Trở về giao diện cũ
/
Đánh giá & báo lỗi giao diện mới
Sách - Truyện - Thơ

Truyện "Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du

Đến trả lời mới nhất
  • 5 Lượt chia sẻ
  • 46.8K Lượt đọc
  • 75 Trả lời

1 Người đang theo dõi

  • Trang 1/8

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 8
    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #1
    Mục lục

    * * * Đoạn 001 - Đoạn 002 - Đoạn 003 - Đoạn 004 - Đoạn 005

    . . . . Đoạn 006 - Đoạn 007 - Đoạn 008 - Đoạn 009 - Đoạn 010

    * * * Đoạn 011 - Đoạn 012 - Đoạn 013 - Đoạn 014 - Đoạn 015

    . . . . Đoạn 016 - Đoạn 017 - Đoạn 018 - Đoạn 019 - Đoạn 020

    * * * Đoạn 021 - Đoạn 022 - Đoạn 023 - Đoạn 024 - Đoạn 025

    . . . . Đoạn 026 - Đoạn 027 - Đoạn 028 - Đoạn 029 - Đoạn 030

    * * * Đoạn 031 - Đoạn 032 - Đoạn 033 - Đoạn 034 - Đoạn 035

    . . . . Đoạn 036 - Đoạn 037 - Đoạn 038 - Đoạn 039 - Đoạn 040

    * * * Đoạn 041 - Đoạn 042 - Đoạn 043 - Đoạn 044 - Đoạn 045

    . . . . Đoạn 046 - Đoạn 047 - Đoạn 048 - Đoạn 049 - Đoạn 050

    * * * Đoạn 051 - Đoạn 052 - Đoạn 053 - Đoạn 054 - Đoạn 055

    . . . . Đoạn 056 - Đoạn 057 - Đoạn 058 - Đoạn 059 - Đoạn 060

    * * * Đoạn 061 - Đoạn 062 - Đoạn 063 - Đoạn 064 - Đoạn 065

    . . . . Đoạn 066 - Đoạn 067 - Đoạn 068 - Đoạn 069 - Đoạn 070

    * * * Đoạn 071 - Đoạn 072 - Đoạn 073 - Đoạn 074 - Đoạn 075

    . . . . Đoạn 076 - Đoạn 077 - Đoạn 078 - Đoạn 079 - Đoạn 080

    * * * Đoạn 081 - Đoạn 082 - Đoạn 083 - Đoạn 084 - Đoạn 085

    . . . . Đoạn 086 - Đoạn 087 - Đoạn 088 - Đoạn 089 - Đoạn 090

    * * * Đoạn 091 - Đoạn 092 - Đoạn 093 - Đoạn 094 - Đoạn 095

    . . . . Đoạn 096 - Đoạn 097 - Đoạn 098 - Đoạn 099 - Đoạn 100

    ***^-^*** Tìm hiểu thêm về Truyện Kiều :

    1. Nguồn gốc : viết Truyện Kiều , Nguyễn Du dựa vào cốt chuyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân ,1 t/g Trung Quốc sống ở xv . Từ 1 t/p xuôi , chữ Hán , viết theo kiểu tiểu thuyết chuyển hồi từ 1 câu chuyện tình bình thường, nghĩ đã bằng cảm hứng của mình , cảm hứng về xã hội và con người Việt Nam .Biến t/p ấy trở thành 1 " Thiên cổ tình thư '. Ban đầu ông đặt tên cho nó là " Đoạn Trường Tân Thanh " ( tạm dịch là Tiếng kêu đứt ruột hay tiếng nói mới về nỗi khổ đau ). Sau này người ta quen gọi là Truyện Kiều .
    Tác phẩm dài 3254 câu thơ , viết theo thể lục bát có kết cấu 3 phần .


    2. Giá trị nội dung :
    a) Giá trị lớn nhất của truyện Kiều là giá trị nhân đạo . Giá trị ấy được biểu hiện ở 2 phương diện chính :
    * Truyện Kiều là lời ca tình yêu tự do khát vọng công lý , ngợi ca vẻ đẹp , phẩm chất con người .

