SÁCH - TRUYỆN - THƠ

Bến không chồng - Dương Hướng

Đến trả lời mới nhất
  • 0 Lượt chia sẻ
  • 3.25K Lượt đọc
  • 4 Trả lời

Bài học lớn đằng sau câu chuyện nhỏ

    • 64 Bài viết

    • 22 Được cảm ơn

    #1
    Mở cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng" của Dương Hướng ra đọc được vài trang tôi đã bị cuối hút. Không chỉ tiếng tăm đồn đại về tác phẩm và tài dẫn chuyện lôi cuốn người đọc, mà cái tính bỗ bã, nói năng tâng tâng chẳng cần ý tứ lại đặc sệt nhà quê trong cách khắc hoạ sinh động của tác giả với chi tiết đầu tiên nhân vật Nguyễn Vạn ngực đầy huân chương tấp tểnh về làng đứng trên con đê lộng gió vén quần “đái cái đã...” Thế mới sướng, thế mới là anh nông dân chính hiệu. Tôi hồi hộp đọc hăm hở ngờ ngợ thích thú theo một mạch cho đến trang 48 - 50 thì dừng lại rồi ồ lên: quê mình rồi! Cha nhà văn này đã lấy bối cảnh của miền quê mình để tạo cảm hứng cho tác phẩm.
    Tôi khẳng định cái Cống Linh trong truyện chính là Cống Trà Linh quê tôi. Một trong mười ba hệ thống thuỷ lợi quan trọng của miền Bắc là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh vừa qua. Và con đê mà tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm chính là con đê ngăn mặn chạy dọc bờ sông Diêm Hộ. Còn cây cầu Đá Bạc nơi có "Bến không chồng" lại nằm kề bên hai cây quéo cổ thụ khổng lồ của làng Đoài. Đây chính là một khung cảnh độc nhất vô nhị của làng An Lệnh xã Thuỵ Liên huyện Thái Thuỵ của mình.Hai cây quéo cổ thụ mà chúng tôi chẳng biết được trồng từ đời nảo đời nào. Chúng tôi lớn lên đã thấy tán lá của nó xanh thẫm rậm rì vượt lên trên tầng xanh của luỹ tre quê mình. Đứng xa hàng năm bảy cây số đã nhìn thấy hai lùm cây lừng lững như hai cây nấm khổng lồ trồi lên in vào bầu trời.
    Tôi không dám nghĩ ở cái làng An Lện - Làng Đoài ấy lại có một nhà văn “chân đất mắt toét" tự viết ra được những điều gan ruột của làng mình. Mà đồ rằng mấy tay bộ đội từng là lính phòng không tại trận địa pháo cao xạ 37 ly phía Bắc Trà Linh rành rẽ vùng đất này nên mới đưa được cả một miền quê vào tiểu thuyết! Khi hỏi ra thì lại không phải, Dương Hướng là cán bộ ngành hải quan vùng cửa khẩu Đông Bắc. Anh viết truyện này tại HVHNT tỉnh Quảng Ninh.
    Rồi tình cờ tôi được ngồi cùng mâm với Dương Hướng trong một bữa tiệc cưới tại Cẩm Phả. Lúc ấy tôi mới biết đích thị anh người làng An lệnh xã Thụy Liên, huyện Thái Thuỵ quê tôi.
    Dương Hướng đi công nhân quốc phòng rồi chuyển qua bộ đội anh trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam từ năm 1971 cho đến ngày giải phóng. Từ bộ đội, năm 1976 anh lại chuyển sang ngành Hải quan Quảng Ninh. Hiện nay gia đình anh đang cư trú tại Hạ Long. Vậy mà mọi sự kiện sảy ra suốt quãng thời gian năm mươi năm qua trên vùng đất quê hương không gì qua được đôi mắt tinh tường sắc sảo của anh. Mỗi sự kiện sảy ra đều làm anh phải tư duy trăn trở, suy ngẫm cho thấu đáo tới ngọn nguồn để mà lí giải (!)
    Tôi bảo với Dương Hướng: Ông viết truyện mà thật đến nỗi đọc tiểu thuyết, tôi nhận ra từng nhân vật ngoài đời được ông chọn làm nguyên mẫu. Đọc "Bến không chồng" của ông làm tôi tò mò phải tìm về cái cầu Đá Bạc. Hỏi đến bến không chồng là ai cũng nhắc đến ông. Hỏi đến ông, người làng lại nhắc đến "Bến không chồng". Các bà, các cô còn nhắn ra rằng: "Bến không chồng giờ không còn ai tắm truồng nữa, vì nước sạch đã dẫn đến từng nhà rồi nhé!"
    Còn ông Biều, người mười năm năm làm trưởng ban văn hoá xã thì bảo:"Hai cây quéo cổ thụ đã bị cơn bão số bẩy năm kia quật đổ mất rồi. Khi đạo diễn phim“ Bến không chồng” từ Hà Nội mò về để mục sở thị thì đâu còn cảnh cũ người xưa. Các nhân vật của Dương Hướng thì Lão Vạn đã chết. Còn lão Đột, vị “chủ tịch đơm ràng" vẫn sống nhăn. Anh em nhà thợ ảnh Quang Duy nó bảo: Ông Hướng “ác quá" đã bê nguyên cả nó mà đưa vào tiểu thuyết

