạng Trung Quốc năm nay, truyện này hiện đã vào đến vòng chung kết nhưng tác giả vẫn chưa xuất hiện.
    Và cũng không thể tìm ra dấu vết gì trên mạng sau bài viết này.
    Từ ngày đầu tiên dọn tới ở phòng trọ này, tôi đã bắt đầu nghi ngờ căn phòng chứa đồ sát bên phòngtôi bỏ trống không có người. Suốt từ sáng đến tối, bên đó lặng như tờ.

    Tôi không thích cái ghế Sô pha rách trong phòng, cuối cùng một lần đã đòi chủ nhà trọ xem có thể cho tôi vứt cái sô pha vào kho chứa đồ bên cạnh hay không. Chủ nhà liếc mắt hứ một tiếng:

    - Tôi bảo cô bao lần rồi? Cái kho đó cho một cặp vợ chồng làm thuê ở nhờ, có người ở đó chứ!

    Tôi coi như là gặp phải một bà ki bo đặc trưng dân Quảng Đông, thôi thì lần sau sẽ không bao giờ động đến cái loài hẹp hòi nhà bà nữa nhé!

    Hôm đó, tôi đi đổ rác, qua cửa kho chứa đồ, nghe thấy bên trong lào xào, bực mình không chịu được, tôi biết chắc chắn đó chỉ là chuột đang chạy loạn bên trong ị đầy thôi. Tôi cáu kỉnh đá một cái lên cửa, chưa đã bèn đạp mạnh thêm cái nữa.

    Cửa ọt ẹt hé ra, tôi giật thót cả mình. Tôi tưởng mình đã đạp vỡ cửa mất rồi. Đang lúc phấp phỏng, một cô gái ló đầu ra, nói đúng ra thì phải là một phụ nữ hoặc một thiếu phụ, tôi khó mà xác định được tuổi cô ta từ mái tóc buộc đuôi gà rối phồng lên và khuôn mặt còn quá non nớt.

    Cô gái khẽ hỏi: Chị tìm ai?

    Tôi sững người, đứng đờ ra, không biết nên trả lời thế nào.

    Lúc đó, một người con trai nhếch nhác cũng thò đầu ra, hoài nghi hỏi: Chị ở phòng bên cạnh à? Tôi vội sực tỉnh ra ngay, đáp: Vâng, vâng. Người con trai cười hì hì đắc ý: Lần trước đi làm về em đã thấy chị.

    Bầu không khí xung quanh ngưng đọng rất lâu, có một chút ngần ngại. Tôi vội vã nói: Xin lỗi, xin lỗi, làm phiền đến hai bạn rồi. Rồi tôi vội vã cút thẳng về phòng mình. Tôi nghe thấy tiếng họ nhè nhẹ đóng cửa lại, còn nghe thấy tiếng họ lào thào, dường như đang thì thầm với nhau: Có phải chúng mình làm tiếng động hơi to, ảnh hưởng đến hàng xóm rồi à? Thế thì về sau chúng mình phải cẩn thận khẽ khàng hơn nhé! Đại loại là những lời như thế.

    Tôi uống một ngụm nước, im lặng trở lại, tôi mới tin chắc là, trong gian phòng chứa đồ suốt ngày im ỉm tăm tối đó quả thực có hai người đang ở, có lẽ họ chính là đôi vợ chồng làm thuê mà chủ nhà nhắc đến. Tự dưng tôi cười nhạt, lại còn vợ chồng cơ đấy, nhìn thì biết chỉ khoảng 20, chắc trốn nhà đi bụi? Hay là tảo hôn mới cưới? Tôi bất giác cười, tự hài hước nghĩ: Làm thuê cái gì, nhà quê ra tỉnh thì có, nhà quê toàn cưới sớm. Chắc sau này phải gọi đôi này là, thằng cha đấy, con mẹ đấy. Cứ nghĩ ngợi thế, tôi bất giác cười lên thành tiếng.

    Lần đầu tiên tiếp xúc với đôi vợ chồng này là lần tôi quên chìa khoá, không vào nhà được, đành tìm họ mượn dụng cụ, tôi định phá khoá cửa phòng.

    Đó là lần đầu tiên tôi thật sự gõ cửa phòng họ, cũng là lần đầu tiên tôi quá bộ vào cái phòng chứa đồ u ám đấy.

    Cửa mở, đôi vợ chồng họ nhìn thấy tôi dường như có vẻ kinh ngạc vui sướng, vội vã mời tôi vào. Tôi nói lý do sang đây, vợ chồng họ liền quay người đi tìm cái gì giúp. Cửa để mở, bên trong tối mờ mờ, tôi không kìm được liền bước vào một bước. Không biết có cái gì vướng vào chân tôi, tôi cứ tưởng là chuột, sợ hãi kêu lên "ối trời". Một người trong cặp vợ chồng liền bật đèn sáng. Ngọn đèn nhỏ trên trần phát ra thứ ánh sáng hoàng hôn, tôi dám khẳng định loại bóng đèn này không thể quá 10 Wat. Tôi rất nghi ngờ không biết cặp này mua được cái bóng đèn ở chỗ nào, chứ ở cái đô thị phương Nam này tôi thực sự không thể tưởng tượng được lại có chỗ nào bán loại bóng đèn này. Tôi nghĩ không chừng là bọn họ mang từ quê lên đây.

    Tôi nhìn ước lượng căn nhà kho mà tôi từng định vứt mấy thứ tạp nham đồ cũ vào đây. Tôi tính rộng rãi ra, thì cái phòng này cũng chẳng quá 10 mét vuông. Bốn phía không có bất kỳ một cái cửa sổ nào, cửa ra vào là nơi duy nhất có thể thông gió và đi ra đi vào được. Trong phòng có một mùi ẩm mốc, xộc thẳng vào cổ họng, làm người ta phát ớn. Tôi vội vã lùi ra ngoài. Nhưng tôi đã nhìn thấy rõ, trong phòng ngoài một chiếc giường gỗ cá nhân và vài nồi niêu bát đĩa lỏng chỏng dưới đất ra, thật sự không còn chỗ nào có thể đặt chân vào, tôi thật sự bái phục đôi vợ chồng trẻ này làm sao mà có thể sống ở đây được.

    Cuối cùng, đôi vợ chồng tìm được con dao làm bếp của họ, cũng là thứ duy nhất có thể phá khoá được giúp tôi, kỳ cạch bao nhiêu công sức cuối cùng họ cũng giúp được tôi mở cửa. Cửa mở được rồi, tôi lại không hề có ý định mời họ vào nhà. Họ đứng ở cửa, nắm lấy khung cửa, nhón mũi chân, vẻ bẽn lẽn, nhìn ngắm căn phòng của tôi. Người con gái cuối cùng cũng thốt lên một câu: Sao từ trước đến nay chưa được gặp chồng chị? Tôi cau mặt lại bảo: Tôi chưa kết hôn! Người con gái đỏ mặt lên, có vẻ nói hớ mất rồi, bèn cúi đầu, chẳng dám đáp gì. Người con trai ngại ngần nói, thế một mình chị lại ở cái phòng to thế này ư. Tôi chẳng đáp. Cả hai người, hồi lâu chẳng nói năng gì. Không rõ là ai nhìn thấy cái máy tính tôi để trong phòng khách, bèn buột miệng: Ơ kìa, chị có cả máy tính! Tôi hơi ngạc nhiên, lũ làm thuê mà cũng biết máy vi tính cơ à? Tôi bảo, ờ, thế cậu biết lên mạng à? Người chồng gãi gãi da đầu, nói: Hồi chúng em học đại học, có giờ học vi tính, em đã học vài buổi.