    _ Viết Truyện Kiều , Nguyễn Du đã thể hiện ước mơ đẹp đẽ của mình về 1 tình yêu lứa đôi tự do , hồn nhiên , trong sáng mà nhất mực thủy chung.
    Trong 1 xã hội mà quan niệm hôn nhân phong kiến còn đang hết sức khắc nghiệp , kìm hãm , trói buộc con người . Vì thế mồi tình Kim _ Kiều có thể xem như 1 bài ca tuyệt đẹp , 1 bản tình ca đầy trong sáng và thơ mộng, lần đầu tiên được thể hiện qua tác phẩm VH DT.

    _ Viết truyện Kiều, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng về công lý , dân chủ cho con người giữa 1 XH bất công tù túng đầy ức chế tàn bạo . Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Từ Hải như 1 khát vọng công lý tự do ấy . Từ Hải là 1 anh hùng hảo hán , ngàng tàn , dám 1 mình chống lại với cả trật tự XH phong kiến lúc bấy giờ .Chỉ có Từ Hải mới đem cho Kiều 1 cuộc đời hạnh phúc . Từ Hải chính là ánh sao băng rực sáng trên bầu trời đen tối . Từ Hải chính là nhân vật lí tưởng cho khát khao ước mơ của Nguyễn Du về công bằng , tự do .

    _ Viết Truyện Kiều , Nguyễn Du đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người . Thúy Kiều tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam : vẻ đẹp nhan sắc , tài hoa , trí tuệ thông minh và 1 trái tim trung hậu . Vẻ đẹp đó còn được thể hiện ở nhân vật Từ Hải . Từ Hải không chỉ biều tượng cho công lý tự do vùng vẫy ngang dọc mà còn là hiện thân của đức thủy chung , lòng nhân ái và nhất là lòng tôn trọng phẩm giá con người .

    B) Thúy Kiều là tiềng nói lên án các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người , đặc biệt là người phụ nữ .

    _ Thế lực tàn bạo đó biểu hiện trong Truyện Kiều là bộ mặt quan lại xấu xa , đê tiện , bỉ ổi - đầu mối gây ra mọi tai họa bất hạnh cho con người . Bọn quan lại ấy là Hồ Tin Hiến , 1 kể quan tổng đất trọng thần tráo trở , tàn bạo , dâm ô , đểu cáng , đó là Hoạn Thư - con quan lại bộ nhưng độc ác , tàn nhẫn , đã hành hạ Thúy Kiểu để thỏa lòng ghen tức . Dưới chúng là bọn đầu trâu mặt ngựa như Mã Dám Sinh , Sở Khanh , Bạc Bà , Bạc Hạnh , Tù Bà ... chúng cấu kết lại với nhau , dẫm đạp lên quyền sống hạnh phúc , nhân phẩm của con người .

    _ Thế lực tàn bạo ấy còn là sức mạnh tác oai , tác quái của đồng tiền đã biến con người thành vật mua bán , đổi trác . Thúy Kiều chính là nạn nhân của thế lực tàn bạo đó . Nguyễn Du khi nói về điều đấy , đặc biệt là về sức mạnh hung hiểm của đồng tiền , ông đã viết nên những câu thơ thật chua chát :

    " Trong tay sẵn có đồng tiền
    Đầu lòng đổi trắng thay đên khó ".
    Và : " Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong " .

    Tóm lại :
    Truyện Kiều là tuyên ngôn về quyền sống con người , với những khát vọng về tình yêu công lý tự do . Truyện Kiều cũng là bản cáo trạng bằng thơ lên án XH phong kiến mục nát xấu xa tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách con người , dập tắt mọi ước mơ đẹp đẽ của con người . Chính giá trị nhân đạo này trở thành kiệt tác nghìn đời .


    3)Giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều :


    Về giá trị nghệ thuật Truyện Kiều rất phong phú , rất đặc sắc song 2 phương diện chủ yếu :

    a) Nghệ thuật xây dựng nhân vật :

    Nhìn chung Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng nhân vật của mình theo phương pháp truyền thống : chia nhân vật thành 2 tuyết chính diện và phản diện . Nhân vật chính diện được miêu tả theo lối lý tưởng hóa , bằng phương pháp ước lệ tượng trưng . Còn nhân vật phản diện lại được khắc họa theo lối tả thực . Mỗi người đều đạt tới sự điển hình hóa cao độ . Vì thế nhiều nhân vật trong t/p Truyện Kiều đã bước ra từ trong trang sách để sống với cuộc đời thực , trở thành chuẩn mực để người ta đánh giá con người .