    (trích TẢN MẠN VỀ DƯƠNG HƯỚNG VỚI "BẾN KHÔNG CHỒNG" VÀ "DƯỚI CHÍN TẦNG TRỜI" của Nguyễn Duy Liễm)
  1. Đọc tiếp trên Webtretho

    • 64 Bài viết

    • 22 Được cảm ơn

    #2
    Phần I
    1


    Nguyễn Vạn xốc lại ba lô, phanh ngực áo đứng trên con đê nhìn về làng Đông. Cây quéo trước cửa đình tán lá xanh sẫm cao lừng lững giữa khoảng trời chiều. Người làng Đông không còn nhận ra Nguyễn Vạn mắt toét bỏ làng đi bây giờ về đây. Đố ai còn dám coi thường Nguyễn Vạn; hãy cứ nhìn những tấm huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực Vạn…
    Những con sóng lép bép chân đê. Trời ong ong, biển tím ngắt.
    Chà! Gió mát quá, đái cái đã, Vạn vén quần đái tè tè rồi vuốt lại áo cho thật chững. Quan trọng nhất phút giây đầu tiên gặp lại người làng. Vạn tập tễnh bước rẽ xuống con đường đất mấp mô vết chân trâu. Từ xa có hai cái bóng loắt choắt đang đi về phía Vạn, tới gần Vạn nhận ra hai đứa trẻ quẩy hai đôi quanh gánh ngắn cũn nhũng nhẵng đi bên nhau. Thằng bé trai có cái đầu to sù, trán dô, sống mũi lại gãy gập khiến hai lỗ mũi hếch lên giữa khuôn mặt bè bè đen nhẻm. Đứa bé gái thấp tè đến tai thằng con trai nhưng trông mặt lại rắn câng.
    - Chúng mày đi đâu đấy?
    - Cháu đi gắp cứt trâu – thằng trán dô mắt thô lố nhìn Nguyễn Vạn lạ lẫm.
    - Còn cháu đi cắt cỏ – cô bé nói lí nhí, e thẹn nép vào thằng trán dô.
    - Chúng mày là con cái nhà ai hử?
    - Cháu là con ông Dĩ. Cháu tên là Sinh, mọi người cứ gọi cháu là thằng Ngốc.
    Nguyễn Vạn bỏ đi để mặc hai đứa trẻ đứng ngây nhìn theo. Rõ ngược đời, cái thằng xấu như khỉ mà lại tên là Sinh. Trông ngô ngố thì gọi thằng ngố hay thắng ngốc là phải, đúng là thằng ngốc. Mẹ kiếp, vừa về đến đầu làng đã gặp thằng ngốc. Nguyễn Vạn biết thừa mọi người đang làm đồng đang lố nhố đứng lên nhìn Vạn. Hãy nhìn cho kĩ đây. Chẳng gì Nguyễn Vạn đây cũng là lính Điện Biên chiến thắng trở về. Dấu tích oanh liệt trên chiến trường là vết thương trên bả vai và một ống chân bị gãy, làm bước đi của Nguyễn Vạn cứ tập tễnh. Từ nhỏ Vạn đã là đứa trẻ đầy dũng khí **** coi cái chết là gì, lúc bị thương ngoài mặt trận máu chảy đẫm cả áo quần đau điếng, Vạn vẫn cố cười. Vạn cười rống lên để khỏi khóc. Vạn cười đến khi ngất xỉu lúc nào cũng không biết nữa.
    Nguyễn Vạn tập tễnh bước. Đàn chim két ào qua vạch một đường cong ngang trời. Cây duối già đầu cánh mả Rốt lơ thơ mấy chiếc lá trên những cành cong queo. Cánh mả Rốt dày đặc những mồ mả mấp mô mà Vạn vẫn còn nhận ra mộ bố nằm bên mép ruộng cạnh một ngôi mộ xây bằng gạch giống như ngôi miếu nhỏ. Trên trốc mộ bố Vạn xưa, đóng một cây cọc to bằng bắp chân, giờ đã mục rữa trơ lõi nhọn hoắt như một mẩu xương gãy. Nơi đây cũng là bãi chiến trường thời thơ ấu của Nguyễn Vạn. Những vết thương lòng còn hằn in trong tâm trí Vạn từ ngày đi ở chăn trâu cho nhà Hậu. Quanh năm Vạn mặc quần cộc phơi tấm lưng trần đen nhánh trên lưng trâu, lăn lóc bên gò mả. Nguyễn Vạn quỳ sụp xuống, hai tay chống lên mộ bố, Vạn thấy cay cay trong mắt. Hai giọt nước mắt nóng ấm rỉ ra làm Vạn hoảng sợ đứng vụt dậy. Những mầm cỏ non nhàu nát lẫn trong nắm đất trên lòng tay Vạn tả tơi rơi xuống. Có lẽ lần đầu tiên trong đời Vạn khóc.