    Tôi giật mình toát cả mồ hôi, đại học? Họ mà là sinh viên ư? Thế mà sao trông chả có vẻ gì cả? Trong lòng tôi có cảm giác bị lừa, nên tôi cố ý nói: Thế các bạn đang làm nghề gì? Các bạn tốt nghiệp trường nào đấy? Học khoa gì? Họ mím môi, có một thoáng ngượng ngùng, tôi tưởng thế là các cậu bị lật tẩy rồi, đồ giả dối!

    Đột ngột người con trai cất lời: Chúng em học trường tầm tầm thôi, loại trường dân lập hạng ba ấy mà, em và vợ em vừa học cùng trường vừa là đồng hương, cô ấy học khoa văn, em học khoa Lý. Giờ em làm chân phân phối hàng, cô ấy làm phục vụ ở quán ăn. Tôi bĩu môi, kêu một tiếng, ồ! "Tôi thì tốt nghiệp Cao học ở Đại học **".

    Khi tôi nói xong câu ấy, tôi mới phát hiện, hai người ở cửa đã đi từ lúc nào chả biết.

    Tôi hơi thất vọng, tôi đoán xem liệu họ có nghe thấy tôi đến tên trường Đại học ** nổi tiếng mà ai cũng biết không.

    Mấy năm nay mở rộng tuyển sinh, ra ngõ là gặp sinh viên. Đại học dễ thi vào quá, nhưng kiếm việc thì lại khó khăn hơn nhiều. Sinh viên tốt nghiệp những trường hạng ba, nói thật còn không bằng cửu vạn ngoài đường, sức vóc thì không có, năng lực thì chẳng bằng được ai. Mà học phí của những trường hạng ba đâu có thấp, thậm chí còn đắt hơn những trường đại học danh giá rất nhiều, tôi biết chắc chắn học phí của những trường đó đắt kinh người.
    Nhìn đôi vợ chồng này, xem ra cũng chỉ là con nông dân thôi, ban đầu hẳn họ không hiểu rằng, dù có tiêu sạch cả gia sản, có nắm được mảnh bằng, thì họ cũng chẳng là cái gì trong xã hội này. Mang theo trên lưng cả một gánh nợ lớn, ra đời kiếm việc thì mới nhận ra rằng, sinh viên tốt nghiệp những trường hạng bét thì cũng chỉ cùng tầng lớp với những người làm thuê chưa tốt nghiệp Tiểu học thôi, dựa vào sức lực mà kiếm sống, mệnh còn bạc hơn giấy mỏng, người còn kém hèn hơn cả mệnh.
    Hôm sau, dù trong đáy lòng tôi vẫn lo âu, hai người kia họ biết cách cầm dao phá khoá nhà tôi được như thế, thì liệu có bữa nào lợi dụng tôi đi vắng sẽ quen mui bén mùi tới kiếm chác? Nhưng tôi vẫn thấy dù sao người ta giúp mình thì mình thấy áy náy, bèn mua vài cân trái cây phương Nam đưa cho họ.

    Hai vợ chồng dường như kinh ngạc vì được ban ơn, nói mãi không dám nhận. Tôi bèn bảo họ đây là thói quen người Quảng Châu, được giúp rồi nhất định phải có gì cảm ơn, không lấy là làm tôi mất mặt. Họ nghe rồi mới nơm nớp trân trọng nhận lấy.

    Được một lúc, họ lại đến gõ cửa phòng tôi. Tôi cứ tưởng họ đem quà trả lại, kết quả mở cửa ra câu đầu tiên họ hỏi:

    - Xin hỏi, chỗ trái cây này có thể để được bao lâu?

    Tôi ngạc nhiên nhìn họ, trong bụng hơi bực tức, nghĩ: Chẳng lẽ họ lại bảo là mình mua hoa quả “hết đát” biếu họ à? Tôi đang định cáu, họ nói thêm một câu:

    - Có thể để đến Tết không?

    Tôi sững sờ, họ nói:

    - Tết đến chúng em chả có quà cáp gì mang theo về quê, chỗ trái cây này chắc là rất đắt? Chúng em định cuối năm mang về quê làm quà Tết.

    Tôi dở khóc dở cười, bảo:

    - Quảng Châu trời nóng, làm sao mà để lâu được, vài tuần là thối hỏng hết đấy!

    Họ hơi buồn bã, cảm ơn tôi, rồi về.

    Nhưng rõ ràng tôi nghe thấy người con trai nói với cô gái: Nếu không thì chúng mình tìm cách để dành đến rằm Trung Thu đi, lúc Tết Trung thu có cái ăn cho đỡ thèm.

    Một tháng sau, Âm lịch là 15 tháng 8, cơ quan tôi phát cho mỗi cán bộ một hộp bánh Trung thu, mang bánh về, tôi mở ra ăn thử một cái, cảm thấy không ngon lắm, định mang vứt đi.

    Lúc đi qua gian nhà kho, tôi đổi ý, tôi nghĩ mang vứt đi thì phí quá, họ thì tội nghiệp như thế, thôi thà mang cho họ ăn Rằm còn hơn.

    Thấy cánh cửa khép hờ, tôi không gõ cửa, cứ thể đẩy thẳng cửa vào, ngọn đèn vàng vọt đang thắp trên trần, hai người ngồi xổm trên đất, người con trai đang cẩn thận cắt nhỏ một cái bánh Trung thu bé xíu, đúng lúc định đưa miếng bánh hơi to một tí cho vợ ăn, nhìn thấy tôi đứng giữa cửa phòng, cậu ta luống cuống chẳng biết làm gì, không nói được câu nào. Người con gái đang cúi đầu gặm một miếng trái cây rõ ràng trông đã có vẻ bị thối, ăn rất ngon lành, tôi nhìn thấy cô không gọt vỏ, lựu và thanh long mà ăn cả vỏ.
    Người con trai đờ ra mất năm giây, rồi cuống quýt mang cái miếng bánh cắt hơi to một tí ấy mời tôi ăn, tôi nói tôi không ăn bánh Trung Thu đâu, rồi tôi nói vì sao tôi sang đây. Tôi đặt hộp bánh xuống cửa rồi chuẩn bị đi ra. Cô gái gọi tôi lại:

    - Chị, em chẳng biết nói thế nào hơn, chị xem, trái cây chúng em ăn cũng là chị cho, chị còn mang bánh Trung thu đến cho chúng em nữa, em không biết làm gì để báo đáp chị, thực ra hôm nay chồng em được công ty phát một chiếc bánh dẻo, chúng em bàn nhau là mang đi biếu chị, nhưng biếu có một cái thì chẳng bõ bèn gì, nên vợ chồng em ngượng, chúng em cũng không có quà gì quý nữa, nếu mà chị có việc gì cần giúp, chúng em sẽ sẵn sàng ngay!

    Lúc đó tôi mới biết, cái bánh Trung thu kia là cậu chồng được công ty phát, tôi cũng lúc đó mới biết, trái cây cô vợ ăn là của tôi tặng tháng trước. Tôi vốn định bảo: Ăn thanh long thì phải bỏ vỏ đi. Nhưng tôi nhịn không nói, tôi ra về.

    Cuối tuần, cô gái sát vách tới gõ cửa, hỏi tôi có việc gì mà họ có thể giúp không, tôi cười bảo không. Cô nhanh mắt nhìn thấy trên sô pha nhà tôi chất một đống quần áo bẩn, nằng nặc đòi giặt giúp, tôi nói tôi có máy giặt rồi, chờ tí nữa đem vứt vào máy giặt là xong, không cần phải nhọc sức. Cô ngần ngại đứng ở đó, có vẻ như áy náy, không biết nên làm gì.