    B) Nghệ Thuật ngôn ngữ :

    Ngôn ngữ Truyện Kiều đạt đến mức trong sáng mẫu mực . Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn 2 t/p ngôn ngữ : ngôn ngữ bình dân - ngôn ngữ ca dao , tục ngữ lời ăn tiếng nói của người dân ; Ngôn ngữ bác học mà chủ yếu là những từ Hàn Việt đã mang đến cho Truyện Kiều thứ ngôn ngữ vừa hàm xúc , vừa trang nhã , vừa giản dị mà vẫn đẹp đẽ , giàu hình ảnh nhạc điệu . Vì thế người ta gọi Truyện Kiều là " tòa lâu đài ngôn ngữ thơ ca " được kết nên từ những viên ngọc lấp lánh , sáng trong .
    Chỉnh sửa lần cuối bởi ppc_xda_mobile; 23/01/2009 vào lúc 03:17 AM.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #2
    Đoạn 001

    Trăm năm trong cõi người ta,
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
    Trải qua một cuộc bể dâu ,
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

    Lạ gì bỉ sắc tư phong ,
    Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
    Cảo thơm lần giở trước đèn,
    Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh .

    Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
    Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.

    Có nhà viên ngoại họ Vương,
    Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
    Một trai con thứ rốt lòng,
    Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.

    Đầu lòng hai ả tố nga ,
    Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
    Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
    Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.

    Vân xem trang trọng khác vời,
    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
    Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
    Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da.

    - Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
    Người có tài thì thường gặp mệnh bạc, hình như Tài, mệnh ghét nhau, xung khắc với nhau, hễ được hơn cái này thì phải kém cái kia

    - Bể dâu : Trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành ngữ "bãi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự biến đổi thăng trầm của cuộc đời

    - Bỉ sắc tư phong
    : Cái kia kém thì cái này hơn, nghĩa là: Được hơn điều này thì bị kém điều kia

    - Cảo thơm : do chữ phương cảo, nghĩa là pho sách thơm pho sách hay.

    - Phong tình: Chỉ những chuyện ái tình trai gai

    - Sử xanh: Thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, cật trúc màu xanh, nên gọi là thanh sử.

    - GiaTĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).

    - Hai kinh: Tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).

    - Viên ngoại: Một chức quan giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ thời Lục-triều. Về sau, "Viên ngoại" dần dần trở thành một hư hàm. Chữ "Viên ngoại" ở đây được dùng theo nghĩa này.

    - Chữ : Theo lễ nghi Trung Quốc xưa, người nào cũng có "danh" là tên chính, và "tự" là tên chữ ("Danh" đặt từ khi sinh ra, còn "tụ" thì đến khi hai mươi tuổi mới dựa theo "danh" mà đặt ra).

    - Tố Nga: Chỉ người con gái đẹp.Tích La Công Viễn dẫn Đường Minh Hoàng lên cửa khuyết thành Chí Đại. Nơi đó có bảng đề Phủ Quảng Hàn Thanh Hư, bên dưới có vài chục cô tố nga múa hát.

    - Mai cốt cách, tuyết tinh thần:Thuý Kiều và Thuý Vân, mỗi người có một vẻ riêng ví như mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết. Cả câu muốn nói "nhị Kiều" cốt cách thì thanh lịch như cây mai, còn tâm hồn thì trắng trong như tuyết.
    Lấy từ lời chú trong Quảng Sự Loại: mai dĩ vận thắng, dĩ cách cao ( cây mai thắng về vận, cao về cách).
    Đường thi có câu :
    Hữu mai vô tuyết bất tinh thần
    có hoa mai mà gặp trời không có tuyết thì cũng chẳng có tinh thần.

    - Khuôn trăng: Khuôn mặt đầy đặn, tròn trĩnh, xinh xắn như mặt trăng. Nét ngài: nét lông mày.