    Tới đầu làng, tụi trẻ rồng rắn bám theo Vạn. Đứa bế em vẹo cả sườn lách nhách chạy, đứa thì nhảy tâng tâng. Mặt đứa nào cũng lem nhem mắt thô lố nhìn Vạn. Mấy bà già ngấp ngó bên cửa, tần ngần nhìn theo Vạn như thể có sự kiện gì lớn đang xảy ra.
    - Bác về đâu hả bác? – Một đứa trẻ loi choi nhón chân níu áo Vạn, hỏi.
    - Về Uỷ ban xã, Uỷ ban xã ở đâu?
    - Dạ! Ở đình Đông bác ạ.
    Tụi trẻ lốc nhốc bám theo Nguyễn Vạn tới sân đình Đông, Vạn đặt ba lô xuống gốc cây quéo lấy kẹo chia cho tụi trẻ. Những bàn tay nhỏ xíu lọ lem rụt rè chìa ra nhận kẹo. Vạn nhìn mặt từng đứa trẻ mà không nhận ra chúng nó là con cái nhà ai. Tụi trẻ được chia kẹo tản ra nhảy nhót quanh sân đình. Vạn thấy tim đập rộn lên khi gõ gót giày lên bậc thềm đá xanh biếc, nhẵn bóng trước cửa đình. Những ánh mắt ngỡ ngàng nhìn xoáy vào Nguyễn Vạn.
    - Cho tôi gặp chủ tịch xã – Nguyễn Vạn nói với một thanh niên trẻ măng, mặt xanh rớt, Anh ta chỉ cho Vạn người đàn ông đang ngồi trước một chiếc bàn lim đen bóng cao lênh khênh kê giữa đình. Vạn nhìn người đàn ông và nhận ra nét quen quen ở cặp mắt hấp háy hơi hiêng hiếng của anh ta.
    Chà! Đúng rồi. Thằng Đột, Đột “đơm ràng”. Thằng Đột con ông Hách chiều nào cũng để truồng vận mỗi chiếc áo vá của bố dài đắp đít nhong nhong trên bờ mương cái chắn đăng, bắt ngoé làm mồi đơm rạm.
    - Chết chửa. Đột! Mày không nhận ra tao à? – Nguyễn Vạn nháy nháy mắt, quằng ba lô xuống tóm lấy tay Đột – Vạn ma lem mắt toét đây, hề hề…
    - Vạn hử! Vạn đại ca đây sao?
    - Ừ! Vạn đây!
    - Ôi! Vạn mà oách thế này ư? Ai mà ngờ Nguyễn Vạn lại là bộ đội. Rõ là hắc xì dầu nhỉ.
    Vạn véo vào đùi Đột một cái:
    - Mày làm chủ tịch à?
    Tiếng cười, tiếng nói của đôi bạn nối khố thuở nào vang lên trong đình Đông. Ngoài cửa chợt xuất hiện một ông lão râu tóc trắng phơ, lộc cộc chống gậy bước vào. Ông lão đến đứng trước bàn chủ tịch trịnh trọng lấy từ trong túi áo ra tờ giấy trình chủ tịch Đột. Chủ tịch Đột nghiêm mặt xoay xoay tờ giấy trên tay mà vẫn không nhận ra mình cầm ngược đọc.
    - Nhờ các ông làm văn tự giúp cho – Ông lão nói.
    Chủ tịch Đột đưa tay gãi gáy:
    - Ông bán nhà à?
    - Dạ không, con nghé nhà tôi sắp kéo cày được rồi. Tôi xin xã cho bán con trâu.
    - Thì ra ông định bán trâu!
    Nguyễn Vạn ngồi nghe chuyện bán trâu rõ nhạt hoét. Vạn lơ đãng đưa mắt liếc cô gái ngồi trước chiếc bàn nhỏ cạnh đó. Vạn đã nhận ra cô ta là ai rồi, đúng là cô Tý Hin, em gái chủ tịch Đột. Vạn thấy nóng mặt. Cô Tý Hin cũng đỏ mặt liếc Nguyễn Vạn. Vạn ngỡ ngàng vì cô bé ngày xưa còm nhom giờ lại phổng phao đẹp vậy. Ánh mắt của cô ta lúng liếng, đôi má đỏ hồng hồng.
    - Này, có phải Tý Hin không? – Vạn ỡm ờ hỏi Đột.
    - Con Hin chứ còn ai, nó bây giờ là chánh văn phòng rồi đấy. Đổi đời rồi!!!
    • 64 Bài viết