    Lần đầu tiên tôi rất nhiệt tình mời cô vào nhà, ngồi xuống. Cô bỏ giầy, chân trần bước vào nhà. Rón rón rén rén như thể sợ làm bẩn sàn nhà tôi, không dám dẫm cả bàn chân xuống. Cô không biết chứ thực ra tôi đã hơn tuần nay có lau nhà đâu.

    Cô nói cho tôi biết, hôm nay cô xin nghỉ ca, vốn định giúp tôi làm việc nhà, nhưng không ngờ chẳng giúp được gì. Cô có vẻ rất xấu hổ, cứ lí nhí trảlời tôi. Cô ngồi ở nhà tôi nửa tiếng, kể cho tôi hoàn cảnh của hai vợ chồng, khi nói những điều đó giọng cô vô cùng dịu dàng, dường như khi kể câu chuyện, cô không để tôi thấy những oán trách và khổ cực của cô.

    Cốc nước tinh khiết tôi rót cho cô, cô cứ cầm mãi trong lòng tay, lúc sắp về, cô nhìn tôi, tôi gật đầu tỏ vẻ đồng ý, cô liền mang về cả cái cốc nhựa mỏng dùng một lần chứa đầy nước tinh khiết ấy. Tôi đoán, cô sẽ để dành cho chồng về uống.

    Từ hôm đó tôi mới biết, chuyện hai người đó thế này:

    Cả hai đều con nhà nông dân, bố mẹ là nông dân chính gốc suốt đời bám một mẫu ba đất ruộng, thu nhập cả năm của gia đình chưa bao giờ vượt quá 2.000 tệ ( tương đương 4 triệu VND), họ lại thi đậu vào một trường đại học dân lập loại xoàng, học phí mỗi năm bằng bố mẹ không ăn không uống để dành 5 năm. Học không giỏi, không muốn học đại học, nhưng bố mẹ không chịu, nói đây là cơ hội duy nhất để thay đổi số phận nông dân của con, rồi quỳ xuống xin con đi học. Lên đây học rồi, thì không có tiền nộp học phí, may còn được vay nợ ngân hàng trả chậm, khó khăn lắm mới vay được nhờ bảng thành tích học tập khá giỏi. Nhưng khi tốt nghiệp đại học, chỉ vì chưa trả hết nợ ngân hàng nên bị giữ tấm bằng tốt nghiệp lại. Suốt bốn năm đại học sống vất vả dựa vào nguồn tiền vay hỗ trợ học tập, đến giờ, tất cả những công sức bỏ ra không đổi lại được mảnh bằng tốt nghiệp kia. Vì thế họ chỉ còn cách ra đường làm thuê kiếm tiền, nhặt nhạnh gom góp để mong đủ để chuộc lại tấm bằng đại học.

    Họ thuê căn phòng rẻ tiền nhất thành phố, ăn những bữa cơm rau rẻ tiền nhất thành phố, sống một cuộc sống cơ cực nghèo khổ nhất thành phố, nhưng một năm vỏn vẹn chỉ góp lại không đủ một vạn tệ. Cứ thế này, thì trả hết nợ của cả hai vợ chồng còn phải mất 8 năm nữa.

    Tôi không biết 8 năm có ý nghĩa thế nào với tuổi thanh xuân của một con người, cũng không biết sau 8 năm liệu họ có quyền chuộc lại tấm bằng đại học không. Nhưng tôi biết sống như thế này tiếp 8 năm, thì không phải bất kỳ người nào cũng có thể cầm cự được!

    Hôm đó, khi tôi về phòng, hơi muộn, ngọn đèn hành lang toà nhà đã được bật lên, khi đi qua cửa gian chứa đồ sát phòng tôi, nhìn thấy họ đang mở cửa, trong phòng vẫn tối âm u như cũ, người con trai ngồi xổm ở cửa ăn mì sợi, và từng miếng to từng miếng to, say sưa ăn ngon lành. Tôi hỏi một câu:

    - Đèn hỏng rồi à?

    Ban đầu, cậu hơi ngần ngừ một chút, rồi cười ngượng ngùng:

    - Không, tiết kiệm điện, vì đèn cầu thang cũng sáng lắm, mở cửa, trong nhà cũng đủ sáng lắm rồi.

    Tôi cười. Tôi giờ mới biết, chả trách nhà họ suốt ngày chẳng bao giờ bật đèn.

    Đêm đó, cửa phòng họ cứ mở toang đến tận khuya. Tôi ngồi ở phòng khách nghe được tiếng họ thì thầm lúc được lúc mất.

    Đầu tiên họ nói chuyện một lúc, tháng này đã tiêu bao nhiêu tiền, đại loại xà phòng dùng hơi nhanh hết, vừa rồi sinh nhật anh đáng lẽ chúng mình không nên mua 1kg thịt, về sau này nước rửa rau mình có thể rửa mặt, nước rửa mặt mình có thể tắm, rửa chân tay, nước rửa chân mình có thể dùng giặt tất, nước giặt tất mình có thể dùng để dội hố xí… v.v…đại loại là những chuyện như vậy.

    Họ vừa tự ngồi trách mình đã tiêu quá nhiều tiền, vừa không nén được ngồi nghĩ tới một tương lai tươi đẹp.

    Họ tưởng tượng, trong một tương lai nào đó gần thôi, có thể là khi đã trả hết nợ, họ có thể đẻ một đứa con, thậm chí có thể tương lai nào đó, họ sẽ dành dụm tiền để mua một căn phòng.

    Nghe những tiếng thì thầm vui sướng của họ, tôi mãi vẫn không thể nào chợp mắt.

    Nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng người con trai kêu đau bụng, dường như có vẻ đau rất kinh khủng, “ái chà, ái chà” cứ thế kêu. Người con gái cuống lên, hỏi anh làm sao đấy? Người con trai nói hình như là tối nay anh ăn no quá, chướng bụng. Cô gái vội kêu, anh mau ra nhà xí đi ngoài thôi.

    Người con trai chần chừ rất lâu, dường như không muốn đi, hồi lâu, tôi nghe người con trai nói: Anh không muốn đi ngoài, chúng mình tiết kiệm nước dội nhà xí vẫn không đủ đâu, thế là tháng này tiền nước lại trội lên thôi. Mà còn nữa, nếu đi ngoài xong, bụng rỗng rồi, thì đêm nay dễ đói lắm!

    Nghe đến đây, đầu óc tôi choáng váng, trống rỗng, trái tim tôi bị thụi một cái đau buốt, câu nói đó trở thành ác mộng suốt đêm của tôi: Đi ngoài hết rồi, anh sợ đói! Nghe câu nói đó, trái tim tôi đau buốt. Tôi nhớ đến ông nội tôi.

    Ông nội tôi sống khổ cực trong xã hội cũ, cái thời ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, quanh năm trẻ con vàng mắt ra đợi Tết, vì Tết được ăn một bữa cơm no!

    Vì thế, mỗi năm vào ngày Tất niên, trẻ con đứa nào cũng ăn no, cái bụng nhỏ tròn căng, bụng có chướng đến thế nào cũng dứt khoát không chịu đi ngoài. Bởi vì, đi ngoài hết, bụng trống rỗng rồi, sẽ dễ cảm thấy cơn đói, nhưng Tết qua rồi, không còn cơ hội được ăn một bữa no nữa! Vì thế đứa trẻ nào cũng nhịn, cũng nín, bởi vì những năm tháng đó, nghèo, người người sợ đói, trẻ con càng sợ đói!