    - Thốt: Tiếng cổ có nghĩa là nói.
    Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.
    Lấy từ Đông Châu Liệt Quốc : Tề Văn Khương mạo mỹ, tỷ hoa hoa giải ngữ, tỷ ngọc ngọc sinh hương
    (nàng Văn Khương nước Tề hình dung đẹp đẽ, nếu đem so với hoa thì như là hoa biết nói, nếu đem so với ngọc thì như là ngọc toát hương thơm.)
    Vua Đường Minh Hoàng khi thưởng ngoạn hoa sen trắng cũng có nói với tả hữu: khởi cập ngã giải ngữ hoa : Hoa sen kia há sánh kịp với bông hoa biết nói của ta đây (ý chỉ Dương Quý Phi).
    Chỉnh sửa lần cuối bởi ppc_xda_mobile; 23/01/2009 vào lúc 03:20 AM.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #3
    Đoạn 002

    Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
    So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
    Làn thu thủy , nét xuân sơn ,
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

    Một, hai nghiêng nước nghiêng thành
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
    Thông minh vốn sẵn tính trời,
    Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.

    Cung thương làu bậc ngũ âm ,
    Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
    Khúc nhà tay lựa nên chương,
    Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.

    Phong lưu rất mực hồng quần,
    Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê .
    Êm đềm trướng rủ màn che ,
    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

    - Thu thuỷ: Nước mùa thu, Xuân sơn: Núi mùa xuân.
    Câu nói này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân.
    Trong truyện Tây Sương kí có câu :
    "Tha vọng xuyên liễu doanh doanh thu thủy,
    túc tổn liễu đạm đạm xuân sơn
    (người ấy trông mong mòn mỏi cả nước mùa thu đầy đầy, buồn bã héo cả núi mùa xuân nhàn nhạt)

    -Một hai nghiêng nước nghiêng thành :Bài ca của Lý Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mĩ nhân có câu:

    Nhất cố khuynh nhân thành
    Tái cố khuynh nhân quốc

    Nghĩa là:
    Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người
    Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người.

    Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của người phụ nữ.
    Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên.

    - Sắc đành đòi một, tài đành họa hai: Câu này có nghĩa là về "sắc" thì chỉ có một mình Kiều là nhất, về "tài" thì họa may ra thì còn có người thứ hai nữa.

    - Cung, thương: Hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ của Trung Quốc: Cung, thương giốc, truỷ, vũ.
    Làu bậc: Làu thông cung bậc.

    - Hồ cầm: Một loại đàn tỳ bà.
    Hồ cầm một trương: Một cây đàn hồ cầm.

    - Bạc mệnh: Tên bản đàn do Thuý Kiều sáng tác. "Bạc mệnh" nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.
    Não nhân: Làm cho người ta nghe mà não lòng.

    -Hồng quần: Cái quân màu hồng, hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới.

    - Cặp kê: Đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cài trâm). Theo lễ cổ Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến thì hứa gả chồng cho nên bắt đầu búi tóc cài trâm.

    - Tườngđông : Bức tường ở phía đông. Thời xưa con gái thường ở nhà phía đông. Đây dùng chữ "tường đông" để chỉ chỗ có con gái đẹp ở.
    Chỉnh sửa lần cuối bởi ppc_xda_mobile; 23/01/2009 vào lúc 03:21 AM.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #4
    Đoạn 003

    Ngày xuân con én đưa thoi,
    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
    Cỏ non xanh tận chân trời,
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Thanh minh trong tiết tháng ba,
    Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh.
    Gần xa nô nức yến anh,
    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

    Dập dìu tài tử, giai nhân,
    Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
    Ngổn ngang gò đống kéo lên,
    Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

    Tà tà bóng ngả về tây,
    Chị em thơ thẩn dang tay ra về.
    Bước dần theo ngọn tiểu khê,
    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

    Nao nao dòng nước uốn quanh,
    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
    Sè sè nấm đất bên đàng,
    Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

    - Con én đưa thoi: Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.

    - Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba.

    - Thanh minh: Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.

    - Tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.

    - Đạp thanh: Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh.

    - Yến anh: Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộng ràng đi chơi xuân.

    - Ngựa đi như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.

    - áo quần như nêm: ý nói người đông đúc, chen chúc.

    - Ngổn ngang gò đống kéo lên: Những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi gò đống.

    - Vàng - vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội.

    - Tiểu khê: Ngòi nước nhỏ.