    • 22 Được cảm ơn

    #3
    2


    Từ đời xưa người ta đã bảo làng Đông lắm kẻ phong tình, nhiều trai tài gái sắc.
    Làng Đông lại có nhiều cái “nhất”: Đình làng Đông to nhất, cây quéo làng Đông cao nhất, cầu đá làng Đông đẹp nhất; nước sông Đình cũng mát nhất. Chả thế những người mẹ làng Đông thường vỗ về con trẻ bằng những câu hát ru “À ơi… chẳng to cũng gọi đình Đông – Có cầu Đá Bạc bắc qua sông Đình – Chàng ơi có nhớ đến mình – Nhớ cầu Đá Bạc, nhớ đình làng Đông”. Lại có câu ca rằng “Sông làng Đông vừa trong vừa mát/ Đồng làng Đông ngan ngát hương thơm”. Các cụ bảo: đất làng Đông nằm trên mình con rồng. Con rồng đó chính là dòng sông Đình bắt nguồn từ cống Linh chảy qua làng Đông uốn lượn như một con rồng. Nước sông như dòng sữa mẹ làm tươi tốt đất và người làng Đông.
    Cảnh làng Đông mang đường nét dân dã, cây đa bến nước sân đình. Từ những cô gái áo hồng đầu đội khăn the ngồi lắc lư hát cô đầu, đến những giai nhân tài sắc được chọn đứng làm quân cờ trong ngày lễ hội dồn dập tiếng trống đình.
    Những nhân vật tài sắc có tiếng xưa bây giờ đã là những bà lão móm mém nhai trầu chóp chép. Hễ có dịp là các cụ lại kể cho con cháu nghe đủ chuyện ngày xửa ngày xưa xa lắc xa lơ. Các cụ bảo đã là người làng Đông không biết tích làng là hỏng.
    Cụ Nghiên, trưởng tộc dòng họ Nguyễn to nhất làng Đông thường ngồi xếp bằng ở gian giữa từ đường họ kể chuyện tích làng cho con cháu nghe. Trong số trẻ lau nhau, có thằng cu Nghĩa là cháu đích tôn của cụ. Còn con bé Hạnh lại thuộc dòng họ Vũ nhưng rất thích nghe chuyện cụ Nghiên. Nó há hốc mồm, tròn mắt nghe cụ Nghiên kể xong là nó kể lại làu làu. Cụ Nghiên vuốt râu cười nhìn bọn trẻ ngồi hóng chuyện:
    - Ở giữa cánh đồng làng ta giờ có một cái hồ nước quanh năm trong veo – Cụ Nghiên kể – Làng ta có người gọi đây là rốn tiên, người lại bảo đây là cái “lỗ tè he”. Nhưng ông gọi đó là “mắt tiên”. Chỉ có mắt tiên mới trong như thế. Chỉ có mắt tiên mới thấu mọi sự và nước mắt là nỗi lòng của người phụ nữ. Ông sẽ kể cho các cháu nghe chuyện “mắt tiên”. Ngày xửa ngày xưa. – Cụ Nghiên cao giọng – Hồi ấy cái hồ nước ở giữa cánh đồng làng còn tanh hôi như một vũng trâu đằm. Nơi của lau sậy um tùm, cá rúc, cuốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung quăng, ếch nhái nhảy chòm chõm. Dạo ấy có cô gái tên là Ngần đẹp nhất làng Đông. Cặp mắt cô Ngần tròn xoe lóng lánh như hạt nhãn mới bóc. Da cô Ngần trắng mịn, tóc dài và mượt như tơ. Vào tuổi trăng tròn, cô Ngần bị bố mẹ ép gả cho người mình không yêu. Đêm tân hôn cô Ngần trốn ra hồ nước giữa đồng tự vẫn. Thế là cỏ lau bỗng lụi tàn, cú, cuốc cũng lủi sạch. Đỉa cũng mất tăm. Nước hồ trở nên trong vắt quanh năm. Từ đó đàn bà con gái làng Đông có nỗi oan khuất đều trốn ra hồ nước tắm để được giải oan. Chính vì có hồ mắt tiên mà gái làng Đông, da cô nào cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ.
    Cái Hạnh thích nhất chuyện mắt tiên. Thằng Nghĩa lại thích chuyện gò ông Đổng. Cạnh hồ mắt tiên có một cái gò đất người ta gọi là gò ông Đổng. Nhưng bọn trẻ lại nghe cụ Nghiên bảo đấy là mộ con trời. Cũng thật lạ bởi cái gò đất quanh năm bị dân vạc đi cày cấy xunh quanh, chuột đồng đào bới vậy mà gò đất vẫn không nhỏ mà dường như lại cứ đầy lên, cỏ cây xanh tốt. Cụ Nghiên kể rằng: Ngày xửa ngày xưa có một chàng trai làng Đông đi đánh giặc mười năm chiến thắng trở về rõ oai phong lẫm liệt, mắt sắc mày ngài, kiếm cung thao lược. Người chiến binh vừa về tới cánh đồng làng nghe tin vợ ở nhà bạc tình liền nhảy phốc lên gò đất cạnh đấy hét lên một tiếng vang trời, miệng hộc ra dòng máu đỏ tươi chết đứng như chàng Từ Hải của Thuý Kiều.