    Nhưng giờ đã là thế kỷ 21, những năm phát tài no đủ, anh lại nghe thấy từ miệng một sinh viên tốt nghiệp đại học cái câu nói đó, anh sẽ có cảm giác gì? Cảm động? Đau khổ? Hay là chua xót? Hay là thương hại nhưng chẳng làm gì được?

    Hay là tất cả mọi cảm xúc đó? Hay là chẳng có cảm xúc nào?

    Tôi không có thời gian để quan tâm đến nỗi lòng một kẻ hèn kém, vì xã hội nó đã như vậy, tôi cũng lực bất tòng tâm thôi. Cái duy nhất tôi có thể biểu lộ, ngoài ái ngại ra thì cũng chỉ có ái ngại.

    Tôi cũng từng khinh bỉ họ, thậm chí còn nhục mạ họ từ trong đáy lòng tôi: Đáng kiếp mày! Ai bảo mày không đủ tài thi vào một trường đại học danh tiếng nhất cơ! Không có tiền thì học đại học cái cứt ấy, mình làm thì mình chịu chứ trách ai!

    Nhưng tôi cũng không thể không thừa nhận rằng, một đứa trẻ từ miền sơn cước, nông thôn nghèo khó, không thể chỉ dựa vào trí thông minh mà có thể với tới cánh cổng trường đại học danh tiếng; Nó đòi phải có năng lực và thực lực; Thực lực đến từ một nền giáo dục tốt toàn vẹn, những thầy giáo ưu tú, và còn rất nhiều rất nhiều, như tiền chất thành núi để vào những lớp luyện thi tốt, như một nền giáo dục đa chiều và toàn diện mà chỉ những đứa trẻ thành phố mới được hưởng, như phải có những ông bố bà mẹ có quyền có chức hiểu biết v.v…

    Hai bạn trẻ này đều không có, họ chỉ là những đứa con nông dân, họ không có tư cách cũng như quyền lợi để có, không ai mua sách tham khảo, tài liệu học tập cho họ, cũng không có những thầy cô giáo ưu tú.


    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 22 Bài viết

    • 0 Được cảm ơn

    #13
    Thuong doi vo chong nay qua .
    • 639 Bài viết

    • 225 Được cảm ơn

    #14
    Cảm động nhất là truyện "Người mẹ điên".
    Thanks chủ topic nhiều :Smiling:
    • 11 Bài viết

    • 1 Được cảm ơn

    #15
    chipyeu oi, truyện "đôi vợ chồng..." đó còn tiếp nữa không? Hay quá à, thanks nha
    • 442 Bài viết

    • 191 Được cảm ơn

    #16
    Hay qúa, xin phép chủ topic cho em in ra cho con gái em đọc. Cảm ơn chủ topic nhiều nhiều :Smiling:
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #17
    Trích dẫn Nguyên văn bởi tobe101 Xem bài viết
    chipyeu oi, truyện "đôi vợ chồng..." đó còn tiếp nữa không? Hay quá à, thanks nha
    Còn bạn à, như mình đã viết, đây là truyện dài, ko đúng với topic là truyện ngắn nhưng mình đọc thấy hay và cảm động nên post lại nên đây. Mình sẽ tiếp tục post tiếp nhé

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #18
    Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ
    Hai bạn trẻ này đều không có, họ chỉ là những đứa con nông dân, họ không có tư cách cũng như quyền lợi để có, không ai mua sách tham khảo, tài liệu học tập cho họ, cũng không có những thầy cô giáo ưu tú cầm tay chỉ dạ, họ chưa từng được nhìn thấy đàn Dương cầm, họ chưa được thấy máy vi tính. Thậm chí ngoài Bí thư chi bộ thôn, họ chưa từng quen bất kỳ một công chức cán bộ nào.

    Họ từ sáng đến tối chỉ biết đọc mỗi sách giáo khoa, chỉ biết học cật lực, chỉ biết rằng thi đỗ được đại học mới có thể thay đổi được số phận họ.

    Nghe họ ngọng nghịu nói tiếng Anh, trúc trắc tiếng Hoa phổ thông, quần áo hơi nhếch nhác, toàn đồ lỗi thời sờn vai, chúng ta vẫn thường không nén được tiếng cười.
    Chúng ta thích thú đàm tiếu sau lưng những người ấy, thích mỉm miệng giả cười như kiểu thiếu nữ để trêu chọc sự ngốc nghếch của họ, thậm chí chúng ta thích cố tình hỏi họ có đi ăn Mc’Donald với ta không, chúng ta quen nhìn thấy họ phải ngần ngại, quen thấy họ bơ vơ, quen với việc những người nhà quê thua thiệt ấy mất nhiều được ít.
    Khi chúng ta có quá nhiều những thói quen như thế, chúng ta sẽ bắt đầu không để ý xem họ có đói không, lúc chúng ta lãng phí thức ăn thì họ còn nghĩ thầm đâu đó: Không dám đi nhà xí, sợ đi ngoài hết rồi, đói!

    “Một con người có thể đem đi so đọ với một con người không? Không thể so đọ! Một đứa trẻ nông thôn thì nên so sánh cái gì với một đứa trẻ thành phố? Mà không cần so sánh!” Đó là một câu ngày xưa một người bạn tôi hay nói, ngày đó tôi chỉ thấy ngộ nghĩnh, giờ nhớ lại, thấy trong lòng chỉ còn chua chát khó chịu.
    Con người thực sự phân đẳng cấp ư? Ai phân chia? Phải chính là bạn không?



    An ninh ở Quảng Châu càng ngày càng tồi tệ, trọ trong những phòng trọ thế này, thật sự là có vẻ khá liều lĩnh. Tuy nhiên trước mắt tôi không tìm ra nơi nào thích hợp hơn để chuyển đi, đành chấp nhận tạm.

    Chung cư này có mười mấy bà chủ có phòng cho thuê, họ ngày ngày vây quanh bàn mạt chược chầu chực, vả lại có bị trộm cắp gì thì cũng chả phải đồ nhà họ. Cuối cùng, dưới sự đòi hỏi của vài khách trọ chúng tôi, chung cư đành thuê thêm một bảo vệ.

    Lúc tôi tan giờ làm về, thấy dưới nhà đang ồn ào xôn xao, hoá ra bảo vệ bắt được một đứa nghi là trộm. Tôi hiếu kỳ dòm vào, nào phải ai xa lạ đâu, chính là anh chồng dáng vẻ yếm thế trọ bên cạnh phòng tôi. Anh ta đang cúi gằm, cố gắng phân bua: Tôi không phải là kẻ trộm, tôi sống ở đây mà.

    Nhưng không ai tin anh ta, vì khi bảo vệ hỏi trú ở tầng nào, phòng số mấy, anh ta chỉ nói được là ở tầng 6, mà chẳng nói được số phòng. Kho xép chứa đồ làm gì có số phòng!

    Anh ta như một đứa trẻ sợ sệt, mắt hoang mang nhìn khắp mọi người chung quanh, nghe những lời xì xào tiếng Quảng Đông đặc sịt giọng, anh ta cố gắng giải thích như thể kẻ tội đồ giãy giụa lần cuối.

    Tôi định bước qua, anh ta đã nhìn thấy tôi, mắt tràn ngập hy vọng, con ngươi đựng lệ, như ánh lên một thứ cảm kích. Tôi ngẩng cao đầu với ánh nhìn luôn thẳng và xa, phát hiện toàn bộ đám đông đang quay nhìn tôi chằm chằm.