    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #5
    Còn nữa đấy nhé
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 41 Bài viết

    • 2 Được cảm ơn

    #6
    Trích dẫn Nguyên văn bởi hoàng công hiếu Xem bài viết
    mục lục

    * * * đoạn 001 - đoạn 002 - đoạn 003 - đoạn 004 - đoạn 005

    . . . . đoạn 006 - đoạn 007 - đoạn 008 - đoạn 009 - đoạn 010

    * * * đoạn 011 - đoạn 012 - đoạn 013 - đoạn 014 - đoạn 015

    . . . . đoạn 016 - đoạn 017 - đoạn 018 - đoạn 019 - đoạn 020

    * * * đoạn 021 - đoạn 022 - đoạn 023 - đoạn 024 - đoạn 025

    . . . . đoạn 026 - đoạn 027 - đoạn 028 - đoạn 029 - đoạn 030

    * * * đoạn 031 - đoạn 032 - đoạn 033 - đoạn 034 - đoạn 035

    . . . . đoạn 036 - đoạn 037 - đoạn 038 - đoạn 039 - đoạn 040

    * * * đoạn 041 - đoạn 042 - đoạn 043 - đoạn 044 - đoạn 045

    . . . . đoạn 046 - đoạn 047 - đoạn 048 - đoạn 049 - đoạn 050

    * * * đoạn 051 - đoạn 052 - đoạn 053 - đoạn 054 - đoạn 055

    . . . . đoạn 056 - đoạn 057 - đoạn 058 - đoạn 059 - đoạn 060

    * * * đoạn 061 - đoạn 062 - đoạn 063 - đoạn 064 - đoạn 065

    . . . . đoạn 066 - đoạn 067 - đoạn 068 - đoạn 069 - đoạn 070

    * * * đoạn 071 - đoạn 072 - đoạn 073 - đoạn 074 - đoạn 075

    . . . . đoạn 076 - đoạn 077 - đoạn 078 - đoạn 079 - đoạn 080

    * * * đoạn 081 - đoạn 082 - đoạn 083 - đoạn 084 - đoạn 085

    . . . . đoạn 086 - đoạn 087 - đoạn 088 - đoạn 089 - đoạn 090

    * * * đoạn 091 - đoạn 092 - đoạn 093 - đoạn 094 - đoạn 095

    . . . . đoạn 096 - đoạn 097 - đoạn 098 - đoạn 099 - đoạn 100

    ***^-^*** tìm hiểu thêm về truyện kiều :

    1. Nguồn gốc : Viết truyện kiều , nguyễn du dựa vào cốt chuyện kim vân kiều của thanh tâm tài nhân ,1 t/g trung quốc sống ở xv . Từ 1 t/p xuôi , chữ hán , viết theo kiểu tiểu thuyết chuyển hồi từ 1 câu chuyện tình bình thường, nghĩ đã bằng cảm hứng của mình , cảm hứng về xã hội và con người việt nam .biến t/p ấy trở thành 1 " thiên cổ tình thư '. Ban đầu ông đặt tên cho nó là " đoạn trường tân thanh " ( tạm dịch là tiếng kêu đứt ruột hay tiếng nói mới về nỗi khổ đau ). Sau này người ta quen gọi là truyện kiều .
    tác phẩm dài 3254 câu thơ , viết theo thể lục bát có kết cấu 3 phần .


    2. Giá trị nội dung :
    a) giá trị lớn nhất của truyện kiều là giá trị nhân đạo . Giá trị ấy được biểu hiện ở 2 phương diện chính :
    * truyện kiều là lời ca tình yêu tự do khát vọng công lý , ngợi ca vẻ đẹp , phẩm chất con người .

    _ viết truyện kiều , nguyễn du đã thể hiện ước mơ đẹp đẽ của mình về 1 tình yêu lứa đôi tự do , hồn nhiên , trong sáng mà nhất mực thủy chung.
    trong 1 xã hội mà quan niệm hôn nhân phong kiến còn đang hết sức khắc nghiệp , kìm hãm , trói buộc con người . Vì thế mồi tình kim _ kiều có thể xem như 1 bài ca tuyệt đẹp , 1 bản tình ca đầy trong sáng và thơ mộng, lần đầu tiên được thể hiện qua tác phẩm vh dt.