    Từ đó người làng Đông đi qua đều ném lên đấy một nắm đất để tưởng nhớ người chiến binh dũng cảm không chết nơi trận mạc mà lại chết vì tình. Ngôi mộ mỗi ngày một to cao lên mãi. Người ta bảo trai làng Đông có chí khí khác thường vì được mang dòng máu của người chiến binh năm xưa.
    Ngoài những câu chuyện về trai gái làng Đông, các cụ còn kể chuyện con ma ở gốc duối đầu cánh mả Rốt, con ma có cái mặt đỏ như gấc, lưỡi dài một gang. Cái của nợ của nó to bằng bắp cày. Con ma thường lượn lờ trên những ngôi mộ chuyên săn đàn bà goá chồng. Ai mà bị con ma hiếp thì người đó trở thành vợ nó. Đến ngày trở trời mưa gió sập sùi, người đàn bà ấy lại tự nguyện ra gốc duối ăn nằm với con ma đến sáng mới về.
    Lại đến chuyện ba ba thuồng luồng ngoài bến sông trước cửa từ đường họ Nguyễn, cứ hai năm một lần bắt sống trẻ con. Những con thuồng luồng mình đen chũi dài loằng ngoằng, chân đỏ chót tua tủa như chùm rễ xoan. Những con ba ba thì to như cái thuyền thúng nổi lên dìm chết người như chơi. Những câu chuyện hãi hùng ma quái mỗi người thêu dệt theo một kiểu, ấy vậy mà chẳng ai sợ. Dân làng Đông vẫn kéo nhau ra bến tắm. Bến sông ở đây có vẻ quyến rũ lạ lùng. Mùa đông nước sông cạn phơi ra dải cát trắng phau lấp loá dưới nắng. Nước sông trong veo, lặng lẽ trôi, mùa lũ nước sông dềnh lên xăm xắp đôi bờ cỏ cây xanh tốt. Ngày xưa các cụ gọi đúng tên của bến sông này “Bến không chồng”. Bây giờ người ta lại gọi bến Tình. Bến Tình được chia làm ba đoạn. Mỗi đoạn riêng khuất bằng khúc quanh của dòng sông, đoạn cuối nước dành riêng cho trẻ trâu, đoạn giữa dành cho đàn bà con gái, đoạn trên đầu nước ưu tiên cho cánh đàn ông. Đàn ông phải tắm ở đầu nước, thì không sợ đàn bà bẩn mình. Chiều đến, những đứa trẻ trần truồng, mặt đen nhẻm nghễu nghện trên lưng trâu phi ào xuống bến nước. Những gã trâu đực lượn lờ ve vãn ả trâu cái đòi làm tình ngay dưới nước. Bọn trẻ thì lặn ngụp đỏ cả mắt từ lúc mặt trời bỏng lưng cho tới tối mịt mới chịu về. Những ông già để trần tay dắt cháu ra bến, những ông bố nhông nhông công kênh con trẻ trên vai. Rồi những chàng trai cô gái từ cánh đồng quần áo lấm lem cũng bổ nhào ra bến lặn ngụp một hồi cho đã rồi mới lột quần áo ra vỗ bồm bộp trên mặt nước. Gió hây hây, nước chảy nhẹ vờn da thịt như có một bàn tay vô hình mơn trớn, khiến ta quên hết nỗi cực nhọc, đau buồn. Nước bến Tình mát, dễ làm lòng người khoái cảm. Chả vậy mà nhiều cặp vợ chồng trẻ tối đến thường lẻn ra bến Tình tắm, quên hết mọi chuyện về ba ba, thuồng luồng và con ma mắt đỏ.
    Cũng chính vì sự quyến rũ của bến Tình nên không ít chuyện đau lòng xảy ra. Chuyện bi thảm nhất vẫn là câu chuyện của hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ để lại một mối thù hận ngấm ngầm đời đời không quên. Chuyện rằng:
    “Đúng vào cái ngày họ Nguyễn ăn mừng lễ khánh thành ngôi từ đường to nhất làng Đông, cô con gái rượu duy nhất của cụ tổ họ Nguyễn tối hôm ấy bỗng nhiên lại rỡn mỡ mò ra bến Tình tắm. Cô gái đâu có biết trên đầu bến cũng có chàng trai họ Vũ đang tắm, sự gợi cảm của dòng nước bến Tình và cái thân thể tuyệt vời của cô gái đã làm chàng trai nổi loạn. Anh ta lặn một hơi dài chưa từng có đến ôm ghì lấy tấm thân mềm mại mát lạnh của cô gái. Cô ngất xỉu trong vòng tay chàng trai. Thân thể đầy dục vọng của chàng trai, cô gái lại ngỡ là ba ba thuồng luồng hay con ma mắt đỏ ở gốc duối mò tới hiếp mình.
    Sáng hôm sau người ta thấy xác cô gái trần truồng nổi dềnh lên ở chân cầu Đá Bạc. Ngày hôm ấy làng Đông xảy ra một cuộc đổ máu chưa từng có giữa hai dòng họ Nguyễn và Vũ.
    Cụ tổ dòng họ Nguyễn đã khắc ghi một lời nguyền độc, nguyền rằng: “Nước sông Đình ngàn năm không cạn – Cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ – Bến Tình còn đẹp còn mơ – Mối thù họ Vũ bao giờ mới nguôi”.
    • 64 Bài viết