    Tôi do dự, lập tức đứng lại trên đôi giày cao gót đế 8 phân. Tôi khẽ liếc xuống bộ đầm hồng của mình, mặt thoáng qua một vẻ hãi hãi và sợ sợ mà người khác khó phát giác thấy. Tôi định quay đầu đi thẳng về cầu thang, giả như không thấy gì hết. Nhưng không sao nhấc nổi chân lên, tôi chết đứng ở đó nửa giây.

    Tôi cố gắng thấp giọng, lịch sự từ tốn nói: Sao cậu toàn để quên chìa khoá thế nhỉ? Chắc lại vứt đâu rồi chứ gì? Bực mình cậu quá!

    Bảo vệ buông anh ta ra, tôi mỉm cười bảo: Anh này là họ hàng xa của tôi. Xin lỗi bác nhé, phiền bác quá.

    Tôi quay đầu, dẫm gót giầy nhọn lên gác, cầu thang buông lại những tiếng lọc cọc.

    Khi cô vợ quay về, cô cứ đứng mãi trước cửa nhà tôi, cách một cánh cửa và luôn mồm nói: Cảm ơn chị. Tôi không đáp trả. Một lúc sau, dường như cô ta về rồi, tôi mở cửa, bỗng thấy hai vợ chồng vẫn đứng trước cửa, tay nâng một vốc to lạc và táo.

    Tôi nhìn họ, không mở cửa, họ cũng không dám nói là cho tôi. Chỉ một mực giải thích: Lúc chiều, anh chồng định nhặt mấy vỏ chai nước dưới tầng, nếu biết trước là không được nhặt, anh bảo anh hẳn sẽ không xuống nhặt rồi.

    Tôi vốn định ngắt lời cô vợ, bảo họ: Không phải là người ta không cho nhặt, mà bởi trông các bạn không giống vẻ người sống ở nhà này. Nhưng tôi nén được, nghe họ nói tiếp.

    Họ bắt đầu cúi gằm, nhỏ nhẹ bảo: Họ cũng biết thói quen ở đây, ai giúp gì thì nhất định phải cảm tạ, nhưng họ chả có gì trong tay, đây là ít đặc sản ở nhà gửi lên, đều là nhà trồng được, chưa hề bón phân hoá học, xin tôi cứ yên tâm ăn.

    Tôi mở cửa, lấy một tờ giấy, bảo họ để các thứ lên trang A6 trắng tinh đấy.

    Chỗ lạ và táo nhỏ đấy tôi không ăn, tôi cứ để đó, nhìn ngắm. Chúng trơn nhẵn, ánh bóng lên, có vẻ mong mỏi, to đều. No căng.


    Chủ nhà trọ rốt cuộc đã mò lên, rất thẳng thừng nói ngay câu đầu tiên: Nhà cô có thêm người mới đến à? Tôi thừ ra một lúc lâu, mới nhớ ra, có lẽ ông cảnh vệ mách ông ta.

    Tôi kể toàn bộ sự tình cho chủ nhà, đồng thời hỏi chủ nhà có thể treo thêm biển số phòng cho phòng bên đó không, chủ nhà miễn cưỡng bảo “Ừ” rồi đi xuống.

    Hôm sau, tôi thấy đúng là trên phòng bên đã dán thêm tờ giấy lên cửa, viết: “Phòng cất dụng cụ vệ sinh”.

    Được vài ngày, lũ bạn thân hồi đại học và thằng người yêu mới tìm xuống Quảng Châu chơi, tôi bị bắt phải nghỉ một ngày phép đón chúng nó.

    Chọn đại một quán định mời chúng ăn đồ ăn Quảng Châu, nhưng bạn tôi chê đồ ăn Quảng Châu nhạt nhẽo, chỉ ăn mấy miếng bèn gọi nhau đi, rồi sang quán bán đồ ăn Hồ Nam, mới vừa miệng chúng nó. Ăn xong, chả có việc gì, lại không dám xách túi dạo phố, chúng tôi tìm quán Karaoke Party World, hát đến nửa chừng, lại ngẫu hứng nhảy sang quán Karaoke Triều Ca, đổi đi đổi lại, hát không mấy bài, lại mất thời gian.


    Tối về nhà, đã rất muộn. Nhưng tôi thấy phòng bên đèn vẫn sáng, trong phòng còn vọng ra tiếng thút thít.


    Tôi kệ âm thanh đó, mở cửa, cho đám bạn vào. Bạn tôi vào phòng liền bật máy tính, mở nhạc bài “Không sợ không sợ” rất to, chấn động cả tầng lầu.


    Dưới nhà cuối cùng cũng không chịu nổi nữa. Lên gõ cửa, bảo lũ chúng tôi khẽ đi. Tôi tắt nhạc, ngồi tám về đôi vợ chồng phòng bên. Lũ bạn cứ tưởng tôi đang kể chuyện, vừa bảo nhảm, vừa tìm thuốc châm hút. Tôi ghét nhất là mùi thuốc lá, vì khói thuốc làm chảy nước mắt. Tôi đuổi bạn khỏi cửa, bảo nó ra ngoài hút đã đi rồi vào.

    Khoảng nửa điếu thuốc cháy, bạn tôi cuống quýt gõ cửa, hào hứng gọi tên anh người yêu, bảo ra đây mau lên nghe ca kịch.

    Hai đứa họ ra ngoài, rồi im ắng như tờ. Rất lâu mới trở lại.

    Bạn tôi quay vào liền tới ghé tai tôi: Mày đừng giả vờ nữa, có phải buổi tối không có việc gì làm, mày toàn sang phòng bên nghe nhạc chứ gì? Tôi còn không kịp định thần, họ đã cười phá lên. Bọn này cứ thế thôi, bực mình lắm chuyện quá.

    Sau tôi biết, hoá ra bọn họ ra ngoài ngóng động tĩnh phòng bên. Nhưng động tĩnh gì thì tôi không hỏi, nhưng tôi nghĩ, có lẽ là gì đó có liên quan đến màu sắc..

    Đêm không ngủ được tôi cầm cuốn “Lolita” xem đôi trang, rồi bắt đầu lơ mơ. Khi mơ mơ hồ hồ vào giấc ngủ, tôi hình như nghe tiếng động phòng bên, tiếng nhỏ nhưng mê ly.

    Bạn tôi ở không đến ba ngày, tôi đã bắt đầu thấy chán, tôi thấy sự yên tĩnh trước đây bị phá vỡ, mà một cô gái độc thân thấy một đôi tình nhân cứ lượn qua trước mắt thân mật, dễ trúng gió mất thôi!

    Tiễn bạn đi, tôi bắt đầu trở nên khó tính, tôi thường cố ý đóng cửa thật mạnh, cố ý đóng mở cửa sắt thật nhiều, cố ý để mọi người biết tôi đang bực, cố ý để bất cứ ai cũng biết tôi đang cau có.

    Đôi vợ chồng trẻ phòng bên mỗi lần gặp tôi vẫn cười, có chút ngượng ngùng bẽn lẽn. Anh chồng trên máy tóc rối bù có dầu vẫn dính ít gàu trên đuôi tóc, đuôi tóc tết của cô vợ vẫn bùng lên đằng sau như cũ, như lá thu bay tơi tả.