    _ viết truyện kiều, nguyễn du còn thể hiện khát vọng về công lý , dân chủ cho con người giữa 1 xh bất công tù túng đầy ức chế tàn bạo . Nguyễn du đã xây dựng nhân vật từ hải như 1 khát vọng công lý tự do ấy . Từ hải là 1 anh hùng hảo hán , ngàng tàn , dám 1 mình chống lại với cả trật tự xh phong kiến lúc bấy giờ .chỉ có từ hải mới đem cho kiều 1 cuộc đời hạnh phúc . Từ hải chính là ánh sao băng rực sáng trên bầu trời đen tối . Từ hải chính là nhân vật lí tưởng cho khát khao ước mơ của nguyễn du về công bằng , tự do .

    _ viết truyện kiều , nguyễn du đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người . Thúy kiều tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ việt nam : Vẻ đẹp nhan sắc , tài hoa , trí tuệ thông minh và 1 trái tim trung hậu . Vẻ đẹp đó còn được thể hiện ở nhân vật từ hải . Từ hải không chỉ biều tượng cho công lý tự do vùng vẫy ngang dọc mà còn là hiện thân của đức thủy chung , lòng nhân ái và nhất là lòng tôn trọng phẩm giá con người .

    b) thúy kiều là tiềng nói lên án các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người , đặc biệt là người phụ nữ .

    _ thế lực tàn bạo đó biểu hiện trong truyện kiều là bộ mặt quan lại xấu xa , đê tiện , bỉ ổi - đầu mối gây ra mọi tai họa bất hạnh cho con người . Bọn quan lại ấy là hồ tin hiến , 1 kể quan tổng đất trọng thần tráo trở , tàn bạo , dâm ô , đểu cáng , đó là hoạn thư - con quan lại bộ nhưng độc ác , tàn nhẫn , đã hành hạ thúy kiểu để thỏa lòng ghen tức . Dưới chúng là bọn đầu trâu mặt ngựa như mã dám sinh , sở khanh , bạc bà , bạc hạnh , tù bà ... Chúng cấu kết lại với nhau , dẫm đạp lên quyền sống hạnh phúc , nhân phẩm của con người .

    _ thế lực tàn bạo ấy còn là sức mạnh tác oai , tác quái của đồng tiền đã biến con người thành vật mua bán , đổi trác . Thúy kiều chính là nạn nhân của thế lực tàn bạo đó . Nguyễn du khi nói về điều đấy , đặc biệt là về sức mạnh hung hiểm của đồng tiền , ông đã viết nên những câu thơ thật chua chát :

    " trong tay sẵn có đồng tiền
    đầu lòng đổi trắng thay đên khó ".
    và : " tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong " .

    tóm lại :
    truyện kiều là tuyên ngôn về quyền sống con người , với những khát vọng về tình yêu công lý tự do . Truyện kiều cũng là bản cáo trạng bằng thơ lên án xh phong kiến mục nát xấu xa tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách con người , dập tắt mọi ước mơ đẹp đẽ của con người . Chính giá trị nhân đạo này trở thành kiệt tác nghìn đời .


    3)giá trị nghệ thuật của truyện kiều :

    về giá trị nghệ thuật truyện kiều rất phong phú , rất đặc sắc song 2 phương diện chủ yếu :

    a) nghệ thuật xây dựng nhân vật :

    nhìn chung nguyễn du đã xây dựng hình tượng nhân vật của mình theo phương pháp truyền thống : Chia nhân vật thành 2 tuyết chính diện và phản diện . Nhân vật chính diện được miêu tả theo lối lý tưởng hóa , bằng phương pháp ước lệ tượng trưng . Còn nhân vật phản diện lại được khắc họa theo lối tả thực . Mỗi người đều đạt tới sự điển hình hóa cao độ . Vì thế nhiều nhân vật trong t/p truyện kiều đã bước ra từ trong trang sách để sống với cuộc đời thực , trở thành chuẩn mực để người ta đánh giá con người .

    b) nghệ thuật ngôn ngữ :

    ngôn ngữ truyện kiều đạt đến mức trong sáng mẫu mực . đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn 2 t/p ngôn ngữ : Ngôn ngữ bình dân - ngôn ngữ ca dao , tục ngữ lời ăn tiếng nói của người dân ; ngôn ngữ bác học mà chủ yếu là những từ hàn việt đã mang đến cho truyện kiều thứ ngôn ngữ vừa hàm xúc , vừa trang nhã , vừa giản dị mà vẫn đẹp đẽ , giàu hình ảnh nhạc điệu . Vì thế người ta gọi truyện kiều là " tòa lâu đài ngôn ngữ thơ ca " được kết nên từ những viên ngọc lấp lánh , sáng trong .
    truyen kieu la quyen sach goi dau giuong cua to day. Nhung bay h bi thang ban no doi mat rui huhuhu. Minh bao di mua mai ma chang co thoi gian. Cam on nhieu nhe