    • 22 Được cảm ơn

    #4
    3


    Trong ánh mắt đen láy của bé Hạnh, làng Đông là thế giới huyền diệu, luỹ tre làng xanh mượt, những thân cau cao vút, dòng sông Đình lung linh in bóng cây quéo và nhịp cầu Đá Bạc.
    Vốn nhạy cảm, nhút nhát, Hạnh sợ cả hai con chó đá, suốt ngày cứ nhe răng gầm gừ trước cửa đình Đông. Hạnh sợ nhất con ma mắt đỏ trên cây duối đầu cánh mả Rốt. Tuy sợ đủ thứ nhưng bé Hạnh vẫn nhằng nhẵng theo anh Hà, anh Hiệp ra đồng. Hạnh đội chiếc nón rách của mẹ lon ton chạy trên các bờ ruộng, bờ mương xem hai anh của nó cắt cỏ, bắt cua, tát cá. Nhiệm vụ của Hạnh được hai anh giao bắt cào cào cho sáo. Suốt ngày Hạnh rít rít với chú sáo trong lồng: “Mày phải ra đồng với chị, ở nhà một mình là anh cu mèo nó xơi thịt”.
    Đồng quê cứ rộn ràng trong lòng bé Hạnh. Cô nhảy tâng tâng nhìn những nhành lúa nếp, những củ khoai lang, những bắp ngô non vùi trong đống lửa cháy nghi ngút giữa đồng. Mắt cô bé sáng lên khi nghe những tiếng nổ lách tách. Những hạt thóc, hạt ngô nhảy lên trong than nóng, nở ra trắng toát…
    Bây giờ là mùa xuân, mùa trồng đậu. Khắp cánh đồng màu rực lên những dây cờ xanh, đỏ, trắng vàng và những thằng người nộm. Chúng đứng im phắc như những bóng ma đội nón mê, áo quần tả tơi giương roi doạ dẫm lũ chim sẻ. Lũ chim sẻ khôn như ranh, sà xuống chén những mầm đậu non mới nhú lên khỏi mặt đất. Bé Hạnh say sưa ngắm những mầm đậu đội mũ đứng thành hàng đầu tăm tắp dưới làn mưa xuân lất phất bay.
    - Vào lều ngay! Cấm được ra mưa đứng. – Anh Hà ra lệnh – Chúng tao đi đặt bẫy chim.
    Bé Hạnh ngoan ngoãn chui vào lều. Mái lều khum khum do hai anh nó làm bằng ngọn rào lợp bằng những tàu lá chuối. Hạnh kiêu hãnh thấy lều của ba anh em nó to và đẹp nhất cánh đồng màu. Ngồi trong lều mà bé Hạnh quan tâm đến đủ mọi thứ. Chú chuồn chuồn to kềnh có tấm thân đỏ au và bộ cánh vàng óng mà không hiểu sao lại bị đàn kiến nhỏ xíu bâu vào xâu xé. Bé Hạnh đang nằm bò trong lều nhìn ra thì thấy thằng Nghĩa cháu cụ Nghiên hay kể chuyện cổ tích cho nó nghe. Bé Hạnh nhổm dậy chạy ra khỏi lều gọi thằng Nghĩa. Thằng Nghĩa một tay cầm thuổng, một tay xách xâu chuột đứng trước cửa lều, Hạnh nhìn trân trân những con chuột đang giãy giụa trên tay Nghĩa.
    - Mày có thích chuột con không?
    Thằng Nghĩa nói và móc trong túi ra một nắm chuột con tí đỏ hỏn chưa mở mắt đưa cho Hạnh.
    - Ứ, em sợ.
    - Sợ gì, về cho mèo!
    - Em ứ lấy chuột, em thích đi xem nhà thờ. Tối nay anh phải cho em đi xem nhà thờ.
    - Thằng Hà thằng Hiệp nó không cho mày đi đâu.
    - Một mình anh dẫn em đi vậy. Em cho anh cái này.
    Hạnh kéo tay thằng Nghĩa chui vào lều. Trời lất phất mưa. Hai đứa nằm cuộn tròn trong ổ lá chuối khô.
    - Em cho anh củ khoai to nhất đấy, tối anh phải cho em đi xem nhà thờ Thượng.
    Nghĩa khoái chí nằm ăn khoai. Mỗi chuyện cái Hạnh đi xem nhà thờ mà Nghĩa đã dỗ của nó khối thứ. Nó kể cho Hạnh nghe đủ mọi chuyện hấp dẫn trong nhà thờ Thượng. Cái Hạnh nằm nghe Nghĩa kể chuyện và nhìn về tháp chuông nhà thờ Thượng cao vút mà xa xôi quá, nó chưa bao giờ được đặt chân tới đó. Chiều chiều từ ngọn tháp đầy bí ẩn kia cứ ngân lên những hồi chuông làm xao động tâm hồn bé Hạnh. Bất chợt, Hạnh nhìn thấy trên đường từ nhà thờ Thượng có đoàn người quần áo sặc sỡ đang đi về phía Hạnh.
    - Anh Nghĩa ơi, lại có đám rước! – Bé Hạnh reo lên.
    Thằng Nghĩa chồm dậy cầm thuổng lao lên đường cái.
    - Anh làm gì thế?
    - Phải trừng trị bọn đi đạo – Nghĩa nói – Bữa trước bọn tao sang nhà thờ bị bọn nó bắt nạt.