    Nhưng tôi thấy họ, tôi không cười, cũng không còn nghiêm mặt như xưa, tôi chỉ lạnh lùng gật đầu, dùng gót giày mình gõ mạnh lên nền, nhanh chóng đi qua họ. Mỗi lần cúi xuống, nhìn đôi giầy gót cao 8cm của mình, tôi mới hoảng hốt thấy, thực ra nếu không có đôi giầy này, dường như tôi cũng chẳng cao!
    Rồi sau đó là một chuỗi những mất mát và u uất triền miên! Tôi đoán, chỗ quà kia hẳn họ từng tỉ mỉ lựa ra. Hẳn phải một bao tải mới chọn được từng đó táo và lạc.
    Nghĩ đến đây, tôi bật cười. Chẳng mấy chốc tôi lại hối hận, mình đáng lẽ không nên cười họ!

    Có những ngày thế này, cánh cửa đó khép im ỉm, trong phòng đó không có ánh đèn, tôi úp mặt vào khe cửa dòm, không nhìn thấy bên trong có bất cứ thứ đồ gì. Có mấy lần, tôi thậm chí dán tai nghe, chẳng hề có chút động tĩnh. Tôi bắt đầu lo sợ, lo ngại họ đã lẳng lặng dọn đi rồi.
    Thậm chí tôi bắt đầu oán trách, vì sao khi đi chẳng chào hỏi gì. Tôi không biết làm sao, loanh quanh ra vào phòng mình, vầy vò cái gối, mạnh tay gõ vào bàn phím, viết những blog sắc nhọn, dùng ánh mắt miệt thị dòm xung quanh.
    Tôi phát hiện đã lâu tôi không còn xúc động, thậm chí có lẽ nói bao năm nay tôi không hề bồn chồn thế này rồi. Bỗng dưng tôi thấy đau buồn. Như thể mất đi thứ gì quý báu, như thể ai cướp mất một cảm xúc của tôi. Tôi bắt đầu nguyền rủa, bắt đầu lăng mạ, bắt đầu chán ghét cái thế giới này.
    Hàng ngày tôi đều đứng dựa cửa, hy vọng đột ngột có người ra trước mặt tôi cười, và không kìm được tôi lại ngó cánh cửa đó, hy vọng chút ánh sáng vàng vọt nào hắt ra nhè nhẹ. Nhưng suốt mấy ngày, chả có gì.
    Rốt cuộc, tôi phải chạy đi tìm bà chủ nhà hơi lắm chuyện kia. Tôi nói tôi cần thuê gian phòng chứa đồ. Bà chủ nhà lạ lẫm nhìn tôi: Cô định ở đó sao? Tôi nhíu mày, bảo: Tôi cần đặt sô pha vào đó. Bà chủ nhà dường như hơi gây khó dễ: Thế cô định lúc nào thuê? Tôi ngạc nhiên: Chả lẽ vẫn còn người ở trong đó sao? Không phải đã để không rồi sao? Chủ nhà nói: Cặp thợ thuyền kia tháng sau hết hạn thuê nhà.
    Tôi bỗng nhiên có một niềm vui lạ lùng, hoá ra họ vẫn chưa dọn đi? Tôi lắp bắp nói: Thế thì tháng sau nhé!

    Chờ khi tôi đi qua cánh cửa đó một lần nữa, tôi thấy vui mừng, vì tôi dường như thấy trong phòng có tiếng bát đũa chạm nhau lách cách, bởi dường như tôi có thể nghe thấy tiếng họ đang khe khẽ thủ thỉ. Hôm đó, tôi ngủ sớm, thực ra tôi không buồn ngủ. Nhưng tôi vẫn đi nằm sớm, tôi mở mắt nhìn lên trần nhà, nghĩ liệu có một lần sẽ có người đến gõ cửa phòng tôi.
    Một chuỗi tiếng mở cửa làm tôi giật mình, cho dù tiếng mở cửa chỉ nhỏ như thể tiếng muỗi vo ve, nhưng suốt mấy ngày nay tôi đã luyện được một đôi tai thính. Tôi nhảy phóc từ giường xuống đất, chạy ra.
    Cô vợ thấy tôi mở cửa lạch xạch, sợ hãi đứng yên một chỗ. Tôi ngại quá, vội vàng che giấu sự mừng vui của mình: Đã về rồi à? Sao mấy hôm rồi đi vắng? Về quê à? Cô gái nhìn tôi một hồi, lắp ba lắp bắp nói: Còn chưa ngủ ư, chị. Không, không, không về quê. Mấy hôm nay có chuyện.
    Lần đầu tiên cô nói với tôi mà không cười, cũng là lần đầu tiên cô nói dài, rồi bước vào gian phòng cất đồ mà mấy hôm nay tôi vẫn quan sát chặt.
    Tôi lặng đi ở đó, rất lâu, rất lâu, tôi mới sực tỉnh. Tôi tự nhiên muốn khóc, có chút gì như tủi thân, như đã bỏ ra nhiều nhiệt tình nhưng bị lạnh nhạt tới mức đau lòng. Nhưng tôi không khóc, cũng không rơi lệ, tôi chỉ đóng cửa lại, bật máy tính, bắt đầu lên mạng ngao du khắp nơi.
    Tối đó, tôi nghe thấy một mình cô ta bận rộn đến khuya, linh tinh lang tang nghe như tiếng làm cơm hay thu xếp đồ đạc.
    Nghe những âm thanh của một người vọng sang từ phòng bên, tôi tự nhiên lạ lẫm, nghĩ, thế còn người con trai đâu?
    Tôi bỗng cô đơn, cảm thấy nỗi cô quạnh đến đáng sợ, nhất là những âm thanh đơn điệu vọng từ vách sang, làm tôi cảm thấy vô cùng rõ sự lạnh lẽo của mình.
    Tôi tự nhiên hiểu ra: Thì ra một mình là nỗi thê lương, hoang lạnh đến buồn bã thế. Tôi quấn chặt áo ngủ, nhưng vẫn không cách nào kháng cự lại được cảm giác cô quạnh lúc nửa đêm.

    Cô ta dường như có vẻ khá ngần ngại, đứng rất lâu ngoài cửa, không gõ cửa, cũng không định bỏ đi, cứ cúi đầu, như suy nghĩ xem nên mở cửa thế nào.
    Thật ra với những lời lẽ giản đơn hôm qua, trong thành phố phương Nam lạnh nhạt này, chả là gì, khách sáo là thứ xa xỉ, đãi bôi là thái độ đương nhiên của mỗi người với mọi người. Nhưng tôi lại nhìn thấy, họ hoàn toàn không thể thích nghi nổi nơi đường lạ người với người nhạt nhẽo. Có lẽ, cô cho rằng, nơi đây vẫn giống quê nhà. Nhưng, cô chất phác quá, làm sao có thể tưởng tượng được nơi đất khách tha hương này người với người chả có gì tình nghĩa để nói.
    Tôi chủ động mở cửa, đi ra, nhìn cô, chờ cô hỏi trước.
    Cô vợ nghe tiếng mở cửa, chợt ngẩng đầu, mắt hơi ngạc nhiên, có vẻ mừng rỡ. Cô cười nhưng rõ ràng tôi thấy mắt cô đỏ hoe, sưng lên, như vừa khóc.
    Cô hơi gật đầu: Xin lỗi chị, bình thường chị vẫn quan tâm tới chúng em, hôm qua em hơi mệt mỏi, có gì không phải với chị, chị đừng để ý nhé. Giờ em còn có việc, phải đi bây giờ, nếu không có gì thì em đi đây.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi chipyeu1610; 10/03/2009 vào lúc 01:59 PM. Lý do: Quên post tên truyện

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 1,441 Bài viết

    • 1,495 Được cảm ơn

    #19
    Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ( tiếp)
    Cô quay người, tôi giữ cô lại. Lần đầu tiên tôi hỏi cô thân mật như bạn bè: Có việc gì vậy?