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #7
    Trích dẫn Nguyên văn bởi fall2 Xem bài viết
    truyen kieu la quyen sach goi dau giuong cua to day. Nhung bay h bi thang ban no doi mat rui huhuhu. Minh bao di mua mai ma chang co thoi gian. Cam on nhieu nhe
    Mấy hôm nay bận tết quá nên tạm chưa đưa lên, rảnh là mình đưa vào hết cho bạn
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #8
    Đoạn 004

    Rằng: "Sao trong tiết thanh minh,
    Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?"

    Vương Quan mới dẫn gần xa:
    "Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
    Nổi danh tài sắc một thì,
    Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.

    Kiếp hồng nhan có mong manh,
    Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
    Có người khách ở viễn phương,
    Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.

    Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
    Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.
    Buồng không lạnh ngắt như tờ,
    Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.

    Khóc than khôn xiết sự tình,
    Khéo vô duyên ấy là mình với ta.
    Đã không duyên trước chăng mà,
    Thì chi chút ước gọi là duyên sau.

    Sắm xanh nếp tử xe châu,
    Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
    Trải bao thỏ lặn ác tà,
    Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"


    - Ca nhi: Con hát.

    - Hồng nhan: Má hồng, chỉ người đẹp.

    - Cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.

    - Trâm gãy bình rơi: ý nói người đẹp đã chết.

    - Dấu xe ngựa: Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời trước đấy.

    - Nếp tử, xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.

    - Thỏ lặn, ác tà: Người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #9
    Đoạn 005

    Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
    Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.

    "Đau đớn thay phận đàn bà!
    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
    Phũ phàng chi bấy hoá công,
    Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

    Sống làm vợ khắp người ta,
    Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
    Nào người phượng chạ loan chung,
    Nào người tích lục tham hồng là ai ?

    Đã không kẻ đoái người hoài,
    Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
    Gọi là gặp gỡ giữa đường,
    Họa là người dưới suối vàng biết cho."

    Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
    Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra.
    Một vùng cỏ áy bóng tà,
    Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.

    Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
    Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
    Lại càng mê mẩn tâm thần
    Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.



    Lại càng ủ dột nét hoa,
    Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.


    - Châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.

    - Hoá công: Thợ tạo hoá, tức là trời.

    - Phượng: Chim phượng trống. Loan: Chim phượng mái.
    Trong văn cổ, loan phượng dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm tiên, ngày trước.

    - Tiếc lục tham hồng: ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.

    - Suối vàng: Do chữ Hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.

    - áy: Vàng úa.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

    • 5,009 Bài viết

    • 1,085 Được cảm ơn

    #10
    Đoạn 006

    Vân rằng: "Chị cũng nực cười,
    Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa."

    Rằng:"Hồng nhan tự thuở xưa,
    Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?
    Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
    Thấy người nằm đó biết sau thế nào ?"

    Quan rằng: "Chị nói hay sao,
    Một lời là một vận vào khó nghe.
    Ở đây âm khí nặng nề,
    Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa."

    Kiều rằng: "Những đấng tài hoa,
    Thác là thể phách, còn là tinh anh,
    Dễ hay tình lại gặp tình,
    Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ."

    Một lời nói chửa kịp thưa,
    Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
    Ào ào đổ lộc rung cây,
    Ở trong dường có hương bay ít nhiều.

    Đè chừng ngọn gió lần theo,
    Dấu giày từng bước in rêu rành rành.


    - Vận vào: ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.

    - Âm khí: Cái khí cõi âm, cõi chết, ở đây chỉ không khí bãi tha ma.

    - Thể: Thể xác (hữu hình). Phách: Chỉ những cái gì vô hình chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.

    - Hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.
    Phàm trần hai chữ Không - Được mất hơn thua ý tại lòng
    Một thoáng bay vèo khi nhắm mắt - Có còn bên mình những gì không

  • Trang 1/8

    Chuyển tới trang

  • 1
  • 2
  • ...
  • 8