    Thằng Nghĩa hối hải trừng trị bọn đi đạo bằng cách khoét xuống đường thành hình một cây thánh giá khổng lồ kín cả mặt đường.
    - Chúng muốn qua đấy phải bước qua mặt Chúa của chúng! – Nghĩa lẩm bẩm. Vẽ xong cây thánh giá, Nghĩa kéo Hạnh chạy về lều nằm chờ đám rước tới. Đám rước là những con chiên khoẻ mạnh mặc đồ trắng nhông nhông khiêng đức cha ngồi trên chiếc võng đỏ thẫm đi trước, các ông già bà cả lốc nhốc theo sau.
    - Chú Xình bảo tao, bọn đi đạo là bọn phản động. Chúng lấy cớ đi rước cha từ nhà thờ này đến nhà thờ kia để làm gián điệp.
    Hạnh run bắn khi đám rước tới gần. Các con chiên nháo nhác nhìn cây thánh giá trên đường sợ hãi đưa tay làm dấu lia lịa.
    - Chúa sẽ trừng phạt những kẻ vô thần dám báng bổ Chúa.
    Đức cha chau mày đưa tay làm dấu ra hiệu cho các con chiên khiêng cha đi men theo vườn đậu. Hạnh run sợ như chính mình vừa gây ra một tội lỗi ghê gớm lắm.
    - Chúa sẽ trừng phạt anh – Hạnh nói.
    - Chẳng có Chúa nào hết, chú Xình bảo thế, và tao chỉ thấy mỗi lão cha cố nằm chổng vó trên võng, bắt lũ con chiên phải è cổ ra khiêng. Tao muốn trừng trị những kẻ phản động như trừng trị những con chuột.
    Thằng Nghĩa hung hăng đóng một chiếc cọc treo lũ chuột lên, vơ rác, bật diêm đốt.
    - Chúng mày phải chết nhục nhã, loài sâu bọ! – Nghĩa hét lên nhảy tâng tâng nhìn lũ chuột giãy giụa quằn quại dưới ngọn lửa lem lém bốc mùi khét lẹt. Những con chuột mắt lồi ra, da căng mọng sùi ra những giọt mỡ xèo xèo. Xử tội xong lũ chuột to, thằng Nghĩa lại bắt lũ chuột con cho vào cóng bơ treo lên ngọn lửa. Nhìn lũ chuột con quằn quại vì nóng, Hạnh xô lại đạp tung cái cóng bơ văng ra khỏi ngọn lửa rồi ngồi bệt xuống đất khóc thút thít. Nghĩa cười khoái chí nhìn cái Hạnh khiếp sợ. Anh Hà anh Hiệp của Hạnh về, mang thêm những tù binh mới, đó là những chú rắn nước, những con cóc cụ. Hạnh càng hoảng sợ khi anh Hà, anh Hiệp và Nghĩa hành hình, mổ bụng, lột da những con vật.
    - Ấy! Đừng làm thế. “Con cóc là cậu ông trời” đấy! – Hạnh hét lên.
    - Mày ngu lắm, cậu ông trời mà phải chui lủi ở đây à?
    - Em bảo thật đấy, chính cụ Nghiên nói “Con cóc là cậu ông trời, ai mà đánh nó thì trời đánh cho”.
    Hạnh bỏ chạy lên đường cái. Nó chợt sững lại khi nhìn thấy chú Vạn.
    - Cháu có phải con mẹ Nhân?
    - Vâng ạ!
    - Hai anh của cháu đâu?
    Hạnh dẫn chú Vạn tới vườn đậu, Nguyễn Vạn tần ngần nhìn ba đứa trẻ đang say sưa xử tử những con vật. Nguyễn Vạn nhận ra hai đứa trẻ sinh đôi của chị Nhân, thằng Hà thằng Hiệp đều giống bố nó như đúc.
    - Chú có phải ở chỗ bố cháu về hả? – Thằng Hà mạnh dạn đến hỏi chú Vạn.
    - Ừ! – Chú Vạn nói.
    - Bố cháu bao giờ về hả chú?
    - Không! Bố cháu chưa thể về được.
    Cả bốn đứa trẻ theo chú Vạn về làng. Chú Vạn nắm chặt lấy tay bé Hạnh khi nghe rõ tiếng mẹ nó khóc. Thằng Hà thằng Hiệp nghe tiếng mẹ khóc, chạy bổ về nhà. Nguyễn Vạn bế xốc bé Hạnh lên:
    - Chú chẳng giấu cháu nữa – chú Vạn nói – Bố đã hi sinh ngoài mặt trận.
    Bé Hạnh bỗng tu lên khóc. Chú Vạn bế nó về đến nhà, nó thấy mẹ và cả hai anh của nó đang khóc vật vã. Trong nhà ngoài sân người ra vào nườm nượp. Mẹ nó ôm chầm lấy nó khóc: “Con ơi, bố chết rồi”.
    *
    * *
    Chị Nhân thấy mình như đang ở một thế giới khác, mọi cảnh vật quanh chị đều nhuộm màu chết chóc. Nằm mãi chị cũng phải gượng dậy đi lại xem xét nhà cửa. Con lợn nằm chũi trong đống rác ở góc chuồng, chị lại ngỡ nó cũng chết ngoẻo rồi. Chị cầm chiếc gậy chọc vào đít con lợn, nó hoảng hốt chồm dậy. Đã mất mấy ngày nay chị không cho con lợn ăn mà nó vẫn sống. Con Hạnh chị đã cho nó ra đình Đông ở hẳn với chú Vạn, hai thằng con sinh đôi của chị chắc gì chúng hỏi han đến lợn gà.