    Cô chững người lại, nước mắt liền rơi xuống thành dòng, rơi lã chã, tất thảy mọi ức chế, tủi thân, và nỗi khổ sở trong đáy lòng đã theo nước mắt rơi xuống. Tôi không ngờ cô gục vào vai tôi, khóc lên thành tiếng. Tôi nhẹ nhàng ôm lấy cô, nghĩ thế này biết đâu chia sẻ được với cô chút đau khổ nào chăng.
    Cô lắp bắp kể lại, tôi mới biết, anh chồng giờ đang nằm trong bệnh viện.

    Anh chồng vốn làm nghề đưa hàng, nhưng vì tính tình chậm chạp, không khéo mồm, thành ra doanh số cứ lẹt đẹt, đành phải bỏ việc, tìm việc cần sức vóc để làm tạm. Nhưng anh chồng vốn chẳng khoẻ gì, lại ăn uống kham khổ, ngày nào làm cũng mệt nhọc, hôm đó đi làm, không may bị gạch rơi xuống vỡ đầu, phải đưa đi nằm viện rồi. Đáng lẽ tưởng đây là tai nạn lao động thì chủ phải lo cho tiền thuốc thang, ngờ đâu chủ mặc kệ, lại sai thải anh chồng ngay. Dành dụm được bao tiền giờ đã tiêu hết, cô chỉ còn nước quay về nhà dọn dẹp, rồi đi đón chồng về nhà nằm.

    Tôi lấy tấm thẻ tín dụng ra, định rút ít tiền cho cô dùng tạm, cô sống chết từ chối, cứ thế chạy xuống lầu đi mất.

    Buổi chiều, hai vợ chồng quay về, trên đầu anh chồng quấn tấm băng trắng, dáng vẻ yếu ớt, nhìn thấy tôi còn cố mỉm cười. Nhìn dáng anh ta gầy gò bé nhỏ, tôi cảm thấy anh chồng nhìn không có vẻ hèn kém, dù hơi bé nhỏ, nhưng có ý chí; cho dù nhút nhát, nhưng vẫn kiên cường. Tôi cười đáp lại anh, lần này, tôi cười thật lòng, chân thành.

    Hôm ấy, cả một ngày, tâm trạng tôi rất vui vẻ. Đó là ngày tôi vui nhất kể từ khi đến thành phố này, lần đầu tiên được cười chân thật, lần đầu tiên để ý chính mình cười có thật lòng không.

    Hôm đó, tôi nhìn thấy cái mặt nạ của tôi rơi xuống, trần trụi rơi trước mặt tôi, lộ ra tiếng thở dài não nuột, những giằng xé vô vọng, kêu gào không hơi.

    Và tôi, đã nhẹ nhõm cầm bật lửa, đốt nó đi.



    Tôi dè dặt gõ cửa phòng họ, cô vợ đi làm vắng rồi, anh chồng liêu xiêu tựa vào cửa, nhìn tôi cười ngờ nghệch, không biết làm thế nào để mời tôi vào nhà.

    Tôi không hề định bước vào, mà cứ đứng ngoài, như thể tán gẫu, như thể nói với người thân bạn bè: Chỗ anh làm là cơ quan nào? Vì sao anh bị thương trong giờ làm nhưng lại không chịu gánh chi phí y tế cho anh? Họ có lý do gì sa thải anh? Theo Luật Lao Động thì anh có quyền… Tôi còn chưa nói xong, anh chồng đã cười ngộc nghệch, chen vào: Em biết, em cũng đã học đại học, em biết luật, nhưng không ích gì đâu! Luật Lao Động có lẽ chỉ bảo vệ được những viên chức như chị thôi, chứ với thợ thuyền bọn em, thì chả có tác dụng gì đâu! Lấy gì để bảo đảm đây? Ai bảo đảm cho? Tìm ai để khiếu nại đây? Cơ quan này tổ chức kia em đều đi cả rồi, nói rách mép ra, có ai thèm để ý đâu! Về chỗ chủ, bọn tay chân của chủ nó không đánh thêm cho thành què quặt ra đã là may rồi, hơn nữa, có cố đấm ăn xôi, thì rồi cũng vẫn phải móc tiền túi ra trả thuốc men, chả bõ bèn gì. Thôi vậy, em chịu thế này vậy, ai bảo chúng em không có địa vị trong xã hội này cơ!

    Nghe anh ta than thân, nghe những lời ấy, tôi như cảm thấy những ấu trĩ của mình, xã hội tàn nhẫn, cuộc đời cũng tàn nhẫn. Mắt tôi hiện lên những tin thợ thuyền hàng năm phản đối đòi tiền lương bị chủ đánh đập, làm cật lực bị nợ lương, bị tai nạn không ai ngó ngàng đăng đầy rẫy trên báo. Tôi hiểu ra, xã hội này vốn thế, anh bắt những kẻ yếm thế đi đòi công bằng, anh để những kẻ ở dưới đáy cùng của xã hội lấy gì để bảo vệ quyền lợi của chính mình?

    Tôi không nói gì nữa, tôi thấy lời nói là thứ hụt hơi yếu đuối, tôi cảm thấy ngôn từ nghèo nàn, tôi cũng thấy những bất bình của tôi mới non nớt bốc đồng sao.

    Tôi thở dài bất lực, lẩm bẩm như mơ: Xã hội ngoài kia bất nhẫn quá, khó khăn quá, hay là quay về đi, chứ chịu đựng và khốn khổ thế này, chi bằng quay về quê, tuy nghèo khổ nhưng được trân trọng.
    Anh chồng vẫn cười, cười méo mó. Anh ta ngẩng đầu, nhìn ra nơi xa, như tự nói: Về ư? Về làm sao được? Học phí nợ còn chưa trả nổi, nhà nước thì sao? Nhà nước đã chìa cánh tay giúp đỡ ra lúc tôi cần nhất, giờ làm sao tôi dám vong ân bội nghĩa, làm người phải giữ đạo! Huống hồ nhà tôi còn em trai em gái đang đi học, bố mẹ lại già rồi, đau yếu luôn, không kiếm ra tiền, lấy gì nuôi các em? Lấy gì nuôi bố mẹ?

    Làm người phải giữ đạo! Nghe câu nói ấy, tôi thẫn thờ, một người sống khổ sở như anh ta, một người đã lăn xuống tận đáy cùng của xã hội, còn nghĩ tới quốc gia, thì anh chồng đã cao thượng hơn bao nhiêu người mũ cao áo dài chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy mình tầm thường, bé nhỏ.

    Tôi mở to mắt nhìn anh, có chút nể phục, anh chồng kể tiếp giọng đều đều:

    Nông thôn nghèo lắm, rất nhiều người bảo, nghèo sao đẻ lắm thế? Thật ra, vì sao lại đẻ đứa này rồi còn sinh tiếp đứa khác? Có ai muốn đã nghèo lại còn phải nuôi thêm mấy đứa con đâu, cuộc sống thêm gánh nặng, nhưng biết làm sao được, người ta buộc phải thế! Ở nhà quê, người ta già rồi, không còn sức lao động, coi như là bắt đầu phải nuôi báo cô, người già ở nông thôn không có lương hưu, không hề có phúc lợi xãhội gì, không có gì đảm bảo cho cuộc sống, nếu không có nhiều con, thì một đứa nuôi làm sao nổi hai bố mẹ già, thế không phải là sẽ cứ thế mà chết đói ư? Vì thế nên phải đẻ thêm vài đứa, chia gánh nặng ra. Đẻ con dưỡng già là một thứ truyền thống bất đắc dĩ của nhà quê!