    Chị Nhân lặng lẽ cầm rổ ra ao vớt bèo, nhìn đàn cá mè ngáp ăn nổi đặc ao, chị nghĩ là chúng cũng đang bị ngạt thở. Chị thấy ngực đau nhói, mắt hoa lên. Mấy đêm nay chị liên tục mơ thấy chồng về, anh ấy cứ lặng lẽ đứng bên giường chị mà chẳng nói gì cả. “Bố thằng Hà về đấy à? Khiếp! Sao nhà cứ bôi nhem cái mặt thế kia hả? Chú Vạn cùng về rồi đấy! Chú ấy có bao nhiêu là huân chương. Nhà đừng doạ tôi nữa, vào đây với tôi đi”. Chồng chị nhảy bổ lên giường đè sấn lên người chị, chị thấy mình chìm nghỉm xuống vực thẳm, chân tay chị tê dại. Chị chới với giãy giụa, đạp: “Ối! Bố thằng Hà, đứng làm thế, tôi chết mất”. Chị hét lên cố vùng dậy. “Mẹ nói lảm nhảm gì con sợ lắm”. Tiếng thằng Hà vang lên trong đêm làm chỉ tỉnh giấc. Chị nghe tiếng hai con mèo rên rỉ như tiếng trẻ con khóc, thỉnh thoảng chúng lại rượt đuổi nhau trên mái nhà gào rống lên từng cơn. Chị loạng choạng dậy mở cửa, cầm cây sào khuơ khuơ, hai con mèo hoảng hốt chạy vụt vào vườn chuối. Chị cứ đứng nhìn mãi mảnh vườn trước cửa. Ánh trăng vàng nhẫy trên những tàu chuối đẫm sương.
    Chị Nhân định lội xuống ao vớt bèo thì nghe thằng Hà gọi giật:
    - Mẹ! Mẹ về nghỉ đi, để đó cho chúng con.
    Thằng Hà vừa nói vừa cởi quần áo nhảy phốc xuống ao. Nước ao sủi bùn đục ngầu. Thằng Hiệp xách xâu chim sẻ vừa bẫy được đến khoe mẹ.
    - Chúng con quây được cả đàn đến hai chục con! Con đã đem cho chú Vạn và cái Hạnh một chục.
    Chị Nhân nhìn mãi xâu chim, có con đang giãy chết run lẩy bẩy rã cánh rũ rượi. Từ hôm chú Vạn về báo tin chồng hi sinh, chị hay bị xúc động. Theo sau thằng Hiệp về nhà, chị thấy sợ cái bóng của chính chị và bóng thằng Hiệp in lên vạt khoai nước. Chị nhìn mãi bóng hai mẹ con chị cứ dài ngoẵng méo mó dưới ánh nắng nhợt nhạt của buổi chiều. Chưa bao giờ chị thấy hai thằng con sinh đôi lại là chỗ dựa duy nhất của mình như lúc này. Chị thấy mấy ngày nay chúng ra vẻ người lớn, tự giác lo toan mọi việc.
    - Mẹ ơi! Như vậy bây giờ gia đình ta là gia đình liệt sĩ mẹ nhỉ?
    - Ai bảo con thế?
    - Chú Vạn, chú Vạn bảo bố dũng cảm lắm, phải chết như bố mới anh hùng. Chú Vạn còn bảo làm trai phải xông pha nơi chiến trận.
    Thằng Hiệp quăng xâu chim xuống sân:
    - Bây giờ tao phải làm thịt chúng mày.
    Mẹ con chị Nhân vừa ăn cơm xong đã thấy chú Vạn dẫn bé Hạnh về. Bé Hạnh lao vào ôm lấy cổ mẹ như thế nó vừa đi đâu xa lắm.
    - Thỉnh thoảng phải dẫn nó về cho đỡ nhớ – chú Vạn nói – Con bé đến kỳ quặc – Bảo ai ăn thịt chim là có tội. Ôi, những con chim béo nhẫy thơm nức mũi…
    Chị Nhân ngồi vuốt tóc con Hạnh. Có nó ở nhà ríu rít như con chim non cũng vui, nhưng thương hoàn cảnh chú Vạn mỗi mình đơn độc ở trong gian hậu đình Đông, chị đành để cho con Hạnh đến ở với chú Vạn.
    Bây giờ chị cứ vững vàng mà sống. Hoà bình rồi, hai thằng con trai của chị chúng quản cơ ngơi này rồi sẽ ra trò đấy. Bọn nhà giàu đã hết thời, chúng ta sẽ là những chủ nhân của đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế giới sẽ đại đồng. Có ai mà ngờ thằng Đột đơm ràng lại làm được chủ tịch…
    • 64 Bài viết

    • 22 Được cảm ơn

    #5
    Phần còn lại (chương 4 đến 25) xin theo dõi tại

    Blog của nhà văn

    hoặc download bản PDF (đã chỉnh sửa và bổ sung một số câu chữ thiếu) tại đây
    Chỉnh sửa lần cuối bởi conbo; 05/10/2010 vào lúc 03:49 PM.
    1 thành viên đã cảm ơn vì bài viết hữu ích (xem)