    Mỗi ông bố bà mẹ ở nông thôn đều mong con mình mở mày mở mặt, mà muốn đổi đời chỉ có mỗi con đường là thi đỗ đại học, nhưng học đại học thì đắt lắm, cho nên trong nhà chỉ cần một đứa đỗ đại học thì cả nhà phải vạ, rồi chổi cùn rế rách bán hết. Nhưng bây giờ sinh viên tốt nghiệp đại học xong khó kiếm việc lắm, nhất là những người học không giỏi, nghề cũng không giỏi, càng khó xin việc; mà không lấy được mảnh bằng đại học thì khác gì chưa học đại học, đi đâu xin việc người ta cũng cần bằng cấp, không bằng, thì chỉ đi làm thợ.

    Nói đến đây, anh chồng ngao ngán lắc đầu, mím môi lại, không nói nữa.

    Tôi cũng im lặng, tôi không biết nên nói gì, bởi một đứa trẻ từ nhỏ sống ở thành phố như tôi khó tưởng tượng nổi, vì thế tôi chọn cách im lặng.

    Buổi trưa, tôi gọi hai suất cơm, tôi mang một suất cho anh ta, anh ta dứt khoát không nhận. Tôi giả bộ giận dữ nói: Tôi làm phiền anh suốt buổi sáng, không cho anh nghỉ ngơi, giờ xin lỗi bằng hộp cơm thôi! Anh ta không chối được, đành nhận lấy.

    Tôi biết, một suất cơm thì đạm bạc quá, nhưng nếu tôi mua những thứ đắt tiền hơn, chắc chắn anh ta không bao giờ chịu lấy.

    Buổi tối, cô vợ rất muộn mới quay về, mệt mỏi rã rời. Tôi nghe thấy anh chồng nói: Anh để phần em cái này ngon lắm, chắc em đói rồi hả, ăn đi. Cô vợ cứ bảo đã ăn rồi, đòi chồng ăn cùng, anh còn đang bị thương, cần tẩm bổ.

    Nghe họ đùn đẩy nhau miếng ăn, nước mắt tôi rơi xuống.
    Tôi biết, tôi lại sai rồi, tôi không hiểu gì về tình yêu của họ, vì tình yêu của họ nhân đôi! Làm sao có thể nhẫn tâm một mình ngồi nuốt một phần ăn mà mình cho là ngon miệng, mà để người còn lại ngồi nhìn nuốt nước bọt?
    Hôm đó, tôi cuối cùng đã hiểu: Bội số của một tình yêu nhân đôi là rất lớn, rất lớn, rất lớn. Tới mức tôi khó nhìn thấy hình dáng nó, không thể biết bề sâu của nó.


    Anh chồng rồi cũng khoẻ dần lên, chờ anh ta khoẻ hẳn, tôi nhờ bạn bè tìm giúp anh một công việc nhẹ nhàng một chút, tuy lương không cao, nhưng dù sao cũng tốt hơn việc cũ. Hai vợ chồng họ đầy cảm kích không rõ đã nhắc lại bao lần chữ cảm ơn. Cho dù tôi nói mãi đó chỉ là việc dễ như trở bàn tay, họ vẫn không ngừng cảm ơn tôi. Làm tôi hơi ngại.
    Một tháng sau, anh chồng cùng cô vợ hớn hở chạy đến kéo tôi đi ra ngoài, tôi còn chưa hiểu việc gì, họ đã lôi được tôi ra khỏi cổng. Xuống đến nhà, tôi mới biết thì ra anh chồng được lĩnh lương, nhất định mời tôi đi ăn. Tôi cười ha ha nói: Thôi đừng khách khí, đều là người đi kiếm sống, giúp nhau là chuyện thường tình, thôi đừng cơm nước gì nhé. Nhưng họ cố chấp cứ lôi tôi lại, mời mọc mãi: Không mời chị, cả tình cả lý đều không xuôi. Thấy tôi có vẻ kiên quyết không đi, họ bắt đầu cuống lên: Hay là chị sợ chúng em mang không đủ tiền theo, xem này, em mang hẳn mấy trăm tệ. Nói đoạn bèn móc tiền ra. Thấy họ đôn hậu lại ngộ nghĩnh, tôi không từ chối nổi, đành nhận lời.
    Tôi vừa đi vừa nghĩ: Làm thế nào để họ mời mình, thoả mãn tâm nguyện của họ mà lại tiết kiệm tiền cho họ nhỉ. Tôi nghĩ tới quán cơm rẻ tiền nhất Quảng Châu, là quán mì sợi.
    Vì thế tôi làm vẻ trầm ngâm: Tôi biết có một chỗ đồ ăn vô cùng ngon, tôi thích đi ăn nhất. Không biết 2 người đã ăn mì sợi Lan Châu bao giờ chưa. Họ đều ngỡ ngàng, rồi nói: Sao lại thế được? Sao lại chỉ mời chị đi ăn mì sợi? Kiểu gì cũng phải mời chị một bữa hoành tráng.
    Tôi cố ý ra vẻ giận: Nhưng tôi thích mì sợi, nếu định mời tôi, thì mời mì sợi đi, ăn cái khác tôi không thích lắm.
    Hai người họ thấy tôi giận, chỉ biết dạ dạ, làm theo ý tôi.
    Đến quán mì, tôi gọi một bát mì bò, anh chồng gọi một bát mì suông, một bát thịt bò. Chờ lúc mì bưng lên, anh chồng bưng một bát mì to nhiều thịt bò tới trước mặt tôi, một bát mì ít thịt bò cho vợ, còn anh chỉ ăn một bát mì nhỏ suông.
    Thấy tôi nhìn thắc mắc, anh vội vàng giải thích: Em thích ăn chay. Vết thương cũ chưa lành, em sợ ăn thịt vào sẽ lâu khỏi, thôi ăn chay cho lành.
    Thực ra tôi biết, đây đâu phải chuyện vết thương, tôi biết anh ta muốn tiết kiệm tiền, nhưng anh ta không bạc đãi bạn bè, nên chỉ bạc đãi bản thân mình.
    Thấy anh ta ăn mì ngon lành từng miếng lớn, thấy vợ anh liên tục gắp thịt vào bát chồng, thấy hai vợ chồng họ không ngừng gắp thịt cho tôi, tôi lại gắp trả họ; cổ họng tôi nghẹn lại ở chỗ nào đó, rất khó khăn cũng không nuốt được một miếng mì xuống. Tôi có thể cảm thấy được trước mắt tôi một màn mờ ảo, không biết là hơi nước nóng đang lơ lửng trước mặt, hay có nước gì đã bao lấy mắt tôi, có thể cảm thấy âm ẩm.
    Lần đầu tiên, tôi học được cách của họ, ăn hết sạch mì trong bát, húp cạn canh trong bát, cho dù tôi đã no căng bụng. Nhưng lần đầu tiên tôi cảm thấy đáy lòng mình quá ấm áp quá thật thà.

    / [/IMG]


    G] [/URL]
    • 214 Bài viết

    • 370 Được cảm ơn

    #20
    Truyện này mình đọc trong blog của Trang Hạ nhưng chị ấy chưa dịch hết. Nghe đâu kết thúc buồn lắm, ko có hậu nên mình cũng ko tìm đọc tiếp nữa.
    Khí kiêng nhất hung hăng
    Tâm kiêng nhất hẹp hòi
    Tài kiêng nhất bộc lộ
  • Trang 1/3

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 3